1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá ảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến sinh kế người dân tại thành phố đông hà, tỉnh quảng trị

103 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, vấn đề thực hiện cơ chế nhà nước về thu hồi đất của người sử dụng đất để giao đất cho các nhà đầu tư vẫn đang gây nhiều bức xúc trong thực tế triển kh

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp

đỡ quý báu của Quý thầy cô trong Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Tài nguyên và

Môi trường Nông nghiệp, Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm

Huế, xin gửi tới Quý thầy, cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Minh Hiếu, người hướng dẫn khoa học, thầy đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thiện

luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể và cá nhân: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Đông Hà, Ủy ban nhân

nhân phường Đông Giang và các hộ gia đình, cá nhân thuộc các nhóm hộ điều tra tại

thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho tôi hoàn

thành đề tài này

Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Huế, ngày 01 tháng 8 năm 2015

Tác giả luận văn

Mai Hoài Phong

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Mai Hoài Phong

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC HÌNH ẢNH ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3

1.1.1 Khái quát về đất đai 3

1.1.2 Khái quát về đô thị hóa 4

1.1.3 Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5

1.1.4 Tổng quan lý thuyết sinh kế 9

1.1.5 Chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 13

1.1.6 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam trong những năm trở lại đây 16

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 18

1.2.1 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam 18

1.2.2 Những ưu, nhược điểm về tình hình giải phóng mặt bằng thời gian qua 20

1.2.3 Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng 21

1.3 Nhận xét chung về tổng quan các các vấn đề nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 23

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 23

Trang 4

2.3 Nội dung nghiên cứu 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26

2.4.3 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường 28

3.1.3 Thực trạng kinh tế - xã hội 29

3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai trên địa bàn thành phố 30

3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 36

3.2 Tìm hiểu chung về công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Đông Hà 37

3.2.1 Tình hình chung 37

3.2.2 Kết quả đạt được 38

3.2.3 Những vấn đề tồn tại, vướng mắc 39

3.3 Tình hình thực hiện công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tại các dự án nghiên cứu 40

3.3.1 Khái quát các nhóm dự án trên địa bàn thành phố 40

3.3.2 Khái quát về các dự án nghiên cứu và các hộ điều tra, phỏng vấn 40

3.3.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách thu hồi đất, giải phóng mặt bằng của các dự án nghiên cứu 44

3.4 Ảnh hưởng của việc thực hiện công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đến sinh kế của người dân bị thu hồi đất 45

3.4.1 Tác động đến nguồn vốn tự nhiên 45

3.4.2 Tác động đến nguồn vốn con người 52

3.4.3 Tác động đến nguồn vốn tài chính 56

3.4.4 Tác động đến nguồn vốn vật chất 66

3.4.5 Tác động đến nguồn vốn xã hội 69

3.4.6 Nhận xét chung về việc thực hiện công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đến sinh kế người dân thành phố Đông Hà 71

3.4.7 Bài học kinh nghiệm 75

3.5 Giải phápđể đảm bảo sinh kế cho người dân khi bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đông Hà 75

Trang 5

3.5.1 Giải pháp về nguồn vốn tự nhiên 76

3.5.2 Giải pháp về nguồn vốn con người 76

3.5.3 Giải pháp về nguồn vốn tài chính 77

3.5.4 Giải pháp về nguồn vốn vật chất 77

3.5.5 Giải pháp về nguồn vốn xã hội 78

KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

giáo dục của Liên hợp quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích đất nông nghiệp năm 2013 31

Bảng 3.2 Hiện trạng diện tích đất phi nông nghiệp năm 2013 32

Bảng 3.3 Hiện trạng diện tích đất chưa sử dụng năm 2013 33

Bảng 3.4 Biến động đất đai của thành phố Đông Hà giai đoạn 2005 - 2013 34

Bảng 3.5 Tình hình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra 45

Bảng 3.6 Diện tích đất nông nghiệp bình quân mỗi hộ trước và sau thu hồi đất 46

Bảng 3.7 Tình hình thu hồi đất ở và đất vườn các hộ điều tra 49

Bảng 3.8 Tình hình giao đất TĐC và giao thêm cho các hộ điều tra 50

Bảng 3.9 Biến động về lao động sau thu hồi đất 52

Bảng 3.10 Thay đổi về số lao động tại các dự án sau thu hồi đất lúa 53

Bảng 3.11 Thay đổi về lực lượng lao động theo ngành sau thu hồi đất lúa 53

Bảng 3.12 Thu nhập bình quân hàng tháng của các nhóm hộ 56

Bảng 3.13 Nguồn thu nhập hàng tháng của các nhóm hộ 57

Bảng 3.14 Thu nhập bình quân hàng tháng của các nhóm hộ điều tra 60

Bảng 3.15 Kết quả so sánh tiền bồi thường, hỗ trợ với tiền sử dụng đất phải nộp 62

Bảng 3.16 Diện tích bình quân mỗi hộ Nhóm 1 được giao trước và sau thu hồi đất 62

Bảng 3.16 Mức hỗ trợ cho các hộ bị thu hồi nhà ở trong năm 2014 64

Bảng 3.17 Đồ dùng gia đình trước và sau thu hồi đất 67

Bảng 3.18 Sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau của người dân sau thu hồ đất 70

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng đất thành phố Đông Hà năm 2013 30

Biểu đồ 3.2 Cơ cấu sử dụng đất qua các năm 2005, 2010 và 2013 34

Biểu đồ 3.3 Cấu trúc lao động của các hộ điều tra 43

Biểu đồ 3.5 Diện tích bình quân đất nông nghiệp mỗi hộ trước và sau thu hồi 46

Biểu đồ 3.6 Diện tích bình quân đất nông nghiệp theo nhóm hộ trước và sau thu hồi 47 Biểu đồ 3.7 Diện tích bình quân đất nông nghiệp theo nhân khẩu 48

Biểu đồ 3.8 Thay đổi về tỷ lệ lao động sau thu hồi của các trường hợp thu hồi đất lúa 54

Biểu đồ 3.9 Thay đổi thu nhập bình quân của các nhóm hộ sau thu hồi đất lúa 58

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các nhóm hộ 59

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ bị thu hồi đất ở 61

Biểu đồ 3.12 Thực trạng nhà ở của người dân trước và sau thu hồi đất 68

Biểu đồ 3.13: Thực trạng sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của người dân 69

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững (Nguồn DFID, 2001) 10

Hình 3.1 Sơ đồ địa giới hành chính thành phố Đông Hà 27

Hình 3.2 Một số hướng hình thành khung sinh kế sau thu hồi đất 73

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để hướng đến mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, nhiều năm gần đây việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu

đô thị mới đã phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nước Hiện nay, quá

trình CNH, HĐH và ĐTH đang diễn ra tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với

tốc độ ngày càng cao Để tạo quỹ đất phục vụ cho quá trình ĐTH, việc thu hồi đất,

GPMB xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các

công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia là một hoạt động tất yếu

Mặc dù các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã từng bước hoàn thiện, ngày càng rõ ràng, cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, đơn giá thực

hiện bồi thường, hỗ trợ về đất đai và tài sản khi nhà nước thu hồi đất (Đặng Thái Sơn,

2002) Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, vấn đề thực hiện cơ chế nhà nước về thu

hồi đất của người sử dụng đất để giao đất cho các nhà đầu tư vẫn đang gây nhiều bức

xúc trong thực tế triển khai, nhất là những bức xúc của người bị thu hồi đất về thực

hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC (Đặng Hùng Võ, 2009)

Việc thu hồi đất, GPMB để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng đã gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đến việc làm và đời sống của người dân trong

khu vực thu hồi đất Tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi nghề

nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới của người dân bị thu hồi đất đã

và đang diễn ra ở nhiều nơi Trong quá trình tham vấn lấy ý kiến của người bị thu hồi

đất tại một số địa phương, Tổ chức Liên minh đất đai (LANDA) cho biết hầu hết ý

kiến của người dân tại các địa phương tổ chức lấy ý kiến đều cho rằng quá trình thực

hiện thu hồi đất luôn thiếu minh bạch, người dân luôn bị đặt vào thế bị động, thậm chí

là ép buộc di dời và mất chỗ ở Số tiền mà nhiều người được bồi thường hỗ trợ thậm

chí không đủ để mua một suất ở TĐC Họ cũng mất cả sinh kế từ nông nghiệp mà gần

như không có cơ hội tìm sinh kế mới tốt hơn Nguyên nhân dẫn đến điều này một phần

do nhiều nơi thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC, đào tạo, giải quyết việc làm cho người

dân có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý dẫn đến tình trạng khiếu kiện gây mất trật tự an

ninh, xã hội Một phần do bản thân người dân bị thu hồi đất còn bị thụ động, trong chờ

vào Nhà nước, chưa tích cực tự thích ứng để phù hợp với sự nghiệp CNH, HĐH đất

nước

Trong bối cảnh chung đó, nhiều năm qua Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã

và đang nỗ lực thực hiện có hiệu quả quá trình ĐTH nhằm xây dựng thành phố Đông

Hà trở thành đô thị loại II vào năm 2020 Chính vì vậy, tốc độ phát triển cơ sở hạ

tầng, các công trình công cộng của thành phố Đông Hà diễn ra nhanh chóng Đi liền

Trang 11

với quá trình đó là thực hiện các chính sách về thu hồi đất, GPMB tại các địa phương,

nhất là các khu vực ven đô thị và lân cận các tuyến giao thông huyết mạch làm thay

đổi bộ mặt của thành phố, cải thiện đáng kể đời sống của người dân xung quanh khu

vực có đất bị thu hồi Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó việc thu hồi đất, GPMB của

thành phố gặp phải nhiều khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và ổn định đời

sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Chính điều này đã làm nãy sinh nhiều

vướng mắc trong việc thực hiện các thủ tục về thu hồi đất, GPMB của thành phố Đông

Hà Để đánh giá đúng thực trạng ảnh hưởng của việc thực hiện các chính sách bồi

thường, hỗ trợ và GPMB đến đời sống của người dân bị thu hồi đất tại một số dự án

trên địa bàn thành phố Đông hà, tỉnh Quảng trị, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp

mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện các chính sách này, tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến sinh kế

người dân tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị”

2 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ ảnh hưởng của việc thực hiện các chính sách thu hồi đất, GPMB đến cuộc sống của người dân tại một số dự án trên địa bàn thành phố Đông Hà Trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp cần thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách thu

hồi đất, GPMB đến với cuộc sống người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ những hạn chế đồng thời xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện những chính sách của Nhà nước và địa

phương về thu hồi đất và GPMB, đảm bảo đời sống của người dân bị thu hồi đất trên

địa bàn thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những đánh giá chung về chính sách thu hồi đất, GPMB trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói chung và thành phố Đông Hà nói

riêng, từ đó có cơ chế thực hiện hợp lý, đẩy nhanh tiến độ GPMB các công trình

Cho thấy rõ thực trạng sinh kế của người dân trước và sau khi thu bị Nhà nước thu hồi đất đồng thời đưa ra những giải pháp bồi thường, hỗ trợ và TĐC hợp lý để đảm

bảo sinh kế cho người dân

Làm tài liệu tham khảo cho các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Khái quát về đất đai

Theo quan điểm của C Mác: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ

bản trong nông lâm nghiệp [5] Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với

khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và bề mặt tự nhiên của

trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo

nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy

văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do biến động của con

người [44]

Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất, tương đối tơi xốp do các loại đá phong hóa ra, có độ phì nhiêu, trên đó cây có thể mọc

được, đất được hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên

đá mẹ [22] Nếu nhìn nhận đất đai trên phương diện từ vạt đất thì đất đai là một phần

diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh

thái ngay trên bề mặt đất [20] Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên

vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông -

lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân

bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng Nhưng đất đai

là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian [3]

Như vậy, tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau mà đất đai có thể được hiểu, quan niệm theo những phương diện khác nhau Tuy nhiên, ngày nay khi nói

đến đất người ta thường sử dụng hai khai niệm khác nhau là đất (soil) và đất đai (land)

Ngày nay, trong quản lý nhà nước về đất đai người ta thường đề cập đến đất đai theo

khái niệm đất (land)

Tùy thuộc vào mục đích phân loại mà hiện nay trên thế giới có rất nhiều cách phân loại khác nhau Song tựu trung, đất đai thường được người ta phân loại theo hai

cách cơ bản bao gồm phân loại theo thổ nhưỡng và phân loại theo mục đích sử dụng

Về phân loại đất theo thổ nhưỡng (theo Khoa học đất) mục đích nhằm xây dựng

bản đồ thổ nhưỡng Trên thế giới có 3 trường phái chủ yếu [6], bao gồm phân loại đất

theo nguồn gốc phát sinh; phân loại đất theo định lượng tầng đất; phân loại đất theo

FAO – UNESCO Ở Việt Nam tiếp thu Soil Taxonomy và hệ thống phân loại FAO –

UNESCO từ cuối thập kỉ 80 [42]

Trang 13

Về phân loại đất theo mục đích sử dụng dựa trên những quy định của pháp luật

về đất đai Luật đất đai năm 1993 quy định đất đai được phân thành 6 loại [37] Đến

Luật đất đai năm 2003 đã phân loại theo mục đích sử dụng thành 3 nhóm [18] Hiện

nay, Luật đất đai 2013 ban hành vào ngày 29/11/2013 tiếp tục quy định việc phân loại

đất theo mục đích sử dụng đất với 3 nhóm đất chính gồm nhóm đất nông nghiệp, đất

phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng [19] Như vậy, ở nước ta việc phân loại đất theo

mục đích sử dụng bao gồm 3 nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và

nhóm đất chưa sử dụng Với xu thế toàn cầu hóa và định hướng phát triển Việt Nam

thành một nước công nghiệp vào năm 2020 thì việc đẩy mạnh ĐTH, CNH kéo theo sự

chuyển dịch đất đai từ mục đích nông nghiệp sang phi nông nghiệp là tất yếu

1.1.2 Khái quát về đô thị hóa

Hiện nay, xoay quanh vấn đề đô thị hoá đã có nhiều khái niệm được đưa ra nhưng chưa có sự thống nhất do các cách tiếp cận và đối tượng nghiên cứu khác nhau

của các ngành khoa học Có thể dẫn ra một số định nghĩa tiêu biểu dưới đây:

Trong tác phẩm “Đô thị Việt Nam” Đàm Trung Phường cho rằng: “ĐTH là quá trình chuyển dịch hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập

trung trên một số địa bàn thích hợp” [17] Trong khi đó tác giả Nguyễn Thanh Thủy

cho rằng: “thực chất ĐTH là một quá trình thay đổi hình thức cư trú của con người, từ

hình thức sống ở nông thôn tiến lên hình thức sống ở thành thị theo yêu cầu của công

cuộc CNH, HĐH, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế khi mở rộng quy mô các đô

thị cũ hoặc xây dựng các đô thị mới” [24] Ngoài ra, theo báo cáo của Viện nghiên

cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội, quá trình ĐTH là quá trình mở rộng biên giới

lãnh thổ đô thị do nhu cầu CNH, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế - là sự tăng

trưởng về không gian đô thị từ phát triển dân số và phát triển sản xuất [35]

Tóm lại, ĐTH là một quá trình làm thay đổi và bố trí dân cư, phân bố các phương thức sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, xây dựng, chuyển dịch, phát triển các hình

thức và điều kiện sống theo theo kiểu đô thị đồng thời dựa vào sự tiến bộ về mặt khoa

học kỹ thuật để phát triển đô thị hiện có theo hướng hiện đại và tăng quy mô dân số

Ở Việt Nam Quá trình đổi mới được khởi xướng từ những năm 1980 trong khu vực nông nghiệp, sau đó mở rộng sang các khu vực kinh tế khác đã làm trỗi dậy mạnh

mẽ chương trình hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy nhanh chóng quá trình CNH và ĐTH

ở nhiều khu vực trong cả nước [21] Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang

trong quá trình phát triển Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị,

tăng hơn 40% so với năm 1995 [39]

Nước ta có mạng lưới đô thị rải tương đối đều khắp trong cả nước nhưng phần lớn là các đô thị nhỏ và trung bình [11] Ở vùng núi và cao nguyên quá trình ĐTH nói

chung gặp nhiều khó khăn hơn Ngay ở Đồng bằng sông Hồng, mạng lưới đô thị dày

Trang 14

đặc nhưng lại chủ yếu là các thị trấn nhỏ, nên tỉ lệ dân số đô thị vẫn thấp Vùng Đông

Nam Bộ, nơi có thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ dân số đô thị cao nhất cả nước Đồng

bằng sông Cửu Long chủ yếu là các thị xã, thị trấn nhỏ, phân bố rải rác Ở đây có đô

thị lớn là thành phố Cần Thơ Dọc duyên hải miền Trung có nhiều thành phố, thị xã,

trong đó Đà Nẵng là đô thị lớn, Huế là cố đô cổ kính [8]

Tóm lại, quá trình ĐTH là đặc trưng nổi bật của thời đại ngày nay, thể hiện trình

độ phát triển kinh tế - xã hội hiện đại Tuy nhiên, quá trình ĐTH đang xảy ra với tốc

độ và trình độ khác nhau giữa các khu vực, quốc gia trên thế giới Việt Nam mới chỉ

đang ở giai đoạn đầu của quá trình ĐTH với trình độ đô thị hóa còn thấp so với các

nước khác trên thế giới

1.1.3 Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Theo khoản 5 điều 4 luật đất đai 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại QSD đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban

nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai hiện hành” [18]

Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại QSD đất của người được

Nhà nước trao QSD đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về

đất đai [19] Có nơi người ta quan niệm thu hồi đất là giải tỏa hay GPMB là quá trình

tổ chức thực hiện việc di dời tài sản gắn liền với đất (nhà cửa, cây cối, các công trình

xây dựng và một bộ phận dân cư) trên diện tích đất bị thu hồi để bàn giao lại mặt bằng

cho chủ đầu tư thực hiện dự án [29]

Theo các khái niệm trên, thu hồi đất là hành vi của Nhà nước đối với người sử dụng đất thông qua quyết định thu lại QSD đất Tuy nhiên, theo tác giả cụm từ “thu

hồi đất” nên chăng có thể thay bằng “thu hồi QSD đất” vì đã là đất “của” Nhà nước thì

tại sao Nhà nước lại phải thu hồi và “thu hồi đất” chỉ có thể dùng đối với những trường

hợp người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai Hoặc ở khía cạnh khác cho thấy

cụm từ “thu hồi đất” còn mang tính bạo lực Nhà nước đối với người sử dụng đất, khi

Nhà nước có nhu cầu về đất, một số người dân tiến bộ sẽ hiến đất, tự nguyện giao đất

thì Nhà nước phải nhận đất mới đúng Do vậy, có thể sử dụng một thuật ngữ khác có

tính khả quan và dễ được đón nhận hơn từ phía người dân đó là “trưng mua QSD đất”

Trong khi đó, khái niệm “bồi thường” hay “đền bù” có nghĩa là trả lại sự tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ

thể khác [27] Pháp luật đất đại năm 2003 và 2013 đều chỉ rõ: Bồi thường khi Nhà

nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSD đất đối với diện tích đất bị thu hồi

cho người bị thu hồi đất [19] Còn việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà

nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới,

cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [18]

Trang 15

Sau khi thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ, Nhà nước cũng đã tính đến việc giao đất ở mới cho những trường hợp không còn đất để ở hay gọi là TĐC Theo đó, TĐC

được hiểu là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm

ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc

trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển TĐC được hiểu là một quá trình bồi

thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để

xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần đó [10]

Tóm lại, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là một quá trình phức tạp, nhạy cảm liên quan đến nhiều cấp chính quyền và một bộ phận lớn

người dân Các công đọan này gắn kết với nhau một cách chặt chẽ trong việc giải

quyết những mâu thuẩn về mặt lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu

tư Quá trình này chịu tác động lớn bởi nhiều yếu tố khác nhau song tự thân nó cũng

có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội:

- Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất, GPMB:

+ Công tác đăng ký quyền sử dụng đất đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất: Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai,

người sử dụng đất phải đăng ký QSD đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được

xét duyệt lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chúng nhận QSD đất Hệ thống hồ sơ địa chính

và và giấy chứng nhận QSD đất có liên quan mật thiết với công tác bồi thường, hỗ trợ,

TĐC và là một trong những yếu tố quyết định khi xác định nguồn gốc sử dụng đất, đối

tượng và mức bồi thường, hỗ trợ [10]

Trong công tác GPMB, giấy chứng nhận QSD đất, hồ sơ địa chính về đất đai là căn cứ tối quan trọng giúp cho việc phân loại đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và

TĐC đồng thời là cơ sở cung cấp các thông tin về diện tích, loại đất để áp giá bồi

thường, hỗ trợ Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta còn hạn chế, đặc biệt

công tác đăng ký biến động về sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận QSD đất vẫn

chưa hoàn thiện dẫn đến công tác GPMB gặp phải rất nhiều khó khăn

Nơi nào công tác quản lý đất đai tốt như đã hoàn chỉnh bản đồ địa chính có chất lượng, làm rõ nguồn gốc đất, ban hành công khai hạn mức diện tích đất ở và đất canh

tác thì khâu đo đạc, xác định tính pháp lý của đất để áp giá bồi thường hoặc hỗ trợ, di

chuyển TĐC thường thuận lợi hơn Trái lại, những nơi chưa tiến hành tốt những việc

thuộc nội dung quản lý đất đai thường xuyên nói trên sẽ gặp không ít khó khăn trong

việc xác định nguồn gốc đất, chủ sở hữu hợp pháp, diện tích, ranh giới của khu đất

giữa thực địa và hồ sơ giải thửa do mất nhiều thời gian để đối chiếu, xác minh

+ Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế và

xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của

Trang 16

các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà

nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết

kiệm khoa học và có hiệu quả cao nhất [16]

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là tiền thân của công tác thu hồi đất, GPMB của nhiều dự án Việc thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do

đó mà có những tác động nhất định đến việc thu hồi đất, GPMB: Quy hoạch sử dụng

đất là căn cứ để ban hành Quyết định thu hồi đất, để lập, trình duyệt và thực hiện

phương án GPMB; là căn cứ để xây dựng các khu TĐC; là nhân tố ảnh hưởng đến giá

chuyển nhượng QSD đất, từ đó tác động tới giá đất tính toán bồi thường Ngoài ra,

việc lập phương án quy hoạch sử dụng đất không đảm bảo khả năng dự báo, thiếu

đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, thiếu bền vững dẫn đến tình trạng quy hoạch

treo, là nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc khi thực hiện GPMB

+ Công tác giao đất, cho thuê đất có ảnh hưởng rất lớn đến công tác thu hồi đất,

bồi thường, hỗ trợ và TĐC Tuy nhiên, hiện nay việc thực công tác này ở nhiều địa

phương vẫn còn nhiều hạn chế, hạn mức giao đất và nghĩa vụ đống thuế quy định chưa

rõ ràng, nhiều trường hợp giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền nên trong quá

trình thu hồi đất và GPMB gặp phải rất nhiều khó khăn

+ Giá đất và định giá đất: Hiện nay, ở nước ta giá đất dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng, là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm Một trong những điểm

mới của Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 là các quy định về giá đất Nếu như

trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác

nhau thì Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng

nhóm quan hệ đất đai khác nhau [22] Theo quy định của Luật đất đai, nguyên tắc định

giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình

phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không đúng

theo nguyên tắc đó, ngoài ra còn có sự chênh lệch lớn về giá đất tại các khu vực giáp

ranh giữa các địa phương, trong khi pháp luật đất đai hiện hành lại chưa có cơ chế hữu

hiệu để giải quyết tình trạng này Vì vậy, dẫn đến các khiếu kiện của người bị thu hồi

đất và gây ách tắc trong khi thực hiện công tác bồi thường, GPMB [2]

Như vậy, việc quy định về giá đất chưa đảm bảo tính rõ ràng vì giá đất trên thị trường khó ổn định và luôn có sự thay đổi, thậm chí có thời diểm giá đất thay đổi từng

ngày Do đó, việc xác định thế nào là phù hợp với giá thị trường hoàn toàn mang tính

chủ quan Khái niệm giá đất phổ biến cũng hoàn toàn mơ hồ, cần quy định bắt buộc

phải có tư vấn độc lập về giá đất khi xây dựng khung giá đất và trong trường hợp có

khiếu nại

+ Thị trường Bất động sản: Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư (do người đầu tư có

Trang 17

thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời

người bị thu hồi có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải

thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC và bồi thường [10] Tuy nhiên, trên

thực tế một phần cũng do đầu tư ồ ạt về việc xây dựng các khu chung cư rộng lớn mà

dẫn đến việc thu hồi đất từ đó làm nãy sinh những vấn đề phức tạp Thay vì cho phép

doanh nghiệp tự đứng ra GPMB, thỏa thuận đền bù với người có đất, tới đây Nhà nước

sẽ đứng ra thu hồi đất và cho thuê lại Chính điều này khiến cho người dân không có

sự đồng thuận khi xây dựng các khu chung cư hay các căn hộ cao cấp

+ Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật: Thực tiễn khai thác cho thấy việc ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất có ảnh

hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB Hệ thống văn bản pháp luật đất đai còn

có những nhược điểm như là số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi

trong sử dụng, nội bộ hệ thống chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ gây lúng túng trong xử lý

và tạo kẻ hở trong việc thực thi pháp luật [1]

Có thể nói việc điều chỉnh, thay đổi các văn bản quy định về quản lý, sử dụng đất của Trung ương đã làm thay đổi căn bản toàn bộ các chính sách về đất đai của các địa

phương, trong đó nỗi bật có các chính sách liên quan đến thu hồi đất, GPMB Các quy

định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì,

khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực

hiện thu hồi đất qua nhiều năm

- Tác động của công tác thu hồi đất đến phát triển kinh tế - xã hội:

Thu hồi đất, GPMB nếu thực hiện đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí, sớm thực hiện các dự án và đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội

Thực hiện tốt GPMB sẽ góp phần cải thiện mô trường đầu tư, khai thác nguồn lực từ

đất đai cho đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội Tuy nhiên, trên thực tế

việc thu hồi đất, GPMB còn nhiều bất cập gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã

hội

Thu hồi đất là một trong những vấn đề nóng bỏng, gây ra nhiều bức xúc, khiếu kiện, tranh chấp nhất hiện nay Theo báo cáo kết quả thi hành Luật đất đai 2003, sau

gần 7 năm thực hiện, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536

nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân [41]

Việc thu hồi đất mà chưa có giải pháp phát triển bền vững dẫn đến tình trạng bần cùng hóa người nông dân, khiến họ không có đất sản xuất, phải di cư tự phát tới các đô

thị làm thuê, làm bốc vác, khai thác khoáng sản hoặc đi xuất khẩu lao động… Điều

này cho thấy, thu hồi đất không còn chỉ là một bài toán về phát triển kinh tế mà còn

đặt ra nhiều câu hỏi về xã hội, quản lý dân cư, sự chênh lệch khoảng cách giàu

nghèo… [41]

Trang 18

1.1.4 Tổng quan lý thuyết sinh kế

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về

sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh

nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài

nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao

gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích

ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống

chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai [43]

Sinh kế cũng có thể được mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người hoặc một nhóm người nhằm cố

gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình Tiêu chí sinh kế bền

vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều

kiện môi trường cộng đồng – xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi

ro và các cú sốc [23]

Sinh kế bền vững có thể được mô tả là: Chống đỡ được với những cú sốc và áp lực bên ngoài, không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài, được thích nghi hóa để

duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên và bền vững mà không

làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của người khác [23]

Các chính sách xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên

ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004, 2005), Barrett và Reardon

(2000) Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ

hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể

chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xóa

đói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan hệ trong cộng

đồng, các chính sách phát triển Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là

yếu tố nền tảng trong các quyết định một sinh kế bền vững hay không [38]

Hiện nay sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục

tiêu cao nhất của phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao

phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải đặt nó trong mối quan hệ với

phát triển bền vững Các nghên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng, phân

tích khung sinh kế bền vững trên cơ sở nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực

vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực [38]

Trang 19

Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn

hoặc tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu

xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể Tổ

chức phát triển toàn cầu của Vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế như

hình 1.1

Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững

Theo hình 1.1 thì các yếu tố cấu thành khung sinh kế bao gồm:

- Khả năng dễ bị tổn thương: Khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị

ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực, vừa tiêu cực bởi những xu hướng, sự thay đổi đột

ngột hoặc tính năng mùa vụ mà họ hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được

Ngữ cảnh dễ bị tổn thương: Đó chính là những thay đổi, những xu hướng, tính mùa vụ Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển được trong ngắn

hạn Vì vậy, trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnh

người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà phải đề cập được ngữ

cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chóng chọi đối với những thay đổi trên

hay phục hồi dưới những tác động trên [25]

- Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài

sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn cơ chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật

chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên [25]

Trang 20

+ Vốn nhân lực (Human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau

nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình, vốn

nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia

đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại

vốn khác [25]

+ Vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm

nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín

dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau [25]

+ Vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ

cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng

sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu

sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất

lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự

nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô

và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy

sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để

tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu

tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như

không khí hay sự đa dạng sinh học [25]

+ Vốn vật chất (Physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật

chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó

chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ

thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống

tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát

huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy

móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống

hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình [25]

+ Vốn xã hội (Social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể

mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi

sinh kế [25]

Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem

Trang 21

xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay cơ hội thay

đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai

- Tiến trình và cấu trúc (Structure and processes): Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn,

điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau

Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế Chính

vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các

chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc [25]

- Thành phần quan trọng thứ ba của khung sinh kế là kết quả của sinh kế (livelihood outcome): Đó là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh kế Kết quả

của sinh kế nhìn chung là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng về

trọng tâm và sự ưu tiên Đó có thể cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con

người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài

nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành

phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa các

tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau [25]

Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ Chiến lược sinh kế

là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu

sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn

vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định có ảnh

hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh kế Đó có thể là lựa

chọn cây trồng vật nuôi, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một hoạt động mới, thay đổi

sang một hoạt động mới hay thay đổi qui mô hoạt động [25]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng việc thu hồi đất đã tạo ra những tác động về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị đối với bản thân người bị thu hồi đất

mà đặc biệt là người nông dân để thực hiện CNH và ĐTH Để ứng phó với tình huống

mới, trong khi chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề và tạo việc làm còn

có nhiều hạn chế, nhiều hộ gia đình trong nghiên cứu trường hợp của đề tài đã dựa vào

tài sản tự nhiên của mình dưới hình thức quyền sử dụng đất ở để không chỉ tránh

nghèo mà còn chuyển dịch sang các chiến lược sinh kế mới, mặc dù qúa trình chuyển

đổi này hàm chứa sự phân hóa xã hội và đa dạng chiến lược sinh kế trong các hộ gia

đình

Như vậy, khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về phát triển

và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các

loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế

nào, vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích

Trang 22

và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia

đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế Khung phân tích sinh kế bền

vững tỏ ra có hiệu quả hơn trong các phân tích ở cấp độ vi mô, từ dưới lên Khi được

điều chỉnh và ứng dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với các bối cảnh văn hóa,

chính trị, kinh tế, xã hội và tộc người của mỗi nghiên cứu cụ thể, khung phân tích này

sẽ là một cách tiếp cận hữu ích và lý thú cho các nghiên cứu và can thiệp chính sách

trong lĩnh vực phát triển và giảm nghèo

1.1.5 Chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một

số nước và tổ chức trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới Và thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô

thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế – xã hội cần được giải quyết

kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân,

mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình:

- Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh

toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về TĐC, tiền trợ cấp bồi thường

hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo

giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi

thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại [4] Để

giải quyết nhà ở cho người dân khi GPMB, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là

trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch

giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ Hai là, giá đất tiêu chuẩn Ba là, trợ cấp về

giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở [4]

Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn

đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với

mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá,

xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất

linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi

thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể

Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ

TĐC chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB trước khi xây xong nhà TĐC [12]

- Thái Lan: Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình

ĐTH diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết

Trang 23

Năm 1987, Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng các công trình công cộng, an ninh

quốc phòng Luật này đã quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá

trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế

hoạch bồi thường trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt và còn quy định thủ tục thành

lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi

thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra toà án [15]

- Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất

định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền

thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được

thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn

hộ do thành phố quản lý và chính sách TĐC [13]

Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những năm 70

của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua

căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá

gốc [7]

- Ở Singapore, mức bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất được xác định căn cứ vào giá trị thực tế bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở hợp

lý; chi phí mua nguyên vật liệu xây dựng nhà ở mới… Trường hợp người bị thu hồi

đất không tán thành với phương án bồi thường thiệt hại do Nhà nước xác định, họ có

quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại

Nhà nước trả tiền cho công tác định lại giá này [40]

Nhà nước chi trả tiền bồi thường thu hồi đất làm hai đợt: Đợt một, nhà nước trả 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ nhà ở Đợt thứ 2, phần

còn lại sẽ được thanh toán khi người bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở

- Theo ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và các tổ chức phi Chính phủ thì bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu

hồi đất phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phải

giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất; có chính sách thỏa

đáng, phù hợp đảm bảo cho người bị thu hồi đất không gặp bất lợi hay khó khăn trong

cuộc sống Khắc phục cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống đối với người bị ảnh

hưởng Để thực hiện được phương châm đó thì trong công tác bồi thường và TĐC phải

nhìn nhận con người là trung tâm chứ không phải chính sách bồi thường vật chất Từ

quan điểm đó chính sách bồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình

trạng như không có dự án được sử dụng bằng giá thay thế, sao cho đời sống của người

Trang 24

bị ảnh hưởng sau khi được bồi thường ít nhất phải đạt được ngang mức cũ của họ như

trước khi có dự án [14]

Các biện pháp phục hồi được cung cấp là bồi thường theo giá thay thế nhà cửa và các kết cấu khác, bồi thường đất nông nghiệp là lấy đất có cùng hiệu suất và phải thật

gần với đất đã bị thu hồi, bồi thường đất thổ cư có cùng diện tích được người bị ảnh

hưởng chấp nhận, giao đất TĐC với thời hạn ngắn nhất Đối với đất đai và tài sản được

đền bù chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với

tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường TĐC hoàn thành trước

một tháng khi dự án triển khai thực hiện Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ

bị thu hồi đất, WB và ADB quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi

thường TĐC của dự án phải thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác

và tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch

bồi thường TĐC cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch Kế hoạch giải toả thu hồi

đất được thực hiện sau khi đã hội ý với người bị thu hồi đất Việc lập kế hoạch cho

công tác bồi thường TĐC được WB và ADB coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm

định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người bị ảnh hưởng

và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường TĐC phải được coi là một phần

của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ bị

ảnh hưởng Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà

nhập được với cộng đồng mới Để thực hiện các biện pháp này, nguồn tài chính và vật

chất cho việc di dân luôn được chuẩn bị sẵn [15]

Từ chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở các quốc gia trên thế giới có thể rút ra một số nhận xét chung như sau:

- Trong các hình thức sở hữu đất đai thì Nhà nước đều nắm giữ quyền chủ thể tối cao đối với đất đai, Nhà nước thu hồi đất (đối với sở hữu Nhà nước) hoặc trưng dụng

đất (đối với sở hữu cá nhân) để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích

quốc gia, lợi ích công cộng

- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ trong các dự án có sử dụng đất không chỉ giới hạn trong số những người bị ảnh hưởng trực tiếp mà phải mở rộng cho tới tất cả

những người xung quanh bị tác động tiêu cực bởi các dự án có sử dụng đất

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đối với những người bị ảnh hưởng bởi các

dự án của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế tuy có những điểm khác biệt nhưng

nhìn chung ngày càng có sự đồng quy về một quan điểm lớn là việc đảm bảo cho

người bị ảnh hưởng có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi bị thu hồi đất hoặc bị

trưng dụng đất Chính sách của nhiều nước và tổ chức Quốc tế hướng tới việc tránh

các dự án có sử dụng đất phải di dân, TĐC

Trang 25

- Các hình thức bồi thường, hỗ trợ rất đa dạng, chú trọng sử dụng hình thức bồi thường bằng hiện vật thay thế như nhà ở, đất, các công trình hạ tầng hoặc bằng các gói

dịch vụ như đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, các hình thức bảo hiểm, các hình thức hỗ

trợ thường xuyên thông qua các quỹ

Từ thực tiễn sinh động trong chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC ở các nước giúp Việt Nam chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, chính sách nhất quán: Dù theo chính sách phân cấp rộng rãi hay tập

trung thì điều kiện để thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC phải dựa trên

quan điểm và nguyên tắc nhất quán Sự nhất quán nguyên tắc thị trường và Nhà nước

đứng ra giải quyết mọi vấn đề liên quan thông qua một chính sách bồi thường, hỗ trợ

và TĐC thống nhất đã làm cho chính sách này thực hiện nghiêm chỉnh

Thứ hai, chính quyền địa phương cần phải có sự cụ thể hóa một cách phù hợp

chính sách chung về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC cho địa phương mình

Đồng thời cần có năng lực tổ chức thực hiện, nhất là quyết tâm tháo gỡ vướng mắc

một cách quyết liệt và khéo léo

Thứ ba, kế hoạch chương trình GPMB phải được hoạch định cụ thể, chi tiết, khoa

học, hợp lý, công tâm và phải được công khai để người bị thu hồi đất nhận thức đúng

thực chất vấn đề, tự nguyện hợp tác và thực hiện đồng thời đảm bảo sự giám sát của

người dân đối với cơ quan Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ

Thứ tư, điều hòa lợi ích hợp lý giữa các chủ thể liên quan đến thu hồi đất để giảm

bức xúc xã hội và GPMB nhanh, chủ động sử dụng đất đã thu hồi góp phần đẩy nhanh

tiến tiến độ thực hiện các dự án

Thứ năm, thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị

thu hồi đất nói riêng và toàn xã hội nói chung để nâng cao nhận thức, hiểu biết việc

cần thiết của công tác thu hồi đất để phát triển đất nước Xây dựng và phát triển đội

ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực phục vụ công tác bồi thường, đồng thời hình thành

các tổ chức chuyên trách thực hiện công tác này

1.1.6 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam trong những năm

trở lại đây

Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Quan tâm

tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một thời

gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của NĐ 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện được tính

khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Vì thế, công tác bồi thường, hỗ

trợ, TĐC trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một

số khía cạnh chủ yếu sau:

Trang 26

Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, TĐC ngày càng được xác định đầy

đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý

đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng

Thứ hai, mức bồi thường, hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị

thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ

sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước

nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất

Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất

với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc

thu hồi đất

Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ TĐC đã giải quyết được

nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

thực hiện công tác bồi thường, TĐC đạt hiệu quả

Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm

2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của

Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật

áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC được thực

hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn

Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức

tạp của vấn đề thu hồi đất, TĐC của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính

quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật

chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC

Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi

thường, hỗ trợ, TĐC giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở

rộng và có hiệu quả [7]

Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật, về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi GPMB, tiến độ GPMB trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút

ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân

cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã giúp

cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế

xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng

như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có

đất bị thu hồi Tuy nhiên, đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong khi

các quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so

Trang 27

bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng

thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

Mặt khác, Luật đất đai chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu TĐC trước khi thu hồi đất; chất lượng các khu TĐC được xây dựng

cũng chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; chưa

chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; việc lập và tổ

chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC tại một số dự án còn thiếu kiên

quyết, thiếu dân chủ, công khai, minh bạch; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ

làm công tác GPMB ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; chưa phát huy vai trò của

các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt

chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích

cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không

giải quyết dứt điểm, làm cho việc GPMB bị kéo dài nhiều năm Trong khi đó, Tổ chức

Phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí và nhân lực để

thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, tạo quỹ

“đất sạch” triển khai khi có dự án đầu tư

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam

Đất nước ta có những bước phát triển toàn diện về kinh tế, an ninh, quốc phòng

Sự nghiệp CNH, HĐH đã và đang đạt được những thành tựu làm cho bộ mặt đất nước

từ nông thôn đến thành thị được thay đổi từng ngày, đời sống nhân dân từng bước

được cải thiện Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã nhanh chóng được cải tạo, khôi phục

phát triển, phần nào đã bắt kịp với yêu cầu chuyển đổi kinh tế Cơ chế chính sách

GPMB, bồi thường, hỗ trợ và TĐC cũng được bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với

từng thời điểm Số lượng dự án đầu tư, xây dựng năm sau thường hoàn thành cao hơn

năm trước tạo được nhiều động lực mới cho sự phát triển [28]

- Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp,

đô thị và các công trình công cộng:

Trong 05 năm, từ năm 2001 – 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước) Trong

đó, diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm

công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu

hạ tầng là 136,17 nghìn ha [26]

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính từ ngày 01/7/2014 đến ngày 31/12/2010, tổng diện tích đất thu hồi trên phạm vi cả nước là 782.000 ha (trong

đó có 536.000 ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào

mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế

Trang 28

[2] Điều đó đã đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc

phòng, an ninh của các địa phương; các quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC từng

bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với các cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đảm

bảo tốt hơn quyền hợp pháp của người bị thi hồi đất Tuy nhên, việc thu hồi đất mà

chưa có giải pháp phát triển bền vững dẫn đến tình trạng bần cùng hóa người nông

dân, khiến họ không có đất sản xuất, phải di cư tự phát tới các đô thị làm thuê, làm bốc

vác, khai thác khoáng sản hoặc đi xuất khẩu lao động… Điều này cho thấy, thu hồi đất

không còn chỉ là một bài toán về phát triển kinh tế mà còn đặt ra nhiều câu hỏi về xã

hội, quản lý dân cư, sự chênh lệch khoảng cách giàu nghèo…

- Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp:

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng

bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: Khoảng 300 nghìn hộ;

Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ Tuy nhiên, trên thực tế có tới 67% lao động nông

nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và

khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định [26]

Nông dân nước ta chiếm 69,5% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệp chiếm 55,7% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước Chính

vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đất nước và sinh

kế nông thôn, là bộ phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước Nếu vấn đề sinh kế

nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong xã hội (chủ yếu là

người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sản xuất ra của cải vật chất

cho xã hội sẽ bị hạn chế Thế nhưng, dưới tác động của quá trình CNH, ĐTH ở nước ta

trong những năm gần đây, sinh kế của một bộ phận nông dân đang gặp rất nhiều khó

khăn và thiếu bền vững [26]

Điều đáng lo là chỉ có khoảng trên 27% lao động bị thu hồi đất đã tốt nghiệp phổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt, số lượng lao động quá tuổi

tuyển dụng (trên 35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như ít có hy vọng tìm được việc làm

tốt trong ngành công nghiệp – dịch vụ

Như vậy, sau thu hồi đất nông nghiệp, đặc điểm việc làm của nông dân cũng có

sự thay đổi đáng kể Tỷ trọng lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp giảm xuống, tỷ

trọng lao động làm trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng hoá đã bước đầu đẩy mạnh

và áp dụng phương pháp sản xuất mới, hiện đại hơn Tuy nhiên, trong thực tế việc

chuyển mục đích sử dụng đất đã gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đến đời sống trước mắt

cũng như về lâu dài của một bộ phận đông đảo nông dân

Trang 29

1.2.2 Những ưu, nhược điểm về tình hình giải phóng mặt bằng thời gian qua

- Những mặt đạt được:

+ Các quy định về thu hồi đất, bồi thường, TĐC ngày càng phù hợp hơn với quy luật kinh tế, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất bị thu hồi; trình tự, thủ

tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng hơn Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách bồi

thường, hỗ trợ, TĐC thỏa đáng nên việc thu hồi đất được tiến hành bình thường

+ Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh thì việc triển khai bồi thường, hỗ trợ và TĐC khá

thuận lợi và ít gặp trở ngại từ người bị thu hồi đất

+ Việc bổ sung quy định về tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất [36]

- Bên cạnh đó vẫn còn nhiều mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc:

+ Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật công

nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa đấu

giá đất thu hồi với giá đất TĐC (thu hồi giá quá thấp, chưa sát với thị trường) Chưa

giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất

bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất

thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng

lại gây ra những phản ánh gay gắt của những người có đất bị thu hồi

+ Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi

làm cũ Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang ngành nghề

khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp

không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới tại khu TĐC

+ Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thườn, hỗ trợ, TĐC

để GPMB chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch, thông báo

kế hoạch, quyết định thu hồi v.v cho tới khâu cưỡng chế Nhiều dự án chưa có khu

TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung, các địa phương chưa coi trọng việc lập

khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã lập nhưng không bảo

đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi cũ, có trường hợp người bị thu hồi phải đi thuê

nhà ở nhiều năm nay mà vẫn chưa được bố trí vào khu TĐC

+ Đôi khi việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục

đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền

Trang 30

+ Chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thỏa đáng hơn Tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với việc thiếu sự vận

dụng cụ thể, linh hoạt tại các dự án mức bồi thường khác nhau do sự thay đổi chính

sách đã dẫn tới sự so bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy, việc

GPMB để thực hiện một số dự án không đảm bảo tiến độ

+ Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của

pháp luật; hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc

GPMB bị dây dưa, kéo dài nhiều năm

+ Đội ngũ làm công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC gồm các thành viên tập trung

từ các ngành khác nhau, thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu chính sách, pháp luật về

đất đai, lúng túng trong công việc giải thích chính sách pháp luật cho nhân dân, thậm

chí làm trái quy định của pháp luật dẫn tới khiếu nại và tạm dừng việc thực hiện

hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường, hỗ trợ thêm nên không chấp hành

quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người gây áp lực với cơ quan

Nhà nước Trong khi đó cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã

làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc việc GPMB

1.2.3 Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng

Theo kết quả nghiên cứu củ Viện nghiên cứu Địa chính năm 2008 [36], thực tế công tác thu hồi đất, GPMB tại các địa phương nói chung gặp phải một số khó khăn

như sau:

- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hết là vùng đất tốt, có điều kiện thuận lợi cho canh tác trong khi diện tích đất đền bù là đất xấu, cách xa khu dân cư và điều

kiện hạ tầng phục vụ sản xuất còn nhiều khó khăn

- Việc thực hiện định giá đền bù đất cũng như tài sản trên đất chưa phù hợp với giá thị trường và khu TĐC

- Một số số địa phương chạy theo phong trào phát triển các khu công nghiệp, khu

đô thị mà chưa cân nhắc đến hậu quả; hoặc phát triển công nghiệp, dịch vụ bằng mọi

cách mà chưa chú ý đúng mức đến tác động đối với người dân

Trang 31

- Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệp tràn lan

là khá phổ biến Quá trình quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng cũng như thẩm

định các phương án sử dụng đất và xây dựng phương án bồi thường chưa thực sự khoa

học, thiếu sự tham gia đầy đủ của các ngành, các tổ chức có liên quan hoặc đại diện

cho quyền lợi của người dân

- Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài nhiều năm gây bất lợi đến tâm

lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằm trong diện bị thu

hồi đất Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến trong giá đất bù cho người

1.3 Nhận xét chung về tổng quan các các vấn đề nghiên cứu

- Bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi thu hồi đất hoặc trưng thu đất là vấn đề không thể tránh khỏi trong mọi giai đoạn phát triển của bất kỳ quốc gia nào

- Thu hồi đất, GPMB là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống kinh tế -

Trang 32

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Nắm được tình hình thực hiện chính sách thu hồi đất và GPMB các dự án trên địa bàn thành phố Đông Hà nói chung và một số dự án nghiên cứu nói riêng

- Đánh giá được thực trạng sinh kế và kết quả sinh kế của người dân trước, trong

và sau khi thu hồi đất, GPMB tại một số dự án trên địa bàn thành phố Đông Hà

- Đúc rút được những kinh nghiệm và đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo sinh kế cho người dân trong vùng nghiên cứu sau thu hồi đất trên cơ sở

nâng cao hiệu quả chính sách thu hồi đất, GPMB của thành phố Đông Hà nói riêng và

tỉnh Quảng Trị nói chung

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh kế của các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ

và TĐC ở các dự án nghiên cứu

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về phạm vi không gian, đề tài thực hiện trên địa bàn thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, tập trung vào 02 dự án:

+ Dự án xây dựng đường Trần Nguyên Hãn, Phường Đông Giang

+ Dự án thoát nước, thu gom và xử lý nước thải thành phố Đông Hà, hạng mục Trạm xử lý nước thải tại phường Đông Giang và phường Đông Lễ

- Về phạm vi thời gian, đề tài thực hiện từ tháng 08 năm 2014 đến tháng 8 năm

2015, tập trung thu thập, nghiên cứu các số liệu thứ cấp từ năm 2009 đến tháng 7 năm

2014 Tiến hành thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Đông Hà

- Tìm hiểu việc thực hiện thu hồi đất, GPMB các dự án có trên địa bàn nghiên cứu, lựa chọn một số dự án điển hình để nghiên cứu

- Điều tra, đánh giá việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát, đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân sau khi bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn nghiên cứu

Trang 33

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu các mặt hạn chế, nâng cao hiệu quả thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC nhằm hướng đến đảm bảo

tốt hơn sinh kế của người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

+ Thu thập các báo cáo, số liệu, bản đồ các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại các phòng ban chuyên môn thuộc UBND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

+ Thu tập các văn bản Quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và địa phương về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC

+ Thu thập thông tin từ những công trình nghiên cứu đã được công bố, những bài viết trên các tạp chí khoa học, các bài báo, các giáo trình, bài giảng để có số liệu về

tình hình thực hiện chính sách thu hồi đất, GPMB trong nước và thế giới

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

Để có được những đánh giá khách quan và đúng thực tiễn nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp thu thập số liệu sơ cấp sau:

+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Điều tra, khảo sát thực địa về tình hình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC của các nhóm dự án trên địa bàn thành

các cuộc phỏng vấn với một số người cung cấp thông tin chủ chốt về văn hóa, đời sống

của người dân tại 02 dự án nghiên cứu được tiến hành Đây thực chất là những cuộc

phỏng vấn bán cấu trúc, nghĩa là chỉ có chủ đề chính được đưa ra trước đối với một số

hộ gia đình và cán bộ địa phương Phương pháp này được áp dụng để thu thập càng

nhiều thông tin càng tốt, bằng cách không hạn chế người cung cấp Phương pháp bán

cấu trúc thành công, và một lượng lớn thông tin được thu thập, nếu không có nó

nghiên cứu viên sẽ không biết phải hỏi nhóm đối tượng đích điều gì trong giai đoạn

sau

Trang 34

Phỏng vấn chính thức được sử dụng để thu thập thông tin của những hộ gia đình cũng như cán bộ địa phương thông qua bảng câu hỏi chuẩn bị trước và những câu hỏi

phát sinh trong quá trình phỏng vấn để tìm hiểu thêm những vấn đề cần quan tâm

Phiếu phỏng vấn hộ gia đình tập trung vào những thay đổi của cá nhân, hộ gia đình

trước và sau khi hộ bị thu hồi đất

Để thu thập thông tin về đời sống, việc làm của các hộ gia đình, chúng tôi đã tiến hành thiết kế phiếu điều tra thu thập thông tin Tuy nhiên, do có giới hạn về mặt thời

gian và kinh phí nên chỉ tiến hành điều tra 120 hộ gia đình thuộc 02 dự án nghiên cứu

Các hộ trong mẫu điều tra được chọn một cách ngẫu nhiên từ danh sách các hộ bị ảnh

hưởng trong mỗi dự án Tiêu chí lựa chọn các hộ điều tra bao gồm các hộ có điều kiện

kinh tế khá giả, trung bình và khó khăn Người dân được điều tra bao gồm cả nam và

nữ ở các độ tuổi khác nhau Về việc làm chúng tôi phỏng vấn bao gồm các hộ thuần

nông và các có nghề nghiệp khác, cán bộ, công chức, buôn bán… Đối tượng phỏng

vấn có cả những hộ bị thu hồi đất toàn bộ và những hộ chỉ bị thu hồi đất một phần

Trong đó:

Thứ nhất, dự án xây dựng đường Trần Nguyên Hãn (sau đây gọi là dự án 1) có

162 hộ bị thu hồi đất ở Trong đó 146 hộ bị thu hồi toàn bộ phải bố trí TĐC Tới thời

điểm năm 2014 mới chỉ tiến hành công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC đối với 50 hộ bị

thu hồi đất ở Ngoài ra có 139 hộ bị thu hồi đất lúa và 93 hộ bị ảnh hưởng gần 1000

ngôi mộ nên chúng tôi tiến hành chọn mẫu điều tra như sau: Điều tra 35 hộ mất đất có

nhà ở bao gồm 30 hộ đã có quyết định thu hồi, 05 hộ nằm trong diện thu hồi nhưng

chưa có quyết định thu hồi, 20 hộ bị thu hồi đất lúa và 25 hộ bị ảnh hưởng về mồ mã

Thứ hai, dự án Thoát nước, thu gom và xử lý nước thải (sau đây gọi là dự án 2) hoàn toàn thu hồi đất trồng lúa của 134 hộ, trong đó gồm 46 hộ mất từ 30% đến dưới

70% diện tích đất nông nghiệp và 88 hộ bị ảnh hưởng từ dưới 30% diện tích đất nông

nghiệp Do đó, chúng tôi tiến hành phỏng vấn tổng cộng 40 hộ gia đình, gồm 20 hộ

trong nhóm từ 30% đến dưới 70% diện tích đất nông nghiệp và 20 hộ bị ảnh hưởng từ

dưới 30% diện tích đất nông nghiệp

+ Phương pháp điền dã, quan sát thực tế: Kết hợp với phương pháp phỏng vấn thực địa chúng tôi tiến hành quan sát, chụp ảnh, tiềm hiểu tực tế để có cái nhìn của

người trong cuộc, hiểu được thực trạng của tình hình đời sống, việc làm và tâm lý của

người dân khi bị thu hồi đất

+ Phương pháp thảo luận nhóm: Để tăng tính hiệu quả của quá trình điều tra, chúng tôi tiến hành các cuộc thảo luận nhóm với người dân địa phương Các nhóm

thảo luận gồm các đối tượng thuộc nhóm hội phụ nữ, nhóm hội nông dân Thông qua

phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về cuộc sống của người dân

trước và sau khi bị thu hồi đất

Trang 35

2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê, mô tả: Đây là phương pháp sử dụng phẩm mềm (Microsoft Excel) để tổng hợp, xử lý số liệu thu thập được, qua đó thiết lập các bảng

biểu, biểu đồ nhằm mô tả tình hình của địa bàn nghiên cứu, thống kê diện tích đất bị

thu hồi và ảnh hưởng, số tiền bồi thường hỗ trợ, số hộ được TĐC và mức độ hài lòng

của người dân

- Phương pháp so sánh: So sánh đời sống của người dân trước và sau khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB

- Phương pháp phân tích: Phân tích những tác động của chính sách thu hồi đất, GPMB ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân

2.4.3 Phương pháp minh họa bằng bản đồ

Minh họa bằng các bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm góp phần làm sinh động hơn các nội dung nghiên cứu

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Về vị trí địa lý: Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ, là trung tâm chính trị, kinh tế,

phía Nam, cách thành phố Huế 70km về phía Bắc, cách cửa khẩu Lao Bảo 85km về

phía Đông, cách cảng biển Cửa Việt 16km về phía Tây Ranh giới Thành phố được

xác định:

+ Phía Bắc giáp huyện Cam Lộ và huyện Gio Linh

+ Phía Nam giáp huyện Triệu Phong

+ Phía Đông giáp huyện Gio Linh và huyện Triệu Phong

+ Phía Tây giáp huyện Cam Lộ

Hình 3.1 Sơ đồ địa giới hành chính thành phố Đông Hà

Đông Hà có Quốc lộ 1A là tuyến đường xuyên Việt, Quốc lộ 9 là đường Xuyên

Á, tuyến đường sắt Bắc Nam và cảng Đông Hà, đã tạo cho thành phố một vị trí hết sức

Trang 37

thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội và có vị trí quan trọng trong chiến

lược quân sự, bảo vệ an ninh, quốc phòng khu vực miền Trung

- Về địa hình, địa mạo:

Lãnh thổ thành phố Đông Hà có thể quy về 2 dạng địa hình cơ bản bao gồm: Địa

hình gò đồi bát úp ở phía Tây và Tây Nam, có diện tích 319,1ha Mặt đất được phủ

trên nền phiến thạch và sa phiến cùng với địa hình gò đồi bát úp nối dài, thích hợp cho

việc sản xuất canh tác, trồng cây lâm nghiệp, xây dựng phát triển các mô hình kinh tế

trang trại, sinh thái vườn đồi, vườn rừng Địa hình đồng bằng có độ cao trung bình 3m

so với mực nước biển, chiếm 55,9% diện tích tự nhiên, được phủ lên trên mặt lớp phù

sa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp; tập trung ở các phường: Đông Thanh, Đông

Giang, Đông Lễ [33]

Cấu tạo địa chất tại thành phố Đông Hà chủ yếu là trầm tích Holoxen loại phù sa mới có kết cấu với các hạt nhỏ bao gồm: cát, bùn, cát lẫn sét, cát lẫn bùn Vùng đồng

bằng gồm trầm tích sông thuộc Holoxen trên, nằm ven sông Trầm tích đầm lầy thuộc

Holoxen giữa ở phía Nam và Bắc sông Hiếu Cường độ chịu lực của đất là R = 2 - 2,5

Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các công trình ven sông như

công trình đường Trần Nguyên hãn chạy dọc theo sông Hiếu…

- Về khí hậu: Đông Hà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng lại chịu ảnh hưởng của gió Tây – Tây Nam nên tạo thành một tiểu vùng khí hậu khô nống Chế

độ khí hậu chia làm hai mùa cơ bản là mùa mưa và mùa ít mưa Mùa ít mưa từ tháng 3

đến tháng 6, mùa mưa tập trung vào các tháng 7,8,9 và kéo dài đến tháng 3 năm sau

- Về đặc điểm thủy văn: Thành phố Đông Hà chịu ảnh hưởng thủy văn của ba con

sông chính là sông Hiếu, sông Thạch Hãn, sông Vĩnh Phước cung cấp nước dồi dào

cho sản xuất và sinh hoạt, có tác dụng điều hòa khí hậu, môi trường sinh thái

Với lợi thế về thủy văn sẵn có, thành phố Đông Hà đã và đang bố trí không gian cảnh quan kiến trúc Đông Hà theo mô hình “thành phố bên sông nước”, “đô thị nhà

vườn” trên cơ sở phát huy những lợi thế đa dạng về địa thế sông nước, không gian mặt

nước các hồ và cảnh quan gò đồi, vùng đồng bằng theo hướng bền vững, mang đậm

bản sắc văn hóa của vùng đất Đông Hà Theo đó, xây dựng công trình đường Trần

Nguyên hãn chạy dọc theo sông Hiếu là việc làm mà lãnh đạo và nhân dân thành phố

rất quyết tâm triển khai để thực hiện hiệu quả

3.1.2 Các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường

Đông Hà không phải là một thành phố có sự đa dạng và phong phú về mặt tài nguyên thiên nhiên Nói như vậy không có nghĩa là ở đây không có tài nguyên; theo

kết quả điều tra cho thấy về tài nguyên đất Đông Hà gồm các loại đất chủ như đất

Trang 38

Feralit trên sa phiến, đất phù sa bồi, phù sa không được bồi, đất phù sa glây, đất cát…,

đây còn là nơi có một trữ lượng nguồn nước mặt lớn gồm 3 con sông chính, hàng chục

khe suối và một số hồ chứa phân bố khá đều trên địa bàn Thành phố Ngoài ra, Đông

Hà còn có 2.280,89 ha rừng, trong đó toàn bộ là đất rừng trồng và rừng tái sinh, từ đó

góp phần quan trọng trong việc cung cấp gỗ, điều hòa khí hậu, giữ gìn nguồn nước,

chống xói mòn nước, tạo cảnh quan du lịch [33]

Bên cạnh đó, vùng đất Đông Hà được thiên nhiên ban tặng rất nhiều cảnh quan đẹp, có đồi núi, có sông, có rừng và địa hình đa dạng sẽ là điều kiện thuận lợi để xây

dựng và phát triển thành một đô thị có một nét đặc trưng riêng vừa mang tính lịch sử

truyền thống vừa có tính hiện đại Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, cùng với

tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, hoạt động sản xuất ngày càng phát triển đã phần

nào gây ô nhiễm cục bộ ở các khu dân cư, nồng độ BOD, COD, các chỉ tiêu vi sinh ở

các cống thoát, ao hồ nội thị đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép [33]

Từ những vấn đề nêu trên, việc cải thiện môi trường là một vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm đầu tư trong chiến lược phát triển của thành phố Do đó, việc thực

hiện Dự án thoát nước, thu gom và xử lý nước thải thành phố Đông Hà là việc làm cần

thiết nhằm giải quyết những bất cập về cơ sở hạ tầng đô thị, hạn chế ngập úng và từng

bước cải thiện môi trường đô thị, góp phần phát triển kinh tế xã hội của thành phố

3.1.3 Thực trạng kinh tế - xã hội

- Thực trạng phát triển các ngành kinh tế - xã hội:

Với lợi thế là trung tâm thương mại, dịch vụ, công nghiệp của tỉnh Những năm qua, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật không ngừng được quan tâm đầu tư và phát triển

đã làm cho bộ mặt đô thị thay đổi nhanh chóng Cùng với đó, các lĩnh vực văn hoá - xã

hội đều có nhiều chuyển biến tiến bộ Giáo dục đào tạo phát triển mạnh về quy mô và

chất lượng, dân trí ngày càng được nâng lên Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể

thao phát triển rộng khắp và đi vào chiều sâu Công tác an sinh xã hội và chăm sóc sức

khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ An ninh quốc phòng được giữ vững, an toàn - trật tự

xã hội được đảm bảo

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 14,8% Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ bình quân 12,4%/năm, công nghiệp và xây dựng tăng 19%/năm Năng

lực sản xuất và hiệu quả của nền kinh tế từng bước được nâng cao Chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo đúng định hướng Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng

nhanh, bình quân hàng năm tăng 27% Các loại hình doanh nghiệp tăng nhanh về số

lượng, và có chiều hướng phát triển tốt, đã làm cho đời sống của người dân không

ngừng được cải thiện, đồng thời đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của thành phố [32]

Trang 39

- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản:

Hệ thống đường giao thông trên địa bàn thành phố Đông Hà trong những năm qua đã được đầu tư nâng cấp, xây dựng tương đối hoàn thiện, nhiều tuyến đường đã

được mở rộng, quy hoạch mới; về hệ thống điện, trên địa bàn thành phố hiện có đường

dây 35KV, đường dây 22 KV chạy qua khu vực Tất cả đã tạo điều kiện thận lợi cho

cuộc sống của người dân trong đi lại cũng như trong việc giao lưu với các vùng lân

cận Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao

thông, thoát nước, điện chiếu sáng chưa được hoàn chỉnh, hệ thống các công trình

phúc lợi công cộng, địa điểm vui chơi giải trí chưa nhiều Trong xây dựng chưa có

nhiều công trình kiến trúc đột phá gây ấn tượng, còn thiếu nhiều công trình có quy mô

và chất lượng công trình mang tầm khu vực [32]

3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai trên địa bàn thành phố

chưa cao Là một thành phố đang trên đà phát triển nhưng diện tích đất nông nghiệp

vẫn chiếm tỷ lệ lớn, đất chưa sử dụng vẫn còn nhiều (biểu đồ 3.1)

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng đất thành phố Đông Hà năm 2013

(Nguồn: [34])

Trang 40

+ Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp:

Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích đất nông nghiệp năm 2013

(ha)

Tỷ lệ (%)

(chủ yếu là đất trồng lúa với 1.118,41 ha), đất trồng cây lâu năm với diện tích 19,39

ha phân bố tập trung nhiều ở các phường Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương

* Đất lâm nghiệp: Diện tích là 2.266,73 ha, chiếm 57,87% diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng rừng sản xuất tập trung nhiều ở các phường có địa hình

cao như: Phường 3, 4, Đông Lương, Đông Lễ

* Đất nuôi trồng thủy sản: Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản có diện tích 123,71 ha, chiếm 3,16% tổng diện tích đất nông nghiệp; chủ yếu là các hồ, đầm

nuôi tôm, cá được phân bố nhiều ở phường 3, Đông Lương, Đông Lễ

+ Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp Tổng diện tích đất phi nông nghiệp của Đông Hà trong năm 2013 là 2.824,65

ha chiếm 38,72% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố, được nêu cụ thể trong

bảng 3.2

Ngày đăng: 05/07/2021, 06:46

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w