Cụ thể như giải quyết xung đột giữa gia tăng dân số và an ninh lương thực; giữa công nghiệp hóa, đô thị hóa dưới tác động của biến đổi khí hậu với việc đảm bảo quỹ đất sản xuất nông nghi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả
Phạm Đoàn Tiến
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp: “Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi” được hoàn thành theo chương trình Đào tạo Sau đại học của
trường Đại học nông lâm Huế
Có được luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy cô trong Khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này Đặc biệt
tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Dương Viết Tình
- người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả từ khi hình thành phát triển ý tưởng đến xây dựng đề cương, phương pháp luận, tìm tài liệu và có những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành
đề tài
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của UBND huyện Sơn Tịnh, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sơn Tịnh, phòng Nông nghiệp Sơn Tịnh, phòng Thống kê huyện Sơn Tịnh, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi - Chi nhánh Sơn Tịnhcán bộ, nhân dân xã Tịnh Trà,…… đối với tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin bày tỏ và gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên giúp đỡ tác giả hoàn thành bản luận văn này
Mặc dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do trình độ hạn chế về nhiều mặt, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp đó
Xin chân thành cảm tạ và tri ân!
Huế, tháng năm 2015
Tác giả
Phạm Đoàn Tiến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 4
1.1.1 Những chính sách đất đai ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay 4
1.1.1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn từ sau 1945 đến 1985 4
1.1.1.2 Chính sách quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn 1986 - 1992 7
1.1.1.3 Chính sách quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn 1993 đến nay 8
1.1.2 Những quan điểm sử dụng đất bền vững 9
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 14
1.2.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa 14
1.2.2 Vấn đề hạn điền và tích tụ ruộng đất 16
1.2.3 Sự cần thiết phải tích tụ và chuyển đổi ruộng đất 16
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 18
1.3.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.3.1.1 Ở Thái Lan 18
1.3.1.2 Ở Đài Loan 19
1.3.1.3 Ở một số nước Châu Âu 19
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước 21
Trang 41.3.2.1 Thực trạng, nguyên nhân và những hạn chế về manh mún ruộng đất 21
1.3.2.2 Một số kết quả đã thực hiện dồn điền đổi thửa ở nước ta 23
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC DỒN ĐỀN ĐỔI THỬA ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 25
1.4.1 Ảnh hưởng của việc dồn điền đổi thửa đến công tác quản lý đất đai 25
1.4.2 Ảnh hưởng của việc dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 27
1.5 MỐI QUAN HỆ CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA VỚI CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 28
1.5.1 Với quy hoạch sử dụng đất 28
1.5.2 Với công tác quản lý nhà nước đối với đất đai 30
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 32
2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 32
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32
2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 32
2.3.2 Tiến trình thực hiện dồn điền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 32
2.3.3 Đánh giá tình hình quản lý đất đai trước và sau dồn đền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 32
2.3.4 Tác động và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước và sau dồn đền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 32
2.3.5 Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa đến nông nghiệp, nông thôn tại xã Tịnh Trà và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa 32
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập và phân tích, xử lý số liệu 33
2.4.2 Phương pháp so sánh 33
2.4.3 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 33
Trang 52.4.3.1 Hiệu quả kinh tế 33
2.4.3.2 Hiệu quả xã hội 35
2.4.4 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN 36
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 36
3.1.1.1 Vị trí 36
3.1.1.2 Khí hậu, thời tiết. 37
3.1.1.3 Địa hình, đất đai 38
3.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 39
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 40
3.1.2.1 Dân số, lao động 40
3.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn 41
3.1.2.3 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp 41
3.1.2.4 Sản xuất nông nghiệp 42
3.1.2.5 Lâm nghiệp: 48
3.1.2.6 Nuôi trồng thuỷ sản: 48
3.1.2.7 Kinh tế trang trại và kinh tế vườn. 49
3.1.2.8 HTX dịch vụ Nông nghiệp 49
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 50
3.1.4 Tình hình sử dụng đất đai của xã Tịnh Trà 51
3.2 TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI XÃ TỊNH TRÀ, HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI 53
3.2.1 Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 53
3.2.2 Thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi dồn điền đổi thửa của xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 55
3.2.2.1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trước dồn điền đổi thửa xã Tịnh Trà 55
3.2.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa của xã Tịnh Trà 57
Trang 63.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRƯỚC VÀ SAU DỒN ĐIỀN
ĐỔI THỬA TẠI XÃ TỊNH TRÀ, HUYỆN SƠN TỊNH 59
3.3.1 Đánh giá tình hình quản lý đất đai trước dồn điền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 59
3.3.1.1 Thực hiện chính sách pháp luật về đất đai 59
3.3.1.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 60
3.2.1.3 Thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 60
3.3.1.4 Công tác đo đạc lập hồ sơ địa chính 60
3.3.1.5 Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 60
3.3.1.6 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 61
3.3.1.7 Công tác thanh tra giải quyết đơn thư kiếu nại, tố cáo 61
3.3.1.8 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 61
3.3.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai sau dồn điền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 62
3.3.2.1 Thực hiện chính sách pháp luật về đất đai 62
3.3.2.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 62
3.3.2.3 Thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 62
3.3.2.4 Công tác đo đạc lập hồ sơ địa chính 62
3.3.2.5 Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 63
3.3.2.6 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 63
3.3.2.7 Công tác thanh tra giải quyết đơn thư kiếu nại, tố cáo 63
3.3.2.8 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 63
3.4 TÁC ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRƯỚC VÀ SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI XÃ TỊNH TRÀ, HUYỆN SƠN TỊNH 64
3.4.1 Tác động của dồn điền đổi thửa đến sự thay đổi hệ thống đồng ruộng 64 3.4.1.1 Giúp cho việc quản lý đất công ích hiệu quả hơn 64
3.4.1.2 Tác động của dồn điền đổi thửa đến sự biến động bình quân diện tích đất nông nghiệp trên 1 người tại vùng nghiên cứu 66
Trang 73.4.1.3 Quy hoạch lại hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng, tạo điều kiện
thúc đẩy quá trình da dạng hóa sản xuất nông nghiệp 68
3.4.2 Tác động của dồn điền đổi thửa đến các hệ thống sản xuất nông nghiệp 70
3.4.3 Hiệu quả dồn điền đổi thửa đến diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 71
3.4.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước và sau khi dồn điền đổi thửa tại xã Tịnh Trà 73
3.4.4.1 Hiệu quả đầu tư và giá trị ngày công trên một sào (500m 2 ) đất sản xuất nông nghiệp của xã Tịnh Trà trước và sau dồn điền đổi thửa 73
3.4.4.2 Hiệu quả sử dụng trên 500m 2 đất sản xuất nông nghiệp trước và sau khi dồn điền đổi thửa tại vùng nghiên cứu 80
3.4.5 Đánh giá chung tác động và hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp 86
3.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP SAU KHI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI XÃ TỊNH TRÀ, HUYỆN SƠN TỊNH 87
3.5.1 Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa tại xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh 87
3.5.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi đồn điền đổi thửa tại Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh 91
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Đề nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường BVTV : Bảo vệ thực vật
CCRĐ : Cải cách ruộng đất CNH - HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HTX : Hợp tác xã
KHKT : Khoa học kỹ thuật UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước 22
Bảng 3.1 Dân số năm 2012 phân bố theo thôn 40
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp qua các năm 42
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất lương thực của xã giai đoạn 2006-2012 44
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất cây rau đậu thực phẩm 45
Bảng 3.5 Kết quả sản xuất cây công nghiệp hàng năm 46
Bảng 3.6 Quy mô đàn gia súc, gia cầm của xã giai đoạn 2006 - 2012 47
Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 51
Bảng 3.8 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp trước DĐĐT 55
Bảng 3.9 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp sau DĐĐT 57
Bảng 3.10 Diện tích đất công ích trước và sau DĐĐT 64
Bảng 3.11 Giá đấu thầu bình quân đất công ích trước và sau DĐĐT 66
Bảng 3.12 Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước và sau DĐĐT trên 1 người tại các thôn trên địa bàn xã Tịnh Trà 67
Bảng 3.13 Diện tích đất giao thông, thủy lợi nội đồng trước và sau DĐĐT 69
Bảng 3.14 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trông chính trước và sau DĐĐT tại xã Tịnh Trà 71
Bảng 3.15 Mức đầu tư các loại hình sử dụng đất trồng Lúa trước và sau DĐĐT 74
Bảng 3.16 Mức đầu tư các loại hình sử dụng đất trồng Lạc trước và sau DĐĐT 75
Bảng 3.17 Mức đầu tư các loại hình sử dụng đất trồng Ngô trước và sau DĐĐT 76
Bảng 3.18 Tính giá trị ngày công của một số cây trồng chính trước DĐĐT 78
Bảng 3.19 Tính giá trị ngày công của một số cây trồng chính sau DĐĐT 79
Bảng 3.20 So sánh hiệu qủa sản xuất trên 500 m 2 đất Lúa trước và sau DĐĐT 82
Bảng 3.21 So sánh hiệu quả sản xuất trên 500 m 2 đất Lạc trước và sau DĐĐT 83
Bảng 3.22 So sánh hiệu quả sản xuất trên một 500 m 2 đất Ngô trước và sau DĐĐT 85
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu lao động theo lĩnh vực sản xuất 40
Hình 3.2 Biểu đồ diễn biến diện tích gieo trồng 42
Hình 3.3 Biểu đồ cơ cấu (%) sử dụng đất nông nghiệp trước DĐĐT 56
Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu (%) sử dụng đất nông nghiệp sau DĐĐT 58
Hình 3.5 So sánh về cơ cấu sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa 59
Hình 3.6 Biểu đồ so sánh diện tích đất công ích trồng lúa nước tại 4 thôn nghiên cứu trước và sau DĐĐT 65
Hình 3.7 Biểu đồ so sánh giá đấu thầu đất công ích tại 4 thôn nghiên cứu trước và sau DĐĐT 66
Hình 3.8 Biểu đồ so sánh bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên 1 người trước và sau DĐĐT 67
Hình 3.9 Biểu đồ so sánh diện tích đất giao thông tại 4 thôn nghiên cứu trước và sau DĐĐT 69
Hình 3.10 Biểu đồ so sánh diện tích đất thủy lợi tại 4 thôn nghiên cứu trước và sau DĐĐT 70
Hình 3.11 Biểu đồ so sánh diện tích một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 72
Hình 3.12 Biểu đồ so sánh năng suất một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 72
Hình 3.13 Biểu đồ so sánh sản lượng một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 72
Hình 3.14 Biểu đồ so sánh mức đầu tư cho đất trồng lúa trước và sau DĐĐT 74
Hình 3.15 Biểu đồ so sánh mức đầu tư cho đất trồng Lạc trước và sau DĐĐT 75
Hình 3.16 Biểu đồ so sánh mức đầu tư cho đất trồng Ngô trước và sau DĐĐT 76
Hình 3.17 Biểu đồ so sánh lợi nhuận một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 80
Hình 3.18 Biểu đồ so sánh giá trị ngày công một số cây trồng chính trước và sau DĐĐT 80 Hình 3.19 Biểu đồ so sánh hiệu quả sản xuất trên 500m 2 đất Lúa trước và sau DĐĐT 82
Hình 3.20 Biểu đồ so sánh hiệu quả sản xuất trên 500m 2 đất Lạc trước và sau DĐĐT 84
Hình 3.21 Biểu đồ so sánh hiệu quả sản xuất trên 500m 2 đất Ngô trước và sau DĐĐT 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người Đất đai có giới hạn về không gian nhưng vô hạn về thời gian sử dụng Nói như vậy không phải là chúng ta có thể
sử dụng một cách bừa bãi, mà phải làm thế nào để sử dụng nó có hiệu quả cao và bền vững mới thật sự có ý nghĩa
Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu bứt phá quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia Những năm trước đây, trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước như Chỉ thị số 100CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban bí thư Trung ương Đảng về cải cách công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động trong HTX nông nghiệp Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thực hiện khoán đến từng hộ nông dân Chính sách đó đã giúp người nông dân gắn bó với ruộng đất, hăng say trong sản xuất, tạo đà cho nền nông nghiệp phát triển Việc giao đất theo Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp đã tác động tích cực, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển góp phần quan trọng trong sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội và đổi mới nhanh bộ mặt nông thôn Tuy vậy, vấn đề phân chia ruộng đất theo Nghị định số 64/CP với tư tưởng có gần có xa, có tốt có xấu nên ruộng đất manh mún phân tán nhiều nơi bộc lộ những tồn tại cản trở sản xuất nông nghiệp phát triển Tình trạng một hộ có nhiều thửa ở nhiều nơi hạn chế khả năng cơ giới hóa và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp Do đó việc cần làm trước mắt là phải có biện pháp điều chỉnh lại việc sử dụng đất cho phù hợp với điều kiện sản xuất mới, dồn ruộng đất từ nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, liền khu, liền khoảnh, công việc này hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nó làm cho đất đai được tập trung góp phần làm cho việc quản lý được dễ dàng hơn, đỡ tốn công lao động, chi phí giảm, hình thành nên những cánh đồng mẫu và áp dụng được cơ giới hóa vào trong nền nông nghiệp làm cho hiệu quả sản xuất cao hơn Để khắc phục sự
Trang 12manh mún ruộng đất, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế hộ trong cơ chế kinh tế nhiều thành phần thì việc dồn điền đổi thửa là việc làm hết sức cần thiết, đảm bảo việc sử dụng đất nông nghiệp lâu dài và hiệu quả, đồng thời thực hiện tốt việc quản lý đất đai theo Luật định
Trước tình hình thực tế như trên, tỉnh Quảng Ngãi đã có chủ trương chỉ đạo việc dồn điền đổi thửa từ năm 2004 Vấn đề đặt ra ở đây là hiệu quả sử dụng đất và cách quản lý đất đai sau khi dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, nó thực sự có hiệu quả hay không? Được sự cho phép của Trường Đại học Nông Lâm Huế, với sự giúp
đỡ và hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS.TS Dương Viết Tình, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa ở xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi” Việc thực
hiện đề tài này nhằm góp phần làm rõ cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của việc dồn những ruộng đất nhỏ lẻ thành những ô thửa lớn hơn, góp phần đưa ra những đề xuất tiếp theo trong việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn Đồng thời thưc hiện được mục tiêu CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, chương trình nông thôn mới đến năm 2020 của tỉnh Quảng Ngãi
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá tình hình quản lý và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước và sau “dồn điền đổi thửa” để đề xuất được những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới Mục đích nghiên cứu đề tài này là:
Phân tích hiệu quả về kinh tế - xã hội trước và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa;
Phân tích hiệu quả an sinh xã hội;
Đánh giá lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng dân cư và hộ gia đình trước
và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa;
Đề ra các chính sách về quản lý đất đại đối với đất nông nghiệp trên địa bàn xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
a Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, bổ sung cơ sở thực tiễn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa Đồng thời góp phần hoàn thiện quy trình dồn điền đổi thửa, phục vụ cho công cuộc xây dựng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông
Trang 13nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã Tịnh Trà, huyện Sơn Tịnh nói riêng và các xã trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói chung
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Những chính sách đất đai ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
1.1.1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn từ sau 1945 đến 1985
* Giai đoạn 1945 - 1954
Sau ngày đất nước giành được độc lập ngày 02/9/1945, đất nước ta lại bước vào một cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài đến 9 năm từ 1945 đến 1954 Mặc dù vậy, Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã xác định vai trò vô cùng quan trọng của của công tác đất đai, nên đã ban hành những sắc lệnh, quy định về lĩnh vực này Điều đó được thể hiện sau đây:
Ngày 20/10/1945 Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25%; Ngày 26/10/1945 Chính phủ ra Nghị định giảm thuế 20%; Đến tháng 1/1948 Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra các chính sách ruộng đất trong thời kỳ kháng chiến, đề ra các định hướng cơ bản của việc tịch thu ruộng đất của địa chủ để chia cho dân nghèo;
Tháng 2/1949 Chính phủ ra Sắc lệnh tạm cấp ruộng đất của việt gian và chia ruộng đất của thực dân Pháp cho dân cày nghèo;
Tháng 3/1952 Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về sử dụng đất công điền, công thổ Đến thời điểm này số ruộng đất công của 3.035 xã ở miền Bắc đã chia cho nông dân là 184.871 ha, chiếm 77% diện tích đất công điền, công thổ ở các địa phương[26];
Hội nghị Trung ương lần thứ nǎm (11-1953) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (11-1953) khóa II đã thông qua bản Cương lĩnh của Đảng về vấn đề ruộng đất Về mục đích chung của cuộc vận động cải cách ruộng đất, bản Cương lĩnh nói rõ: "Để cải thiện đời sống của nông dân, để đẩy mạnh kháng chiến, đánh đuổi đế quốc Pháp, can thiệp Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền, hoàn toàn giải phóng dân tộc Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, mở đường cho công thương nghiệp phát triển, có lợi cho kháng chiến và kiến quốc, cần phải xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của đế quốc Pháp ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng”;
Tháng 12/1953 Quốc hội đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất (CCRĐ);
Trang 15Chính sách về ruộng đất trong thời kỳ này có đặc thù không chỉ gồm những văn bản pháp luật do chính quyền cách mạng ban hành, mà còn cả một số văn bản, quy định của chính quyền cũ không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chỉnh thể dân chủ cộng hoà[26]
* Giai đoạn khôi phục kinh tế 1955 - 1957 ở miền Bắc
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu Ngay sau thắng lợi một trong những công tác đầu tiên cần được tập trung thực hiện là lĩnh vực ruộng đất Điều đó đã được thể hiện qua các quyết định về chủ trương, chính sách sau đây:
Tháng 9/1954 Bộ Chính trị ra quyết định thực hiện hoàn thành Cải cách ruộng đất (CCRĐ) và Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957);
Tháng 5/1955 Quốc hội ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp;
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, 140.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang hóa; 200.000 ha không có nước tưới Sau 3 năm phục hồi kinh tế, 85% diện tích ruộng đất bỏ hoang đã được phục hóa; 3 công trình đại thuỷ nông (Sông Cầu, Bái Thượng, Đô Lương) được khôi phục, 14 công trình trung thủy nông được xây dựng,
hệ thống đê sông Hồng, sông Cầu, sông Đáy được gia cố, sản xuất nông nghiệp phục hồi, đời sống nhân dân được cải thiện [19]
* Giai đoạn hợp tác hóa 1958 - 1960
Sau giai đoạn khôi phục kinh tế để tập hợp được sức mạnh của nông dân, Đảng và Chính phủ đã tiếp tục có những chủ trương, chính sách về công tác đất đai sau đây:
Tháng 8/1955 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã thông qua chủ trương xây dựng thí điểm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp;
Tháng 11/1958 Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II
đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc 1960): Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính trong toàn bộ dây chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta Kết quả đến cuối năm 1960 toàn miền Bắc đã căn bản hoàn thành xây dựng hợp tác xã (HTX) với 41.400 HTX, thu hút 2,4 triệu
(1958-hộ nông dân với 85,8% số (1958-hộ và 76% diện tích ruộng đất tập thể Đồng thời với xây dựng HTX, trong 2 năm 1957, 1958 Nhà nước đã thành lập 6 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, đến cuối năm 1959 đã thành lập 48 nông trường quốc doanh[19]
Trang 16* Giai đoạn hợp tác hóa, tập thể hóa 1961 - 1985
Quá trình hợp tác hóa nông nghiệp đã diễn ra nhanh chóng, với sự tập trung cao độ ruộng đất và các tư liệu sản xuất, lao động; từ HTX bậc thấp chuyển lên HTX bậc cao, ruộng đất đã được tập thể hóa triệt để, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất đã được thiết lập Trong điều kiện thời chiến HTX nông nghiệp đã góp phần chi viện sức người, sức của cho giải phóng miền Nam thống nhất đất nước;
Cuối năm 1974, đầu năm 1975 chủ trương xây dựng cấp huyện và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp được triển khai mạnh mẽ Phong trào đã tạo ra “các công trường thủ công” làm thủy lợi, khai hoang, lập vùng kinh tế mới, di dân, rời làng với khí thế "dời non, lấn biển" Mô hình tập thể hóa nông nghiệp đã đạt đến đỉnh cao, hoàn chỉnh, phân công lao động trong HTX nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa Vào năm 1975 cả nước đã có 17.000 HTX, trong đó 90% là HTX bậc cao, số hộ xã viên chiếm 95,6% số
hộ nông dân miền Bắc, trong đó hộ xã viên HTX bậc cao chiếm 96,4%, bình quân 1 HTX có diện tích đất canh tác là 115,0 ha, 199 hộ và 337 lao động trong độ tuổi[19];
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV tháng 12 năm 1976 quyết định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Chủ trương xây dựng cấp huyện, hoàn thiện xây dựng HTX quy mô toàn xã, tổ chức nông nghiệp sản xuất lớn được tiếp tục khẳng định: “Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, xóa bỏ kiểu tổ chức sản xuất và ăn chia theo đội Thực hiện việc quản lý, sử dụng ruộng đất tập trung, thống nhất trên quy mô HTX Các HTX phân phối lại ruộng đất cho các đội trên nguyên tắc tiện canh tiện cư với quy mô lớn, tránh phân tán, chia sẻ ruộng đất manh mún”;
Ngày 13/1/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 100 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã tạo cho xã viên được quyền
sử dụng đất trong khuôn khổ rộng rãi hơn, thiết thực và gắn bó hơn với lợi ích của người lao động Đây là một mốc son có ý nghĩa về chính sách ruộng đất nông nghiệp trong thời kỳ này;
Ngày 18/1/1984 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 35 “Về khuyến khích phát triển kinh tế gia đình”, “Về đất cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn đất đai mà HTX, nông lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất”;
Với các chính sách trên, trong giai đoạn từ 1981 - 1985 sản xuất nông nghiệp đã
có bước phát triển: Giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp tăng 6%, thu nhập quốc dân trong nông nghiệp tăng 5,6%, sản lượng lương thực tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22,1% [19]
Trang 171.1.1.2 Chính sách quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn 1986 - 1992
Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã tạo ra những thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, cơ chế khoán 100 cũng không tháo gỡ hết những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp Sau đó tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 1986 đến năm
1988 chỉ 2,2% trên năm Năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành phố trên miền Bắc; ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai Điều này tất yếu đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai[19];
Để giải quyết những vướng mắc trên, Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày
05-04-1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi Khoán 10) ra đời Khoán
10 đã đề ra cơ chế khoán mới, xác định HTX nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán với HTX Bắt đầu thời kỳ này, các
tư liệu sản xuất (máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh
tế tự chủ Khoán 10 đã được người nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn khởi, đưa lại chuyển biến rõ rệt, sản xuất lương thực tăng từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp gần 10% Sản lượng lương thực tăng không những cung cấp đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra quốc tế Tuy nhiên, Khoán 10 chưa đề cập đến quyền sử dụng đất của hộ nông dân và việc xây dựng HTX mới Riêng ở Miền Nam, người nông dân được giao lại đất họ đã
sở hữu trước năm 1975 Khoán 10 chưa có pháp luật tương ứng để điều chỉnh dẫn đến một số quyền của người sử dụng đất như cho tặng hoặc thừa kế chưa được pháp luật thừa nhận; một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất như xây dựng trạm điện, giao thông, thủy lợi,… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp[19];
Văn bản đầu tiên về đất đai do Nhà nước ban hành thể hiện tinh thần đổi mới của Đại hội Đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI là Luật Đất đai năm 1987
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII,
kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987 Sau Luật Đất đai năm 1987, Thông tư liên bộ số 05/TT-LB ngày 18-12-1991 của Bộ Thủy sản và Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những ao nhỏ, mương rạch trong vườn nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình; ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình;
với những mặt nước chưa sử dụng có thể giao cho tổ chức, cá nhân;
Ngày 15-7-1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số HĐBT về chính sách sử dụng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước
Trang 18327/QĐ-với nội dung cơ bản là lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất để giao đất 327/QĐ-với những điều kiện mở Nhà nước giành 60% vốn dự án để xây dựng kết cấu hạ tầng, 40%
còn lại cho hộ gia đình vay không tính lãi Những hộ chuyển vùng đến khu kinh tế mới được phép chuyển quyền sử dụng đất để lấy tiền làm vốn; đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, các công ty tư nhân bỏ vốn đầu tư dưới hình thức dồn điền, trang trại[19];
Như vậy, chính sách đất đai thời kỳ đầu đổi mới chủ yếu là: Thể hiện tinh thần đổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu mang tính thăm dò, thí điểm; Điều chỉnh trong nông nghiệp và các đơn vị tập thể như nông, lâm trường, HTX; quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của hộ gia đình, cá nhân vẫn chưa được thừa nhận
1.1.1.3 Chính sách quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn 1993 đến nay
Trước những kết quả khả quan của Khoán 100 và Khoán 10, Hội nghị lần thứ
5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới
và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Nghị quyết là cơ sở cho việc thông qua Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IX ngày 14-7-1993 Luật Đất đai năm 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra;
Sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ và các Bộ, ngành đã có văn bản triển khai Đặc biệt là Nghị định số 64/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất cho
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15-01-1994 về đất lâm nghiệp Bên cạnh đó, cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đất đai;
Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân; đồng thời giao quyền sử dụng đất và các quyền khác như quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được giao đất
sử dụng ổn định lâu dài (20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm) Việc giao đất sẽ được tiến hành lại khi hết thời hạn nếu như phù hợp với quy hoạch và người sử dụng đất thực hiện tốt nghĩa vụ của người sử dụng đất và có nhu cầu tiếp tục sử dụng Luật Đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân,
cụ thể đối với cây hàng năm là không quá 2 ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung;
không quá 3 ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm tối đa là 10 ha đối với các xã vùng đồng bằng và 30 ha đối với vùng trung du và miền núi Cùng với việc giao đất, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã xét và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các hộ nông dân Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là trên 90% Đối
Trang 19với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi, nơi có rất nhiều phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn
ra chậm hơn và hiện vẫn đang được tiếp tục thực hiện[18];
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường phát triển kéo theo các quan hệ xã hội trở nên phức tạp hơn, nhu cầu sử dụng và chuyển quyền sử dụng đất đã làm phát sinh nhiều vấn đề mà Luật Đất đai năm 1993 chưa thể giải quyết được Vì vậy, ngày 02-12-1998 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai được ban hành, theo đó người sử dụng đất được giao thêm 2 quyền nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai[18];
Luật Đất đai tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và ban hành ngày 01-10-2001
Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế và vai trò quản lý Nhà nước đối với đất đai, được thể hiện bởi những quy định về khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, thu hồi đất, quy hoạch và
kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Luật Đất đai ngày 26-11-2003 thay thế Luật Đất đai năm 1993 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001) nhằm để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Điều 61, Điều 62 và Điều 63 của Luật Đất đai năm
2003 đã thừa nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;
Như vậy, chính sách đất đai từ năm 1993 đến nay đã thừa nhận quyền sử dụng đất lâu dài của cá nhân và đảm bảo thực hiện, có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn Tuy nhiên, còn thiếu tầm chiến lược, không có khả năng dự báo dài hạn, thay đổi thường xuyên, mang tính xử lý tình huống;
Tóm lại, tuy còn những bất cập nhưng những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000 -
2003 An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi [54]
1.1.2 Những quan điểm sử dụng đất bền vững
Khái niệm “Sử dụng đất bền vững” bao hàm sự quản lý thành công các tài nguyên cho nông nghiệp và phi nông nghiệp để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng và thay đổi của con người trong khi vẫn duy trì hay tăng cường chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, phần lớn các hệ thống sử dụng đất nói chung và các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp nói riêng với nhập lượng thấp, dựa trên sự khai thác độ phì của đất, thường không bền vững Quản lý của tài nguyên đất bền vững có nghĩa là sự duy trì sức sản xuất cao trên mỗi đơn vị diện
Trang 20tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng cường chất lượng đất, và cải thiện các đặc trưng của môi trường; Các thuộc tính chính của sử dụng đất bền vững là: Sử dụng các tài nguyên đất đai trên một cơ sở dài hạn; đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng tương lai; tăng cường sản xuất trên đầu người; duy trì tăng cường chất lượng môi trường; phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa môi trường của các hệ sinh thái bị suy thoái và nghèo nàn
Mục tiêu chính của một hệ thống sử dụng đất bền vững là duy trì một sức sản xuất ở mức cao, duy trì hay cải thiện các thuộc tính môi trường, cảnh quan, và tăng cường chất lượng đất Tính bền vững liên kết mật thiết với chất lượng đất và nó phải được duy trì hay tăng cường Các nhập lượng cao là sự đưa thêm các dưỡng liệu và vật liệu cải thiện tính chất vật lý của đất từ bên ngoài vào đất để tối thiểu hóa chất thải và các rũi ro của sự xuống cấp của đất và môi trường Chất lượng đất phụ thuộc vào một loạt các tính chất và tiến trình của đất Tính chất của đất quan trọng đối với chất lượng của nó là cấu trúc của đất, hàm lượng chất hữu cơ của đất, nước hữu dụng cho thực vật và dự trữ dưỡng liệu, sự thoáng khí, vận tốc, cường độ chu chuyễn và biến đổi dưỡng liệu Sự hư hỏng chất lượng đất ảnh hưởng lên các tiến trình hỗ trợ sự sống của đất
Để đảm bảo việc quản lý, khai thác, sử dụng đất đai bền vững, Việt Nam cần phải xây dựng chiến lược quản lý tài nguyên đất đai dài hạn Có quan điểm sử dụng đất theo hướng bền vững Đó là nhận định chung của các nhà khoa học, chuyên gia
và quản lý của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường Việt Nam
Trước những thách thức lớn mang tính toàn cầu như áp lực gia tăng dân số, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, nguồn nước, sinh thái và an ninh năng lượng, đòi hỏi công tác quy hoạch sử dụng đất phải được xây dựng dựa trên tầm nhìn dài hạn, dự báo hai chiều cả về nhu cầu sử dụng cho các mục đích và những biến động về diện tích, chất lượng nguồn tài nguyên đất do những tác động thiên nhiên và con người gây ra
Trong những năm qua với xu thế công nghiệp hóa, đô thị hóa, quỹ đất đai Việt Nam được khai thác mạnh mẽ cho các mục đích phi nông nghiệp Song nền kinh tế phát triển nóng, cộng với đầu tư dàn trải do sự thu hút đầu tư “bằng mọi giá” của các địa phương, các ngành lĩnh vực đua nhau đầu tư sang cả những lĩnh vực không phải là thế mạnh của mình, cơ cấu sử dụng đất của các nhóm đất mất cân đối đã gây
ra những hệ lụy về kinh tế, xã hội và môi trường cần phải sớm được khắc phục
Thực tế trong những năm qua, đã có hàng trăm ngàn héc ta đất trồng lúa nước
bị chuyển cho các mục đích sử dụng khác Nhiều diện tích thuộc đồng bằng là dạng
“bờ xôi ruộng mật” đã chuyển sang để phát triển đô thị, khu công nghiệp và các cơ
sở phi nông nghiệp khác Khi diện tích đất lúa chuyển sang sản xuất phi nông
Trang 21nghiệp thì khả năng quay trở lại là rất khó, trong khi quỹ đất để khai hoang, mở rộng diện tích đất trồng lúa để bù đắp vào diện tích đất lúa đã mất đi lại rất hạn chế
và tốn kém
Trước thực trạng đó, Đảng và nhà nước ta đã có quan điểm chỉ đạo nêu rõ:
“Đất đai được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao;
bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” [02]
Giai đoạn vừa qua, đặc biệt từ khi có Luật Đất đai năm 2003 việc quản lý, sử dụng đất có nhiều tiến bộ, trong đó có sự đóng góp rất quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Thông qua hệ thống quy hoạch sử dụng đất được tổ chức
ở bốn cấp hành chính từ cấp trung ương đến cấp xã Nhưng cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, phát triển nền kinh tế thị trường, một số vấn đề quan trọng đã và đang đặt ra đối với công tác quản lý đất đai trong thời gian tới Cụ thể như giải quyết xung đột giữa gia tăng dân số và an ninh lương thực; giữa công nghiệp hóa, đô thị hóa dưới tác động của biến đổi khí hậu với việc đảm bảo quỹ đất sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực; quyền sử dụng đất đai; giữa công cụ quản lý kinh tế và công cụ quản lý hành chính; giữa việc đáp ứng nhu cầu hiện tại với việc đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
Đề cập về tầm nhìn chiến lược sử dụng tài nguyên đất của Việt Nam trong thế kỷ 21, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Vũ Năng Dũng, Hội Khoa học đất Việt Nam cho biết, Việt Nam là một trong những nước có bình quân diện tích đất tự nhiên và đất sản xuất nông nghiệp vào loại thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Bình quân diện tích đất tự nhiên 0,38ha/người, đất nông nghiệp chỉ vẻn vẹn 1.140m2/người (Báo cáo tại Hội thảo
“Quy hoạch sử dụng đất đai và việc xây dựng chiến lược quản lý tài nguyên đất đai dài hạn tại Việt Nam," do Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường tổ chức ngày 1/10/2013 tại Hà Nội)
Trong tương lai, khi dân số tăng lên thì hai chỉ tiêu này lại càng giảm hơn nữa
Mặt khác, tất cả các hoạt động kinh tế đều cần đến đất đai, nên đất đai trở thành tài nguyên vô cùng quý giá, cần được quản lý và sử dụng có hiệu quả nhất cho đất nước trước mắt cũng như trong tương lai
Theo đó, Việt Nam cần xây dựng chiến lược sử dụng đất lâu dài, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế từ 15-20 năm, hoặc tầm nhìn xa hơn phải xây dựng và phê duyệt được chiến lược sử dụng đất ở cấp tỉnh và cấp quốc gia, để làm căn cứ cho quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất 10 năm, 5 năm phù hợp với sự phát triển của kinh tế đất nước
Tiếp tục đầu tư, nghiên cứu đo đạc nắm vững số lượng, chất lượng của từng loại đất chính; chú trọng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xây dựng cơ sở lưu trữ, quản lý về đất đai hiện đại phục vụ cho việc khai thác và sử dụng của các
Trang 22ngành kinh tế; Có kế hoạch khả thi sử dụng đất nhiễm mặn, đất cát, đất khô hạn, đất
bị xói mòn, đất dốc và chống hoang mạc hóa, đất bị ô nhiễm bởi nước thải đô thị, công nghiệp và chất độc hóa học
Quan điểm sử dụng đất bền vững thực ra không mới, đã được Đảng ta chỉ đạo nhất quán qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, rõ nét nhất tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Do đó chính sách pháp luật đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác tài nguyên đất đai nhằm phát triển kinh tế xã hội của nước ta Điều 13 Luật đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất đai được chia theo ba phân nhóm:
lý, bảo vệ đất đai Đất nông nghiệp có vị trí quan trọng và được coi là một trong những đảm bảo cho sự ổn định an toàn cho tồn tại và phát triển của đất nước
Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Đất là sản phẩm của tự nhiên, đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, đất đai vừa là tài nguyên vừa là nguồn lực để phát triển đất nước Chính sách đất đai phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và người sử dụng đất, quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt và là tài sản của người sử dụng đất nhất là khi chúng ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp hầu hết bộ phận dân cư vẫn sinh sống ở nông thôn, sinh kế ổn định chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Ý nghĩa của hoạt động quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; Đồng thời việc bảo vệ đất trồng lúa có ý nghĩa vô cùng đặc biệt “Bảo vệ đất trồng lúa không chỉ có ý nghĩa đảm bảo an ninh lương thực mà còn là việc duy trì nền văn minh lúa nước mà dân tộc Việt Nam đã dày công xây dựng hàng ngàn năm mới có Đây cũng là quá trình đấu tranh gay gắt
để hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn cục, giữa lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa - xã hội
Quan điểm việc sử dụng đất nông nghiệp bến vững theo Luật đất đai 2003 Chủ thể trong quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp
Theo quy định tại các Điều 9; 34; 35; 36 của Luật đất đai năm 2003, chủ thể
sử dụng đất nông nghiệp là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có tham gia trực tiếp
Trang 23vào quá trình sản xuất đất nông nghiệp, có ý chí độc lập, có quyền và nghĩa vụ nhất định, bao gồm: tổ chức, hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp;
Khách thể trong quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp
Quyền của người sử dụng đất:
Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm 2003, ngoài ra, khi trở thành chủ sử dụng đất người sử dụng đất còn được quyền cụ thể trong các giao dịch quyền sử dụng đất như: Chuyển đổi; Chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Tặng cho quyền sử dụng đất; Thừa kế quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Nghĩa vụ của người sử dụng đất Người sử dụng đất khi sử dụng đất phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ chung theo quy định tại Điều 107 của Luật đất đai năm 2003: sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất
và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật, đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất, thế chấp, bão lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Những nguyên tắc trong sử dụng đất nông nghiệp hiện nay
Bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Luật đất đai năm 2003 đã ghi nhận nguyên tắc bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa với vai trò an ninh lương thực quốc gia, Nhà nước có chính sách bảo vệ đất chuyên trồng lúa nước, hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Trường hợp cần thiết phải chuyển một phần diện tích đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích khác thì Nhà nước có biện pháp bổ sung diện tích đất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất chuyên trồng lúa nước Nhà nước có chính sách hỗ trợ, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, áp dụng khoa học và công nghệ hiện đại cho vùng quy hoạch chuyên trồng lúa nước có năng suất, chất lượng cao Người sử dụng đất chuyên trồng lúa nước có trách nhiệm cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản và vào mục đích phi nông nghiệp nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Đồng thời, Nhà nước nghiêm cấm việc mở rộng tuỳ tiện khu dân cư không theo quy hoạch và không cần thiết đối với nhu cầu của xã hội trong tình hình hiện nay
Trang 24Sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
Sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp nghĩa là có thể chuyển đổi việc sử dụng đất vào nhiều mục đích sản xuất khác nhau phù hợp với điều kiện và cơ hội sản xuất khác nhau nhằm đa dạng hóa cây trồng Việc sử dụng đất linh hoạt cho phép nông dân có thể ứng xử với các tín hiệu thị trường như là giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra Nông dân sẽ có lợi nhiều khi sử dụng đất linh hoạt và sẽ giúp họ giảm thiểu rủi ro, đồng thời tiết kiệm chi phí, giảm tổn thất và do đó tăng thu nhập của họ
Đất đai đối với mỗi quốc gia là có hạn, đặc biệt trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp lại Cùng với đó, việc sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả có là mối quan tâm đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia nói chung và đất nước ta nói riêng
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 1.2.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa
Việc dồn điền đổi thửa được tiến hành dựa trên cơ sở pháp lý sau đây:
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn;
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
số 15-NQ/TW, ngày 18 tháng 3 năm 2002 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010;
Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
Đại hội IX của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta 10 năm (2001 - 2010) trong đó nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đặc biệt Tuy nhiên, một trong những vấn đề gây trở ngại cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay là tình trạng đất đai manh mún, phân tán;
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003 tại hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về việc tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu rõ:
“Khuyến khích tích tụ đất đai, sớm khắc phục tình trạng đất sản xuất nông nghiệp manh mún Quá trình tích tụ đất đai cần có sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước, có quy hoạch, kế hoạch, có bước đi vững chắc trên từng địa bàn, lĩnh vực, gắn với chương trình phát triển ngành nghề, tạo việc làm Tích tụ đất đai thông qua việc nhận chuyển nhượng và nhiều biện pháp khác phù hợp với từng thời kỳ, từng vùng”;
Trang 25Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thúc đẩy thực hiện Nghị quyết Trung ương khoá IX về kinh tế tập thể: “Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn việc dồn điền, đổi thửa trên nguyên tắc tự nguyện, tự thoả thuận và các bên cùng có lợi, kết hợp tổ chức quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng đất đai có hiệu quả”;
Quyết định số 68/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đất đai là: "Điều chỉnh các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho nông dân thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với đất đai như khuyến khích nông dân dồn điền đổi thửa; cho phép nông dân sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh”;
Mục đích thực hiện dồn điền đổi thửa nhằm đảm bảo cho các hộ gia đình, cá nhân có diện tích đất tập trung, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún ruộng đất, tăng thêm diện tích sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa, vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến, làm cơ sở cho việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp, thuận tiện cho việc cơ giới hóa, kiến thiết đồng ruộng, thâm canh tăng năng suất cây trồng, giảm chi phí đầu tư, hạ giá thành sản phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giảm bình quân số thửa trên hộ gia đình còn 2 - 3 thửa, nơi thuận lợi dồn thành 1 thửa; hoặc khuyến khích các hộ gia đình hoán đổi đất liền kề để tập trung sản xuất
Công tác dồn điền, đổi thửa phải được thực hiện trên cơ sở các hộ nông dân bàn bạc dân chủ, công khai, đi đôi với sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp uỷ Đảng và sự điều hành đồng bộ của chính quyền địa phương, sự hướng dẫn, định hướng của cán
bộ kỹ thuật, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ Quyết định số 54/2003/QĐ-UB ngày 9/6/2003 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về cơ chế khuyến khích thực hiện chủ trương
"dồn điền, đổi thửa" đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Dồn điền, đổi thửa cơ bản ổn định diện tích ruộng đất của mỗi hộ, mỗi khẩu đã được chia theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, và Chỉ thị số 22/CT-TU ngày 6/2/2004 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác dồn điền đổi thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.để thực hiện việc tính toán phân chia khi thực hiện dồn điền, đổi thửa Trường hợp có điều chỉnh diện tích ruộng đất cho từng hộ do phương án quy hoạch sử dụng đất vào mục đích khác hoặc diện tích của hộ đó bất hợp lý thì phải được bàn bạc thống nhất trong nhân dân; Công tác dồn điền, đổi thửa không ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của người nông dân; đồng thời đảm bảo ổn định chính trị, đoàn kết nội bộ nông thôn, đảm bảo công bằng, thực hiện tốt các chính sách xã hội
Trang 261.2.2 Vấn đề hạn điền và tích tụ ruộng đất
Hiện nay, vấn đề hạn điền và tích tụ ruộng đất đang trở thành vấn đề cần phải được quan tâm trong nông nghiệp ở nước ta;
Điều 70 Luật Đất đai 2003 đã đề cập đến hạn mức giao đất trong nông nghiệp
Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 3 héc ta đối với mỗi loại đất; hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với các
xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi [18];
Tại khoản 2 mục c Điều 71 Luật Đất đai năm 2003 đã nêu rõ: “Đối với những địa phương mà Uỷ ban nhân dân các cấp đã hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân thương lượng điều chỉnh đất cho nhau trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến nay đã sử dụng ổn định thì được tiếp tục sử dụng” [18]
Tại khoản 1 mục b Điều 5 Nghị định 64/NĐ - CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ nêu: “Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm không quá 2 ha”
Để giải quyết mâu thuẫn ban đầu nảy sinh giữa chính sách hạn điền và chủ trương tích tụ ruộng đất trong quá trình CNH, tại kỳ họp thứ I Quốc hội Khóa X, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “Chính sách hạn điền cần được xem xét với điều kiện đất đai ở các vùng khác nhau, không cản trở bước tiến ban đầu sang nền nông nghiệp sản xuất lớn; đồng thời ngăn chặn việc cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân nghèo bằng các thủ đoạn chèn ép Phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp hàng hóa và các ngành nghề khác ở nông thôn để giúp hộ nông dân thiếu đất lập nghiệp mới hoặc có việc làm và thu nhập ”
Như vậy, chính sách đất đai của Nhà nước ta hiện nay là thực hiện hạn điền theo nguyên tắc vừa sử dụng có hiệu quả, vừa không để nông dân bị bần cùng hóa
do không có đất để sản xuất, vừa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất hợp lý theo tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp
1.2.3 Sự cần thiết phải tích tụ và chuyển đổi ruộng đất
Về quan điểm, cần xác định tích tụ và chuyển đổi ruộng đất là một quá trình lâu dài, phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Về mục tiêu, việc thực hiện tích tụ và chuyển đổi ruộng đất phải quán triệt các mục tiêu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa
X đã đề ra, gắn với việc thực hiện chương trình quốc gia xây dựng nông thôn
Trang 27mới.Tích tụ và chuyển đổi ruộng đất gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình Tích tụ và chuyển đổi ruộng đất thực sự đã tạo thêm việc làm cho bà con nông dân, nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp, xóa đói, giảm nghèo và góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới
Đất đai, quan hệ đất đai là song trùng với sụ tồn tại và phát triển xã hội xuyên suốt mọi thời đại Bất cứ Nhà nước nào cũng nắm đất đai và quản lý chặt chẽ đất đai với mục đích củng cố chế độ chính trị và tạo lập nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Khi nắm được chính quyền một trong những nhiệm vụ đầu tiên của các Nhà nước là phải giải quyết vấn đề đất đai và quan hệ đất đai Nhiệm vụ đó được giải quyết thông qua các cuộc cải cách ruộng đất
Hệ thống pháp luật đất đai với các nội dung cơ bản quy định về việc quản lý
và sử dụng đất đai, vai trò quản lý nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân
Pháp luật đất đai tác động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó có phát triển nông thôn, nông nghiệp và các quyền lợi của nông dân; các quy định của pháp luật đất đai cũng liên quan đến vấn đề tích tụ ruộng đất và phát triển kinh
tế nông hộ
Xây dựng các chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong đó ở các hình thức, mức độ khác nhau hỗ trợ và thúc đẩy việc tích tụ ruộng đất, phát triển kinh tế nông hộ và phân công lại lao động trong khu vực nông thôn, nông nghiệp
Sau hơn 20 mươi năm đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng đã hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới Sự hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội mới để phát triển, song cũng nẩy sinh nhiều thách thức mới cần phải giải quyết để tồn tại và phát triển về vấn đề kỹ thuật, tổ chức sản xuất, hàng rào thuế quan như:
Không thể chấp nhận một nền nông nghiệp sản xuất manh mún trong khi cả nước tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường;
Không thể xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia nếu mỗi tỉnh, mỗi hộ nông dân tiếp tục tự cấp, tự túc trên mảnh đất nhỏ bé của mình;
Quá trình phân hóa giàu nghèo đang diễn ra gay gắt ở nông thôn mà một nhóm nông dân đang phải gánh chịu;
Nếu trước đây, khi chia lại ruộng để khoán hộ, nông dân đòi hỏi phải có tốt -
có xấu, có xa - có gần, có thấp - có cao, thì ngày nay tư tưởng manh mún, nhỏ hẹp
ấy đã phải nhường cho một ước nguyện mới mang tính thời đại, cần những diện tích rộng lớn, liền vùng, liền khoảnh để sản xuất hàng hóa;
Trang 28Ruộng đất 1 hộ không chỉ đơn giản dồn từ trên chục mảnh vào vài ba mảnh,
mà chỉ còn 1 đến 2 mảnh, Nếu cứ để ruộng đất manh mún như hiện nay thì không bao giờ có sản xuất hàng hóa và sẽ không có tiêu thụ theo hợp đồng Ruộng đất được tích tụ sẽ khuyến khích nông dân, các nhà đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Một khi các nhà đầu tư nông nghiệp có thể tích tụ ruộng đất ở quy mô thích hợp, đóng góp của họ sẽ không chỉ làm thay đổi cung cách sản xuất manh mún
mà còn tạo ra những đổi mới thật sự ở nông thôn;
Hiện cả nước có trên 11 triệu hộ nông dân với gần 70 triệu nhân khẩu, đang nắm giữ 12,68 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm 57,88% diện tích đất nông nghiệp cả nước; 57,49% tổng quỹ đất đã giao cho các đối tượng sử dụng; việc cấp giấy chứng nhận đối với đất sản xuất nông nghiệp đã hoàn thành cơ bản (13,99 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với 7,59 triệu ha, đạt 83,8%) Với các điều kiện trên, thị trường quyền sử dụng đất trong khu vực nông thôn, nông nghiệp là một thị trường tiềm năng Tuy nhiên, thị trường quyền sử dụng đất trong khu vực nông thôn và nông nghiệp chưa phát triển [19]
Theo một kết quả điều tra, nghiên cứu về thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, nông thôn: Các hộ gia đình, cá nhân có xu hướng giữ đất để sản xuất, bình quân số hộ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thuê quyền sử dụng đất chỉ chiếm 1-2%; việc thế chấp quyền sử dụng đất: khá phổ biến, đặc biệt ở các vùng kinh tế phát triển như Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; việc thế chấp quyền sử dụng đất chủ yếu để đầu tư sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu bức xúc của đời sống [07]
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 1.3.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.1.1 Ở Thái Lan:
Đồng bằng Chao phraya của Thái Lan, cách đây khoảng 120 năm vùng này dân
cư vẫn còn thưa thớt, cả vùng có đến 2 triệu ha đất nhưng dân cư chỉ có khoảng trên 300.000 người Sự bắt đầu xây dựng đô thị khổng lồ Băngkok kể từ vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng tăng nhanh bình quân 3% năm Đất nông nghiệp mất đi trung bình 1%/năm kể từ năm 1970 trở lại đây Các trang trại bị chia nhỏ giảm dần về quy mô ruộng đất Trung bình một hộ năm 1950 có 4,8 ha đến năm 1963 còn 4,5 ha, năm 1978 là 4,1 ha và 15 năm sau, năm 1993, chỉ còn 3,5 ha Sự giảm quy mô trung bình ruộng đất ở Thái Lan một phần nữa còn được giải thích bởi sự chia đều ruộng đất cho con cái thừa kế và sự chậm tiến bộ về mặt công nghệ, kỹ thuật sản xuất Giai đoạn
từ 1955 đến 1975 là giai đoạn giá nông sản (lúa) khá thấp không khuyến khích được tập trung ruộng đất Trên thực tế, giá nông sản thấp và sự bần cùng hóa nông dân luôn
đi cùng với sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư ruộng đất lúc đó không
Trang 29cao, bởi vì người ta cần chia nhỏ và đa dạng hoạt động để tránh rủi ro và cũng còn bởi
vì thiếu những người có đủ tiền bạc, thực lực để mà mua đất vào [1]
1.3.1.2 Ở Đài Loan:
Sau năm 1949 dân số đã tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch đã thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân Điều này đã tạo điều kiện cho sự ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, trên hòn đảo này
đã có đến 679.000 trang trại với quy mô là 1,29 ha trên một trang trại Đến năm
1991 số trang trại đã lên đến 823.256 trang trại và quy mô chỉ còn 1,08 ha trên một trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang gia đình nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Nhưng do đặc điểm của người Đài Loan là coi ruộng đất là tiêu chí để đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường ruộng đất nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ, mặc
dù đã có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận sự chuyển quyền sử dụng ruộng đất cho các hộ khác nhưng chủ ruộng cũ vẫn được thừa nhận quyền sở hữu Ước tính đã có tới trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô sản xuất các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp Nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất [1]
1.3.1.3 Ở một số nước Châu Âu:
Đã có một số nghiên cứu ở Châu Âu về quá trình tập trung hay phân hóa quy
mô nông hộ, trong đó có quy mô ruộng đất với kết quả như sau:
Một là, sự phù hợp giữa quy mô các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động…) và khả năng quản lý sử dụng các nguồn lực trong nông hộ Theo khái niệm này, quy
mô kinh tế được mở rộng để hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của nông sản Các chi phí khác có thể được giảm nhờ tăng quy mô các nguồn lực, bao gồm: chi phí quản
lý, chi phí áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chi phí đào tạo…ở Châu Âu và các nước phát triển khác kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, một loạt các trạng trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, những trang trại có năng suất lao động cao hoặc các nhóm nhỏ của những người sản xuất Ví dụ, ở Pháp năm 1955 nước này có
Trang 30xấp xỉ 2,3 triệu nông hộ quy mô ruộng đất trung bình là 14,0 ha trên hộ thì đến năm
1993 chỉ còn 800.000 hộ với quy mô trung bình là 35,0 ha trên hộ Tương tự, ở Mỹ năm 1950 cả nước có 5,65 triệu hộ với quy mô bình quân là 86,0 ha trên hộ, đến năm 1992 con số này là 1,92 triệu hộ với quy mô bình quân là 198,9 ha trên hộ Có thể nhận xét rằng tiến trình tích tụ của các nông hộ ở châu Âu có nguyên nhân rất lớn từ những thành tựu về kỹ thuật công nghệ phát minh trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai [1];
Hai là, sự phù hợp giữa quy mô các thửa trong trồng trọt và các đàn gia súc trong quá trình chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả tiến
bộ khoa học kỹ thuật Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu
tư, thâm canh, cơ giới hóa, qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ thuận lợi khi sản xuất hàng hóa phát triển và nó có mối quan hệ mật thiết với dạng kinh tế quy mô thứ nhất Nói cách khác, quy mô của các ô thửa, đàn gia súc…phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và khả năng đầu tư của của các nông
hộ Trong trường hợp lao động dư thừa nhiều và sản xuất còn nhiều rủi do, người nông dân nhỏ thường chọn giải pháp đầu tư lao động sống hơn là các đầu tư khác,
vì thế mà họ ít quan tâm đến dồn điền đổi thửa Quy mô sản xuất phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi loại hình nông hộ và khả năng áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất Ví dụ, quy mô nông hộ sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50,0 ha đến 100,0 ha nhưng ở Mỹ nơi có khả năng cơ giới hóa cao hơn thì quy mô đó là từ 200,0 ha đến 300,0 ha [1]
Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất của các nông hộ nhỏ, sự manh mún không phải lúc nào cũng gây khó khăn Trên thực tế, sự manh mún ruộng đất cũng có những ưu điểm nhất định đối với sản xuất nhỏ như: cho phép đa dạng hóa cây trồng, giảm rủi ro cho sản xuất, khắc phục dư thừa lao động thời vụ
Theo Macheal Lipton, 2002, nền nông nghiệp của các nước đang phát triển ở Châu Á, được đặc trưng bởi các yếu tố sau đây: Một là, tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp và nông thôn chiếm tỷ lệ khá lớn và dư thừa Hai là, nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực đặc biệt là lúa nước dựa chủ yếu vào đầu tư lao động của nông hộ với quy mô nhỏ Ba là, sự tăng trưởng của khu vực nông nghiệp có tính quyết định đến sự tăng trưởng của cả nền kinh tế Do đó, để xóa đói giảm nghèo cần tạo thêm công ăn việc làm cho lực lượng lao động nông thôn Vì vậy, DĐĐT phải
đi đôi với giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ Tuy nhiên, chủ yếu là vẫn tạo ra các việc làm ngoài nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Trang 311.3.2 Những nghiên cứu trong nước
1.3.2.1 Thực trạng, nguyên nhân và những hạn chế về manh mún ruộng đất
Ruộng đất manh mún trong nông nghiệp cần được hiểu trên hai khía cạnh về phân mảnh đất quy mô chung và phân mảnh đất cấp hộ Phân mảnh đất quy mô chung là phân mảnh ở cấp vùng khi mật độ dân số quá cao, đất canh tác nông nghiệp của một vùng bị chia nhỏ cho rất nhiều hộ nông dân khác nhau sự manh mún thể hiện trên quy mô về đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác; Phân mảnh đất của hộ gia đình là sự manh mún về mặt ô thửa trong đó một đơn vị sản xuất (thường
là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ của các mảnh ruộng đất canh tác nông nghiệp của một hộ bị chia làm nhiều mảnh khác nhau [17]
Cả hai khía cạnh về phân mảnh đất này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, có tác động rất xấu lên năng suất và tăng trưởng nông nghiệp, nó cản trở việc áp dụng các phương tiện cơ giới như máy cày hay máy gặt, đồng thời làm giảm khả năng phát triển các loại cây trồng mà chỉ mang lại lợi nhuận ở quy mô lớn nhất định Bên cạnh đó nó cũng làm tăng nhu cầu về lao động do những hạn chế
về cơ giới hóa cũng như đòi hỏi thời gian di chuyển giữa các mảnh đất và thời gian đắp bờ phân cách giữa các thửa khả năng đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là khả năng cơ giới hóa và thuỷ lợi hóa trong nông nghiệp kém hiệu quả, làm cản trở quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Vì thế người ta luôn tìm cách để khắc phục tình trạng này
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới và
cả ở nhiều thời kỳ lịch sử phát triển với những nguyên nhân rất đa dạng như: đặc điểm về mặt phân bố địa lí, sức ép gia tăng dân số, nhưng cũng có thể có nguyên nhân về mặt xã hội như: tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém phát triển, đặc diểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội, hoặc sự quản lí lỏng lẻo kém hiệu quả cuả công tác địa chính.Tình trạng manh mún ruộng đất là một trong những nhược điểm của nền nông nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Vì vậy, muốn giải quyết hiệu quả tình trạng này đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể về các nguyên nhân của vấn đề này
Qua số liệu ở bảng 1.1 cho thấy ở nước ta tình trạng manh mún ruộng đất diễn
ra khá phổ biến, đặc biệt là ở đồng bằng sông Hồng và các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất, trung bình một hộ nông dân có khoảng 0,25 - 0,50 héc ta đất nông nghiệp, bình quân khoảng 7 - 8 thửa đất/hộ Khu vực có mức độ manh mún nhiều nhất là trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và khu IV cũ [17]
Trang 32Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
S T
T
Vùng sinh thái
Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/thửa
(m 2 )
Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau màu
1 Trung du miền núi Bắc Bộ 10 – 20 25 150 - 300 100 - 150
2 Đồng bằng Sông Hồng 7 – 10 25 300 - 400 100 - 150
3 Duyên hải Bắc Trung Bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 - 300
4 Duyên hải Nam Trung Bộ 5 – 10 30 300 - 1000 200 - 1000
Sự phức tạp của địa hình, nhất là vùng trung du, đồi núi Do địa hình bị chia cắt nên đất đai ở đa số các địa phương đều có 3 dạng địa hình: đất cao, đất vàn và đất thấp trũng Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất [39];
Tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy mô sản xuất nhỏ lẽ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là thay đổi liên quan đến ruộng đất;
Phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực hiện Nghị định số 64/NĐ-CP Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã tác động không nhỏ làm gia tăng tình trạng manh mún ruộng đất Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia
Trang 33ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng; Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau là khác nhau
và hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều cho các hộ; Có những chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua, do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng;
Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây không ít khó khăn cho người nông dân
và các nhà lãnh đạo quản lý Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dồn điền đổi thửa và đã chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất, có thể khái quát lại như sau: Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp, không giảm được chi phí lao động đầu vào; thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất vì đầu tư tiến bộ
kỹ thuật có thể tăng năng suất nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể; thửa ruộng đã nhỏ, lại phân tán làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, do đó hạn chế đến việc thâm canh và chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa; quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có sự biến động bất ổn định; nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác
do phải làm nhiều bờ ngăn, vì phải giảm diện tích đất canh tác để đắp bờ vùng, bờ thửa gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Hạn chế việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn quyền sử dụng đất), vì vậy cản trở quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất để thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.3.2.2 Một số kết quả đã thực hiện dồn điền đổi thửa ở nước ta
Nước ta bắt đầu con đường đổi mới kinh tế từ Đại hội Đảng VI năm 1986 với mục tiêu là chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 năm 1988 của Bộ Chính trị là bước ngoặt cơ bản với nội dung chính là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này dẫn đến xoá bỏ hợp tác hóa trong nông nghiệp, nông dân được giao đất nông nghiệp với thời hạn 15 năm và
ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra
Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản
Trang 34xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Tác dụng của Nghị quyết 10 (hay khoán 10) đã đưa nền nông nghiệp Việt Nam sang trang sử mới Tuy nhiên, thời hạn giao đất còn ngắn và một số quyền sử dụng đất khác vẫn chưa được Luật hóa, điều này dẫn đến nông dân có thể có ít động cơ đầu tư dài hạn trên đất;
Luật đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo
đó nông dân được giao đất ổn định, lâu dài, được giao 5 quyền, bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất;
Nguyên tắc quan trọng nhất của việc giao đất là đảm bảo sự công bằng, thông thường ở nhiều nơi trên cả nước, đất đai được chia bình quân theo nhân khẩu nông nghiệp Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia làm 6 hạng Do đó,
để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các xứ đồng khác nhau với chất lượng đất cũng khác nhau
Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác
Theo số liệu của Tổng cục địa chính năm 1997, bình quân mỗi hộ vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 - 8 thửa đất trong khi ở vùng núi phía Bắc còn cao hơn từ 10 - 20 thửa đất [35];
Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng đất cho nhau để tạo thành những thửa đất có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác chuyển đổi ruộng đất;
Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700 xã ở 20 tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền đổi thửa, tuy nhiên tiến độ thực hiện vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này mục tiêu dồn điền đổi thửa là giảm số lượng thửa đất Ví dụ: Ở Thanh Hóa số thửa ruộng đã giảm 51% chỉ trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 - 2001) Trung bình số thửa trên một hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa [39];
Trong các báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, khi rút kinh nhiệm công tác dồn điền đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa là dồn điền đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất của dồn điền đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để hình thành nên thửa đất lớn
Trang 35hơn Tuy nhiên, ở nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá lại chất lượng đất
và xác định hệ số giữa các hạng đất Bởi lẽ, đất đai ở Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hóa sử dụng đất [19]
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC DỒN ĐỀN ĐỔI THỬA ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.4.1 Ảnh hưởng của việc dồn điền đổi thửa đến công tác quản lý đất đai
Việc thực hiện đổi điền, dồn thửa đã tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sắp xếp lại đồng ruộng, thực hiện kiên cố hóa kênh mương, giao thông nội đồng để từng bước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Việc cơ giới hóa trong sản xuất và thu hoạch
ở các địa phương được đẩy nhanh hơn, các thành tựu khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp từng bước được đưa vào áp dụng thuận lợi hơn đã đưa nhiều máy móc vào quá trình sản xuất lúa gạo như máy cày, máy cấy, máy gặt đập liên hợp
Đặc biệt, trong sản xuất lúa, nông dân không phải cất công gieo mạ mà đã chuyển sang sử dụng mạ khay, cấy bằng máy, vừa tiết kiệm được giống, vừa tiết kiệm được sức lao động Tình trạng đất manh mún bước đầu được khắc phục, tạo điều kiện cho
hộ nông dân ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, (KHKT) thực hiện các quyền của người sử dụng đất, đẩy mạnh thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa ở nông thôn, hiệu quả sản xuất nông nghiệp từng bước được nâng lên
Bên cạnh đó, sau khi đổi điền, dồn thửa, diện tích đất công ích từ chỗ phân tán trong các hộ đã được quy hoạch tập trung, tạo thuận lợi cho việc quản lý và phát huy hiệu quả sử dụng đất Công tác quản lý nhà nước về đất đai của các cấp chính quyền dần dần đi vào nề nếp; Quá trình DĐĐT không thể tách rời với vấn đề quản
lý nhà nước về đất đai Trên thực tế những nội dung quản lý nhà nước về đất đai như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất …có mối quan hệ mật thiết với công tác DĐĐT, tác động qua lại, hỗ trợ cho nhau về tính pháp lý, về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất với Nhà nước, Công tác DĐĐT đi vào nề nếp thì hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ngày càng được nâng lên; Mặt khác khắc phục những khó khăn cho việc lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý đất đai;
Công tác DĐĐT, về lâu dài, nhất định Nhà nước có một chiến lược cơ bản về phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết vấn đề nông dân một cách đồng bộ Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) về nông nghiệp, nông thôn và nông dân là cơ sở để
Trang 36Chính phủ, các bộ, ban, ngành chức năng xây dựng chiến lược Trong đó, cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với nội dung toàn diện và đồng bộ, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân cả về phát triển lực lượng sản xuất, cả về xây dựng quan hệ sản xuất Theo đó cần có một hệ thống lớn các chính sách được chia ra hai tiểu hệ thống: một là các chính sách phát triển lực lượng sản xuất, trong đó nổi bật là quy hoạch tổng thể về phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; chuyển đổi cơ cấu mùa
vụ, phát triển nông nghiệp sinh thái, phát triển làng nghề… hai là các chính sách về xây dựng quan hệ sản xuất mới, tổ chức các mô hình kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, chính sách về tích tụ ruộng đất, chính sách phát triển văn hóa làng - xã, xây dựng môi trường văn hóa mới…, hướng tới việc khắc phục nếp nghĩ, cách làm của người nông dân sản xuất nhỏ, hướng tư duy của kinh tế hộ vào sản suất hàng hóa lớn
Với một hệ thống có những điều kiện đảm bảo tính khả thi tương ứng Nhà nước cần phải có những chính sách với những quy định chặt chẽ theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các chủ hộ về vốn, về tiêu thụ nông sản hàng hóa, về mối quan
hệ 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông, về việc làm, về giải quyết đời sống…, trong đó quan trọng và nổi lên là chính sách về đất đai Nhà nước cần nghiên cứu điều chỉnh mức hạn điền, cách dồn điền đổi thửa (hiện đang có tác dụng nhất định nhưng bị vướng về mức hạn điền); thay đổi tư duy về việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của nông dân Mặt khác, bằng những biện pháp tích cực
và đồng bộ, làm cho gói kích cầu khu vực nông nghiệp, nông thôn đến với kinh tế
hộ nhanh chóng nhất và phát huy tác dụng tích cực nhất.những mô hình về dồn điền, đổi thửa, tích tụ ruộng đất, mô hình về thu, gom, mua nông sản hàng hóa cho nông dân, mô hình về tổ chức bảo vệ mùa màng, chống thất thu sau thu hoạch;
Như vây, công tác DDĐT là một trong những ảnh hưởng đên hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt trong nghiên cứu DĐĐT đã làm giảm thiểu của số lượng mảnh trên nông hộ hay trên đơn vị diện tích và những tác động do kinh tế quy mô về ô thửa mang lại, đề cập mối quan hệ giữa con người với ruộng đất; về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất với Nhà nước; đồng thời là tiền đề để Nhà nước quản lý tốt về đất đai, nhất là đất nông nghiệp Muốn vậy, Nhà nước cần phải có chiến lược cơ bản về phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết vấn đề nông dân một cách đồng bộ, có những chính sách về tài chính cho nông nghiệp, nông thôn tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các nông hộ về vốn đầu tư trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, có như vậy kinh tế hộ mới phát triển nhanh chóng nhất và đi đúng lộ trình
mà Đảng và nhà nước ta đề ra theo chương tình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
Trang 371.4.2 Ảnh hưởng của việc dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Dồn điền đổi thửa là một hiện tượng luôn diễn ra trong thực tế sản xuất nông nghiệp Hiện tượng này mang tính chất quy luật của quá trình phát triển và hiện đại hóa các nền nông nghiệp Và như thế, nhu cầu dồn điền đổi thửa xuất hiện trong quá trình phát triển tuỳ thuộc vào các điều kiện khác nhau ở mỗi giai đoạn, mỗi nền nông nghiệp
cụ thể: Nông nghiệp thủ công, tự cung tự cấp… Nông nghiệp lương thực là nền nông nghiệp thể hiện sự manh mún ruộng đất ở cấp độ cao hơn Ngược lại, nền nông nghiệp thâm canh, cơ giới hóa, nền nông nghiệp hàng hóa phát triển đòi hỏi mức độ tập trung ruộng đất cao hơn Khắc phục manh mún ruộng đất thông qua dồn điền đổi thửa, về mặt lí thuyết có thể tạo ra những ảnh hưởng về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Vấn đề manh mún ruộng đất ở mỗi vùng, mỗi xã hội, trong mỗi thời kỳ cũng
có sự khác nhau Khi đề cập đến sự manh mún ruộng đất người ta đề cập đến cả 2 khía cạnh của vấn đề, đó là: Manh mún ruộng đất về mặt ô thửa và sự phân tán về quy mô ruộng đất của nông hộ Trong quá trình đi lên sản xuất nông nghiệp sản xuất hàng hóa 2 khía canh của vấn đề manh mún ruộng đất đều là những yếu tố hạn chế hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, cần tách biệt giữa vấn đề manh mún ô thửa và manh mún ruộng đất ở quy mô hộ để có biện pháp giải quyết
Để giải quyết vấn đề manh mún về ô thửa quá trình tổ chức dồn điền đổi thửa mang nặng tính chất kỹ thuật hơn là tính xã hội Nói cách khác đối với dồn điền đổi thửa vấn đề xây dựng quy hoạch, kế hoạch, định mức ô thửa sử dụng đất sao cho phù hợp với yêu cầu sản xuất và quản lí đất đai ở mỗi vùng mỗi loại hình sản xuất
Việc tiến hành dồn điền đổi thửa (DĐĐT) sẽ giải quyết được cơ bản tình trạng manh mún và phân tán ruộng đất cho người nông dân, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung; thuận lợi để áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa vào nông nghiệp, giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu suất lao động; chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp; nâng cao thu nhập cho người nông dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tạo quỹ đất để có mặt bằng xây dựng các công trình phúc lợi thực hiện nhóm tiêu chí xây dựng cơ sở vật chất trong nông thôn mới; tạo quỹ đất công cho cơ sở để thực hiện đấu giá huy động nguồn nội lực cho xây dựng nông thôn mới
Công tác DĐĐT cần phải tạo điều kiện sản xuất cho người dân tốt hơn trước
từ mương máng, giao thông nội đồng cho đến các điều kiện phục vụ sản xuất; mặt khác, cần có sự nỗ lực đặc biệt của các cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt nâng cao trình độ trách nhiệm của cán bộ cấp thôn, cấp xã những người trực tiếp triển khai đến dân trên cơ sở đó để nhân dân đồng thuận
Như vậy, công tác DDĐT không những dồn những ô thửa nhỏ thành những ô thửa lớn mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp về cơ cấu sản
Trang 38xuất, cây trồng, tăng thu nhập cho người nông dân Dồn điền đổi thửa sẽ là bước đi rất quan trọng, một sức bật mới trong công cuộc xây dựng NTM, tạo điều kiện các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tạo quỹ đất xây dựng các công trình phúc lợi của địa phương
1.5 MỐI QUAN HỆ CỦA CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA VỚI CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
1.5.1 Với quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bố lại nguồn lực đất đai quốc gia trong giới hạn không gian và thời gian xác định với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội - môi trường của đất đai, bảo vệ tốt hệ sinh thái và bền vững của môi trường;
quy hoạch sử dụng đất cũng là hệ thống các giải pháp mang tính kinh tế - kỹ thuật - pháp lý để quản lý tài nguyên và tài sản đất đai quốc gia; Quy hoạch sử dụng đất phải chỉ ra được sự phối hợp sử dụng đất của các địa phương trong một vùng ra sao
để đảm bảo sự đồng bộ trong phát triển;
Quy hoạch sử dụng đất không đơn thuần là một hoạt động kinh tế - kỹ thuật mà còn là một hoạt động quản lý có ý nghĩa kinh tế - chính trị, thể hiện ý chí của nhà nước
về phát triển trong tương lai mà mọi người đều phải chấp hành; chính vì lẽ đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, được quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 19/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể yêu cầu, nhiệm vụ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, là cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gắn sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch sử dụng đất là yêu cầu nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, khai thác sử dụng nguồn tài nguyên đất đai một cách có hiệu quả, hợp lý, đảm bảo tính bền vững và bảo
vệ môi trường sinh thái;
Dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp gắn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là cơ sở cho sự định hướng quy hoạch sử dụng đất, là tiền đề cho tính khả thi trong quá trình triển khai các hạng mục quy hoạch sử dụng đât nông nghiệp, kiến thiết đồng ruộng của các kỳ quy hoạch Công tác DĐĐT luôn gắn với quy hoạch sử dụng đất, với mục đích là khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán, để tạo điều kiện thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, tổ chức lại sản xuất, tạo thuận lợi cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nhằm giảm chi phí sản xuất; nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi, cơ cấu
Trang 39lao động trong nông nghiệp, cơ cấu kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Tạo quỹ đất sạch tập trung thực hiện quy hoạch nông thôn mới theo hướng: Dồn tập trung đất công ích xã đang phân tán về vị trí theo quy hoạch đã được phê duyệt: xây dựng trang trại kinh tế tổng hợp, công trình công cộng của địa phương trong xây dựng nông thôn mới Dồn đất của những hộ không
có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp tập trung vào khu đầu tư trang trại kinh tế tổng hợp; Vận động nhân dân đóng góp đất thực hiện chỉnh trang đồng ruộng (làm đường giao thông nội đồng và kênh mương); Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; góp phần đẩy nhanh tiến độ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới;
Việc chuyển đổi ruộng đất không đồng nghĩa với việc chuyển xem xét tiêu chuẩn
để chia lại ruộng đất vì thế phải tuân thủ nguyên tắc (sinh không tăng, tử không giảm) đảm bảo theo đúng qui định tại nghị định 64/CP năm 1993 của Chính phủ đồng thời phải giao đủ số diện tích các hộ được chia theo Nghị định 64/CP đang quản lý, sử dụng theo quy định tại phương án chuyển đổi đã được phê duyệt trước đây; Dồn điền, đổi thửa phải đảm bảo ổn định tình hình an ninh chính trị ở nông thôn, gắn với quy hoạch
sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp và các quy hoạch liên quan khác trên địa bàn và kế hoạch sử dụng đất hàng năm; Chỉ tiến hành dồn điền đổi thửa ở những nơi, những vùng sản xuất nông nghiệp ổn định theo quy hoạch được duyệt; Tôn trọng quyền lợi của chủ sử dụng đất đã được giao theo Nghị định 64-CP của Chính phủ, Chỉ thị số 22/CT-TU ngày 6/2/2004 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác dồn điền đổi thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyết định số 58/2007/QĐ-UBND ngày 24/12/2007 của UBND tỉnh về việc ban hành
cơ chế khuyến khích thực hiện chủ trương "dồn điền, đổi thửa" đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn (2007-2010) phải cấp ngay Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ sản xuất theo quy định của Luật Đất đai; Đồng thời xử lý những tồn tại trong việc quản lý sử dụng quỹ đất công ích của địa phương
Vận động các hộ gia đình, cá nhân tự nguyện góp một phần diện tích đất nông nghiệp
ổn định đang sử dụng (UBND xã dự kiến và được nhân dân bàn bạc thống nhất) để có quỹ đất thực hiện xây dựng giao thông, thủy lợi nội đồng theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Việc xây dựng quy hoạch chi tiết giao thông, thủy lợi nội đồng phải dựa vào các tiêu chí của phương án dồn điền đổi thửa Thực hiện chỉnh trang đồng ruộng theo quy hoạch được tiến hành trước khi đo giao ruộng để dồn điền đổi thửa; từng thửa ruộng sau dồn đổi phải tiếp giáp với đường giao thông và hệ thống thủy lợi nội đồng; Không để đất công ích xã đan xen với đất giao ổn định của hộ gia đình, cá nhân; quỹ đất này được dồn chuyển thành vùng tập trung theo vị trí đã được quy hoạch để thực hiện xây dựng các công trình phục vụ sản xuất (giao thông nội đồng,
Trang 40thủy lợi), phúc lợi xã hội, khu trang trại kinh tế tổng hợp gắn quy hoạch xây dựng nông thôn mới được phê duyệt Sau khi thực hiện xong dồn điền đổi thửa phải thực hiện chỉnh lý biến động đất đai và hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật, để làm cơ sở cấp đổi hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân;
Tóm lại, công tác dồn điền đổi thửa với công tác quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ tương tác và hỗ trợ cho nhau, thực hiện phương án dồn điền đổi thửa phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ngược lại xây dựng quy hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào các tiêu chí của phương án dồn điền đổi thửa, hai công tác này luôn tồn tại song trùng và cùng hỗ trợ lẫn nhau để thực tôt chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và góp phần hoàn thành nhiệm vụ xây dưng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước
1.5.2 Với công tác quản lý nhà nước đối với đất đai
DĐĐT vừa ổn định về mặt tổ chức sản xuất nông nghiệp, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giao đất, cấp giấy CNQSD đất cho người sử dụng đất, là cơ
sở giúp Nhà nước quản lý tốt về đất đai đối với nông nghiệp nông thôn; Với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp và sản xuất hàng hóa là nhu cầu tất yếu khách quan
Chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp được Đảng ta đặt ra như một bước đi tất yếu để giải quyết vấn đề tam nông Một trong nhưng biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp là giải pháp tập trung ruộng đất để tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn Chìa khóa pháp lý để thực hiện giải pháp này là việc Nhà nước trao cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại, góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Đây chính là nội dung đổi mới chủ yếu trong đổi mới chính sách pháp luật đất đai đã được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm
2003 Dựa vào cơ sở pháp lý này, Nhà nước khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện phong trào "dồn điền, đổi thửa" để khắc phục tình trang manh mún do quá trình giao đất trước đây, có điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng được các dịch vụ công nghiệp, giao thông, điện, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, v.v
và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp Từng người nông dân, hộ gia đình nông dân hay một nhóm hộ gia đình có năng lực làm nông nghiệp có thể tập trung ruộng đất hình thành các trang trại để có một địa bàn hoạt động rộng hơn, đa dạng hơn và công nghiệp hơn;
Công tác dồn điền đổi thửa (DĐĐT) sẽ giúp giải quyết được cơ bản tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung, thuận