Quản lý nhà nước về đất đai được hiểu ở hai khía cạnh: Thứ nhất, quản lý nhà nước về đất đai là quản lý hành chính đối với đất đai thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên hướng dẫn
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn và mọi thông tin tham khảo, trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phúc
Trang 2trình học tập Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy PGS TS Hồ
Kiệt - Trường Đại học Nông Lâm Huế là người trực tiếp hướng dẫn khoa học; Thầy đã
nhiệt tình, dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến các lãnh đạo, các anh chị đồng nghiệp phòng Tài nguyên và Môi trường quận Ngũ Hành Sơn; Lãnh đạo UBND quận Ngũ Hành Sơn;
lãnh đạo và chuyên viên các phòng ban thuộc quận Ngũ Hành Sơn, UBND các phường,
Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp tại quận Ngũ Hành Sơn đã
giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh tôi động viên, khích lệ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày … tháng … năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phúc
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”được thực hiện nhằm mục đích đánh giá thực trạng quản lý đất phi
nông nghiệp, phân tích những thuận lợi và thách thức trong quá trình quản lý đất phi
nông nghiệp của quận Ngũ Hành Sơn Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường công tác quản lý đất phi nông nghiệp một cách chặt chẽ, hiệu quả và phù hợp
với tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, đề tài đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương
pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp điều tra khảo sát thực địa
và phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy nhu cầu về đất ở của người dân trong thành phố ngày càng tăng và tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh kéo theo nhu cầu đất ở và
kinh doanh bất động sản tăng làm cho tình trạng chuyển nhượng trái phép diễn ra, đã
gây ra không ít khó khăn trong việc giải quyết đất ở của quận
Trong những năm qua công tác quản lý đất ở trên địa bàn quận đã đạt được một số kết quả nhất định Việc triển khai thực hiện các nội dung QLNN về đất đai trong đó có
đất PNN ngày được chú trọng hơn Tuy vậy, công tác quản lý đất PNN của quận Ngũ
Hành Sơn vẫn không tránh khỏi những tồn tại và hạn chế Công tác quy QHSDĐ còn
bất cập và chồng chéo, kém hiệu quả dẫn đến công tác quản lý và sử dụng đất trên địa
bàn quận trong những năm qua còn nhiều hạn chế Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị
các phường trên địa bàn quận cũng chưa được lập đầy đủ, đồng bộ nên việc quản lý và
sử dụng đất gặp nhiều khó khăn Công tác đăng ký quyền sử dụng đất ở, lập và quản lý
hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ còn yếu Nhất là việc lập sổ theo dõi biến động để quản
lý biến động về đất phi nông nghiệp và tình trạng cấp GCNQSDĐ ở còn chậm
Đất đai của quận trong những năm qua tiếp tục được sử dụng có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Song bên cạnh đó vẫn còn tồn
tại một số vấn đề như: quỹ đất dữ trữ phát triển không còn, tình trạng lấn chiếm đất
công làm nhà ở xảy ra phổ biến ở nhiều nơi nhất là trên các trục đường giao thông,
việc sử dụng đất không đúng mục đích ngày càng phổ biến nhất là việc chuyển đổi đất
nông nghiệp thành đất các vùng ven, việc sử dụng đất đã được giao chưa hợp lý đất
được giao bị bỏ trống trong thời gian dài không được đua vào sử dụng, nhất là tại các
khu quy hoạch mới, tình trạng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất phi nông
nghiệp trái phép xảy ra vẫn còn nhiều Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề
xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý đất phi nông nghiệp
một cách chặt chẽ, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai 3
1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai 4
1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai 6
1.1.4 Nguyên tắc trong quản lý nhà nước về đất đai 8
1.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai 11
1.1.6 Đất phi nông nghiệp và các quy định liên quan đến quản lý đất phi nông nghiệp 13 1.1.7 Phương pháp quản lý 14
1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 14
1.2.1 Tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ 14
1.2.2 Tình hình quản lý đất đai ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2009-2014 16
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 19
Trang 5CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 21
2.1 Đối tượng và phạm vi 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 23
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 23
2.4 Một số các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất phi nông nghiệp 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn 34 3.2 Tình hình sử dụng đất của quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2010-2014 35
3.2.1 Tình hình quản lý sử dụng đất của quận Ngũ Hành Sơn 35
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của quận Ngũ Hành Sơn 38
3.2.3 Biến động sử dụng đất của quận Ngũ Hành Sơn 41
3.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất phi nông nghiệp của quận Ngũ Hành Sơn 42
3.3 Thực trạng quản lý đất ở đô thị ở quận Ngũ Hành Sơn 44
3.3.1 Thực trạng sử dụng đất ở đô thị 44
3.3.2 Tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất ở 46
3.3.3 Đánh giá chung thực trạng quản lý và sử dụng đất ở trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn 61
3.4 Thực trạng quản lý đất sản xuất kinh doanh quận Ngũ Hành Sơn 63
3.4.1 Thực trạng sử dụng đất sản xuất kinh doanh 63
3.4.2 Tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất sản xuất kinh doanh 66
Trang 63.4.3 Đánh giá chung thực trạng quản lý và sử dụng đất sản xuất kinh doanh trên địa
bàn quận Ngũ Hành Sơn 68
3.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý sử dụng đất của quận Ngũ Hành Sơn 69
3.5.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý sử dụng đất của quận Ngũ Hành Sơn 69
3.5.2 Những tồn tại và hạn chế trong quản lý sử dụng đất 70
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong quản lý đất đai của quận Ngũ Hành Sơn 71
3.6 Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai tại quận Ngũ Hành Sơn 73
3.6.1 Giải pháp chung 73
3.6.2 Một số giải pháp cụ thể 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình dân số quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 31
Bảng 3.2 Tình hình lao động quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 31
Bảng 3.3 Diện tích đất được giao và cho thuê trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 36
Bảng 3.4 Các công trình được giao đất năm 2014 36
Bảng 3.5 Các công trình được cho thuê đất năm 2014 37
Bảng 3.6 Hiện trạng sử dụng đất quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 39
Bảng 3.7 Diện tích đất quận Ngũ Hành Sơn phân theo phường năm 2014 41
Bảng 3.8 Biến động diện tích đất tại quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2010 -2013 41
Bảng 3.9 Tỉ lệ sử dụng đất trên địa bàn quận giai đoạn (2010-2014) 43
Bảng 3.10 Bình quân đất ở theo đơn vị hành chính quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 45
Bảng 3.11 Các khu quy hoạch đất ở đã được triển khai trên địa bàn 49
Bảng 3.12 Tình hình giao đất ở đô thị cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn phường Mỹ An và phường Khuê Mỹ 50
Bảng 3.13 Tình hình giao đất ở đô thị cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn phường Hòa Hải và phường Hòa Quý 51
Bảng 3.14 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tại quận Ngũ Hành Sơn qua các năm 53
Bảng 3.15 Diện tích đất tự nhiên, đất ở tại các phường trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 54
Bảng 3.16 Số trường hợp chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 57
Bảng 3.17 Tình hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất ở tại quận Ngũ Hành Sơn năm 2011 – 2014 59
Bảng 3.18 Tỷ lệ sử dụng đất sản xuất kinh doanh 2010 - 2014 65
Bảng 3.19 Hệ số sử dụng đất sản xuất kinh doanh của quận Ngũ Hành Sơn trong giai đoạn 2010 - 2014 65
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Vị trí địa lý quận Ngũ Hành Sơn 24
Hình 3.2 Lượng mưa năm và các tháng mùa lũ quận Ngũ Hành Sơn 25
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 28
Hình 3.4 Cơ cấu sử dụng đất tại quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 40
Hình 3.5 Tình hình sử dụng đất tại quận Ngũ Hành Sơn 42
Hình 3.6 Biến động diện tích đất ở đô thị của quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2010 - 2014 44
Hình 3.7 Cơ cấu sử dụng đất ở đô thị trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn 44
Hình 3.8 Tình hình cấp GCNQSDĐ ở giai đoạn 2010-2014 quận Ngũ Hành Sơn 53
Hình 3.9 Biến động diện tích đất sản xuất kinh doanh giai đoạn 2010-2014 quận Ngũ Hành Sơn 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên hạn chế, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình phát triển Vì vậy, việc quản lý đất đai có hiệu quả nhằm đáp ứng
chiến lược phát triển kinh tế xã hội là công việc tất yếu và vô cùng quan trọng của
bất kỳ quốc gia nào
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, trong quá trình đổi mới, từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng và phát triển nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, vai trò của đất đai và các quan hệ
đất đai ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học hơn Quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước tất yếu dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng, thay đổi cơ cấu
nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng
từ dạng nông thôn sang thành thị [33]
Để đáp ứng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế đồng thời phục
vụ cho các nhu cầu phát triển khác của xã hội, vấn đề đặt ra là yêu cầu cần phải có một
quỹ đất phi nông nghiệp khá lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển các khu dân cư, xây
dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình thương mại, dịch vụ, công nghiệp và các
công trình đô thị khác…Chính những yêu cầu này đã làm tăng nhu cầu sử dụng đất
vào các mục đích phi nông nghiệp
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, có vị trí quan trọng với mục tiêu chiến lược là trung tâm kinh tế trọng điểm của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và
cả nước, trung tâm kinh tế văn hóa, khoa học kỹ thuật của vùng, đồng thời cũng là một
trong những địa phương đi đầu về việc thực hiện hiệu quả công tác xây dựng và quy
hoạch đô thị Song song với việc phát triển kinh tế xã hội, thành phố Đà Nẵng còn phát
triển và hình thành nhiều khu đô thị mới với quy mô lớn, các khu du lịch nghỉ dưỡng
cao cấp, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin Chính định
hướng phát triển này đã dẫn đến các biến động lớn về mục đích sử dụng đất trên địa
bàn thành phố Xu hướng sử dụng đất dịch chuyển rõ rệt từ các mục đích khác sang
mục đích phi nông nghiệp [24]
Trong bối cảnh đó, Ngũ Hành Sơn là quận có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế
và du lịch, nghỉ dưỡng [3] Chính vì vậy, định hướng phát triển không gian đô thị của
khu vực quận Ngũ Hành Sơn là tập trung vào việc xây dựng các khu nghỉ dưỡng, các
khu đô thị, nhà hàng, khách sạn, công viên và các khu vui chơi giải trí… Chính quá trình
Trang 11phát triển này làm cho cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn quận trong những năm qua có
những biến động mạnh, đặc biệt là quá trình chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông
nghiệp và đất chưa sử dụng sang đất phi nông nghiệp cũng như nhiều biến động khác
trong quá trình sử dụng đất Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý quỹ đất, đặc biệt là
đất phi nông nghiệp trên địa bàn quận một cách chặt chẽ và hiệu quả
Xuất phát từ những vấn đề trên, bản thân tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng quản lý đất phi nông nghiệp tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”
2 Mục đích của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm các mục đích sau:
- Đánh giá được thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp của quận Ngũ Hành Sơn
- Phân tích được những thuận lợi và thách thức trong quá trình quản lý đất phi nông nghiệp tại quận Ngũ Hành Sơn
- Đề xuất được các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý đất phi nông nghiệp một cách chặt chẽ, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn
nghiệp ở quận Ngũ Hành Sơn Góp phần tăng cường hiệu quả của công tác quản lý và
sử dụng quỹ đất phi nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Kết quả của đề tài ngoài việc đóng góp để giải quyết vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra hiện nay ở quận Ngũ Hành Sơn, còn là tài liệu tham khảo cho các
địa phương có điều kiện tương tự, đặc biệt là các quận nội thành khác của thành
phố Đà Nẵng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và
hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo
những mục tiêu đã định
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước
thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát
triển của xã hội
Đối với đất đai, Nhà nước thay mặt nhân dân quản lý toàn bộ đất đai trong phạm vi cả nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp,
cơ quan quản lý đất đai các cấp
Quản lý nhà nước về đất đai được hiểu ở hai khía cạnh:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về đất đai là quản lý hành chính đối với đất đai
thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đất đai, quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất và bằng các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
(như quyết định giao đất, quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt hành chính đối với
hành vi vi phạm pháp luật đất đai )
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất đai là quản lý kinh tế đối với đất đai thông qua các công cụ tài chính của Nhà nước (như xác định khung giá đất, thuế sử dụng
đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ )
Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai là một lĩnh vực của quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước về đất đai được hiểu là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích
hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm đạt được mục đích
sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả trên phạm vi cả nước và trên từng địa phương
Trang 13Khái niệm trên cho thấy quản lý nhà nước về đất đai bao hàm các yếu tố cơ bản sau:
- Chủ thể của quản lý nhà nước về đất đai bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu
của toàn bộ đất đai thực hiện quyền quản lý nhà nước của mình thông qua các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền như Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, uỷ ban
nhân dân các cấp và hệ thống cơ quan quản lý đất đai được tổ chức thống nhất từ
Trung ương đến địa phương
- Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai là hành vi, hoạt động của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai,
1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai
1.1.2.1 Quản lý nhà nước về đất đai có những đặc điểm chung của công tác quản lý
nhà nước
- Quản lý nhà nước về đất đai mang tính chính trị:
Khi Nhà nước ra đời, Nhà nước đã thực hiện quản lý đất đai nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Trong điều kiện cách mạng nước ta hiện nay, Đảng cộng sản
Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, do đó việc quản lý nhà
nước về đất đai phải phục vụ cho những mục tiêu chính trị của Đảng Vì vậy, mọi hoạt
động quản lý nhà nước về đất đai phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng phương
hướng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai phải được xây dựng trên cơ sở các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng
- Quản lý nhà nước về đất đai mang tính quyền lực nhà nước:
Ở nước ta hiện nay, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quản lý toàn bộ đất đai
Giữa Nhà nước và các đối tượng sử dụng đất không bình đẳng về địa vị pháp lý trong
Trang 14quan hệ đất đai Trong thẩm quyền của mình, Nhà nước ra các quyết định mang tính
mệnh lệnh, còn người sử dụng đất có nghĩa vụ thi hành
- Quản lý nhà nước về đất đai mang tính tổ chức:
Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cấp, các ngành, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Tính tổ
chức là tính năng quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai; vì xét về nội dung, tổ
chức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu đề ra, là
yếu tố quyết định hiệu quả quản lý
- Quản lý nhà nước về đất đai mang tính khoa học:
Điều 18 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”
Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hoạt động chủ quan của con người nhưng lại
dựa trên những yếu tố khách quan (như trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu
của các đối tượng sử dụng đất, ) Điều đó đòi hỏi cơ quan quản lý đất đai phải có
cách nhìn nhận khoa học, nắm bắt những quy luật phát triển kinh tế - xã hội mới xây
dựng được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp Mặt khác, chỉ có cách làm việc
khoa học mới giúp cơ quan quản lý đất đai quản lý được toàn diện, tổng thể, cập nhật
kịp thời những biến động để đưa ra những thông tin chính xác
- Quản lý nhà nước về đất đai mang tính sáng tạo:
Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ đất đai ngày càng đa dạng, phức tạp, trong đó có những mối quan hệ chưa từng phát sinh trong tiền lệ Để giải quyết các
mối quan hệ này đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước về đất đai phải có những sáng tạo
Tuy nhiên, mọi trường hợp không thể chủ động sáng tạo ra ngoài phạm vi khuôn khổ,
thẩm quyền mà pháp luật quy định
1.1.2.2 Những đặc điểm riêng của quản lý nhà nước về đất đai
- Quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Hiến pháp năm 1980; Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm
2001, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2001 và
Luật Đất đai năm 2003 đều khẳng định toàn bộ đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước thống nhất quản lý
Việc Nhà nước ta đưa ra quy định này hoàn toàn dựa trên các luận cứ khoa học:
Trang 15+ Xét về mặt lịch sử, “Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập được vốn đất đai như ngày nay” nên đất đai phải là tài sản chung
+ Xét về mặt xu thế, xã hội ngày càng phát triển, sức sản xuất ngày càng tăng đòi hỏi phải tập trung hoá tư liệu sản xuất, do đó sở hữu toàn dân về đất đai là một quy luật
tất yếu khách quan
- Quản lý nhà nước về đất đai diễn ra trên phạm vi rộng:
+ Về mặt không gian, Nhà nước quản lý toàn bộ diện tích đất đai nằm trong biên giới quốc gia, bao gồm tất cả các loại đất, trên tất cả các vùng lãnh thổ: Đất liền,
đất có mặt nước, hải đảo, thềm lục địa
+ Về mặt xã hội, quản lý nhà nước về đất đai liên quan đến mọi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức trong toàn xã hội Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, người sử
dụng đất không chỉ có quyền sử dụng đất mà còn có các quyền chuyển nhượng, chuyển
đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng giá trị sử dụng đất để liên
doanh, liên kết
- Quản lý nhà nước về đất đai 1à một hoạt động rất khó khăn, phức tạp:
Trước đây do điều kiện chiến tranh và nhận thức chưa đúng về vai trò của đất đai cho nên chúng ta đã coi nhẹ công tác quản lý đất đai dẫn đến việc sử dụng đất rất tuỳ
tiện Bên cạnh đó, do diện quản lý rộng, tài liệu còn thiếu nhiều, hệ thống pháp luật mới
hình thành và luôn phải điều chỉnh, bổ sung trong khi tình hình sử dụng đất luôn luôn
biến động, các mối quan hệ đất đai ngày càng đa dạng, phức tạp đã làm cho công tác
quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn
1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai
Đất đai là vật báu thiên nhiên ban tặng cho con người Con người sử dụng sức lao động của mình tác động lên đất đai tạo nên những thành quả phục vụ cho xã hội nhằm nuôi
sống con người, tạo nên nơi ăn, chốn ở, nơi làm việc, chỗ vui chơi giải trí Vì thế, đất đai
luôn gắn bó với con người trong mọi lĩnh vực
Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, đất đai luôn xuất hiện như một vấn
đề kinh tế - xã hội sống còn, nó là nguyên nhân của nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt giữa con
người với thiên nhiên, giữa con người với con người Đất đai của một lãnh thổ quốc gia là
một trong những dấu hiệu để xác định sự tồn tại của một quốc gia, dân tộc
Từ khi có Đảng lãnh đạo, ngay từ ngày đầu, vấn đề ruộng đất đã được Đảng ta
quan tâm Trong cương lĩnh đầu tiên, Đảng đã đề cập: ''Cách mạng Việt Nam là tư sản
Trang 16dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản” và ''Cách
mạng thổ địa đánh đổ các di tích phong kiến”
Trong giai đoạn hiện nay, để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý
nhà nước về đất đai có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động cơ bản để bảo vệ sở hữu
toàn dân về đất đai
Trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã khẳng
định: ''Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” Văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành
Trung ương khoá IX một lần nữa khẳng định: ''Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý'' Trong công cuộc đổi mới hiện nay,
Đảng ta vẫn kiên trì giữ vững quan điểm này
Sở hữu toàn dân về đất đai là nguyên tắc bao trùm lên toàn bộ hoạt động của cơ chế điều chỉnh pháp luật đất đai, nghĩa là: Trong xây dựng quy phạm pháp luật đất đai,
thiết lập và tổ chức thực hiện các quan hệ pháp luật đất đai đều phải dựa trên quy định
đất đai thuộc sở hữu toàn dân Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
phải đảm bảo cho Luật Đất đai được thực hiện trên thực tế, cũng là bảo đảm chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất đai có vai trò quan trọng trong việc khai thác
và sử dụng đất đai có hiệu quả
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá nhưng số lượng lại hạn chế cho nên việc
bảo vệ và sử dụng tiết kiệm đất đai là vô cùng cần thiết Đảng ta khẳng định: ''Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và
dự án phát triển kinh tế - xã hội''
Việc quản lý sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý sẽ đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất, đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo môi trường sinh thái bền vững
Thứ ba, quản lý nhà nước về đất đai góp phần đảm bảo sự ổn định và công
bằng xã hội
Do điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí của một bộ phận nhân dân ta còn thấp, trong lúc đó vấn đề đất đai mang tính nhạy cảm, dễ xảy ra tranh chấp nên lĩnh
Trang 17vực đất đai đã phức tạp lại càng thêm phức tạp Trong thực tế ở nhiều nơi, nhiều địa
phương đã phát sinh những tranh chấp phức tạp, thậm chí dẫn đến thành điểm nóng xã
hội xung quanh việc tranh chấp đất đai
Tất cả những hiện tượng đó đều xuất phát từ sơ hở của chính sách đất đai, sự quản lý thiếu chặt chẽ của Nhà nước Một chính sách đất đai hợp lý, phù hợp với thực
tiễn, một sự quản lý thống nhất, chặt chẽ của Nhà nước sẽ góp phần đảm bảo cho một
xã hội ổn định, công bằng
1.1.4 Nguyên tắc trong quản lý nhà nước về đất đai
Nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước về đất đai là những tư tưởng chủ đạo
có tính chất bắt buộc mà các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể sử dụng đất phải
tuân theo trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai Những nguyên tắc quản lý nhà nước
về đất đai không những là ý chí chủ quan của Nhà nước mà còn phải xuất phát từ các
quy luật kinh tế khách quan, do các quy luật kinh tế khách quan chi phối Để đạt được
mục tiêu mà Nhà nước đặt ra, hoạt động quản lý nhà nước về đất đai phải được tiến
hành dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
1.1.4.1 Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 và Điều 5 Luật Đất đai năm 2003; cụ thể như sau:
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
- Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau: Quyết định mục đích
sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy định
về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, định giá đất
- Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như sau: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu thuế sử
dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất
mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại
- Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn
định, quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trang 181.1.4.2 Nguyên tắc đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý, có sự phân cấp từ Trung
ương đến địa phương
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 7 Luật Đất đai năm 2003; cụ thể như sau:
- Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng
đất đai trong phạm vi cả nước
- Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh, quốc phòng, thống
nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước
Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai
- Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật
về đất đai tại địa phương
- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật Đất đai
1.1.4.3 Nguyên tắc quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 18 của Hiến pháp năm 1992, cụ thể như
sau: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo
đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”
Nguyên tắc này trước hết phải được thể hiện trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó, cụ thể là: phải
thực hiện đúng mục đích sử dụng đất được xác định trong quy hoạch Việc giao đất,
cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất phải
dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt
Khi xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải quán triệt tinh thần: Tận dụng đất đai để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp một cách có
hiệu quả (nâng cao công năng của đất), giữ vững và phát triển vốn đất sản xuất nông
nghiệp và vốn đất có rừng, đồng thời đảm bảo được những yêu cầu về sử dụng đất
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 191.1.4.4 Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích
Đất đai không chỉ là tài sản chung của quốc gia, của cộng đồng mà còn là tư liệu sản xuất và là cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng của người sử dụng đất Do đó
trong quản lý nhà nước về đất đai, việc kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, lợi
ích của cộng đồng với lợi ích của người sử dụng đất cần phải chú trọng Xử lý tốt mối
quan hệ giữa các lợi ích sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời làm
giảm bớt các xung đột giữa người quản lý và người sử dụng đất, loại trừ dần những
nguyên nhân làm nảy sinh tiêu cực trong quá trình quản lý và sử dụng đất
Kết hợp hài hòa các lợi ích phải xem xét đầy đủ trên các mặt chính trị, kinh tế,
xã hội và cần đề cập ngay từ khi xây dựng chính sách đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất và thu hồi đất, đặc biệt chú trọng sử dụng các đòn bẩy kinh tế để kích
thích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tìm kiếm lợi ích một cách chính đáng không
làm phương hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích xã hội Giải quyết tốt quan hệ lợi ích
trong quản lý nhà nước về đất đai sẽ bảo đảm công tác quản lý được thuận lợi, có hiệu
quả; ngược lại sẽ là nguyên nhân phá vỡ hệ thống quản lý, gây mất ổn định chính trị,
kinh tế, xã hội
1.1.4.5 Nguyên tắc sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
Sử dụng đất đai tiết kiệm và có hiệu quả vừa là nguyên tắc, vừa là mục đích của quản lý nhà nước về đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá nhưng hạn chế về mặt số lượng, trong khi sức ép về dân số và nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, dẫn đến một yêu cầu khách
quan phải sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
Sử dụng đất tiết kiệm là cơ sở, nguồn gốc của hiệu quả vì hiệu quả là thực hiện
có kết quả cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra với chi phí thấp nhất, tiết kiệm nhất
Muốn sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả đòi hỏi cơ quan quản lý phải có chính sách phân phối đất đai hợp lý trên cơ sở tổng quỹ đất của quốc gia và quỹ đất của từng
địa phương, bảo đảm cho đất đai được sử dụng đúng mục đích, phát huy tối đa các thế
mạnh về kinh tế, xã hội với chi phí thấp nhất để đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao
nhất
Trang 201.1.4.6 Nguyên tắc bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp
Pháp luật đất đai đã thể hiện nguyên tắc này bằng các chế định như: Giao đất
để sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì mở rộng quyền cho cấp dưới, giao đất để sử
dụng vào mục đích khác thì khống chế một cách nghiêm ngặt hơn, không được tự tiện
mở rộng đất khu dân cư trên đất nông nghiệp và không được tự tiện lập vườn trên đất
lúa; sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích khác thì phải có biện pháp bù đắp vốn đất
nông nghiệp bị giảm, có chính sách miễn, giảm tiền đất, thuế sử dụng đất khi khai
hoang vỡ hoá để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
1.1.4.7 Nguyên tắc cải tạo đất đai
Pháp luật đất đai có những chế định nhằm khuyến khích người sử dụng đất đầu
tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng khoa học kỹ thuật để cùng nhà nước bảo vệ,
cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất đai, đồng thời cũng nghiêm cấm việc làm huỷ hoại
đất đai Việc thực hiện các biện pháp để bảo vệ và làm tăng khả năng sinh lợi của đất
đai vừa là trách nhiệm của Nhà nước, đồng thời là một trong những nghĩa vụ quan
trọng của người sử dụng đất
1.1.4.8 Nguyên tắc bảo vệ môi trường
Đất đai vốn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, mọi hoạt động của con người trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai đều tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp đến môi trường Vì vậy, khi hoạch định chính sách đất đai, lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, phân bố đất đai vào các mục đích sử dụng phải tính
toán đầy đủ đến các yếu tố kinh tế - xã hội có quan hệ đến môi trường, kể cả tầm vĩ mô
và vi mô
1.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Một cách khái quát nhất “quản lý đất đai” là khoa học về quản lý đối với đất đai
mà nội dung cơ bản là quản lý nhà nước đối với đất đai bao gồm việc xây dựng và tổ
chức thực hiện hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai (xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật về đất đai, các chính sách về đất đai; tổ chức tuyên truyền, phổ biến
trong cộng đồng; tổ chức thực hiện và xử lý những hành vi vi phạm); xây dựng và tổ
chức thực hiện hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai (xây dựng quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai các cấp từ cả nước tới cấp cơ sở nhằm bảo đảm quỹ đất cho nhu
cầu phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội; quyết định về mục đích sử dụng đất, quá
trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong từng giai đoạn; triển khai hệ thống quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong quá trình quản lý quỹ đất); xây dựng và tổ chức
thực hiện hệ thống tài chính đất đai (đăng ký đất đai, thành lập hồ sơ địa chính, tổ chức
Trang 21bộ máy quản lý, triển khai các thủ tục hành chính) Trong nội dung quản lý nhà nước
đối với đất đai đã chứa đựng những biện pháp giúp đỡ người sử dụng quản lý tốt việc
sử dụng đất để sử sụng đất có hiệu quả vào bảo vệ môi trường đất Như vậy, hệ thống
quản lý nhà nước về đất đai được xây dựng trên 4 trụ cột chính là hệ thống chính sách,
pháp luật về đất đai; hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; hệ thống tài chính
điều tra xây dựng giá đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi thu hồi đất
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Thống kê kiểm kê đất đai
- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và
xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai
Trang 22- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai [21]
1.1.6 Đất phi nông nghiệp và các quy định liên quan đến quản lý đất phi nông nghiệp
Tại điều 10, luật đất đai năm 2013 quy định, đất đai được chia thành ba nhóm đất chính, đó là nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng
Trong đó, nhóm đất phi nông nghiệp được quy định bao gồm các loại đất như sau:
- Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan;
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp bao gồm đất xây dựng trụ sở của các tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng các cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao,
khoa học và công nghệ, ngoại giao và các công trình sự nghiệp khác;
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm: đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính
viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác;
- Đất cơ sở tôn giáo;
- Đất tín ngưỡng;
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
- Đất phi nông nghiệp khác bao gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật,
phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng các công
trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà các công trình đó
không gắn liền với đất ở [26]
Trang 231.1.7 Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý là cách mà cơ quan quản lý sử dụng để tác động đến đối tượng
quản lý (chủ sử dụng đất) nhằm thực hiện các quyết định của Nhà nước
từng khu vực để có những quyết định chính xác và kịp thời
Cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi cấp phải nắm bắt kịp thời những diễn biến ở cấp mình quản lý thì mới có những biện pháp phù hợp
- Phương pháp đòn bẩy kinh tế:
Thông qua tác động đến lợi ích kinh tế của người lao động, của chủ sử dụng đất, như: thưởng phạt công minh, đấu thầu, khoán cho thuê, … Lợi ích kinh tế có vai
trò vô cùng to lớn, nó tác động trực tiếp, giảm khâu kiểm tra đôn đốc, phát huy được
tính chủ động nhưng cũng chú ý đến mặt trái của nó
- Phương pháp tuyên truyền giáo dục
Phương pháp này khơi dựng tư tưởng ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm của mỗi con người trong cộng đồng dân tộc Thấy rõ được trách nhiệm đóng góp công sức,
trí tuệ của mình vào sự nghiệp chung để thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý đất đai
1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ
Bất kỳ một quốc gia nào, nhà nước nào cũng có một quỹ đất nhất định được giới hạn bởi biên giới quốc gia mà thiên nhiên ban tặng Bất kỳ một nhà nước nào, chế
độ chính trị nào ở thời kỳ lịch sử nào cũng cần có đất Đất đai là vấn đề sống còn của
mỗi quốc gia vì vậy nhà nước muốn tồn tại và phát triển thì phải quản chặt nắm chắc
tài nguyên đất đai đó Mỗi thời kỳ lịch sử với giai cấp khác nhau, chế độ chính trị khác
nhau đều có chính sách quản lý đất đất đai đặc trưng cho thời kỳ lịch sử đó
Trang 24Ở chế độ nô lệ thì ở nước ta triều đại Hùng Vương kéo dài hàng nghìn năm, xã hội Việt Nam đang ở thời kỳ công xã nguyên thuỷ tan rã Vì vậy ruộng đất đang
chuyển từ tay tập thể công xã sang giai cấp chủ nô Các chủ nô nắm quyền quản lý đất
quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối về đất đai Khác với luật lệ nhà Nguyễn, thực dân
pháp đánh thuế thổ canh (đất nông nghiệp) rất cao nhưng thuế đất thổ cư (đất ở)
không đáng kể Ngay sau khi tới Việt Nam, Pháp đã cho lập bản đồ địa chính theo
toạ độ và lập sổ địa bạ mới nhằm mục đích thu thuế nông nghiệp triệt để.Công
trình lập bản đồ địa chính két thúc năm 1898 tại Nam Bộ, năm 1925 tại Bắc Bộ và
đến năm 1945 chưa hoàn thành ở Trung Bộ [4]
Cách mạng tháng Tám thành công nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời
Với mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, năm 1946 hiến pháp đầu tiên ra
đời đã thể hiện ý chí và quyền lực của nhà nước trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Tháng 11/1953 hội nghị lần thứ V của ban chấp hành trung ương Đảng thông qua
cương lĩnh ruộng đất và quyết định cải cách ruộng đất, tịch thu, trưng mua, trưng thu
ruộng đất của địa chủ để chia cho dân nghèo, đến khoảng 1956 đã hoàn thành cải cách
ruộng đất Như vậy với chính sách đó đã đem lại ruộng đất cho nông dân, xoá bỏ giai
cấp địa chủ đã có hàng nghìn năm Tuy nhiên công tác này gặp phải những sai lầm
nhất định và hậu quả để lại của nó là nạn đói hoành hành, đất đai bị hoang hoá
Để ổn định tình trạng sử dụng đất ở nông thôn chính phủ đã ban hành chỉ thị 354/TTg trong đó có việc hợp thức hoá nông nghiệp, người dân làm ăn theo công
điểm Nhưng hiệu quả không cao, nông sản làm ra không đủ ăn, đời sống của nhân dân
gặp nhiều khó khăn Để giải quyết tình trạng trên Nhà nước đã ban hành nghị quyết
khoán mười (nghị quyết 10-NQ/TW) Sau khi nghị quyết này ra đời đã kích thích tính
chủ động sáng tạo của người dân, người dân hăng hái tham gia sản xuất [4]
Hiến pháp năm 1980 ra đời, quy định: Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ đất đai, nhà nước thống nhất quản lý [20]
Năm 1987 luật đất đai đầu tiên ra đời mở ra bước ngoặc mới cho công tác quản
lý và sử dụng đất nước ta Tiếp theo đó là các thông tư nghị định của các bộ ban hành
nhằm điều chỉnh, hướng dẫn những chính sách đất đai của Nhà nước: Thông tư liên bộ
Trang 25số 05-TT/LB ngày 18/12/1991 của bộ thuỷ sản và tổng cục quản lý ruộng đất hướng
dẫn giao những ao nhỏ, mương rạch nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình và ao
lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình sử dụng; quyết định số 327/CT của hội
đồng bộ trưởng ngày 15/7/1992 về thực hiện chính sách giao ruộng đất, đồi núi trọc,
ruộng bãi bồi, ven biển và mặt nước cho hộ gia đình sử dụng Đến năm 1992 luật đất
đai tiếp tục bổ sung, sửa đổi nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới
Để phù hợp với những yêu cầu kinh tế trong giai đoạn mới, kỳ họp Quốc hội khoá IX ngày 14/7/1993 luật đất đai, luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được thông
qua Sau đó liên tục các văn bản của chính phủ và các bộ ngành ra đời nhằm triển khai
luật này: Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 về đất nông nghiệp, nghị định 88/CP ngày
17/8/1994 về đất đô thị, nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 về đất lâm nghiệp Luật đất
đai năm 1993 có hiệu lực thi hành vào ngày 15/10/1993 đã tiếp tục khẳng định: “Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” thể hiện đường lối nhất
quán của Đảng và Nhà nước ta trong công tác quản lý đất đai [16]
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm phát sinh nhiều vấn đề mà luật đất đai năm 1993 chưa giải quyết được triệt để Vì thế nó liên tục được sửa đổi bổ sung
như luật sửa đổi bổ sung được ban hành ngày 2/12/1998, luật sửa đổi bổ sung một số
điều ban hành 1/10/2001 nhằm quy định khung giá đất [14]
Ngày 26/11/2003 Luật đất đai ra đời và có hiệu lực ngày 1/7/2004 tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế thị trường trong thời đại mới, hàng loạt các văn bản
hướng dẫn thi hành luật kèm theo đã thực sự đưa công tác quản lý và sử dụng đất đi
vào nề nếp, ổn định [20]
Với nền kinh tế phát triển như những năm gần đây, để công tác quản lý đất đai phù hợp với điều kiện phát triển chung của cả nước Quốc hội đã ban hành Luật đất đai
số 45/2013/QH13 vào ngày 29/11/2013 và có hiệu lực ngày 1/7/2014 tiếp tục sửa đổi
hoàn thiện cho phù hợp với nền kinh tế thị trường trong thời đại mới, hàng loạt các văn
bản hướng dẫn thi hành luật ra đời để đảm bảo cho phù hợp với thực tế phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước [26]
1.2.2 Tình hình quản lý đất đai ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2009-2014
❖ Tình hình thực hiện Luật và các chính sách về đất đai
Trong giai đoạn 2009- 2014, thành phố Đà Nẵng đã dựa trên cơ sở Luật đất đai năm 2003, và luật đất đai 2013, các Nghị định của Chính phủ và hướng dẫn của các
Bộ, nghành Trung ương, UBND thành phố đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp
luật thuộc thẩm quyền Đặc biệt, xuất phát từ tình hình thực tế và những bất cập, bức
Trang 26xúc trong quản lý đất đai, Ủy ban nhân dân thành phố đã tham mưu cho Ban Thường
vụ Thành ủy ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 08/6/2009 và Chỉ thị số
10-CT/TU ngày 04/7/2011 về tăng cường công tác quản lý và sử dụng đất đai, tạo được
bước chuyển biến mới, kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, tồn tại, góp phần đưa công
tác quản lý, sử dụng đất đai đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật và ngày càng
có hiệu quả, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của của thành phố
❖ Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Trong những năm qua, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thành phố được thực hiện khá nghiêm túc và ngày càng hoàn thiện, khả thi và là công cụ pháp lý để
Nhà nước thống nhất quản lý đất đai, sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả [3]
❖ Công tác hành chính về đất đai
Công tác đo đạc xây dựng hồ sơ địa chính có vai trò rất quan trọng để phục vụ việc quản lý Nhà nước về đất đai, là cơ sở pháp lý để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất Việc đo đạc, lập bản đồ và hồ sơ địa chính trên địa bàn thành phố đã được triển
khai khá sớm, bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 của các xã thuộc huyện Hòa Vang, các
phường thuộc quận Liên Chiểu, phường Hòa Hải, Hòa Quý thuộc quận Ngũ Hành Sơn
(trừ khu vực đất lâm nghiệp, đồi núi) đã được thành lập phục vụ cho việc đăng ký và
hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP của
Chính phủ trên địa bàn huyện Hòa Vang, quận Liên Chiểu và phường Hòa Hải, Hòa
Quý quận Ngũ Hành Sơn Quận Cẩm Lệ được hình thành trên cơ sở phường Khuê
Trung thuộc quận Hải Châu đã có bản đồ số tỷ lệ 1/500 và các xã thuộc huyện Hòa
Vang đã có bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 Các phường thuộc các quận còn lại cũng đã
đo đạc bản đồ số tỷ lệ 1/500 phục vụ cho việc cơ bản hoàn thành đăng ký và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 60/CP của Chính phủ trên địa bàn thành
phố năm 2004
Đến nay, diện tích đất đã đo đạc bản đồ địa chính trên địa bàn toàn thành phố là 45.424 ha trên tổng diện tích đất tự nhiên là 128.543 ha Tuy nhiên, do sự điều chỉnh
ranh giới địa chính, toàn thành phố hiện có trên 2/3 số xã, phường có biến động về sử
dụng đất với tỷ lệ biến động trên 60% so với bản đồ địa chính đo đạc ban đầu Hệ
thống bản đồ và cơ sở dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa và còn đang sử dụng hệ tọa
độ HN72, chưa chuyển sang hệ tọa độ VN 2000 theo quy định; 19 xã thuộc huyện Hòa
Vang (cũ) bản đồ được thành lập còn ở dạng giấy
Trong thời gian qua, công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư được Ủy ban nhân dân thành phố xác định là công tác trọng tâm của
cả hệ thống chính trị Các cấp ủy đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan
Trang 27chính quyền triển khai thực hiện cùng với sự vào cuộc tuyên truyền, vận động của các
đoàn thể, qua đó đã tạo nên sự đồng thuận của đại đa số các tầng lớp nhân dân đối với
công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai được xác định là việc làm định kỳ và thường xuyên trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất,
tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu các loại đất một cách hợp lý và nhằm mục đích điều
tra, đánh giá đúng thực trạng tình hình biến động trong quá trình sử dụng đất Thành
phố đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện xây dựng phương án thống kê, kiểm
kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, đồng thời thành lập Ban chỉ đạo
thống kê, kiểm kê đất đai các cấp, chỉ đạo quyết định trưng tập cán bộ phục vụ công
tác thống kê, kiểm kê đất đai ở các ngành và đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm kê
đất đai cho cán bộ địa chính cấp phường Chuẩn bị đầy đủ tài liệu, vật tư, kinh phí đáp
ứng yêu cầu thống kê, kiểm kê đất đai theo phương án đã được UBND thành phố phê
duyệt Tổ chức triển khai nhiệm vụ thống kê, kiểm kê đất đai đến cán bộ chủ chốt tại
địa phương trước thời điểm thống kê, kiểm kê, đảm bảo thực hiện đúng chế độ thông
tin, báo cáo tiến độ thống kê, kiểm kê đất đai tại cấp phường trên địa bàn các quận
Qua đó làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp; cung cấp kịp thời những thông tin
chi tiết và chính xác về đất đai để hoạch định những chính sách, xây dựng các quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và việc quản lý, sử dụng hợp lý,
có hiệu quả vốn tài nguyên đất nói riêng; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành
kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh - quốc phòng nói chung
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đất đai
và xử lý vi phạm pháp luật đất đai là công tác thường xuyên được thành phố quan tâm
triển khai Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất hàng năm được thành
phố chọn là 1 trong 3 nhiệm vụ trọng tâm giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường
thành phố Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt, Ủy ban nhân dân
thành phố thường xuyên theo dõi, chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện và ngăn ngừa các
hành vi sử dụng đất trái phép, trái quy hoạch, kế hoạch được duyệt; tiến hành điều
chỉnh hoặc hủy bỏ các dự án đã công bố nhưng không thực hiện được, đảm bảo đất đã
giao, cho thuê đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích
Công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo số liệu thống kế, tính đến tháng 01/2013, công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trên địa bàn thành phố cho tất cả các loại đất là 297.756 giấy chứng nhận
Trang 28Cùng với việc triển khai thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo Luật đất đai 2003, hàng năm, UBND thành phố tiến hành xây dựng bảng giá đất và thông
qua Hội đồng nhân dân làm cơ sở cho việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính của người
sử dụng đất UBND thành phố cũng đã thành lập hội đồng thẩm định giá đất nhằm xác
định giá đất giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức thực hiện dự án đảm bảo phù hợp
với thực tế
Công tác xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất khi thực hiện các quyền liên quan được đảm bảo công khai, đúng trình tự, thủ tục theo hướng dẫn của
Bộ Tài chính và Cục thuế Việc quản lý, sử dụng nguồn vốn thu được từ khai thác quỹ
đất được thực hiện đúng quy định của pháp luật
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến thực trạng quản lý và sử dụng đất ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước
- Huỳnh Văn Chương, Trương Văn Quyết (2012): “Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 21 Bài báo
đã phản ánh việc chuyển đất đai trong quá trình đô thị hóa, đặc biệt là chuyển đổi đất
nông nghiệp sanh phi nông nghiệp có nhiều tác động tích cực, tuy nhiên vẫn còn ảnh
hưởng tiêu cực trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường Từ đó tác giả đã đưa ra các
giải pháp quản lý, sử dụng đất nhằm giải quyết việc làm cho người lao động mất đất
sản xuất [2]
- Nguyễn Hữu Ngữ và Nguyễn Thành Quốc (2014): “Đánh giá thực trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Huế” Kết quả của bài báo đã
nêu bật lên những vấn đề sau: đất nghĩa trang, nghĩa địa phân bổ không tập trung và
nằm rải rác trên địa bàn các phường của thành phố Huế Quản lý Nhà nước về đất đai
mặc dù đã được chú ý ở tất cả các cấp nhưng vẫn chưa toàn diện Việc ban hành các
tài liệu pháp lý liên quan đến đất nghĩa trang, nghĩa địa vẫn còn chưa đầy đủ và thiếu
sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương Quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang,
nghĩa địa vẫn chưa có kế hoạch cụ thể cho từng khu vực, từng năm hoặc từng thời kỳ
[26]
- Võ Thị Linh (2014): “Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp tại thị xã Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế”
Luận văn cao học thạc sỹ khoa học nông nghiệp, chuyên ngành Quản lý đất đai,
Trường Đại học Nông Lâm Huế Kết quả của đề tài chỉ ra rằng quá trình đô thị hóa đã
tác động rất lớn đến công tác quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn các phường nói
Trang 29riêng và toàn thị xã Hương Trà nói chung Công tác quản lý đất đai đã có những cải
thiện đáng kể trong nhiều mặt, ngày càng được đi vào nề nếp và chặt chẽ, Tuy nhiên,
công tác quy hoạch sử dụng đất, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải
quyết tranh chấp đất đai vẫn đang tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết [20]
- Phạm Văn Vân (2013): Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình quản lý
sử dụng đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, Luận án tiến sỹ nông
nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Tác giả đã đánh giá thực trạng thu hồi
đất để xây dựng các công trình, dự án, chỉ ra được tác động tích cực và tiêu cực của
việc thu hồi đất Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiện
giải quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các
khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công
cộng và lợi ích quốc gia những năm tới [33]
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến thực trạng quản lý và
sử dụng đất dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa ở một số tỉnh, thành phố trong cả
nước Ngoài ra, còn có nhiều đề tài nghiên cứu, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng
đất đai, tuy nhiên, chủ yếu là đánh giá chung cho cả ba nhóm đất chính, hoặc tập trung
vào đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng của nhóm đất sản xuất nông nghiệp Trong
tình hình thực tế hiện tại đối với các đô thị như thành phố Đà Nẵng nói chung và quận
Ngũ Hành Sơn nói riêng, với tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng, cũng như
tốc độ đô thị hóa cao thì vấn đề quan trọng đặt ra là cần đánh giá thực trạng công tác
quản lý nhà nước đất phi nông nghiệp Tuy nhiên, lại chưa có bất kỳ công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng quản lý quỹ đất, đặc biệt là đất phi nông
nghiệp ở quận Ngũ Hành Sơn Luận văn này kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên
cứu trên, nhưng tập trung vào phân tích thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp, loại
đất chiếm diện tích lớn trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nhằm
tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với quỹ đất phi nông nghiệp một cách chặt
chẽ, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu Vì vậy, đây là
đề tài nghiên cứu không trùng lặp với các công trình đã được công bố
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi
1) Đối tương nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là:
- Toàn bộ diện tích đất phi nông nghiệp nói chung, các ban quản lý, các ban
chuyên môn và người dân sử dụng đất ở quận Ngũ Hành Sơn
- Đất ở đô thị và đất sản xuất kinh doanh của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Việc lựa chọn hai loại đất này để nghiên cứu trong số 20 loại đất phi nông
nghiệp được quy định theo luật đất đai 2013 do trong quá trình khảo sát khu vực
nghiên cứu thì hai loại đất này có nhiều ảnh hưởng và được sử dụng chủ yếu ở quận
Ngũ Hành Sơn, cũng như có nhiều vấn đề liên quan đến tình hình quản lý đất đai ở địa
2.2 Nội dung nghiên cứu
1) Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn
2) Tình hình quản lý và sử dụng đất phi nông nghiệp của quận Ngũ Hành Sơn
giai đoạn 2010-2014
3) Thực trạng quản lý đất ở đô thị quận Ngũ Hành Sơn
4) Thực trạng quản lý đất sản xuất kinh doanh quận Ngũ Hành Sơn
5) Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình quản lý đất phi nông
nghiệp tại quận Ngũ Hành Sơn
Trang 316) Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai
và sử dụng đất phi nông nghiệp một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế của
địa bàn nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
❖ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Đề tài sử dụng phương pháp này để thu thập số liệu, tài liệu tại Phòng Tài nguyên
và Môi trường quận, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh quận Ngũ Hành
Sơn về việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, hiện trạng sử dụng đất
phi nông nghiệp, các văn bản liên quan đến chính sách quản lý đất phi nông nghiệp
trên địa bàn nghiên cứu
Bên cạnh đó, đề tài còn tiến hành thu thập thông tin từ các ban ngành khác trong huyện như Chi cục thống kê huyện, Phòng Tài chính-Kế hoạch, UBND các phường
trong quận… về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng phát triển các ngành
nghề phi nông nghiệp trong giai đoạn 2010-2014 ở quận Ngũ Hành Sơn
❖ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Để thu thập các số liệu sơ cấp, đề tài sẽ sử dụng hai phương pháp: phương pháp chuyên gia và phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này sẽ được sử dụng để trao đổi, thảo luận với chuyên gia ở các Phòng Ban có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Bên cạnh việc sử dụng thông tin thu thập được từ phương pháp thu thập số liệu thứ
cấp Những thông tin thu được từ phương pháp này sẽ được sử dụng để phân tích sâu
hơn các khía cạnh của công tác quản lý đất phi nông nghiệp dưới các góc độ của các
ngành, lĩnh vực sử dụng đất khác nhau
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài sử dụng phương pháp này để phỏng vấn các đối tượng được Nhà nước giao đất phân theo mục đích sử dụng trong nhóm đất phi
nông nghiệp Số lượng đối tượng được Nhà nước giao đất tham gia trả lời phỏng vấn
được lựa chọn dựa vào tình hình thực tế và số liệu thu thập được từ các phương pháp
khác trong đề tài này
Trang 322.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp này sẽ được sử dụng trong quá trình điều tra thực địa, quan sát, chụp ảnh thực tế nhằm tìm hiểu thêm và kiểm tra lại các thông tin đã thu thập được
liên quan đến thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Để phân tích và xử lý số liệu, đề tài này sẽ sử dụng phần mềm Microsoft Excel
để thực hiện thống kê, tính toán biến động, tạo các biểu đồ… nhằm thể hiện một cách
hiệu quả nhất các số liệu của đề tài
2.4 Một số các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất phi nông nghiệp
- Tỷ lệ sử dụng đất: Tỷ lệ sử dụng đất cho biết diện tích đất được đưa vào sử dụng cho các mục đích Sự biến động về tỷ lệ sử dụng đất cho biết khả năng đưa đất
vào sử dụng qua các năm Qua đó ta có thể đánh giá việc sử dụng đất của con người ở
từng nơi và từng thời điểm Tỷ lệ này càng lớn thì diện tích đất đưa vào sử dụng càng
lớn và diện tích đất chưa sử dụng càng nhỏ Công thức được xác định như sau:
Tỷ lệ sử dụng đất (%) = Tổng diện tích đất đai - Diện tích đất chưa sử dụng
Tổng diện tích đất đai
Tỷ lệ sử dụng đất phi nông nghiệp(%) = Diện tích đất phi nông nghiệp
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Ngũ Hành Sơn là môt quận nội thành của thành phố Đà Nẵng, nằm về phía Đông Nam của thành phố Địa giới hành chính của quận được bao bọc bởi:
- Phía Đông giáp với biển Đông
- Phía Tây giáp với huyện Hòa Vang
- Phía Bắc giáp với quận Hải Châu và quận Ngũ Hành Sơn
- Phía Nam giáp với huyện Điện Bàn - tỉnh Quảng Nam
Nằm trên tuyến đường giao thông chính giữa thành phố Đà Nẵng với phố cổ Hội An của tỉnh Quảng Nam, quận Ngũ Hành Sơn có vị trí và điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Đây còn là địa bàn thuận lợi cho việc mở rộng
không gian đô thị của thành phố về phía đông nam Quận Ngũ Hành Sơn gồm 04 đơn
vị hành chính cấp phường: Mỹ An, Khuê Mỹ, Hòa Hải, Hòa Quý
Hình 3.1 Vị trí địa lý quận Ngũ Hành Sơn
Trang 343.1.1.2 Địa hình
Địa hình của Ngũ Hành Sơn tương đối bằng phẳng, đất đai khá đồng nhất về tính chất vật lý, hoá học Khu vực phía Nam của quận, phần thuộc phường Hoà
Hải, có địa hình khá đặc biệt, xen lẫn với địa hình bằng phẳng là các núi đá vôi nhô
hẳn lên cao 20 - 30m tạo cảnh quan đặc trưng khu di tích Ngũ Hành nổi tiếng
3.1.1.3 Khí hậu
Quận Ngũ Hành Sơn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trung Lượng mưa và độ ẩm trung bình tương
đối thuận lợi cho phát triển sản xuất lương thực và thực phẩm Nhiệt độ trung bình là
25,60C, nhiệt độ cao tuyệt đối 40,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 15,50C Do đặc điểm địa
hình có đồng bằng phía Tây và đèo Hải Vân chắn ngang nên khí hậu khu vực Đà Nẵng
nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng không khắc nghiệt như khí hậu phía Bắc
đèo Hải Vân Ngũ Hành Sơn có nắng ấm gần như quanh năm, chỉ mưa vào các tháng 9,
10 và 11, nhưng vì nằm trong khu vực gió mùa nên lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành
Sơn thường cao hơn một số nơi khác Theo thống kê nhiều năm, lượng mưa hàng năm
của Ngũ Hành Sơn cụ thể như sau: lượng mưa trung bình năm là 2.066mm, lượng mưa
lớn nhất là 3.907mm (1999), lượng mưa thấp nhất là 1.400mm (1977), lượng mưa ngày
thấp nhất là 322mm Lượng mưa trong năm thường phân bố không đều giữa các mùa và
các tháng Thường thì mưa lớn tập trung vào các tháng 9,10,11,12 và chiếm từ 75 - 80%
tổng lượng mưa của cả năm
Hình 3.2 Lượng mưa năm và các tháng mùa lũ quận Ngũ Hành Sơn
(Nguồn: [23])
Trang 35Độ ẩm trung bình trong năm dao động từ 75% đến 90% Độ ẩm trung bình nhiều năm là 82% và độ ẩm thấp nhất tuyệt đối là 18% (tháng 4/1974)
Hướng gió thịnh hành của Ngũ Hành Sơn thường thay đổi theo mùa và các tháng trong năm Có hai hướng gió chủ đạo thường gặp trên địa bàn quận là gió Đông và gió
Bắc Gió Đông thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Gió Bắc thịnh hành từ
tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tốc độ gió trung bình là 3,3m/s, tốc độ gió mạnh nhất
là 40m/s Gió bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, thổi từ biển
Đông vào đất liền, với cấp bão thường gặp là từ cấp 9 đến cấp 10, làm ảnh hưởng nặng
nề đến sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp của nhân dân trong quận [26]
3.1.1.4 Thuỷ văn
Về chế độ thuỷ văn: Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn có 3 con sông chảy qua, đó là sông Hàn, sông Cổ Cò (tên thường gọi là sông Dài hay Trường Giang) và sông Vĩnh
Điện Sông Hàn là hợp lưu của sông Vĩnh Điện, sông Cổ Cò và sông Cẩm Lệ tại tại
khu vực ngã sông, nơi tiếp giáp giữa phường Hoà Cường của quận Hải Châu, xã Hoà
Xuân của quận Cẩm Lệ và phường Khuê Mỹ của quận Ngũ Hành Sơn Sông Vĩnh
Điện, dài 17km, là một nhánh của con sông Thu Bồn chảy theo hướng tây nam - đông
bắc, đổ ra sông Hàn Sông Vĩnh Điện chủ yếu phục vụ cho giao thông hàng hoá giữa
các huyện Bắc Quảng Nam với thành phố Đà Nẵng Sông Cổ Cò, là con sông nổi tiếng
trong lịch sử ngoại thương của xứ Đàng Trong trước đây, nối liền cảng Đà Nẵng với
thương cảng Hội An sầm uất vào các thế kỷ 16, 17 Sau này, sông Cổ Cò bị bồi lấp,
gãy đứt thành nhiều đoạn Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn, sông Cổ Cò tách thành hai
nhánh là sông Cổ Cò và sông Cầu Biện Sông Cổ Cò hiện dài 3,5km, rộng 10m, bị bồi
lấp nhiều, chưa có điều kiện để nạo vét nên đáy sông bị bồi lấp rất khó khăn cho ghe
thuyền đi lại, nhất là vào mùa khô Sông Cầu Biện dài 2km, rộng 20m, hiện tại bị lấp
nhiều, một số đoạn đã bị chặn lại để nuôi trồng thuỷ sản
Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật triều; mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do nước biển
xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa càng lớn độ
nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng lớn, ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
Quận Ngũ Hành Sơn có 2 nhóm đất chính là đất cát và đất phù sa Đất cát được phân bố rộng khắp trong vùng, đặc trưng là đất cát trắng mịn phân bố dọc biển với
Trang 36chiều dày biến động từ 4 đến 11m, có kết cấu chặt vừa Nhóm đất phù sa phân bố chủ
yếu ở ven các con sông chảy qua địa bàn quận
b) Tài nguyên rừng
Trên cơ sở nguồn tài nguyên khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và nguồn tài nguyên đất đai nêu trên, Ngũ Hành Sơn có nguồn tài nguyên rừng và thảm thực vật
tương đối đa dạng, gồm rừng trồng ở dọc biển và rừng tự nhiên ở khu vực núi Non
Nước - Ngũ Hành Sơn Thảm thực vật tự nhiên trên núi Ngũ Hành Sơn đa dạng về
chủng loại, thường xanh quanh năm và có độ che phủ tương đối lớn
Rừng trồng tập trung nhất là ở dọc bờ biển từ Hoà Hải ra đến Mỹ An với cây trồng chủ yếu là dương liễu và bạch đàn Mục đích của rừng trồng là phủ xanh đất
trống đồi trọc, chống xói mòn rửa trôi đất, làm rừng phòng hộ ven biển kết hợp với
sản xuất lâm nghiệp
c) Tài nguyên biển
Vùng biển của quận nằm trong ngư trường lớn biển Bắc Quảng Nam với nguồn hải sản có giá trị kinh tế, thuận lợi cho các sinh vật biển gồm các loài cá,
tôm, mực và các loại đặc sản khác như nghêu, bào ngư, rong biển sinh sôi nảy nở
Do ở vị trí cuối sông đầu biển, các con sông Cổ Cò, Cầu Biện của Ngũ Hành Sơn ở
trong môi trường nước mặn lợ độc đáo, một vùng nuôi trồng thủy sản xuất khẩu
giàu tiềm năng
d) Tài nguyên du lịch
Ngũ Hành Sơn có cả mạng lưới giao thông bằng đường bộ và đường thuỷ rất thuận lợi; nối liền với trung tâm thành phố; rất gần với cảng hàng không quốc tế
Đà Nẵng, nhà ga đường sắt Đà Nẵng và cảng biển Tiên Sa Quận Ngũ Hành Sơn
nằm trên trục đường bộ nối thành phố Đà Nẵng hiện đại với đô thị cổ Hội An -
một di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận và nằm ở chặng cuối cùng
của trục hành lang kinh tế Đông - Tây, dài 1450 km, nối các nước tiểu vùng sông
Mê Kông mà điểm cuối đường ở phía Đông là cảng biển Tiên Sa Cây cầu Tuyên
Sơn bắc qua sông Hàn với đầu cầu phía Tây ở quận Hải Châu và đầu cầu phía
Đông ở quận Ngũ Hành Sơn, được thủ tướng 2 nước Việt Nam và Thái Lan cắt
băng khánh thành vào ngày 22 tháng 3 năm 2004, là cây cầu cuối cùng trên tuyến
hành lang xuyên quốc gia quan trọng này
Ngoài đường bộ và đường thuỷ, Ngũ Hành Sơn còn có sân bay Nước Mặn rộng 90 ha với một đường bê tông nhựa dài 1.380m, rộng 18m do quân Mỹ xây
Trang 37dựng từ năm 1965; hiện đang được thành phố khôi phục và mở rộng để trong nay
mai trở thành sân bay trực thăng phục vụ quân sự và cho du lịch
Với các điều kiện về địa lý, tài nguyên và môi trường như trên, Ngũ Hành Sơn
có các lợi thế để phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội theo theo hướng văn
minh hiện đại
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế năm 2014 đạt 1.196 tỷ đồng, tăng 24%
so với năm 2013 Trong đó:
Ngành Du lịch - Dịch vụ - Thương mại:
Giá trị sản xuất ngành Du lịch - Thương mại - Dịch vụ đạt 673,12 tỷ đồng
Trang 38- Năm 2014, Ban Quản lý Danh thắng Ngũ Hành Sơn đón 637.000 lượt khách đến
tham quan, với tổng doanh thu hơn 9,479 tỷ đồng
- Tổng thu các loại phí và thuế tại các chợ Bắc Mỹ An và Non Nước năm 2014 ước thực hiện 1,660 tỷ đồng
- Trong năm 2014, trên địa bàn quận có 49 doanh nghiệp và 135 hộ cá thể hoạt động
trong lĩnh vực vận tải Doanh thu của ngành vận tải trong năm có tăng nhưng không
cao so với năm 2013 là do số lượng doanh nghiệp tăng không đáng kể, đồng thời do
giá cả đầu vào tăng cao, thêm vào đó tình hình chi phí chi trả cho việc trung chyển qua
các trạm thu phí tăng (phí xăng dầu, ) nên doanh thu năm 2014 có phần gia tăng Tuy
nhiên, hiệu quả kinh tế không cao, lợi nhuận của các doanh nghiệp vận tải vẫn thấp
- Các hoạt động thương mại trên địa bàn quận sôi động và nhộn nhịp, sức mua trong
nhân dân tăng, lượng hàng hóa phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2014 ước thực hiện 1.817 tỷ
đồng, tăng 29% so với năm 2013
Trong năm 2014, đã giải quyết 728 hồ sơ cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, với tổng vốn đăng ký là 309,7 tỷ đồng
Ngành Công nghiệp - Xây dựng:
Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng cơ bản ước thực hiện 465 tỷ đồng, tăng 20,32% so với năm 2013 Trong đó:
- Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp là 313 tỷ đồng
- Giá trị sản xuất ngành Xây dựng cơ bản là 152 tỷ đồng
- Sản phẩm ngành sản xuất đá thủ công mỹ nghệ đã tạo được thương hiệu về làng
nghề nhưng do tình hình kinh tế khó khăn và đang tiến hành sắp xếp bố trí lại làng
nghề nên sản phẩm tạo ra năm 2014 đạt 105 sản phẩm Tổ chức xét duyệt và ban hành
quyết định cho thuê đất tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước đối với 243 cơ sở sản
xuất đá mỹ nghệ
Ngành Nông nghiệp - Thủy sản:
Giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp - Thuỷ sản là 57,93 tỷ đồng Trong đó:
* Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 541 ha, trong đó:
Trang 39+ Cây lúa: 290 ha, tăng 59,2 ha so với năm 2013, năng suất đạt 55,90 tạ/ha, sản lượng 1.621 tấn, tăng 353 tấn so với năm 2013
+ Các loại cây trồng khác: 251 ha, giảm 21 ha Các loại cây rau, đậu ngắn ngày là một trong những cây trồng chính đem lại thu nhập cao cho bà con nông dân, tuy diện
tích đất trồng rau chuyên canh đã bị thu hồi phục vụ công tác chỉnh trang đô thị nhưng
các hộ dân đã tranh thủ đất dự án chưa sử dụng để trồng rau tại phường Mỹ An đem lại
thu nhập ổn định cho người dân Hoạt động sản xuất nấm trên địa bàn phường Hòa
Quý được quan tâm đầu tư phát triển
* Chăn nuôi: Công tác kiểm soát giết mổ, kiểm dịch động vật và tiêm phòng cho gia súc, gia cầm trên địa bàn quận được đảm bảo, hạn chế được dịch bệnh xảy ra
* Thủy sản: Hiện toàn quận có 20 tàu thuyền với tổng công suất 1.956CV Có 01 tàu khai thác xa bờ được ngư dân đóng mới có công suất 813CV đã hạ thủy và đưa vào
khai thác hiệu quả Sản lượng khai thác hải sản đạt 850 tấn, sản lượng thủy sản nuôi
trồng đạt 48 tấn (năm 2014) [26]
b Thu chi ngân sách
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận năm 2014 ước thực hiện 107,8
tỷ đồng, bằng 112,06% kế hoạch thành phố và 102,34% kế hoạch quận Tổng chi ngân
sách nhà nước năm 2014 ước thực hiện 208,217 tỷ đồng, đạt 105,52% kế hoạch thành
Trang 40Bảng 3.1 Tình hình dân số quận Ngũ Hành Sơn năm 2014
số(người) Diện tích(km 2 )
Mật độ dân số(người/ km 2 ) Số hộ
Phường Hòa Hải
Phường Hòa Quý Lao động 50.687 17.251 7.892 16.580 8.964
lao động được giải quyết việc làm, đạt 145,25% kế hoạch thành phố và 113,87% kế
hoạch quận Tổ chức phiên tư vấn nghề cho người lao động trên địa bàn quận thu
hút hơn 400 lao động đang có nhu cầu tìm việc làm tham gia