1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân tại huyện hải lăng, tỉnh quảng trị

98 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cho thấy: Toàn huyện Hải Lăng, trong giai đoạn 2014 - 2018, UBND huyện Hải

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN Ý

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

HUẾ - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN Ý

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Mã số: 8850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HOÀNG THỊ THÁI HOÀ

HUẾ - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Văn Ý

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể và cá nhân: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Lăng, Ủy ban nhân nhân xã Hải Phú và xã Hải Vĩnh và các hộ gia đình, cá nhân thuộc các nhóm hộ điều tra tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Huế, ngày 25 tháng 2 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Văn Ý

Trang 5

TÓM TẮT

Luận văn này đã tập trung phân tích, đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của các hộ gia đình, cá nhân tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Kết quả nghiên cứu của luận văn đã làm cơ sở đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện chính sách pháp luật, nâng cao hiệu quả, đảm bảo sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng của việc thu hồi đất tại huyện Hải Lăng cũng như các địa phương khác

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành điều tra, thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đất đai; số liệu, tài liệu về tình hình thu hồi đất và sinh kế của người đân; tham gia quan sát thực địa; phỏng vấn lãnh đạo, cán bộ chuyên môn và hộ gia đình, cá nhân Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được, tôi đã tiến hành tổng hợp, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các hộ gia đình, cá nhân

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cho thấy:

Toàn huyện Hải Lăng, trong giai đoạn 2014 - 2018, UBND huyện Hải Lăng đã hoàn thành việc thực hiện bồi thường, GPMB cho 33 dự án, với diện tích đất thu hồi là

121 ha để giao đất và cho thuê đất sử dụng vào các mục đích phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị và hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện

Việc thu hồi đất để thực hiện việc ĐTH, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển kinh

tế là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia và địa bàn nghiên cứu cũng không nằm ngoài

xu hướng đó Các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều chính sách nhằm đảm bảo đời sống của người dân có đất bị thu hồi; tại địa bàn nghiên cứu việc thu hồi đất cơ bản làm thay đổi đời sống của người dân theo hướng tích cực Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm thực hiện

Dện tích thu hồi đất nông nghiệp nhìn chung của từng hộ vẫn nằm trong mức độ vừa phải; diện tích bố trí tái định cư và giao thêm mặc dù không bằng diện tích đất ở bị thu hồi song vẫn đảm bảo về nhu cầu về diện tích xây nhà ở và tương đối tương xứng

Quá trình chuyển đổi về lâu dài tất yếu sẽ xãy ra, cho nên sự ổn định, tương xứng đó

có thể bị phá vỡ trong tương lai

Nhiều hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại vùng nghiên cứu có thu nhập tương đối cao hơn trước, nguồn vốn về vật chất cũng được cải thiện đáng kể song nguồn thu nhập của họ chưa thực sự đảm bảo được tính ổn định Các công việc mới tạo thu nhập

có phần cao hơn song không chắc chắn về lâu dài, phụ thuộc nhiều vào kinh tế thị trường trong khi người nông dân từ trước đến nay hầu như chưa làm quen để dễ dàng

Trang 6

Việc thu hồi đất hiện tại chỉ mới dừng lại ở chổ Nhà nước có được mặt bằng còn người dân có được một khoản tiền bồi thường, hỗ trợ mà chưa quan tâm đến việc tạo việc làm, việc định hướng sử dụng có hiệu quả dòng vốn chảy vào vẫn chưa được tính đến Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ phía chủ thể thu hồi đất mà nó con liên quan đến ý thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của chủ thể bị thu hồi đất

Từ những nhận định trên, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải đưa ra các giải pháp để đảm bảo sinh kế của người bị thu hồi đất đặc biệt là đưa ra các giải pháp về đào tạo lao động, giải quyết việc làm, tư vấn sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ và các giải pháp khác để đảm bảo sinh kế cho người dân bị mất đất nông nghiệp nói riêng và người bị thu hồi đất nói chung

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.1 Khái quát về đất đai 3

1.1.2 Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5

1.1.3 Tổng quan lý thuyết sinh kế 9

1.1.4 Chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 13

1.1.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam trong những năm trở lại đây 16

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 18

1.2.1 Tình hình công tác thu hồi đất ở một số nước trên thế giới 18

Trang 8

1.2.3 Thực trạng công tác thu hồi đất tại huyện Hải Lăng 22

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 27

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.3.1 Phương pháp điều tra 27

2.3.2 Phương pháp phân tích theo khung sinh kế bền vững 28

2.3.3 Phương pháp chuyên gia 28

2.3.4 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai trên địa bàn huyện 40

3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện 45

3.2 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TĐC TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ 46

3.2.1 Tình hình chung 46

3.2.2 Kết quả đạt được 47

3.2.3 Những vấn đề tồn tại, vướng mắc 47

3.2.4 Tình hình thực hiện công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tại các dự án nghiên cứu 48

3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN 52

3.3.1 Khái quát chung về tình hình các hộ điều tra phỏng vấn 52

3.3.2 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân 53

Trang 9

3.4 GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN KHI BỊ THU HỒI

ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẢI LĂNG 71

3.4.1 Giải pháp về nguồn vốn tự nhiên 71

3.4.2 Giải pháp về nguồn vốn con người 72

3.4.3 Giải pháp về nguồn vốn tài chính 72

3.4.4 Giải pháp về nguồn vốn vật chất 73

3.4.5 Giải pháp về nguồn vốn xã hội 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

1 KẾT LUẬN 74

2 KIẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 78

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á BTHT: Bồi thường hỗ trợ

GPMB: Giải phóng mặt bằng QSD: Quyền sử dụng TĐC: Tái định cư UBND: Ủy ban nhân dân WB: Ngân hàng thế giới

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Hải Lăng giai đoạn 2014-2018 34

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất và cơ cấu các loại đất năm 2018 40

Bảng 3.3 Tình hình biến động đất nông nghiệp thời kỳ 2014-2018 43

Bảng 3.4 Biến động đất phi nông nghiệp thời kỳ 2014-2018 44

Bảng 3.5 Tình hình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra 54

Bảng 3.6 Diện tích đất nông nghiệp bình quân mỗi hộ trước và sau thu hồi đất 54

Bảng 3.7 Tình hình thu hồi đất ở và đất vườn các hộ điều tra 57

Bảng 3.8 Tình hình giao đất TĐC và giao thêm cho các hộ điều tra 58

Bảng 3.9 Độ tuổi của các nhóm hộ điều tra 59

Bảng 3.10 Trình độ chuyên môn của các nhóm hộ điều tra 60

Bảng 3.11 Tỷ lệ nguồn thu của các nhóm hộ trước và sau thu hồi đất 63

Bảng 3.12 Tình hình vay vốn của các nhóm hộ 63

Bảng 3.13 Đồ dùng gia đình trước và sau thu hồi đất 64

Trang 12

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững 10

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 30

Hình 3.2 Cấu trúc lao động của các hộ điều tra 52

Hình 3.3 Trình độ học vấn của các hộ điều tra 53

Hình 3.4 Diện tích bình quân đất nông nghiệp theo nhóm hộ trước và sau thu hồi 55

Hình 3.5 Diện tích bình quân đất nông nghiệp theo nhân khẩu 56

Hình 3.6 Việc sử dụng tiền bồi thường của người dân bị thu hồi đất 62

Hình 3.7 Một số hướng hình thành khung sinh kế sau thu hồi đất 69

Trang 13

MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tất yếu phải thu hồi một số diện tích đất nông nghiệp, đất ở để xây dựng các kết cấu hạ tầng, các khu đô thị, các khu công nghiệp Quá trình thu hồi đất đã ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân mất đất và cả nông dân vùng có đất bị thu hồi, trên nhiều mặt

Một mặt, việc thu hồi đất đã có tác động tích cực như thúc đẩy sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Lực lượng lao động nông thôn có

xu hướng giảm dần, tạo ra nhiều ngành nghề mới, nhiều cơ hội làm việc cho người lao động và kéo theo sự phát triển của khoa học, công nghệ, trình độ của người lao động, khai thác được tiềm năng kinh tế của các vùng miền, nâng cao đời sống nhân dân

Mặt khác, việc thu hồi đất nếu thực hiện không tốt cũng gây ra những hệ quả xấu như: không ít người nông dân mất dất canh tác gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, không có việc làm, thu nhập bấp bênh Dù Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi

Song tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, cuộc sống tạm bợ, bấp bênh đã và đang diễn

ra tại nhiều địa phương Do số tiền bồi thường và hỗ trợ thấp, hơn nữa một bộ phận nông dân không biết sử dụng số tiền bồi thường sao cho hiệu quả nên sau khi sử dụng hết không còn nguồn thu nhập, đời sống không ổn định, dẫn đến những vấn đề ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân cư trên địa bàn, hoặc chậm triển khai các dự án, để đất hoang hóa không sử dụng gây lãng phí tài nguyên đất

Tình hình đó đòi hỏi phải nhận thức rõ tác động tích cực và tác động tiêu cực của việc thu hồi đất đối với đời sống của nông dân, nhất là những nông dân không còn đất canh tác Từ đó, có giải pháp thích hợp để phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực

Không nằm ngoài những vấn đề chung đó, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cũng đã và đang gặp những vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Hải Lăng là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phía nam của tỉnh Quảng Tri, với tổng diện tích tự nhiên 42.479,7 ha chiếm 8,97% diện tích toàn tỉnh, bao gồm 19 đơn vị hành chính cấp xã và 1 thị trấn

Trong những năm qua, cùng với tiến trình phát triển chung của tỉnh, nhất là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc phát triển các khu, cụm công nghiệp, xây dựng cơ

sở hạ tầng và theo đó là việc quy hoạch, sắp xếp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một tất yếu Tuy nhiên, công tác tái định cư, bồi thường thiệt hại, thu hồi đất đối với

Trang 14

người dân trong vùng dự án là một vấn đề hết sức nhạy cảm vì liên quan đến đời sống, sản xuất của nhân dân Vấn đề đặt ra ở đây là sinh kế của người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi đã chuyển đổi như thế nào và Nhà nước ta đã có những giải pháp, chính sách như thế nào để hỗ trợ, giúp đỡ người dân

Để đánh giá đúng thực trạng sinh kế của người dân bị thu hồi đất ở một số dự

án trên địa bàn huyện Hải Lăng và kịp thời đề xuất những giải pháp tích cực trong việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả và giải quyết các vấn đề xã hội hiện nay nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân bị thu hồi đất chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề

tài: "Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân tại huyện

Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị"

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1 Mục đích của đề tài

Đánh giá được ảnh hưởng của việc thực hiện thu hồi đất đến sinh kế của người dân, từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện sinh kế của người dân tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

1.2.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được tình hình thu hồi đất và tại một số dự án trên địa bàn huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị

- Đánh giá được thực trạng sinh kế của người dân khi bị thu hồi đất tại một số

dự án trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế cho người dân trong vùng nghiên cứu sau thu hồi đất tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần làm rõ và bước đầu hoàn thiện những chính sách của nhà nước và địa phương về thu hồi đất, đảm bảo sinh kế của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Cho thấy rõ thực trạng sinh kế của người dân trước và sau khi thu bị Nhà nước thu hồi đất đồng thời góp phần đề xuất những giải pháp bồi thường, hỗ trợ và TĐC hợp lý để đảm bảo sinh kế cho người dân

- Làm tài liệu tham khảo cho các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái quát về đất đai

1.1.1.1 Khái niệm về đất đai

Theo V.V Đôcutraiep (1846-1903): Đất là tầng ngoài cùng của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụng của tổng hợp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương Viện sĩ thổ nhưỡng nông hoá Liên Xô (cũ) V.R Viliam (1863-1939) thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng [7]

Theo quan điểm của C Mác: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâm nghiệp

Theo quan điểm của FAO thì đất được xem như là tổng thể của nhiều yếu tố gồm: Khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thực vật, động vật, những biến đổi của đất do hoạt động con người [26]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái Đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hoá ra, có độ phì nhiêu, trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ

Như vậy, tuỳ theo quan điểm trong từng lĩnh vực về chuyên môn, mà đất đai được các tác giả nhìn nhận trên các phương diện khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau

Tuy nhiên hiện nay khi nói đến đất người ta thường dùng hai khái niệm là đất (soil) và đất đai (land) Đất (soil) là lớp đất mặt của vỏ trái đất gọi là Thổ nhưỡng Thổ nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (khí quyển), nước (thuỷ quyển), sinh vật (sinh quyển) và đá mẹ (thạch quyển) qua thời gian lâu dài

Khái niệm đất theo nghĩa đất đai (land) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đất như là không gian, cộng đồng lãnh thổ, vị trí địa lý, nguồn vốn, môi trường, tài sản [5] Trong quản lý Nhà nước về đất đai người ta thường đề cập đến đất theo nghĩa đất đai

Trang 16

1.1.1.2 Phân loại đất

Hiện nay, trên thế giới tuỳ theo mục đích phân loại mà có nhiều cách phân loại đất khác nhau Ở Việt Nam, đất thường được phân loại theo hai cách: Phân loại đất theo thổ nhưỡng và phân loại đất theo mục đích sử dụng [5]

a Phân loại đất theo thổ nhưỡng

Phân loại đất theo thổ nhưỡng mục đích nhằm xây dựng bản đồ thổ nhưỡng

Trên thế giới có 3 trường phái chủ yếu [5]:

• Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh

• Phân loại đất theo định lượng các tầng đất

• Phân loại đất theo FAO - UNESCO

Ở Việt Nam, năm 1976 Bộ Nông nghiệp đã xây dựng bản đồ đất tỉ lệ 1/1.000.000, bảng phân loại đất chia đất của nước ta thành 13 nhóm với 30 loại đất theo phát sinh Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ở nước ta đã sử dụng hệ thống phân loại đất theo định lượng FAO - UNESCO, bảng phân loại đất theo phương pháp FAO - UNESCO gồm 19 nhóm và 54 loại đất [7]

b Phân loại đất theo mục đích sử dụng

Ở Việt Nam, Luật đất đai đầu tiên (1987) quy định đất đai được phân làm 5 loại theo mục đích sử dụng, gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Luật đất đai 1993 quy định đất đai được phân thành

6 loại theo mục đích sử dụng, gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng

Cách phân loại đất theo Luật đất đai 1987 và Luật đất đai 1993 vừa theo mục đích sử dụng, lại theo địa bàn gây nên có sự chồng chéo Để khắc phục tình trạng này, Luật Đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 có hiệu lực ngày 19/11/2014 quy định căn cứ theo mục đích sử dụng, đất đai được phân thành 3 nhóm: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng

- Nhóm đất nông nghiệp: Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [3]

- Nhóm đất phi nông nghiệp: Đất phi nông nghiệp là đất đang được sử dụng không thuộc nhóm đất nông nghiệp; bao gồm đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp khác [3] Trong các phân nhóm của nhóm đất nông nghiệp,

Trang 17

phi nông nghiệp lại được chia thành nhiều loại đất chi tiết khác nhau theo yêu cầu của công tác quản lý đất đai

- Nhóm đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng là đất chưa xác định mục đích sử dụng Đất chưa sử dụng bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi

đá không có rừng cây [3]

Tóm lại, theo mục đích sử dụng, đất đai ở nước ta hiện nay được chia làm 3 nhóm: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Với tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá ngày càng cao như hiện nay, đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng luôn có xu hướng chuyển sang đất phi nông nghiệp với diện tích ngày càng lớn

1.1.2 Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Theo khoản 5 điều 4 luật đất đai 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước

ra quyết định hành chính để thu lại QSD đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai hiện hành” [13]

Theo khoản 11 điều 3 luật đất đai 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại QSD đất của người được Nhà nước trao QSD đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” [14] Có nơi người ta quan niệm thu hồi đất là giải tỏa hay GPMB là quá trình tổ chức thực hiện việc di dời tài sản gắn liền với đất (nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư) trên diện tích đất bị thu hồi để bàn giao lại mặt bằng cho chủ đầu tư thực hiện dự án [16]

Theo các khái niệm trên, thu hồi đất là hành vi của Nhà nước đối với người sử dụng đất thông qua quyết định thu lại QSD đất Tuy nhiên, theo tác giả cụm từ “thu hồi đất” nên chăng có thể thay bằng “thu hồi QSD đất” vì đã là đất “của” Nhà nước thì tại sao Nhà nước lại phải thu hồi và “thu hồi đất” chỉ có thể dùng đối với những trường hợp người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai Hoặc ở khía cạnh khác cho thấy cụm từ “thu hồi đất” còn mang tính bạo lực Nhà nước đối với người sử dụng đất, khi Nhà nước có nhu cầu về đất, một số người dân tiến bộ sẽ hiến đất, tự nguyện giao đất thì Nhà nước phải nhận đất mới đúng Do vậy, có thể sử dụng một thuật ngữ khác có tính khả quan và dễ được đón nhận hơn từ phía người dân đó là “trưng mua QSD đất”

Trong khi đó, khái niệm “bồi thường” hay “đền bù” có nghĩa là trả lại sự tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác [18] Pháp luật đất đại năm 2003 và 2013 đều chỉ rõ: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSD đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [14] Còn việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [13]

Trang 18

Sau khi thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ, Nhà nước cũng đã tính đến việc giao đất ở mới cho những trường hợp không còn đất để ở hay gọi là TĐC Theo đó, TĐC được hiểu là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm

ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển TĐC được hiểu là một quá trình bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần đó [11]

Tóm lại, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là một quá trình phức tạp, nhạy cảm liên quan đến nhiều cấp chính quyền và một bộ phận lớn người dân Các công đọan này gắn kết với nhau một cách chặt chẽ trong việc giải quyết những mâu thuẩn về mặt lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu

tư Quá trình này chịu tác động lớn bởi nhiều yếu tố khác nhau song tự thân nó cũng

có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội:

- Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất, GPMB:

+ Công tác đăng ký quyền sử dụng đất đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất: Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký QSD đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xét duyệt lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chúng nhận QSD đất Hệ thống hồ sơ địa chính

và và giấy chứng nhận QSD đất có liên quan mật thiết với công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC và là một trong những yếu tố quyết định khi xác định nguồn gốc sử dụng đất, đối tượng và mức bồi thường, hỗ trợ [11]

Trong công tác GPMB, giấy chứng nhận QSD đất, hồ sơ địa chính về đất đai là căn cứ tối quan trọng giúp cho việc phân loại đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và TĐC đồng thời là cơ sở cung cấp các thông tin về diện tích, loại đất để áp giá bồi thường, hỗ trợ Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta còn hạn chế, đặc biệt công tác đăng ký biến động về sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận QSD đất vẫn chưa hoàn thiện dẫn đến công tác GPMB gặp phải rất nhiều khó khăn

Nơi nào công tác quản lý đất đai tốt như đã hoàn chỉnh bản đồ địa chính có chất lượng, làm rõ nguồn gốc đất, ban hành công khai hạn mức diện tích đất ở và đất canh tác thì khâu đo đạc, xác định tính pháp lý của đất để áp giá bồi thường hoặc hỗ trợ, di chuyển TĐC thường thuận lợi hơn Trái lại, những nơi chưa tiến hành tốt những việc thuộc nội dung quản lý đất đai thường xuyên nói trên sẽ gặp không ít khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất, chủ sở hữu hợp pháp, diện tích, ranh giới của khu đất giữa thực địa và hồ sơ giải thửa do mất nhiều thời gian để đối chiếu, xác minh

+ Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế và

xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của

Trang 19

các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm khoa học và có hiệu quả cao nhất [17]

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là tiền thân của công tác thu hồi đất, GPMB của nhiều dự án Việc thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do

đó mà có những tác động nhất định đến việc thu hồi đất, GPMB: Quy hoạch sử dụng đất là căn cứ để ban hành Quyết định thu hồi đất, để lập, trình duyệt và thực hiện phương án GPMB; là căn cứ để xây dựng các khu TĐC; là nhân tố ảnh hưởng đến giá chuyển nhượng QSD đất, từ đó tác động tới giá đất tính toán bồi thường Ngoài ra, việc lập phương án quy hoạch sử dụng đất không đảm bảo khả năng dự báo, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, thiếu bền vững dẫn đến tình trạng quy hoạch treo, là nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc khi thực hiện GPMB

+ Công tác giao đất, cho thuê đất có ảnh hưởng rất lớn đến công tác thu hồi đất,

bồi thường, hỗ trợ và TĐC Tuy nhiên, hiện nay việc thực công tác này ở nhiều địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, hạn mức giao đất và nghĩa vụ đống thuế quy định chưa

rõ ràng, nhiều trường hợp giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền nên trong quá trình thu hồi đất và GPMB gặp phải rất nhiều khó khăn

+ Giá đất và định giá đất: Hiện nay, ở nước ta giá đất dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng, là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm Một trong những điểm mới của Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 là các quy định về giá đất Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau thì Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau [6] Theo quy định của Luật đất đai, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không đúng theo nguyên tắc đó, ngoài ra còn có sự chênh lệch lớn về giá đất tại các khu vực giáp ranh giữa các địa phương, trong khi pháp luật đất đai hiện hành lại chưa có cơ chế hữu hiệu để giải quyết tình trạng này Vì vậy, dẫn đến các khiếu kiện của người bị thu hồi đất và gây ách tắc trong khi thực hiện công tác bồi thường, GPMB [2]

Như vậy, việc quy định về giá đất chưa đảm bảo tính rõ ràng vì giá đất trên thị trường khó ổn định và luôn có sự thay đổi, thậm chí có thời diểm giá đất thay đổi từng ngày Do đó, việc xác định thế nào là phù hợp với giá thị trường hoàn toàn mang tính chủ quan Khái niệm giá đất phổ biến cũng hoàn toàn mơ hồ, cần quy định bắt buộc phải có tư vấn độc lập về giá đất khi xây dựng khung giá đất và trong trường hợp có khiếu nại

+ Thị trường Bất động sản: Việc hình thành và phát triển thị trường bất động

Trang 20

tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời người bị thu hồi có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC và bồi thường [11] Tuy nhiên, trên thực tế một phần cũng do đầu tư ồ ạt về việc xây dựng các khu chung cư rộng lớn

mà dẫn đến việc thu hồi đất từ đó làm nãy sinh những vấn đề phức tạp Thay vì cho phép doanh nghiệp tự đứng ra GPMB, thỏa thuận đền bù với người có đất, tới đây Nhà nước sẽ đứng ra thu hồi đất và cho thuê lại Chính điều này khiến cho người dân không

có sự đồng thuận khi xây dựng các khu chung cư hay các căn hộ cao cấp

+ Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật: Thực tiễn khai thác cho thấy việc ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB Hệ thống văn bản pháp luật đất đai còn có những nhược điểm như là số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ thống chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ gây lúng túng trong xử

lý và tạo kẻ hở trong việc thực thi pháp luật [1]

Có thể nói việc điều chỉnh, thay đổi các văn bản quy định về quản lý, sử dụng đất của Trung ương đã làm thay đổi căn bản toàn bộ các chính sách về đất đai của các địa phương, trong đó nỗi bật có các chính sách liên quan đến thu hồi đất, GPMB Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

- Tác động của công tác thu hồi đất đến phát triển kinh tế - xã hội:

Thu hồi đất, GPMB nếu thực hiện đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí, sớm thực hiện các dự án và đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội Thực hiện tốt GPMB sẽ góp phần cải thiện mô trường đầu tư, khai thác nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội Tuy nhiên, trên thực tế việc thu hồi đất, GPMB còn nhiều bất cập gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội

Việc thu hồi đất mà chưa có giải pháp phát triển bền vững dẫn đến tình trạng bần cùng hóa người nông dân, khiến họ không có đất sản xuất, phải di cư tự phát tới các đô thị làm thuê, làm bốc vác, khai thác khoáng sản hoặc đi xuất khẩu lao động Điều này cho thấy, thu hồi đất không còn chỉ là một bài toán về phát triển kinh tế mà còn đặt ra nhiều câu hỏi về xã hội, quản lý dân cư, sự chênh lệch khoảng cách giàu nghèo

Trang 21

1.1.3 Tổng quan lý thuyết sinh kế

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai [43]

Sinh kế cũng có thể được mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người hoặc một nhóm người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi

ro và các cú sốc

Sinh kế bền vững có thể được mô tả là: Chống đỡ được với những cú sốc và áp lực bên ngoài, không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài, được thích nghi hóa để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên và bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của người khác

Các chính sách xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004, 2005), Barrett và Reardon (2000) Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong các quyết định một sinh kế bền vững hay không [25]

Hiện nay sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cao nhất của phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững Các nghên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng, phân tích khung sinh kế bền vững trên cơ sở nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực [25]

Trang 22

Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể Tổ chức phát triển toàn cầu của Vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh

kế như hình 1.1

Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững [8]

Theo hình 1.1 thì các yếu tố cấu thành khung sinh kế bao gồm:

- Khả năng dễ bị tổn thương: Khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực, vừa tiêu cực bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tính năng mùa vụ mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được

Ngữ cảnh dễ bị tổn thương: Đó chính là những thay đổi, những xu hướng, tính mùa vụ Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển được trong ngắn hạn Vì vậy, trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnh người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà phải đề cập được ngữ cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chóng chọi đối với những thay đổi trên hay phục hồi dưới những tác động trên [8]

- Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất

mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn cơ chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên [8]

Trang 23

+ Vốn nhân lực (Human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình, vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác [8]

+ Vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau [8]

+ Vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng

sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô

và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu

tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học [8]

+ Vốn vật chất (Physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản

và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình [8]

+ Vốn xã hội (Social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể

mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế [8]

Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả

Trang 24

xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai

- Tiến trình và cấu trúc (Structure and processes): Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế Chính vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những

cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc [8]

- Thành phần quan trọng thứ ba của khung sinh kế là kết quả của sinh kế (livelihood outcome): Đó là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh kế Kết quả của sinh kế nhìn chung là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên Đó có thể cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa các

tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau [8]

Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ Chiến lược sinh kế

là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định có ảnh hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh kế Đó có thể là lựa chọn cây trồng vật nuôi, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một hoạt động mới, thay đổi sang một hoạt động mới hay thay đổi qui mô hoạt động [8]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng việc thu hồi đất đã tạo ra những tác động về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị đối với bản thân người bị thu hồi đất

mà đặc biệt là người nông dân để thực hiện CNH và ĐTH Để ứng phó với tình huống mới, trong khi chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề và tạo việc làm còn có nhiều hạn chế, nhiều hộ gia đình trong nghiên cứu trường hợp của đề tài đã dựa vào tài sản tự nhiên của mình dưới hình thức quyền sử dụng đất ở để không chỉ tránh nghèo mà còn chuyển dịch sang các chiến lược sinh kế mới, mặc dù qúa trình chuyển đổi này hàm chứa sự phân hóa xã hội và đa dạng chiến lược sinh kế trong các hộ gia đình

Như vậy, khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về phát triển

và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào, vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích

và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia

Trang 25

đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế Khung phân tích sinh kế bền vững tỏ ra có hiệu quả hơn trong các phân tích ở cấp độ vi mô, từ dưới lên Khi được điều chỉnh và ứng dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với các bối cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tộc người của mỗi nghiên cứu cụ thể, khung phân tích này

sẽ là một cách tiếp cận hữu ích và lý thú cho các nghiên cứu và can thiệp chính sách trong lĩnh vực phát triển và giảm nghèo

1.1.4 Chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới Và thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp

và đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình:

- Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về TĐC, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại Để giải quyết nhà ở cho người dân khi GPMB, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ Hai là, giá đất tiêu chuẩn Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở

Việc bồi thường nhà ở cho dân ở huyện khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn

đối với nhà ở của người dân huyện , nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể

Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ TĐC chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB trước khi xây xong nhà TĐC

- Thái Lan: Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình

ĐTH diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết

Trang 26

Năm 1987, Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng các công trình công cộng, an ninh quốc phòng Luật này đã quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên

kế hoạch bồi thường trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt và còn quy định thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra toà án

- Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt

từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong huyện Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền huyện phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do huyện quản lý và chính sách TĐC

Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do huyện quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn

hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc

- Ở Singapore, mức bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất được xác định căn cứ vào giá trị thực tế bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua nguyên vật liệu xây dựng nhà ở mới Trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với phương án bồi thường thiệt hại do Nhà nước xác định, họ

có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại Nhà nước trả tiền cho công tác định lại giá này [26]

Nhà nước chi trả tiền bồi thường thu hồi đất làm hai đợt: Đợt một, nhà nước trả 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ nhà ở Đợt thứ 2, phần còn lại sẽ được thanh toán khi người bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở

- Theo ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và các tổ chức phi Chính phủ thì bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phải giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất; có chính sách thỏa đáng, phù hợp đảm bảo cho người bị thu hồi đất không gặp bất lợi hay khó khăn trong cuộc sống Khắc phục cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống đối với người bị ảnh hưởng Để thực hiện được phương châm đó thì trong công tác bồi thường và TĐC phải nhìn nhận con người là trung tâm chứ không phải chính sách bồi thường vật chất Từ quan điểm đó chính sách bồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình trạng như không có dự án được sử dụng bằng giá thay thế, sao cho đời sống của người

Trang 27

bị ảnh hưởng sau khi được bồi thường ít nhất phải đạt được ngang mức cũ của họ như trước khi có dự án

Các biện pháp phục hồi được cung cấp là bồi thường theo giá thay thế nhà cửa

và các kết cấu khác, bồi thường đất nông nghiệp là lấy đất có cùng hiệu suất và phải thật gần với đất đã bị thu hồi, bồi thường đất thổ cư có cùng diện tích được người bị ảnh hưởng chấp nhận, giao đất TĐC với thời hạn ngắn nhất Đối với đất đai và tài sản được đền bù chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường TĐC hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ bị thu hồi đất, WB và ADB quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường TĐC của dự án phải thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác và tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường TĐC cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch Kế hoạch giải toả thu hồi đất được thực hiện sau khi đã hội ý với người bị thu hồi đất Việc lập

kế hoạch cho công tác bồi thường TĐC được WB và ADB coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người

bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường TĐC phải được coi

là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ bị ảnh hưởng Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới Để thực hiện các biện pháp này, nguồn tài chính và vật chất cho việc di dân luôn được chuẩn bị sẵn

Từ chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở các quốc gia trên thế giới có thể rút ra một số nhận xét chung như sau:

- Trong các hình thức sở hữu đất đai thì Nhà nước đều nắm giữ quyền chủ thể tối cao đối với đất đai, Nhà nước thu hồi đất (đối với sở hữu Nhà nước) hoặc trưng dụng đất (đối với sở hữu cá nhân) để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ trong các dự án có sử dụng đất không chỉ giới hạn trong số những người bị ảnh hưởng trực tiếp mà phải mở rộng cho tới tất cả những người xung quanh bị tác động tiêu cực bởi các dự án có sử dụng đất

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đối với những người bị ảnh hưởng bởi các dự án của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế tuy có những điểm khác biệt nhưng nhìn chung ngày càng có sự đồng quy về một quan điểm lớn là việc đảm bảo cho người bị ảnh hưởng có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi bị thu hồi đất hoặc

bị trưng dụng đất Chính sách của nhiều nước và tổ chức Quốc tế hướng tới việc tránh các dự án có sử dụng đất phải di dân, TĐC

Trang 28

- Các hình thức bồi thường, hỗ trợ rất đa dạng, chú trọng sử dụng hình thức bồi thường bằng hiện vật thay thế như nhà ở, đất, các công trình hạ tầng hoặc bằng các gói dịch vụ như đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, các hình thức bảo hiểm, các hình thức hỗ trợ thường xuyên thông qua các quỹ

Từ thực tiễn sinh động trong chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC ở các nước giúp Việt Nam chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, chính sách nhất quán: Dù theo chính sách phân cấp rộng rãi hay tập

trung thì điều kiện để thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC phải dựa trên quan điểm và nguyên tắc nhất quán Sự nhất quán nguyên tắc thị trường và Nhà nước đứng ra giải quyết mọi vấn đề liên quan thông qua một chính sách bồi thường, hỗ trợ

và TĐC thống nhất đã làm cho chính sách này thực hiện nghiêm chỉnh

Thứ hai, chính quyền địa phương cần phải có sự cụ thể hóa một cách phù hợp

chính sách chung về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC cho địa phương mình

Đồng thời cần có năng lực tổ chức thực hiện, nhất là quyết tâm tháo gỡ vướng mắc một cách quyết liệt và khéo léo

Thứ ba, kế hoạch chương trình GPMB phải được hoạch định cụ thể, chi tiết,

khoa học, hợp lý, công tâm và phải được công khai để người bị thu hồi đất nhận thức đúng thực chất vấn đề, tự nguyện hợp tác và thực hiện đồng thời đảm bảo sự giám sát của người dân đối với cơ quan Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ

Thứ tư, điều hòa lợi ích hợp lý giữa các chủ thể liên quan đến thu hồi đất để

giảm bức xúc xã hội và GPMB nhanh, chủ động sử dụng đất đã thu hồi góp phần đẩy nhanh tiến tiến độ thực hiện các dự án

Thứ năm, thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị

thu hồi đất nói riêng và toàn xã hội nói chung để nâng cao nhận thức, hiểu biết việc cần thiết của công tác thu hồi đất để phát triển đất nước Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực phục vụ công tác bồi thường, đồng thời hình thành

các tổ chức chuyên trách thực hiện công tác này

1.1.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam trong những năm trở lại đây

Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định Nghị định 47/2014/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của NĐ 01/2017/NĐ-CP và TT 37/2014/TT-BTNMT đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:

Trang 29

Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, TĐC ngày càng được xác định

đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản

lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng

Thứ hai, mức bồi thường, hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị

thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất

Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần

đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất

Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ TĐC đã giải quyết được

nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, TĐC đạt hiệu quả

Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai

năm 2013, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn

Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất

phức tạp của vấn đề thu hồi đất, TĐC của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC

Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả

Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật, về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi GPMB, tiến độ GPMB trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi Tuy nhiên, đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong khi các quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so

Trang 30

bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

Mặt khác, Luật đất đai chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu TĐC trước khi thu hồi đất; chất lượng các khu TĐC được xây dựng cũng chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi;

việc lập và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC tại một số dự án còn thiếu kiên quyết, thiếu dân chủ, công khai, minh bạch; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác GPMB ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; chưa phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc GPMB bị kéo dài nhiều năm

Trong khi đó, Tổ chức Phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí và nhân lực để thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, tạo quỹ “đất sạch” triển khai khi có dự án đầu tư

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Tình hình công tác thu hồi đất ở một số nước trên thế giới

Thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đáp ứng nhu cầu đô thị hóa diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới Mỗi quốc gia có quan điểm, cách làm riêng của mình để bảo đảm lợi ích các bên, nhưng tựu chung đều chú trọng bảo đảm lợi ích của người dân bị thu hồi đất Sau đây là một số chính sách về bồi thường giải phóng mặt bằng ở Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc và Pháp như sau:

Tại Hàn Quốc vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt

từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn

hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần

so với giá gốc

Giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn

ra nhanh chóng tại Thái Lan, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù Giá đền bù phụ thuộc

Trang 31

vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường

Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên

cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với

hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại

Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyờn đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở

Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn

Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể

Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các

Trang 32

chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư

Trong số các nước phát triển, Pháp là nước được coi có thể chế trưng thu chi tiết và hoàn chỉnh nhất và Pháp đã áp dụng rộng rãi thể chế này khi thực hiện các dự án

có mục đích vì lợi ích công cộng Trong luật pháp của Pháp nguyên tắc sở hữu tài sản là một quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có thể lấy đi trừ khi vì sự cần thiết công cộng được pháp luật xác nhận và yêu cầu, đồng thời với điều kiện có sự bồi thường công bằng và trả trước

Thủ tục trưng thu của Pháp được quy định trong luật sau nhiều lần sửa đổi và

bổ sung đến nay có thể tóm tắt như sau: Trước tiên bên có nhu cầu thực hiện vì lợi ích công cộng nộp hồ sơ cho tỉnh trưởng Tỉnh trưởng sẽ bổ nhiệm một điều tra viên hoặc một hội đồng điều tra để tiến hành điều tra sơ bộ và chỉ rõ đối tượng, thời hạn điều tra (không ít hơn 15 ngày), đồng thời thông báo trên báo chí, cách thức để công chúng tìm hiểu, nêu ý kiến về hồ sơ Thông thường chi phí điều tra do bên chủ dự án chịu Tiếp

đó trên cơ sở kết quả điều tra được trình lên, tỉnh trưởng sẽ thông báo lại kết quả đó cho chủ dự án, tòa án hành chính và cũng gửi nó cho tất cả các xã, phường liên quan

Chậm nhất là một năm sau khi kết thúc điều tra sơ bộ, tùy từng trường hợp theo luật định, sẽ ra tuyên bố về lợi ích công cộng của dự án và tỉnh trưởng ra quyết định về tính khả nhượng của các tài sản có trong danh mục trưng thu, chuyển quyết định đó sang tòa án Khi đã có lệnh của tòa, chủ sở hữu không được chuyển nhượng, thế chấp tài sản nhưng vẫn được tiếp tục hưởng lợi và chỉ chuyển giao tài sản trưng thu sau khi nhận được tiền bồi thường Sau đó, chủ dự án thông báo dự kiến về mức bồi thường và mời các bên bị trưng thu cho biết yêu cầu của họ trong vòng 15 ngày Hai bên có thời gian một tháng để xử lý những bất đồng, nếu không thống nhất được thì mức bồi thường sẽ do tòa án quyết định, có nêu rõ khoản bồi thường chính, các khoản bồi thường phụ (như việc làm, di chuyển, hoa màu, kinh doanh ) và cơ sở của việc tính toán Những khoản bồi thường này sẽ phải trả đầy đủ tính theo giá trong ngày ra lệnh trưng thu và chủ dự án phải trả chi phí xác định mức bồi thường của quan tòa

Trang 33

1.2.2 Thực trạng công tác thu hồi đất tại Việt Nam

Đất nước ta có những bước phát triển toàn diện về kinh tế, an ninh, quốc phòng

Sự nghiệp CNH, HĐH đã và đang đạt được những thành tựu làm cho bộ mặt đất nước

từ nông thôn đến thành thị được thay đổi từng ngày, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã nhanh chóng được cải tạo, khôi phục phát triển, phần nào đã bắt kịp với yêu cầu chuyển đổi kinh tế Cơ chế chính sách GPMB, bồi thường, hỗ trợ và TĐC cũng được bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với từng thời điểm Số lượng dự án đầu tư, xây dựng năm sau thường hoàn thành cao hơn năm trước tạo được nhiều động lực mới cho sự phát triển [15]

Nông dân nước ta chiếm hơn 60% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệp chiếm trên 50% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước

Chính vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đất nước

và sinh kế nông thôn, là bộ phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước Nếu vấn đề đời sống, việc làm tại nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong

xã hội (chủ yếu là người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sản xuất

ra của cải vật chất cho xã hội sẽ bị hạn chế

Thế nhưng, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây, cuộc sống của một bộ phận nông dân đang gặp rất nhiều khó khăn và thiếu bền vững

Việc thu hồi đất nông nghiệp cũng mang lại một sự biến đổi xã hội rất lớn trong các vùng nông thôn công nghiệp hóa, cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực Trước hết là sự phân tầng xã hội trong nông thôn trở nên rất rõ nét Khoảng cách giữa hộ giàu

và nghèo trở là rất lớn Những tệ nạn xã hội cũng xảy ra ngày càng nhiều trong các vùng nông thôn công nghiệp hóa Việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp trên địa bàn dân cư đông đúc, lượng lao động nhập cư vào các địa phương này ngày càng tăng Mặt khác, trong khi thu nhập từ nông nghiệp bị giảm đi nhanh chóng do diện tích đất canh tác trung bình của mỗi hộ giảm đi Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp tăng lên

Người nông dân có duy nhất đất nông nghiệp là công cụ sản xuất, khi bị thu hồi đất rồi thì người ta không còn công cụ sản xuất nữa Điều đáng lo là số lao động bị thu hồi đất đa phần có trình độ thấp, số lượng lao động quá tuổi tuyển dụng lớn và hầu như

ít có hy vọng tìm được việc làm tốt trong ngành công nghiệp - dịch vụ Chính vì vậy

mà nhu cầu chuyển đổi việc làm là rất cần thiết Những người đang trong độ tuổi lao động phải đi tìm lấy một nghề để học và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp Người nông dân phải tự vay kinh phí từ các chương trình và tự học nghề sau

đó họ tự tạo việc làm Các huyện ngoại thành, các ngành nghề chưa phát triển lắm,

Trang 34

thông so với người dân trong nội thành trong khi các cơ sở dạy nghề tạikhu vực nông thôn còn ít

Chính vì những bất cấp đó nên vấn đề việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất là thách thức rất lớn sau khi thu hồi đất Nhà nước cần phải xem xét điều kiện cụ thể về kinh tế xã hội của mỗi địa phương, nền tảng nghề nghiệp của từng nhóm hộ nông dân ở từng vùng để có giải pháp thu hồi đất hợp lý và tạo điều kiện để nông dân chuyển đổi nghề nghiệp sau khi thu hồi đất Bên cạnh đó, chính sách thu hồi đất của nhà nước cần phải tính đến các tác động trước mắt cũng như lâu dài, những lợi ích kinh tế cũng như những tác động xã hội và môi trường, lợi ích của các tầng lớp và giai cấp xã hội khác nhau tham gia vào quá trình này

1.2.3 Thực trạng công tác thu hồi đất tại huyện Hải Lăng

Trong thời gian qua, công tác BTHT & TĐC trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã thu được những kết quả như sau:

1.2.3.1 Những mặt đạt được

Trình tự thủ tục tiến hành BTHT & TĐC đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác BTHT & TĐC đạt hiệu quả

Đội ngũ cán bộ làm công tác BTHT & TĐC có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác BTHT

& TĐC giữa các sở, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả

Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất

có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất

Đối tượng được bồi thường hỗ trợ và tái định cư ngày càng được xác định đầy

đủ, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được nâng cao, người nhận bồi thường, hỗ trợ cũng thấy thỏa đáng hơn

Ở địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước còn căn cứ tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác BTHT & TĐC được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn

Trang 35

được bồi thường

Nhà đầu tư dự án, công trình phải làm việc với rất nhiều đối tác để thực hiện việc bồi thường, GPMB; nhiều trường hợp phải làm việc với UBND của cả ba cấp tỉnh, huyện, xã, làm việc với hội đồng bồi thường GPMB, làm việc với những người

có đất bị thu hồi; không ít trường hợp phải chi phí đóng góp thêm cho địa phương, chi thêm ngoài phương án cho người có đất bị thu hồi

Thu hồi đất thường ưu tiên trả bằng tiền mặt một phần do đại đa số hộ dân bị thu hồi đất ưa nhận bằng tiền, mặt khác quỹ đất trên địa bàn huyện còn hạn chế, một

số trường hợp phải TĐC cho người bị thu hồi đất ở chưa được giải quyết thỏa đáng, điều kiện khu TĐC không bằng khu dân cư có đất bị thu hồi, có người đang sử dụng đất ở vị trí thuận lợi, ví dụ giáp mặt đường, nay bị thu hồi toàn bộ đất phải TĐC ở nơi khác, có người đang sử dụng đất ở vị trí không thuận lợi nay ngẫu nhiên được ở vị trí thuận lợi và đương nhiên nhận được giá trị tăng thêm của QSDĐ do dự án, công trình

đó mang lại

Những dự án triển khai chậm do nhiều nguyên nhân dẫn đến để đất đã thu hồi

bị bỏ hoang hóa không những không tạo điều kiện cho nông dân chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp, mà còn biến họ thành những người thất nghiệp và thu nhập bất ổn định, đất thu hồi sử dụng không hiệu quả, lãng phí đất trong khi quỹ đất của huyện ngày bị thu hẹp

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Vấn đề sinh kế của người có đất bị thu hồi đang được khá nhiều cơ quan, đơn vị

và cá nhân quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu Do tốc độ đô thị hoá nhanh cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp và đô thị ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong những năm gần đây nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã phải chuyển sang để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân bị thu hồi

Trang 36

Một số khó khăn thường gặp trong việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của người dân đó là: Người dân chưa kịp chuẩn bị để kiếm một nghề mới khi đột ngột mất đất, mất việc làm Bản thân họ ít có khả năng tìm ngay việc làm mới để đảm bảo thu nhập Tình trạng thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp một phần rất gay gắt Đa số thanh niên các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp có trình

độ văn hóa thấp, trong khi để có một nghề chắc chắn đáp ứng chỗ làm việc trong các doanh nghiệp, phần lớn yêu cầu phải có trình độ từ phổ thông trung học Số tiền hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề chỉ đủ tham gia một khóa đào tạo ngắn hạn với ngành nghề đơn giản Các doanh nghiệp có xu hướng tuyển dụng lao động trẻ khỏe, bộ phận đứng trước nguy cơ thất nghiệp kéo dài lớn nhất Tình trạng người lao động còn thụ động,

ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vào tiền đền bù; tâm lý chờ nhận sự ưu đãi của Nhà nước đang tồn tại khá phổ biến ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp

Có thể nói, hầu hết, chính quyền địa phương đều xác định được những khó khăn nêu trên Nhận thức là như vậy nhưng trong thực tế, chính quyền Nhà nước ở địa phương chủ yếu vẫn áp dụng phương thức bồi thường bằng tiền Sinh kế cho nông dân bị thu hồi đất vẫn đang là bài toán chưa có lời giải

Năm 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành khảo sát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp xây dựng các khu công nghiệp và đời sống việc làm của người

có đất bị thu hồi Đây mới chỉ là khảo sát sơ bộ, tập trung vào việc thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp Đề án được triển khai trên địa bàn 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành điều tra khảo sát, đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và giải quyết việc làm cho người sử dụng đất bị thu hồi đất sản xuất ở một số tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh

tế trọng điểm

Theo Doãn Thị Bình (2011), thu nhập của người dân sau thu hồi đất cao hơn trước thu hồi đất Theo số liệu điều tra tại xã Mễ Trì thu nhập bình quân của hộ/năm trước thu hồi là 39.714 nghìn, sau thu hồi là 52.439 nghìn

Kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM vừa công bố vào tháng 2/2014 về đời sống hậu tái định cư (của người dân bị thu hồi đất thuộc các dự án đầu tư bởi quyết định số 35/2010 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn 8 quận, huyện với 498 hộ mẫu trong số 4962 hộ dân có đất bị thu hồi đã được bồi thường, theo đó, sau TĐC, có đến 43% tổng số người trên 15 tuổi không có việc làm

Khoảng 57% có việc làm song có đến hơn 76% số người đang làm việc chưa được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật; 36% người dân TĐC tự tạo việc làm, lao động tự do Chỉ gần 10% có thay đổi công việc so với trước khi di dời Điều này cho thấy, quá trình TĐC không mang lại nhiều cơ hội việc làm, không làm thay đổi việc làm của người

Trang 37

dân song lại ảnh hưởng rất nhiều đến thu nhập của họ Bởi, vẫn công việc như thế nhưng người dân TĐC phải di chuyển một khoảng cách xa hơn so với trước, về nơi ở

cũ để làm việc, buôn bán Kết quả là thu nhập của họ bị giảm Điều đó cũng thể hiện khó khăn trong việc hòa nhập vào cộng đồng dân cư mới của người dân TĐC

Trong bối cảnh giá cả tăng và các chi phí phát sinh trong di dời thì mức thu nhập của đa số người dân TĐC không tăng lên, thậm chí hơn 39% hộ có thu nhập giảm xuống Đặc biệt, trong 498 hộ được khảo sát, có đến 74 hộ (gần 15%) sau TĐC (diện nhận tiền mặt, tự lo chỗ ở) lại có nhà đang nằm trong khu quy hoạch, một số

hộ do tiền đền bù thấp nên chấp nhận mua rẻ lại nền hoặc nhà đang nằm trong khu quy hoạch “treo” [21]

Theo Dung Hiếu (2007), trong 6 năm thực hiện thu hồi đất, có khoảng 2,5 triệu nông dân bị ảnh hưởng đến đời sống Theo số liệu tại một vài địa phương, có tỉnh có

25 - 30% số lao động sau thu hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định

Có tỉnh hàng chục nghìn lao động mất việc làm Tại một số vùng ven đô đồng bằng sông Hồng, trước khi thu hồi đất chỉ có 10% lao động đi làm thuê, sau khi thu hồi đất

tỷ lệ này là 17% Tình trạng này cũng đang có xu hướng tăng lên ở miền Đông Nam

Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Báo cáo nghiên cứu mới nhất liên quan đến vấn đề thu hồi đất cho đô thị hóa và công nghiệp hóa do Đặng Ngọc Dinh (2008) và các cộng sự thuộc Viện Những vấn đề phát triển thực hiện, cho thấy có thực trạng tái nghèo nghiêm trọng diễn ra đối với các hộ nông thôn bị thu hồi đất Địa bàn khảo sát báo cáo là các xã Đình Dù (huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên), Vũ Quý (Kiến Xương, Thái Bình) và Tân Kiên (Bình Chánh, TP.HCM)

Điều tra tại thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên và Thái Bình cho thấy có tới 83% số hộ thiếu đất sản xuất nông nghiệp, 66,58% số hộ thiếu vốn kinh doanh và 54,26% số lao động chưa có nghề ổn định Đối tượng chủ yếu không tìm được việc làm sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp là những lao động có độ tuổi cao, trên 40, nhất

là lao động nữ Số này vừa già vừa yếu vừa khó đào tạo nghề mới nên không có cơ hội tìm kiếm việc làm ở các nhà máy, xí nghiệp trong các khu công nghiệp lớn Không có việc làm đã dẫn đến một thực trạng không hiếm là nguy cơ "trắng tay" khi sử dụng hết tiền đền bù đất Có không ít những người còn tiêu xài tiền đền bù vào cờ bạc, đề đóm Ở TP Hồ Chí Minh, số này chiếm khoảng 44,45%, Hưng Yên 26% và Thái Bình 14%

Theo Đỗ Thị Nâng và Nguyễn Văn Ga (2008), nghiên cứu thực hiện tại thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội với 31 hộ gia đình sau khi bị thu hồi

đất Kết quả cho thấy, khi nông dân bị thu hồi đất, họ không chỉ mất đi tài sản sinh kế

quan trọng nhất, mất đi nguồn lương thực, thu nhập, địa vị, cơ hội, họ còn phải chịu đựng các xáo trộn trong đời sống xã hội nông thôn Tiếp đó là sự đối mặt với việc tìm kế

Trang 38

mưu sinh mới với những khó khăn và đầy rủi ro Các hộ gia đình nhận được tiền đền bù, chủ yếu dành cho xây nhà, mua xe máy Đối với một số hộ neo đơn, tiền đền bù là điểm tựa quan trọng cho các chi tiêu học hành của con cháu họ Sau thu hồi đất, nguồn thu nhập bấp bênh từ làm thuê lại trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ, nhất là các

hộ ở độ tuổi 25-45 Họ gặp khó khăn khi muốn xin việc ở khu công nghiệp vì không có bằng cấp III (đây cũng là lý do giải thích vì sao các hộ đều cố gắng đầu tư cho con ăn học, đặc biệt từ năm 2000) Chuyển sang chăn nuôi gà công nghiệp trên đất thổ cư và dựa vào nguồn thức ăn mua chịu từ các đại lý là lựa chọn của nhiều hộ, tuy nhiên họ gặp rủi ro cao do dịch cúm gia cầm Từ đó, đề tài đưa ra kiến nghị: khi thu hồi đất, nhà nước cần đánh giá đầy đủ các mất mát của hộ và cộng đồng, chứ không chỉ mất đất; đẩy mạnh hướng nghiệp và đào tạo lực lượng lao động nông thôn; cần có chính sách điều chỉnh đất đai, đảm bảo diện tích đất tối thiểu để sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng của hộ; tổ chức tư vấn hộ sử dụng tiền đền bù; đầu tư công tác khuyến nông nhằm giúp các hộ và lao động nông nghiệp chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp

Theo Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh (2010), việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp làm thay đổi nguồn tài nguyên tạo sinh kế thực sự là một cú sốc lớn gây xáo trộn cuộc sống của người nông dân Các nguồn tài nguyên tạo sinh kế có sự luân chuyển cho nhau, qua điều tra và phân tích chỉ

ra rằng, tài sản đất đai của người nông dân chuyển thành vốn tài chính và vốn vật chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người trong nhóm các nguồn tài nguyên tạo sinh kế Nghiên cứu cho thấy nhiều hộ dân tuy có thu nhập cao hơn sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thực hiện quá trình đô thị hoá nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không ổn định và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần có những giải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ đền bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu hồi đất có sinh kế bền vững sau thu hồi đất

Nhiều luận văn thuộc chuyên ngành kinh tế và kinh tế chính trị cũng nghiên cứu

đề tài này, như: Hồ Lạc Thiện (2011), Ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đền sinh kế người dân khi Nhà nước thu hồi đất ở một số

dự án tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Đại học nông lâm Huế; Mai Hoài Phong (2015), Đánh giá ảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến sinh kế người dân tại thành phố Đông Hà , tỉnh Quảng Trị Các luận văn với

những góc nhìn khác nhau từ thực trạng cụ thể của các địa phương, đã chỉ rõ nguyên nhân nông dân không có việc làm, không có thu nhập, đời sống giảm sút

Nhìn chung các công trình trên đã đề cập ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của nông dân, trên nhiều mặt như: đời sống, việc làm, thu nhập, về định giá đền bù, hỗ trợ nông dân mất đất.v.v

Trang 39

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Công tác thu hồi đất được áp dụng trên địa bàn nghiên cứu

- Sinh kế của các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất ở các dự án nghiên cứu

- Các văn bản quy định và các đối tượng liên quan đến công tác thu hồi đất

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tại hai dự án lựa chọn nghiên cứu (Dự án tuyến tránh Quốc lộ 1 đoạn qua địa bàn thị xã Quảng Trị Hạng mục: Cầu Thành Cổ và đường dẫn, địa điểm tại xã Hải Phú và Điểm dân cư nông thôn xã Hải Vĩnh (khu vực Phong trào thôn Thi Ông, xã Hải Vĩnh)

- Phạm vi thời gian: Các nguồn số liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2014 - 2018; Thời gian thực hiện đề tài từ đầu tháng 07/2018 đến tháng 3/2019

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

- Nghiên cứu việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

- Đánh giá sinh kế của người dân sau khi bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện sinh kế của người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.1 Phương pháp điều tra

Trang 40

- Thu thập số liệu sơ cấp:

+ Điều tra, khảo sát thực địa về tình hình thu hồi đất của huyện Hải Lăng (Kết hợp với phỏng vấn lãnh đạo Trung tâm phát triển quỹ đất - Phòng Tài nguyên và Môi trường và cán bộ địa phương - Chủ tịch UBND xã, phường, cán bộ địa chính thuộc địa bàn nghiên cứu);

+ Điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi

Cơ sở chọn cỡ mẫu điều tra

Sử dụng công thức Slovin: n=N/(1+N.e 2) Trong đó: n - số mẫu phải điều tra

N - tổng số cá thể e- phương sai (trong trường hợp điều tra như chúng ta thì lấy e=0,05 đến 0,10)

Tới nay đã có 200 hộ dân bị thu hồi đất tại 02 dự án Chọn e=0,09, số mẫu điều tra là 80 hộ (theo công thức tính là 76 hộ) và chia thành 2 nhóm như sau:

Nhóm thu hồi đất <30% (9 hộ) và >30% (71 hộ)

Số phiếu điều tra theo dự án:

Dự án tuyến tránh Quốc lộ 1 đoạn qua địa bàn thị xã Quảng Trị Hạng mục:

Cầu Thành cổ và đường dẫn, địa điểm tại xã Hải Phú: 50/120 phiếu cho các hộ bị thu hồi đất (chiếm 41,6%)

Điểm dân cư nông thôn xã Hải Vĩnh (khu vực Phong trào thôn Thi Ông, xã Hải Vĩnh): 30/80 phiếu cho các hộ bị thu hồi đất (chiếm 37,5%)

Phương pháp phỏng vấn nhóm hộ: Đây là phương pháp tiến hành bằng cách sử dụng bảng câu hỏi điều tra có có sẵn nhằm đảm bảo được tính thực tiễn, chính xác của số liệu thu được Điều tra bằng bảng hỏi có mục đích chứng minh cho kết quả điều tra thực địa và cuộc điều tra chỉ tiến hành trên một số điểm thuộc 02 dự án nghiên cứu:

2.3.2 Phương pháp phân tích theo khung sinh kế bền vững

Nghiên cứu được thiết kế và phân tích dựa vào khung sinh kế của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID, 1999) Dựa vào lý thuyết khung sinh kế bền vững của DFID để phân tích khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn tạo sinh kế, hoàn cảnh

của người nông dân, việc làm và sinh kế của họ trước và sau khi thu hồi đất

2.3.3 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng ý kiến của các chuyên gia tư vấn, các nhà quản lý về lĩnh vực quy hoạch và quản lý sử dụng đất Đánh giá mức độ tác động (xếp hạng) theo ý kiến chuyên gia

Ngày đăng: 05/07/2021, 06:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5]. Hải Quan, “TP.HCM: Còn nhiều người dân gặp khó khăn sau tái định cư ”, ngày 15 tháng 02 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TP.HCM: Còn nhiều người dân gặp khó khăn sau tái định cư
[25]. Chambers, R. and G. R. Conway (1992), Sustainable rural livelihoods: practical concepts for the 21st century IDS, IDS Discussion Paper No 296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable rural livelihoods: "practical concepts for the 21st century IDS
Tác giả: Chambers, R. and G. R. Conway
Năm: 1992
[26]. FAO (199), Land evaluation and farming system analysis for land use planning, Working document Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land evaluation and farming system analysis for land use planning
[1]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Hội nghị kiểm điểm công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường 27/02/2007, Hà Nội Khác
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết tình hình Luật đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, Hà Nội Khác
[3]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư 28/2014/TT-BTNMT về việc hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, Hà Nội Khác
[4]. Chính Phủ (2014), Nhị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Khác
[6]. Hồ Lạc Thiện (2011), Ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đền sinh kế người dân khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Đại học nông lâm Huế Khác
[7]. Lê Thanh Bồn (2006), Giáo Trình thổ nhưỡng học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
[8]. Mai Hoài Phong (2015), Đánh giá ảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến sinh kế người dân tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Khác
[9]. Mai Văn Xuân; Hồ Văn Minh (2009), Sinh kế người dân thị trấn Lao Bảo tỉnh Quảng Trị trong quá trình phát triển khu kinh tế đặc biệt thương mại Lao Bảo, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, (54) 178-179 Khác
[10]. Ngô Đức Cát (2000), Kinh tế tài nguyên đất, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
[12]. Nguyễn Phương Thảo (2013), Những bất cập trong thu hồi đất và một số kiến nghị, Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính Trung ương Khác
[13]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[14]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật đất đai, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[15]. Trần Anh Tuấn (2013), Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân tại phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Đại học nông lâm Huế Khác
[16]. Trần Phạm Minh Tuấn (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến công tác đền bù và bố trí tái định tại thành phố Đà Nẵng Khác
[17]. Trần Thị Thu Hà (2002), Bài giảng Đánh giá đất, Trường Đại học Nông lâm Huế Khác
[18]. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam - Bộ giáo dục và Đào tạo (1998), Đại từ Tiếng Việt, NXB Văn Hóa - Thông tin, Hà Nội Khác
[19] Ủy ban nhân dân huyện Hải Lăng (2016), Báo cáo thuyết minh điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hải Lăng - tỉnh Quảng Trị Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w