1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của quá trình đô thị hoá đến việc quản lý và sử dụng đất tại thị trấn la hà, huyện tư nghĩa, tỉnh quảng ngãi

94 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HỒ SỸ PHONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THỊ TRẤN LA HÀ, HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI LUẬN VĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HỒ SỸ PHONG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THỊ TRẤN LA HÀ, HUYỆN TƯ NGHĨA,

TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60.85.01.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN MINH HIẾU

HUẾ - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan vă chịu hoăn toăn trâch nhiệm trước phâp luật về số liệu, kết quả nghiín cứu được sử dụng trong luận văn năy lă hoăn toăn trung thực với thực tế vă

chưa được bảo vệ bất cứ một học vị năo

Tôi xin chđn thănh cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn năy

vă tôi xin cam đoan rằng câc thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đê được chỉ rõ

nguồn gốc./

Tâc giả Luận văn

Hồ Sỹ Phong

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của quý Thầy Cô trong Ban Giám hiệu Trường đại học Nông Lâm Huế,

Khoa Tài nguyên đất và Môi trường Nông nghiệp, xin gửi tới quý Thầy Cô lòng biết

ơn chân thành và tình cảm trân trọng nhất

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn đến Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Minh Hiếu, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá

trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn Ủy ban nhân dân huyện Tư Nghĩa, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất,

Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Tư Nghĩa và Uỷ ban nhân dân thị trấn La Hà

cùng các hộ gia đình và cá nhân tại thị trấn La Hà đã giúp đỡ tận tình, tạo điều

kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Huế, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Tác giả luận văn

Hồ Sỹ Phong

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU viii

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu 3

1.1.1 Khái quát về quản lý sử dụng đất 3

1.1.2 Khái quát về quá trình đô thị hoá 6

1.1.3 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sử dụng đất 12

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 13

1.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới 13

1.2.2 Kinh nghiệm về đô thị hoá ở một số nước trên thế giới 14

1.2.3 Thực tiễn về quá trình đô thị hoá và việc chuyển đổi đất đai ở Việt Nam 16

CHƯƠNG 2.PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 20

2.2 Phạm vi nghiên cứu 20

2.3 Đối tượng nghiên cứu 20

2.4 Nội dung nghiên cứu 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu 21

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp 21

2.5.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra (Số liệu sơ cấp) 21

2.5.3 Phương pháp bản đồ 23

2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu 23

2.5.5 Phương pháp thống kê, phân tích 23

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

Trang 5

3.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 25

3.1.1 Vị trí địa lý 25

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26

3.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển đô thị của thị trấn La Hà 29

3.2 Những thuận lợi và khó khăn của thị trấn La Hà trong quá trình đô thị hóa 32

3.2.1 Thuận lợi 32

3.2.2 Khó khăn 33

3.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai tại thị trấn La Hà 34

3.3.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai tại thị trấn La Hà 34

3.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước 2007 - 2010 38

3.3.3 Dự báo quy hoạch sử dụng đất thị trấn La Hà đến năm 2020 41

3.3.4 Hiện trạng sử dụng đất tại thị trấn La Hà 42

3.4 Tác động của đô thị hóa đến kinh tế - xã hội của thị trấn La Hà 45

3.4.1 Biến động về dân số, lao động 45

3.4.2 Sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế 48

3.4.3 Những chuyển biến về cơ sở hạ tầng 49

3.5 Tác động của đô thị hóa đến sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 53

3.5.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tại thị trấn La Hà giai đoạn 2007 - 2013 53 3.5.2 Tác động của đô thị hoá đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tại thị trấn La Hà 58

3.5.3 Tác động của đô thị hoá đến các mặt đời sống kinh tế, xã hội và môi trường tại thị trấn La Hà 59

3.5.4 Phân tích SWOT khi thay đổi cơ cấu sử dụng đất 62

3.6 Giải pháp để góp phần định hướng cơ cấu sử dụng đất bền vững 66

3.6.1 Định hướng phát triển đô thi thị trấn La Hà giai đoạn 2012-2020 66

3.6.2 Đề xuất các giải pháp để góp phần định hướng cơ cấu sử dụng đất bền vững 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 Thông tư Bộ Tài nguyên và Môi trường TT-BTNMT

3 Quyết định Bộ Tài nguyên và Môi trường QĐ-BTNMT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1 Dự báo lao động quy hoạch đến năm 2020 của thị trấn La Hà 28

Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế thị trấn La Hà 2013 29

Bảng 3.3 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước 2007 - 2010 39

Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất NN của thị trấn La Hà năm 2013 42

Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất phi NN của thị trấn La Hà năm 2013 44

Bảng 3.6 Hiện trạng đất chưa sử dụng của thị trấn La Hà năm 2013 45

Bảng 3.7 Tình hình dân số và lao động của thị trấn La Hà qua các năm2007, 2010 và 2013 46

Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2007 - 2013 tại thị trấn La Hà 48

Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu về CSHT của thị trấn La Hà giai đoạn 2007-2013 51

Bảng 3.10 Biến động các loại đất của thị trấn La Hà giai đoạn 2007- 2013 53

Bảng 3.11 Biến động đất nông nghiệp tại thị trấn La Hà giai đoạn 2007-2013 54

Bảng 3.12 Biến động đất phi nông nghiệp tại thị trấn La Hà giai đoạn 2007-2013 56

Bảng 3.13 Biến động đất chưa sử dụng tại thị trấn La Hà giai đoạn 2007-2013 57

Bảng 3.14 Ý kiến của các hộ điều tra về tác động của đô thị hóa 60

Bảng 3.15 Phân tích điểm mạnh, điểu yếu, cơ hội, thách thức của việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tại thị trấn La Hà 65

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu các ngành kinh tế ở thị trấn La Hà năm 2013 29

Biểu đồ 3.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2013 tại thị trấn La Hà 42

Biểu đồ 3.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động tại thị trấn La Hà giai đoạn 2007-2013 47

Biểu đồ 3.4 Xu thế biến động các loại đất qua các giai đoạn 53

Biểu đồ 3.5 Cơ cấu diện tích các loại đất trong đất phi NN năm 2007 và 2013 55

Biểu đồ 3.6 Cơ cấu các loại đất trong nhóm đất NN tại thị trấn La Hà 58

các năm 2007, 2010 và 2013 58

Biểu đồ 3.7 Cơ cấu các loại đất trong nhóm đất phi NN tại thị trấn La Hà các năm 2007, 2010 và 2013 59

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Trang Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Tư Nghĩa 25

Hình 3.2 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 26

Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2013 thị trấn La Hà 43

Hình 3.4 Các tuyến đường giao thông tại thị trấn La Hà 52

Hình 3.5 Hình ảnh đất nông nghiệp bị mất do quá trình đô thị hóa 62

Hình 3.6 Các khu dân cư mới tại thị trấn La Hà 66

Hình 3.7 Bản đồ định hướng phân khu chức năng thị trấn La Hà giai đoạn2012-2020 68

Hình 3.8 Bản đồ đất ở chỉnh trang và đất ở mới thị trấn La Hà giai đoạn 2012-2020 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, chưa bao giờ chúng ta được chứng kiến một sự phát triển nhanh chóng và thần kỳ như giai đoạn hiện nay

Với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, các quốc gia trên thế giới đang tiến những

bước dài trên con đường chinh phục nền văn minh của nhân loại Với tầm nhìn khoa

học và tầm cao của trí tuệ Việt Nam, không phải ngẫu nhiên Đảng ta đã xác định mục

tiêu phấn đấu của mình trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XI

đó là: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy

sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến

năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại" [14]

Để đạt được mục tiêu đó, Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới một cách toàn diện với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Chính vì vậy, sau gần 30

năm đổi mới đã tạo nên sự phát triển vượt bậc trên tất cả các mặt của đời sống, kinh tế

- xã hội, an ninh - quốc phòng Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu phải

nhận viện trợ lương thực của nước ngoài sau những năm mới giải phóng; qua một thời

gian ngắn nước ta đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế

giới Từ một nước có nền kinh tế khủng hoảng triền miên đã trở thành một quốc gia có

thu nhập trung bình của thế giới và một trong những quốc gia được tổ chức Liên Hiệp

Quốc tôn vinh là hình mẫu trong cuộc chiến xoá đói, giảm nghèo và ổn định kinh tế vĩ

Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tốc độ đô thị hoá ở nước ta cũng diễn ra một cách nhanh chóng đã làm biến đổi cơ bản, sâu sắc cơ cấu

kinh tế và các mặt của đời sống xã hội Đô thị hoá đã trở thành khái niệm phổ biến

trong nhận thức, hành động của các địa phương và mỗi một người dân trong cả nước

Đô thị hoá là bạn đồng hành, là con đẻ và là động lực của sự nghiệp CNH-HĐH Tuy

nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà đô thị hoá đem lại, chúng ta cũng không thể

phủ nhận những tác động mặt trái do đô thị hoá gây ra như thay đổi về cơ cấu dân số,

lao động, việc làm, công tác quy hoạch, quản lý, chuyển đổi mục đích sử dụng đất,

những vấn đề này cần phải đựợc nhìn nhận một cách thấu đáo và toàn diện

Phải có tầm nhìn một cách dài hạn và khoa học đồng thời phải đề ra được những giải pháp hết sức hữu hiệu để đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững

trong hiện tại cũng như tương lai

Nằm chung trong bối cảnh đó, trong những năm qua cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước

chuyển mình tích cực và nhanh chóng Từ một địa phương thuần nông được thành lập

Trang 11

mới từ năm 1988 đến nay đã trở thành một thị trấn đóng vai trò là là trung tâm hành

chính, kinh tế - chính trị, văn hoá - xã hội của huyện Tư Nghĩa Với sắc thái, diện mạo

của một đô thị mới đã và đang trở thành điểm thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trong và

ngoài nước Xu thế đô thị hoá là một tất yếu, cơ hội và thách thức, lợi ích và hệ luỵ

đan xen với nhau đang đặt ra nhiều câu hỏi cần phải được giải quyết một cách thấu

đáo, hài hoà đối với cấp uỷ, chính quyền và người dân tại thị trấn La Hà như: Công tác

quản lý đất đai; Quy hoạch sử dụng đất ra sao? Sự thay đổi đó ảnh hưởng như thế nào

đến thu nhập, đời sống và việc làm của người dân? Cách giải quyết vấn đề này ra

sao? Với tính chất và ý nghĩa đó, để đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đặt ra như

đã nói trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá tác động của quá trình đô thị

hoá đến việc quản lý và sử dụng đất tại thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh

Quảng Ngãi"

1.2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải

pháp góp phần quản lý sử dụng đất bền vững cho hiện tại và tương lai

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Cũng cố lý luận về quá trình đô thị hóa và những tác động của đô thị hóa đến

sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất

- Nghiên cứu sẽ đóng góp thêm những cơ sở khoa học để xây dựng các quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thị trấn La Hà trong quá trình chuyển đổi mục đích

sử dụng đất cho nhu cầu đô thị hóa

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần định hướng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất bền vững giai đoạn

2012 - 2020 tại thị trấn La Hà

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1.1 Khái quát về quản lý sử dụng đất

Tại Điều 1, Luật Đất đai năm 2003 đã khẳng định, Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai

a Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của đất đai nhằm nắm chắc về chất lượng, số lượng từng loại đất ở từng vùng, từng địa

phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất quy hoạch, kế hoạch, khai

thác sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước từ Trung ương đến

địa phương thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử

dụng đất (SDĐ) không đúng mục đích hoặc bỏ hoang, bỏ hóa, làm cho đất xấu đi

Quản lý nhà nước về đất đai thống nhất trong cả nước là thống nhất về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất đai, thể hiện cụ thể ở Luật

Đất đai, những văn bản dưới luật phải được triển khai đồng bộ và thống nhất từ Trung

ương đến địa phương, làm cho người SDĐ hiểu được pháp luật và thực hiện đúng

pháp luật về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai nhằm cung cấp các hồ sơ, tài liệu, số

liệu liên quan đến đất đai trong cả nước, giúp cho Chính phủ và các ngành, các địa

phương có kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, là cơ sở để lập quy

hoạch, kế hoạch SDĐ hợp lý

Tóm lại, bản chất của quản lý đất đai là quản lý con người SDĐ, mỗi loại đất ở mỗi vùng khác nhau được nhà nước giao quyền SDĐ lâu dài cho các chủ sử dụng với

mục đích đã được luật pháp quy định, do đó việc quản lý đất đai được thực hiện nhằm

giúp người SDĐ phát huy hiệu quả của việc SDĐ và đảm bảo thực hiện theo đúng quy

hoạch, kế hoạch SDĐ đã được duyệt [19]

Nội dung quản lý nhà nước về đất đai có sự khác nhau qua các thời kỳ khi sửa đổi, bổ sung về Luật Đất đai do quá trình phát triển của xã hội

Theo Điều 13 Luật Đất đai năm 1993 có 07 nội dung về quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:

- Điều tra, khảo sát, đo đạc đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính

- Quy hoạch và kế hoạch hóa việc SDĐ

Trang 13

- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý SDĐ và tổ chức thực hiện các văn bản đó

- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất

- Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng SDĐ, thống kê kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ

- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý sử dụng đất đai

- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và SDĐ

Để khắc phục những hạn chế trong quá trình quản lý đất đai, Luật đất đai 2003

ra đời đã quy định cụ thể hơn về các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, gồm 13 nội

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch SDĐ

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ

- Đăng ký quyền SDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ

- Thống kê, kiểm kê đất đai

- Quản lý tài chính về đất đai

- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người SDĐ

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử

lý vi phạm pháp luật về đất đai

- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai

- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực cho đến nay, các nội dung quản lý nhà nước về đất đai đã được cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn chuyên ngành và

Trang 14

được triển khai áp dụng ở khắp các địa phương trên cả nước, đã giúp cho công tác

quản lý nhà nước về đất đai dần đi vào nề nếp hơn [17], [18]

b Khái quát về chuyển đổi đất đai

Chuyển đổi mục đích SDĐ là một hoạt động vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội rộng lớn và phức tạp

Trong thực tế theo quy luật vận động của xã hội thì công nghiệp hóa (CNH) và

đô thị hóa (ĐTH) là quá trình tất yếu và luôn song hành trong sự phát triển Các quá

trình này thường diễn ra theo chiều hướng mở rộng quy mô diện tích để đáp ứng sự

phát triển hết sức nhanh chóng của các khu công nghiệp, khu kinh tế, các đô thị Sự

thay đổi cơ cấu các ngành nghề sản xuất dịch vụ, du lịch, thương mại Phát triển cơ sở

hạ tầng (CSHT) đã tạo ra một nhu cầu to lớn, một sức ép liên tục và mạnh mẽ làm thay

đổi cơ cấu SDĐ, việc chuyển đổi đất đai đã trở thành nhu cầu bức thiết không thể

cưỡng lại để đảm bảo cho quá trình CNH và ĐTH được diễn ra thuận lợi Không nước

nào thực hiện CNH, hiện đại hóa (HĐH) mà không phải chuyển dịch một phần lớn đất

nông nghiệp (NN) cũng như cả đất ở sang các mục đích phi NN Ngay trong nội bộ

ngành NN, quá trình CNH, HĐH để chuyển sang một nền NN hiện đại, sản xuất hàng

hóa phát triển cũng đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp, tích tụ và

tập trung ruộng đất Càng CNH, HĐH càng xuất hiện nhiều ngành nghề mới, cần đất

cho những ngành mới, hơn nữa mỗi ngành cũng không ngừng phát triển, cần được bổ

sung thêm quỹ đất

Giá trị đất đai càng ngày càng tăng lên do hai nguyên nhân, thứ nhất là cung không thay đổi mà cầu ngày một tăng và tăng rất nhanh, thứ hai là con người ngày

càng tìm ra được nhiều cách sử dụng đất đai có lợi cho mình, làm tăng giá trị SDĐ,

do đó xu hướng chuyển đổi đất đai diễn ra càng mạnh nhằm mang lại hiệu quả kinh

tế cao hơn khi sử dụng vào mục đích mới Đơn cử như chuyển đổi đất NN sang

mục đích đất ở hoặc đất xây dựng hạ tầng, nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh

bước đầu cho thấy hiệu quả vì đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển, tuy nhiên, điều

này lại có thể làm mất vĩnh viễn khả năng sản xuất của đất NN vì việc chuyển đổi

là một chiều, không thể tái tạo lại được, hay ở một phương diện khác sẽ gây ảnh

hưởng đến đất NN ở các khu vực lân cận do quá trình ĐTH làm ô nhiễm môi

trường hoặc thay đổi về điều kiện sản xuất NN [19]

Ở nước ta hiện nay chuyển đổi đất đai có hai dạng, đó là chuyển đổi tự nguyện

và chuyển đổi bắt buộc Việc chuyển đổi đất đai tự nguyện trên cơ sở người SDĐ thực

hiện chuyển mục đích SDĐ hoặc nhận chuyển quyền SDĐ thông qua chuyển nhượng,

thuê hoặc góp vốn quyền SDĐ sau đó thực hiện chuyển mục đích SDĐ theo quy định

của pháp luật Trong trường hợp này, khi chuyển mục đích sử dụng từ đất NN sang phi

NN, người SDĐ phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 15

Chuyển đổi đất đai bắt buộc với cơ chế Nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuê vào mục đích khác và thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi

đất Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được thu hồi đất, việc thu hồi đất NN

để chuyển sang đất phi NN phải phù hợp với quy hoạch SDĐ đã được duyệt Trong

trường hợp này thường là để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội

(KT-XH), cho mục đích quốc phòng an ninh

1.1.2 Khái quát về quá trình đô thị hoá

a Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

* Khái niệm về đô thị

Trong tiếng Việt, có nhiều từ chỉ khái niệm “đô thị”: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã Các từ đó đều có 2 thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính

Thị, phố có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạt động kinh tế Hai

thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại trong quá trình phát triển

Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi NN và làm chức năng, nhiệm vụ của một trung

tâm hành chính về đô thị thì khác nhau tại các quốc gia khác nhau Thông thường mật

độ dân số chính trị - kinh tế của một khu vực lớn nhỏ, chính là những tiêu chí cơ bản đầu

định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có

một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay

vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị Tại các quốc gia

kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều

kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp

hay đánh cá [40]

Dưới khía cạnh xã hội học, đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau Các nhà xã hội học đã đưa ra rất

nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn Sự phân chia đó có thể dựa

trên cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ, hoặc dựa

trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị,

gia đình hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay theo bình diện lãnh

thổ Cũng có một số nhà lý luận xã hội học lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và

nông thôn theo sự khác biệt giữa chúng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Như

Trang 16

về mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự khác biệt về lao động, nghề nghiệp,

mức độ và cách thu nhập về dịch vụ Về mặt xã hội thì đó là sự khác biệt trong lối

sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở Về mặt môi trường thì chủ

yếu ở đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì

cả đô thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội

có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố,

các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Vì vậy, trước hết đô thị và nông thôn cần

được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực

nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng

được chấp nhận, là việc coi đô thị và nông thôn như các hệ thống xã hội được phân

biệt theo ba đặc trưng cơ bản sau:

- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công,

viên chức, trí thức Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân,

ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ

thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ

- Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp

Ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần

Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, còn

phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp

có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, thì đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng

với lối sống thị dân đặc trưng cho khu vực đô thị Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh

để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời

sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi, đến khía cạnh

dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế, ngay cả đến hệ thống đường sá, năng

lượng, nhà ở đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống khác

biệt nhau Đây là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt

giữa đô thị và nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo

riêng cho hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn [40]

Ở Việt Nam, theo Nghị định 42/2009/NĐ/CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ quy định các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị bao gồm:

Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy

sự phát triển KT-XH của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

Thứ hai, quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên

Trang 17

Thứ ba, mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại

đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của

thị trấn

Thứ tư, tỷ lệ lao động phi NN phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động

Thứ năm, hệ thống công trình hạ tầng đô thị: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; đối

với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng

và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

Thứ sáu, việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không

gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị Có tổ hợp kiến trúc hoặc

công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên [9]

Như vậy, đô thị được xác định khi thỏa mãn các tiêu chí tối thiểu nêu trên và tùy theo mức độ đạt được các tiêu chí phân cấp để phân loại đô thị

* Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Đô thị tượng trưng cho cho thành quả kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chât kỹ thuật và văn hóa

Đô thị là bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật của khu

phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH-HĐH diễn ra nhanh chóng hơn Đô thị tối

ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển

nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo

điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không

gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo

ra thu nhập quốc dân của cả nước

Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh

Đô thị là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động

Các thành phố thị xã là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử

Trang 18

dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kỹ thuật hạ tầng, cơ sở hiện đại có

sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài

b Khái niệm đô thị hóa

Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự gia tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt động chủ

yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và tinh thần của một bộ

phận dân số Sự đóng góp của các điểm đô thị chiếm ngày càng lớn trong quá trình

phát triển xã hội

Đô thị hóa được khái quát là quá trình hình thành và phát triển của thành phố

Nhiều thành phố mới xuất hiện và không ít thành phố có lịch sử lâu đời được nâng cấp

mở rộng Sự gia tăng số lượng và quy mô các thành phố về diện tích cũng như quy mô

dân số Và do đó làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn; vai trò chính

trị - kinh tế - văn hóa của thành phố; môi trường sống là những vấn đề đã và đang

được các nhà nghiên cứu quan tâm

Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là một vấn đề hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị

Trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hóa là một quá trình biến đổi về những phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư

những vùng không phải đô thị trở thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có

theo chiều sâu

Trên quan điểm xã hội học đô thị, đô thị hóa là quá trình kinh tế - xã hội diễn ra trong mối quan hệ qua lại mật thiết với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, làm sản

sinh ra nhiều vấn đề phức tạp của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa xã hội,

đặc biệt đưa đến những hậu quả xã hội to lớn khác nhau đối với hệ thống KT-XH của

thế giới cũng như mỗi một quốc gia

Đô thị hoá là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hóa

cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tập trung là

sự thay đổi mật độ dân cư, cơ cấu lao động

Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình

phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình

thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt ) Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo

hướng bền vững

ĐTH là một quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp, có quy luật về mặt kinh

tế - văn hóa và xã hội Theo nghĩa rộng, ĐTH được hiểu là quá trình nâng cao vai trò,

vị trí, chức năng của các thành phố, các đô thị trong sự vận động phát triển xã hội Quá

Trang 19

trình này bao quát những thay đổi trong sự phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là

trong quần cư, trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội, cơ cấu lao động, cấu trúc tổ chức

không gian môi trường sống của cộng đồng [36]

Tóm lại, khái niệm đô thị hoá được đề cập có thể chưa giống nhau nhưng thống nhất ở điểm là thường được đề cập đến hai thành tố luôn được nhắc tới:

Một là, ĐTH là sự tăng lên của cư dân đô thị Sự tăng lên này theo 3 dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn ra thành thị

và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị Ba dòng này có vai trò và vị

trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Hai là, ĐTH mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc Mở rộng không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình ĐTH Đó cũng

có thể, đô thị sát nhập vào đô thị hoặc ĐTH mở rộng đô thị ra ngoại thành hoặc lân

cận Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính lịch sử, tùy từng quan niệm và điều

kiện của mỗi quốc gia

c Tính tất yếu của đô thị hóa

Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, một quốc gia dù phát triển hay đang phát triển, khi chuyển từ nền kinh tế NN lên nền

kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH thì đều gắn liền với ĐTH

Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng

HĐH: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ, giảm tỷ trọng

của ngành NN trong cơ cấu và khối lượng tổng sản phẩm Nhìn chung, từ góc độ kinh tế,

ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển

Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và không thể đảo

ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành

mục tiêu của nền văn minh thế giới

d Quan điểm của đô thị hóa

CNH và cùng với ĐTH đã trở thành xu thế chung của mọi quá trình chuyển từ nền văn minh NN lên nền văn minh công nghiệp Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì

và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của ĐTH, đồng thời hạn chế và đi đến

thủ tiêu mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình ĐTH phải gắn

liền với khái niệm “Phát triển bền vững”

Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển của Ngân hàng thế giới, thuật ngữ “Phát triển bền vững” được định nghĩa như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm

Trang 20

thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển để

thỏa mãn nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai” Bền vững là ngày hôm nay được

hưởng lợi ích như thế nào thì những thế hệ mai sau cũng được hưởng lợi ích như vậy

Phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của tất cả các quốc gia và cải thiện mức

sống xã hội là mục tiêu trung tâm của mọi Chính phủ Tuy nhiên, sự phát triển nhanh

của nền kinh tế lại kéo theo các vấn đề về xã hội như gây ra sự mất bình đẳng giữa các

quốc gia về thu nhập, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong việc sử dụng tài

nguyên… và một điều tất yếu là gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với môi

trường, môi trường sống bị ô nhiễm, hệ sinh thái bị suy thoái, khi hệ sinh thái mất cân

bằng sẽ dẫn đến làm mất dần các nguồn tài nguyên quý giá, và cũng là nguyên nhân

làm gia tăng bệnh tật, đe dọa đến sức khỏe của con người Vậy phát triển bền vững

không chỉ đơn thuần là tăng trưởng về kinh tế, phát triển về xã hội mà bao gồm cả bảo

vệ môi trường, các mặt này cần phải hài hòa và thúc đẩy kinh tế phát triển Trong đó,

một trong những nội dung cơ bản nhất của phát triển bền vững là “phát triển vì con

người” và lấy “phát triển con người làm trọng tâm” [20]

Như vậy, ĐTH phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằng, tăng trưởng

kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình ĐTH, song nó vẫn chỉ là

một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng Mục tiêu của ĐTH là

phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người,

tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm

e Tác động của đô thị hóa

Đô thị hóa có các tác động vô cùng to lớn sự phát triển kinh tế - xã hội, từng bước làm thay đổi tâm lí và lối sống của người dân Sự gia tăng quá mức của không

gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị" (urban sprawl),

thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh

thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị Những người chống đối xu thế đô thị hóa cho

rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư hạ tầng kĩ thuật và có

tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó

khăn của khu vực trong đô thị

Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến

số lượng, chất lượng dân số đô thị Quá trình này còn làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất

đô thị và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng và quốc gia Cụ thể tác

động 2 mặt của đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội:

- Tác động tích cực: ĐTH là một quá trình tất yếu ở mỗi quốc gia, mức độ nhanh hay chậm tùy thuộc vào mỗi nền kinh tế khác nhau, trên thực tế thì đô thị hóa có nhiều ưu

điểm như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

Trang 21

hướng CNH - HĐH với xu thế giảm tỷ trọng của ngành NN và gia tăng nhanh tỷ trọng

các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ Cải tạo kết cấu hạ tầng; nâng cao trình

độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng lân

cận… Ngoài ra, ĐTH đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là nâng tuổi thọ trung

bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư

dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa và các vấn đề an sinh xã hội khác [36]

- Tác động tiêu cực: Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, ĐTH cũng kéo theo hàng loạt vấn đề tiêu cực, đó là thu hẹp diện tích đất NN Quá trình ĐTH nhanh đã làm

cho nhu cầu về SDĐ chuyên dùng xây dựng hệ thống CSHT và đất đô thị tăng lên rất

nhanh Điều này dẫn đến tình trạng “nuốt chửng” những diện tích đất NN vốn rất cần

thiết cho một đô thị như: sản xuất lương thực, thực phẩm, tạo không gian xanh có vai

trò điều hòa cho môi trường sống, tạo khu nghỉ ngơi cho người dân Đồng thời, sự suy

giảm diện tích đất NN đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của nhiều

người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai

truyền thống [36]

Ngoài ra, ĐTH khoét sâu hố phân cách giàu nghèo, gia tăng tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm hoặc tìm kiếm lối sống tiến bộ nơi thành

thị, cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hướng suy kiệt nguồn lực lao

động, đồng thời thị trường lao động ở thành thị lại bị ứ đọng, tình trạng thiếu việc làm

ngày càng nhiều Môi trường bị ô nhiễm, phát sinh các tệ nạn xã hội [36]

Tóm lại, trong công cuộc CNH - HĐH đất nước thì quá trình ĐTH là tất yếu và ngày càng gia tăng Vậy, chúng ta phải làm thế nào để quá trình ĐTH phát triển lành

mạnh và bền vững Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem lại phải được chú trọng

đồng thời với việc quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và các vấn

đề phát sinh khác, trong đó việc quản lý và sử dụng quỹ đất hợp lý là một vấn đề đáng

quan tâm hàng đầu

1.1.3 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sử dụng đất

ĐTH là một quá trình song song với sự phát triển CNH và cách mạng khoa học

kỹ thuật Quá trình ĐTH phản ánh tiến trình CNH-HĐH trong nền kinh tế thị trường

Không ai phủ nhận rằng, một quốc gia được coi là CNH thành công lại không có tỷ lệ

cư dân đô thị ngày càng chiếm vị trí áp đảo so với cư dân nông thôn ĐTH trước hết là

hệ quả trực tiếp của quá trình CNH và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền

kinh tế theo hướng HĐH, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ

trọng của ngành NN trong cơ cấu tổng sản phẩm

Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, ĐTH giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh

quốc phòng và bảo vệ môi trường ĐTH xúc tiến tối đa quá trình CNH-HĐH đất nước Sự

Trang 22

nghiệp CNH - HĐH muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh

tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, thay đổi cơ cấu

lao động Trước hết có sự tập trung cao các điểm dân cư, kết hợp với xây dựng đồng bộ

và khoa học các cơ quan và các xí nghiệp trung tâm Quá trình này là bước chuẩn bị

lực lượng ban đầu cho CNH-HĐH đất nước Khi đó máy móc hiện đại được đưa vào

sản xuất nhiều hơn kéo theo việc nâng cao trình độ tay nghề công nhân, đồng thời nâng

cao năng lực cho cán bộ quản lý Sự chuyển dịch này sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển

mới của tiến trình CNH, trong đó ĐTH trở thành lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế,

không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong tổng sản phẩm mà còn cả về

phương diện phân bố nguồn lao động xã hội

CNH càng mạnh, quy mô đô thị tập trung lớn hơn, hoạt động đô thị phức tạp hơn nên cấu trúc đô thị cũng phức tạp, xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm như làm tăng

nhu cầu phát triển hệ thống CSHT, nhà ở Điều này đồng nghĩa với quá trình CNH và

ĐTH luôn gắn liền với việc chuyển đổi đất đai Con người luôn kỳ vọng vào việc khai

thác triệt để quỹ đất chưa sử dụng, tuy nhiên hầu hết diện tích này thường nằm ở khu

vực không thuận lợi để phát triển, nhất là phát triển đô thị Mặt khác, xu hướng đô thị

hóa thường lan rộng tại những khu vực có lợi thế về vị trí, điều kiện tự nhiên, KT-XH

thuận lợi, do đó thường có hướng tập trung phát triển tại các vùng đồng bằng, nơi tập

trung phần lớn diện tích đất sản xuất NN màu mỡ mà nông dân đang sản xuất Cuốn

theo xu hướng phát triển của xã hội, việc chuyển đổi các diện tích đất NN này sang

mục đích phi NN là khó tránh khỏi, điều này đã làm chuyển dịch cơ cấu SDĐ trong

một lãnh thổ qua từng giai đoạn phát triển Ngoài ra, CNH và ĐTH ồ ạt rất dễ làm ảnh

hưởng xấu đến môi trường sinh thái, môi trường đất NN ở các vùng phụ cận, nếu

không có các giải pháp quản lý SDĐ hợp lý thì có thể làm mất cân đối cơ cấu SDĐ,

nhất là đối với đất NN bị chuyển đổi sang mục đích phi NN vì quá trình chuyển đổi

này là một chiều - không thể tái tạo lại được, làm cho việc SDĐ thiếu tính bền vững

trong tương lai [19]

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới

Quá trình đô thị hóa có tính chất khác nhau giữa các nước, các vùng kinh tế có trình độ phát triển khác nhau, có chế độ xã hội khác nhau Chúng ta dễ dàng nhận thấy

sự khác biệt về mức độ và tính chất đô thị hóa giữa các nước vì đô thị hóa là quá trình

mang tính quy luật, các đô thị phát triển phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội -

văn hóa của đất nước và của từng vùng

Đô thị hóa phát triển mạnh trên quy mô toàn cầu làm tăng số lượng các đô thị lớn, tăng nhanh dân số đô thị và tỉ lệ thị dân Hiện nay, xu hướng phát triển của thế

giới là biến trái đất thành một hành tinh chủ yếu bao gồm các đô thị (hành tinh bê

Trang 23

tông) Đến cuối thế kỉ 21, khi dân số đạt mức ổn định, thì số dân cư nông thôn thuần

nông sẽ chỉ là một thiểu số ít ỏi Dân số đô thị thế giới 2005 đạt tới 47% tổng dân số,

ước tính đến 2025 là 61% Sự gia tăng dân số đô thị thế giới hiện nay chủ yếu tập

trung ở các nước đang phát triển [37]

Vào giữa thế kỉ 20, các nước kinh tế phát triển, dân số đô thị đã đạt trên 50%, trong khi để đạt tỉ lệ này các nước đang phát triển phải mất 75 năm nữa, tức là vào

năm 2025 Các nước chậm phát triển, tỉ lệ dân số đô thị thấp, đặc biệt, là các nước

châu Phi và châu Á với tỉ lệ dân cư đô thị dưới 30% dân số Trong khi đó, tỉ lệ dân cư

đô thị ở Mỹ La Tinh cao hơn đạt khoảng 70% [37]

Sự bùng nổ dân cư đô thị trong thời gian tới chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển Trong khi vào những năm 60, hơn một nữa dân số đô thị thế giới tập trung ở

các nước kinh tế phát triển Tuy nhiên, đến năm 1970 thì dân số đô thị ở các nước phát

triển chỉ nhiều hơn ở các nước đang phát triển có 44 triệu người Nhưng trong thời gian

gần đây, sự chênh lệch dân số đô thị ở các nước phát triển và các nước đang phát triển

tăng lên nhanh chóng, từ 1975 cán cân dân số đô thị giữa hai khu vực đã có sự thay đổi,

tỉ lệ dân số đô thị của thế giới sinh sống ở các nước đang phát triển tăng nhanh Năm

1990 quá nữa dân số đô thị thế giới (61%) tập trung ở các nước đang phát triển

Theo dự đoán dân số đô thị của Liên hợp quốc, dân số đô thị thế giới năm 2025

sẽ tập trung ở các nước đang phát triển gấp 4 lần ở các nước phát triển [37]

Tốc độ gia tăng dân số đô thị ở các nước đang phát triển tăng lên nhanh chóng trong thời gian ngắn và có thể đạt tới con số hơn 4 tỉ người vào năm 2025 Trong khi

đó dân số đô thị ở các nước kinh tế phát triển tăng lên chậm, chỉ tăng từ 881 triệu năm

1990 lên 1177 triệu năm 2025 [37]

Tốc độ đô thị hóa ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây và trong thời gian tới tỉ lệ thị dân sẽ đạt tới 50% vào năm 2015 và có thể đạt 57% vào năm

2025 Tuy nhiên, trong số đó còn có 47 quốc gia kém phát triển, nhất là những nước ở

trong tình trạng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu có tốc độ đô thị hóa thấp, năm 1970 tỉ lệ thị

dân đạt có 13%, đến năm 1990 là 20% với 103 triệu dân đô thị, tốc độ gia tăng trung

bình là 4,95 %/năm [37]

1.2.2 Kinh nghiệm về đô thị hoá ở một số nước trên thế giới

a Đô thị hóa ở các nước châu Đại dương

Số dân đô thị ở châu Đại Dương chiếm 72%, nhưng tỉ lệ dân số đô thị lại tập trung cao nhất vào một số nước trong khu vực như: Nauru 100%, Ruam 93%, Úc 91%,

Niudilan86%, Tân calê đônia 71%, Palau 70%, các nước này có tỉ lệ dân số đô thị cao

Ngược lại trên các đảo Melanêsia và Polinêsia có mức đô thị hóa lại thấp: Papua Niu

Trang 24

ghi ne 13%, quần đảo Xalomon 16%, lien bang Micôronexia 22%, Tây Xoa na 22%,

Tonga 33%

Châu Đại Dương chỉ có Úc là có 5 thành phố với quy mô dân số trên 1 triệu

Thành phố lớn nhất là Xitni - thành phố cảng trung tâm kinh tế văn hóa, thương mại

lớn nhất của Úc với dân số là 3,7 triệu dân chiếm 25% số dân đô thị của toàn quốc

Men buốc là trung tâm văn hóa lớn có 3,1 triệu dân chiếm 21% dân số thành thị của cả nước Brisbane là cảng biển quan trọng Perth là cảng biển phía tây, Canberra

là thủ đô của Úc nhưng là thành phố có quy mô dân số nhỏ Các thành phố ở phía

Đông Nam và có sự ràng buộc chặt chẽ với chính quốc (Anh) Phần lớn người dân

châu Đại Dương là người châu Âu 96% dân số, riêng người Anh và người Ailen chiếm

77% và người dân các nước khác di cư đến châu Đại Dương qua các thời kì đặc biệt là

“cơn sốt vàng” giữa thế kỉ 19 Cùng với công nghiệp khai thác vàng và khai thác

khoáng sản là sự phát triển các ngành công nghiệp điện lực, luyện kim, chế tạo máy

phát triển mạnh Công nghiệp của Úc đứng vị trí thứ 10 trên thế giới làm cho dân số đô

thị của nước này tăng lên nhanh chóng [37]

b Đô thị hóa ở Nhật Bản

Là nước có trình độ phát triển cao, đô thị hóa mạnh mẽ, tập trung ở nhiều thành phố lớn bậc nhất thế giới Nhật là nước tư bản duy nhất ở châu Á có trình độ phát triển

kinh tế phát triển cao Đô thị hóa ở Nhật diễn ra mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển

mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, các thành phố mọc lên nhanh chóng, đặc biệt là

các thành phố lớn có mật độ dày đặc ở đảo Honxu, trong đó thành phố lớn nhất Nhật

Bản đồng thời cũng là thành phố lớn nhất thế giới là Tokyô đã đạt 25 triệu dân năm

1990 Ngay từ năm 1960, Tokyô đã trở thành trung tâm kinh tế của Nhật Bản và của

thế giới

Trước đây, theo dự báo của cơ quan thống kê Nhật Bản về dân số thành phố, thành phố Tokyô đến năm 1990 có 18 triệu dân và đến 2000 là 19 triệu dân và 2020 là

28 triệu dân, nhưng thực tế Tokyô đã đạt 29,8 triệu dân ngay từ đầu năm 1995, đang là

thành phố đứng đầu về dân số thế giới và còn giữ vị trí đến năm 2010 Ở Tokyô tập

trung 26 % dân số đô thị của Nhật Vùng Tokyô kể cả vùng ngoại ô có sức mạnh kinh

tế rất lớn, lớn hơn tiềm lực kinh tế của toàn nước Ý hay nước Anh Vùng Tokyô chiếm

33% GNP của toàn nuớc thời kì 1987-1988 Osaca là thành phố lớn thứ hai của Nhật

Bản có tốc độ tăng trưởng 25 %/năm trong những năm 1985-1990, ngược lại Tokyô lại

có tốc độ phát triển đô thị giảm đi -0,6% [37]

c Đô thị ở các nước châu Âu

Đây là khu vực thứ hai thế giới về số lượng cư dân đô thị năm 1970 với 311 triệu người Nhưng những năm gần đây dân số đô thị ở châu Âu tăng lên chậm hơn so

Trang 25

với các nước châu Á Cho đến 1990, số dân đô thị của châu Âu chỉ tăng lên 62 triệu,

dự đoán đến năm 2025 dân số đô thị của châu Âu đạt 458 triệu, chỉ tăng khoảng 84

triệu trong vòng 35 năm Trong khi đó ở các nước châu Á tăng lên 1,7 tỉ dân cũng

trong 35 năm Ở châu Âu không có thành phố nào có dân số trên 10 triệu dân trở lên,

số thành phố có từ 5-10 triệu dân: 3 thành phố năm 1950, 4 thành phố năm 1970, 5

thành phố năm 1990 và không tăng lên cho đến năm 2010 Thành phố 1-5 triệu dân

chiếm khoảng 1/5 dân số đô thị Châu Âu là khu vực có lịch sử đô thị hóa lâu dài, ở

đây có nhiều đô thị cổ, mạng lưới đô thị dày đặc, mức đô thị hóa cao với 74% dân số

sống ở các thành phố lớn [37]

1.2.3 Thực tiễn về quá trình đô thị hoá và việc chuyển đổi đất đai ở Việt Nam

a Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với

sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó diễn

ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp

Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị hoá ở Việt Nam

Đặc biệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật

Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005) Chính phủ ban hành Nghị định về Qui

chế khu công nghiệp, khu chế xuất (năm 1997)… nguồn vốn đầu tư trong nước và

nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện

rộng, số lượng lớn, tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và

sự cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn Làn sóng đô thị hoá

đã lan toả, lôi cuốn và tác động trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân

Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư trong,

ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khu công

nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ

lao động công nghiệp là nông dân Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang

trong quá trình phát triển Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô

thị, tăng hơn 40% so với năm 1995 Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp

tục được mở mang, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu

đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo

thành những nét mới ở nông thôn Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, kết cấu

hạ tầng ở nông thôn - xưa nay vốn yếu kém, đã có sự cải thiện đáng kể Các làng

nghề được chấn hưng, mở mang góp phần làm sôi động thêm quá trình đô thị hoá ở

nông thôn Làn sóng đô thị hoá cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã thổi luồng sinh

khí mới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam

Trang 26

Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng

thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây

dựng, thương mại và dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp, cơ cấu nội ngành

chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng,

hiệu quả cao hơn Trong trồng trọt, tỷ trọng hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả

ngày càng tăng

Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những

ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng

rãi khoa học, công nghệ… Đô thị hoá kích thích và tạo cơ hội để con người năng động,

sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất,

kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao

động được cải thiện, đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá

Nhìn từ bình diện văn hoá, làn sóng đô thị hoá cùng với sự phát triển hạ tầng văn hoá xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn,

buôn bán giữa các vùng miền đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần

của cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện

những yếu tố văn hoá đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hoá, các

loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị Sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng

xử văn minh, tiến bộ làm cho văn hoá làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn

hoá, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hoá của nông dân các vùng đô thị

hoá, nhìn trên tổng thể được nâng lên Đó là xu hướng chủ đạo của quá trình đô thị hoá

ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua Thực tiễn đã chứng minh tính hợp qui

luật và những tác động tích cực của đô thị hoá đối với nông nghiệp, nông dân và nông

thôn Việt Nam

Tuy nhiên, do những khó khăn của bản thân nền kinh tế đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và những hạn chế chủ quan trong quản lý, điều hành, đô thị

hoá ở Việt Nam còn nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên

quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn cần được nhận thức đúng và giải

quyết hiệu quả [38]

b Tình hình chuyển đổi đất đai ở Việt Nam

Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh CNH-HĐH, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các địa phương đã thực hiện chính sách cởi

mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm, chọn lựa địa điểm

sản xuất, kinh doanh Bình quân hàng năm, tính từ 2001 đến 2007, gần 10 vạn ha đất

nông nghiệp được thu hồi để phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ, đường

Trang 27

giao thông, khu dân cư Khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thu hồi nằm trong

vùng kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Sự

dễ dãi và cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đã cùng với tư

tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng đất tuỳ tiện,

lãng phí Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư đều bám dọc các quốc lộ huyết

mạch, các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn ha “đất cấu tượng”, đất

“bờ xôi, ruộng mật” - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quí giá nhất của

người nông dân Nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia - đã bị sử dụng phí

phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn

hộ gia đình nông dân với hàng triệu lao động nông nghiệp Đi liền với thực trạng này

là sự nảy sinh phân hoá, thậm chí cả mâu thuẫn xã hội Đây là một vấn đề búc xúc, cần

được nhìn nhận thấu đáo và khắc phục sớm [38]

Trong gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức nhanh chóng, nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như

Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam

bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào

khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị

Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc

trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bước đầu

đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí

Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố

như Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái

Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hòa Bình

Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch - dịch vụ, đầu mối giao thông Các đô

thị trung tâm huyện Đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới

Tăng trưởng dân số đô thị từ 11,87 triệu người năm 1986 lên 18 triệu người năm 1999 và khoảng 20 triệu người năm 2002, nâng tỷ lệ đô thị hoá từ 19,3% năm

1986 lên 25,3% năm 2002 Tuy vậy, đô thị hoá ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu

vực và thế giới: ví dụ tỷ lệ đô thị ở Châu Á trung bình là 28%, Châu Phi là 32%, Mỹ

La Tinh là 68%, tăng trưởng kinh tế ở các đô thị ở Việt Nam trung bình từ 12 - 15%,

thu nhập bình quân 1000 USD/người/năm, tăng trưởng không gian đô thị cũng đạt tỷ

lệ đáng kể Năm 1999 đất đô thị chiếm 0,2% đất tự nhiên cả nước đến năm 2000 đã

tăng lên 0,35% và năm 2003 xấp xĩ là 1%

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển

đô thị đến năm 2020" tại quyết định số 10/1998/ QĐ-TTg ngày 23/1/1998 Trong đó

xác định phương hướng phát triển đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng là:

Trang 28

- Mức tăng trưởng dự báo:

+ Năm 2010 dân số đô thị là 30,4 triệu người, chiếm 33% dân số cả nước

+ Năm 2020 dân số đô thị là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước [6]

- Về nhu cầu sử dụng đất đô thị:

+ Năm 2020 diện tích đất đô thị là 460.000 ha, chiếm 1/4 diện tích đất tự nhiên

cả nước, bình quân 100 m2/người

+ Các đô thị trung tâm lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, được tổ chức thành chùm đô thị có vành đai xanh bảo vệ để hạn chế tối đa sự tập trung dân số,

cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái, tránh sự hình thành các siêu đô thị, hình

thành bộ mặt kiến trúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa, bảo vệ, tôn tạo và giữ gìn các di

tích lịch sử, văn hoá phát triển nền kiến trúc hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc [6]

Trang 29

CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị trấn La Hà, huyện

Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

- Đánh giá các nhân tố thúc đẩy quá trình đô thị hoá tác động đến sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất tại thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.2 Phạm vi nghiên cứu

*Phạm vi về không gian

Đề tài được thực hiện trên địa bàn các tổ dân phố thuộc thị trấn La Hà, huyện

Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

* Phạm vi về thời gian

Số liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2007 - 2013 tại thị trấn La Hà, huyện

Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.3 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng đất và phát triển của thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

- Quá trình đô thị hoá tại thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đến việc quản lý và sử dụng đất

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tình hình quản lý và sử dụng đất tại thị trấn La Hà giai đoạn 2007-2013

- Nghiên cứu cơ cấu sử dụng đất do tác động của quá trình đô thị hóa tại thị trấn

La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Cụ thể:

+ Đánh giá sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn thị trấn La Hà

+ Phân tích các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất

+ Phân tích những cơ hội và thách thức trong quá trình thay đổi cơ cấu sử dụng đất (phân tích SWOT)

- Phân tích những khó khăn khi thay đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển sản xuất nông nghiệp Cụ thể:

Trang 30

+ Khó khăn chung khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất

+ Khó khăn trong sản xuất nông nghiệp

- Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý sử dụng đất bền vững Rút ra bài học kinh nghiệm và kiến nghị một số giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý huyện Tư Nghĩa và thị trấn

La Hà tại phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng nội vụ huyện Tư Nghĩa

- Thu thập số liệu về điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động, thu nhập, việc làm

và tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị trấn La Hà tại Văn phòng UBND thị trấn La Hà

- Thu thập Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020

và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa tại

phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tư Nghĩa

- Thu thập Thuyết minh tổng hợp Quy hoạch chung thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, tỷ lệ 1/5.000 tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tư Nghĩa

- Thu thập báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai từ năm 2007 - 2013 tại UBND thị trấn La Hà

- Thu thập Niêm giám thống kê huyện Tư Nghĩa từ năm 2007 - 2013 tại Chi cục thống kê huyện Tư Nghĩa

- Thu thập số liệu về đường giao thông tại phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Tư Nghĩa

- Ngoài ra, còn thu thập một số văn bản, nội dung có liên quan đến đề tài và các tài liệu nghiên cứu khác tại thư viện nhà trường, internet, sách báo,

2.5.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra (Số liệu sơ cấp)

Để thu thập các thông tin liên quan đến mức độ tác động của quá trình đô thị hoá đến kinh tế - xã hội và môi trường tại thị trấn La Hà, tôi tiến hành phỏng vấn hộ

gia đình theo phiếu điều tra đã được xây dựng (mẫu phiếu điều tra xem trong phần phụ

lục) Do hạn chế về mặt thời gian và kinh phí nên chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 30

hộ tại 4 tổ dân phố của thị trấn La Hà

* Yêu cầu của mẫu điều tra:

- Mẫu điều tra phải được thu thập tại những hộ dân bị thu hồi đất để phục vụ dự

án, tại những vùng bị ảnh hưởng về an ninh, xã hội, môi trường do quá trình đô thị hoá

gây ra

Trang 31

- Mẫu điều tra phải thu thập rãi đều tại 4 tổ dân phố của thị trấn La Hà: Tổ dân phố 1, Tổ dân phố 2, Tổ dân phố 3, Tổ dân phố 4

- Mẫu điền tra phải phản ánh trung thực thực trạng quá trình đô thị hoá gây

ra tại các vùng dự án, không chọn những nơi mà quá trình đô thị hoá không gây

ảnh hưởng

* Nội dung điều tra :

- Điều tra thông tin của các hộ gia bị thu hồi đất trong một số dự án tại thị trấn

La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tại thời điểm nghiên cứu của đề tài từ năm

+ Về kinh tế: tốt hơn, như cũ hay xấu hơn

+ Về xã hội: tốt hơn, như cũ hay xấu hơn

+ Về môi trường: tốt hơn, như cũ hay xấu hơn

- Điều tra nhận định của hộ gia đình về quá trình đô thị hoá ảnh hưởng đến việc

sử dụng đất nông nghiệp như: Tốt hơn, chấp nhận được hay không phù hợp

* Thiết kế mẫu phiếu điều tra nghiên cứu : Nguồn thông tin thu được phải phản ánh được đầy đủ, khách quan, trung thực, chính xác, độ tin cậy cao, đáp ứng được yêu cầu của nội dung nghiên cứu Vì vậy, mẫu

phiếu điều tra phải được xây dựng sao cho từ nguồn thông tin thu nhận từ nội dung

điều tra và thông tin của các yếu tố ảnh hưởng khác

* Thời gian, địa điểm điều tra:

- Thời gian điều tra: chia làm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: từ 16/11/2014 đến 30/12/2014 đi thực địa phỏng vấn một số

hộ dân có đất thu hồi tại các tổ dân phố thuộc thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa,

tỉnh Quảng Ngãi

+ Giai đoạn 2: từ 10/01/2015 đến 30/01/2015 đi thực địa kiểm tra, kiểm chứng

số liệu thu thập được từ phiếu điều tra và thông tin thu thập được

- Địa điểm điều tra: tổ dân phố 1, tổ dân phố 2, tổ dân phố 3 và tổ dân phố 4 thuộc thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 32

- Sử dụng bản bản đồ vị trí địa lý để minh họa về vị trí vùng nghiên cứu

- Sử dụng bản đồ hiện trạng sử dụng đất để mô tả hiện trạng sử dụng đất tại thị trấn La Hà năm 2013

2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu

- Tổng hợp các mẫu điều tra về về mức độ tác động của quá trình đô thị hoá đến kinh tế - xã hội và môi trường thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong

2.5.5 Phương pháp thống kê, phân tích

- Phương pháp thống kê: là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích

để xác định mức độ, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này

cho phép ta phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa các thời điểm

nghiên cứu đã và đang tồn tại trong những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định,

đồng thời giúp cho ta phân tích được các động thái phát triển của chúng như: so

sánh cơ cấu sử dụng đất qua các giai đoạn

- Phương pháp phân tích: phân tích những nhân tố thúc đẩy quá trình đô thị hóa làm ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất

- Phương pháp phân tích SWOT: phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và thách thức khi chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất

SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh có nghĩa

là: điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách

thức (Threats) Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra

quyết định trong việc tổ chức, quản lý, trong trường hợp này phân tích SWOT giúp ta

có những nhìn nhận từng khía cạnh, những thuận lợi, khó khăn khi quyết định dịch

Trang 33

chuyển cơ cấu sử dụng đất SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó chúng ta có thể

xác định định hướng sử dụng đất, phân tích các đề xuất liên quan đến việc sử dụng đất

Đồng thời, có những dự báo để giảm thiểu và dần đi đến loại trừ những yếu tố bất lợi,

giải quyết các vướng mắc trong quá trình quản lý sử dụng đất tại địa phương

- Phương pháp tổng hợp: là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ các yếu

tố, các nhận xét mà khi ta sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn

thiện, đầy đủ Vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hoá các vấn đề trong nhận

thức tổng hợp

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

(Nguồn: [29])

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Tư Nghĩa

Trang 35

(Nguồn: [29])

Hình 3.2 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu

Thị trấn La Hà là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Tư Nghĩa, được giới hạn bởi toạ độ địa lý từ 15º04'35" đến 15º06'15" vĩ độ Bắc, 108º48'43" đến 108º50'15"

kinh độ Đông

Ranh giới hành chính của thị trấn được xác định như sau:

- Phía Nam giáp xã Nghĩa Thương;

- Phía Tây giáp xã Nghĩa Trung;

- Phía Bắc giáp thành phố Quảng Ngãi;

- Phía Đông giáp xã Nghĩa Thương

Diện tích tự nhiên toàn thị trấn 465,68 ha, chiếm 2,02% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện

Thị trấn La Hà nằm trên QL 1A, giáp ranh với thành phố Quảng Ngãi Đây là điểm nổi bật trong việc giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội của thị trấn nói riêng và

huyện Tư Nghĩa nói chung [29]

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Dân số hiện hữu và dự báo dân số quy hoạch đến năm 2020

* Dân số hiện hữu năm 2013

Theo số liệu thống kê năm 2013, toàn thị trấn có 11.320 người, mật độ dân số là 2129,8 người/km2 Trong đó:

Trang 36

- Nam 4.856 người chiếm 42,9%

- Nữ 6.464 người chiếm 57,1%

Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình trong những năm qua luôn được coi trọng, nhờ tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chính sách về dân số và đã

đạt được những kết quả khả quan [24]

* Dự báo dân số quy hoạch đến năm 2020

Tổng dân số thị trấn La Hà khoảng 15.000 người Mật độ dân số khoảng

3200-3800 người/km2 Trong đó:

- Đất dân dụng: 100-140 m2/người Bao gồm:

+ Đất đơn vị ở bình quân: 8-50 m2/người

+ Đất cây xanh: ≥ 6 m2/người

+ Đất giao thông: ≥ 10 m2/người

+ Đất công trình công cộng, dịch vụ: ≥ 4 m2/người

- Đất ngoài dân dụng: 40-50 m2/người [30]

b Lao động, việc làm năm 2013 và dự báo lao động quy hoạch năm 2020

* Lao động, việc làm năm 2013

Tổng số người lao động trong toàn thị trấn là 11.320 người Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 6.972 người chiếm 61,59%, số người ngoài độ tuổi

lao động là 4.348 người chiếm 38,41% [24]

Trong những năm qua, bằng nhiều hình thức, huyện và thị trấn đã thực hiện chương trình Quốc gia giải quyết việc làm và lồng ghép các chương trình dự án, đã có

những biện pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động như hỗ trợ, đầu tư

xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiến việc làm

cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo Trong

những năm tới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cần chú trọng đến việc phát triển

nguồn nhân lực, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng

cao đời sống của nhân dân và ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn thị trấn

* Dự báo lao động quy hoạch năm 2020

Cùng với tốc độ của quá trình đô thị hoá và với định hướng trong những năm tới, thị trấn La Hà phát triển theo hướng Thương mại - Dịch vụ, Công nghiệp - TTCN

và nông nghiệp nên tỉ lệ lao động trong nông nghiệp sẽ giảm dần và tăng dần lao động

của 2 ngành nghề còn lại

Trang 37

Bảng 3.1 Dự báo lao động quy hoạch đến năm 2020 của thị trấn La Hà

Các lĩnh vực giao thông vận tải, văn hóa, thông tin, y tế, giáo dục đáp ứng ngày càng

tốt hơn Mức sống của người dân được nâng lên rõ rệt Thu nhập bình quân đầu người

đạt 19,6 triệu đồng/người/năm Năm 2013 hộ nghèo còn 131 hộ chiếm 5,0%, còn lại là

các hộ trung bình và khá [33], [34]

d Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Trên cơ sở những lợi thế hiện có, trong quá trình phát triển kinh tế, Thị trấn luôn coi trọng ưu tiên phát triển ngành công nghiệp, TTCN, cùng với phát triển dịch vụ được

xác định là những ngành kinh tế chủ lực, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của

thị trấn Với mục tiêu đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

CNH-HĐH, hướng đến sự phát triển bền vững Huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết

cấu hạ tầng thiết yếu để thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng

các công trình công cộng phục vụ đời sống của người dân, đồng thời thúc đẩy quá trình đô

thị hóa trên địa bàn Bên cạnh đó, ngành NN tuy giảm tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế nhưng

còn đóng vai trò quan trọng, nhất là ở các vùng nông thôn nên đã được quan tâm đầu tư

phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế

Trang 38

Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế thị trấn La Hà 2013

(Nguồn: [32])

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu các ngành kinh tế ở thị trấn La Hà năm 2013

Về vị trí địa lý là Thị trấn trung tâm huyện lỵ huyện Tư Nghĩa Trên địa bàn có các trụ sở cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể của huyện và một số cơ quan, trường

học của Trung ương và của tỉnh Thị trấn La Hà có tổng diện tích tự nhiên 465,68 ha,

quy mô dân số 11.320 người Trong mấy năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh

tế thị trường cùng với sự gia tăng dân số đô thị thì khối lượng xây dựng nhà ở, công

trình công cộng, cơ sở hạ tầng … cũng tăng lên khá nhanh Thị trấn La Hà ngày càng

được phát triển đồng thời với các hoạt động CN-TTCN và dịch vụ thương mại đã góp

phần tạo nên vóc dáng bộ mặt mới cho Trung tâm kinh tế - văn hoá huyện lỵ, tạo được

bộ mặt đô thị tại cửa ngõ phía Nam cho thành phố Quảng Ngãi trong tổng thể đô thị

của toàn tỉnh trong tương lai [30], [32]

3.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển đô thị của thị trấn La Hà

* Thị trấn La Hà được thành lập từ tháng 12 năm 1988 theo Quyết định số 196/HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Về việc phân vạch lại địa giới

hành chính một số xã, thị trấn của huyện Nghĩa Hành, Hoài Ân, Tư Nghĩa và Thành

phố Quảng Ngãi Trong đó:

Trang 39

- Tách các đội sản xuất số 1, số 2, số 3 của thôn An Hà 1 thuộc xã Nghĩa Trung gồm 342 ha diện tích tự nhiên với 3.965 nhân khẩu và các đội sản xuất số 7, số 15, 1

phần đội sản xuất số 9 (10,84 ha diện tích tự nhiên với 117 nhân khẩu) của thôn La Hà

cùng đội sản xuất số 16 (thôn La Tá) thuộc xã Nghĩa Thương gồm 209 ha diện tích tự

nhiên với 1.160 nhân khẩu để thành lập thị trấn La Hà (thị trấn huyện lỵ)

- Thị trấn La Hà có tổng diện tích tự nhiên là 551 ha với 5.125 nhân khẩu

+ Phía Nam giáp cầu La Hà của xã Nghĩa Thương

+ Phía Bắc giáp sông Bàu Giang, xã Nghĩa Lộ, xã Nghĩa Dõng [15]

* Năm 2004 UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ra Quyết định số 163/QĐ-UBND ngày 26/6/2004 Về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết điều chỉnh và mở rộng Trung tâm thị

trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa với một số nội dung sau:

- Phạm vi, ranh giới lập quy hoạch:

Phạm vi, ranh giới lập Quy hoạch chi tiết điều chỉnh và mở rộng trung tâm thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa bao gồm vùng đất có diện tích 180 ha, được xác

định như sau:

+ Phía Đông giáp: Đồi La Hà và Cụm công nghiệp - TTCN thị trấn

+ Phía Tây giáp: Khu dân cư hiện hữu và ruộng lúa

+ Phía Nam giáp: Cầu La Hà

+ Phía Bắc giáp: Cầu Bàu Giang [28]

- Tính chất:

+ Là trung tâm hành chính - chính trị, văn hoá - xã hội của huyện Tư Nghĩa

+ Là đô thị cửa ngõ và là trung tâm kinh tế quan trọng phía Nam của thị xã Quảng Ngãi

+ Là đầu mối giao thông quan trọng giữa các xã, thị trấn trong huyện và giữa huyện Tư Nghĩa với các huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh và thị xã Quảng Ngãi

+ Là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho các khu vực khác trên địa bàn huyện [28]

Trang 40

- Qui mô đất đai: 180 ha:

+ Đất cơ quan, công trình công cộng: 33,141 ha, chiếm 18,41%

+ Đất giao thông - sân bãi: 34,512 ha, chiếm 19,17%

+ Đất cây xanh - TDTT: 16,556 ha, chiếm 9,21%

+ Đất công nghiệp - TTCN: 12,121 ha, chiếm 6,73%

+ Đất dự kiến phát triển: 2,712 ha, chiếm 1,50% [28]

* Năm 2011 tại Hội nghị Tỉnh Uỷ Quảng Ngãi lần thứ 4 khoá XVIII đã ban hành Nghị Quyết số 02-NQ/TU ngày 28/6/2011 về phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn

2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 UBND huyện Tư Nghĩa lập đồ án "Quy

hoạch chung thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tỷ lệ 1/5.000" với một số

nội dung sau:

- Mục tiêu của việc lập quy hoạch:

+ Cụ thể hóa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ngãi nói chung và định hướng phát triển kinh tế xã hội huyện Tư Nghĩa nói riêng;

+ Xây dựng thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa trở thành đô thị loại V vào năm 2015, giữ vai trò là trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế - xã hội của

huyện Tư Nghĩa

+ Hoạch định cấu trúc không gian đô thị và cơ sở hạ tầng phù hợp với vai trò, tính chất, chức năng và tiềm năng phát triển của đô thị trong giai đoạn mới; làm cơ sở

pháp lý cho việc phát triển khai thác các đồ án quy hoạch chi tiết, quản lý các dự án

đầu tư xây dựng, quản lý quá trình xây dựng và phát triển đô thị;

+ Tạo động lực thu hút đầu tư, khai thác các lợi thế của khu vực để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, là cơ sở ban đầu cho việc chuẩn bị đầu tư các dự án hạ tầng

xã hội, hạ tầng kỹ thuật chung của đô thị [30]

- Nhiệm vụ của đồ án quy hoạch:

+ Xác định vai trò, vị thế của thị trấn La Hà đối với huyện Tư Nghĩa; mối liên kết, tầm ảnh hưởng của thị trấn La Hà với các xã, thị trấn còn lại của huyện Tư Nghĩa

+ Đánh giá ưu điểm, tiềm năng, thế mạnh, động lực phát triển và những vấn đề tồn tại trong khu vực nghiên cứu lập quy hoạch

+ Xác định các giá trị về lịch sử, văn hóa trong khu vực và đề xuất các giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát triển (nếu có)

Ngày đăng: 05/07/2021, 06:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Hoàng Văn Hoan (2011), “Quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình CNH, HĐH ở VN”, Quản lý nhà nước số 183 (4-2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình CNH, HĐH ở VN
Tác giả: Hoàng Văn Hoan
Năm: 2011
20. Nguyễn Thanh Thủy (2006), “Sự hình thành lý thuyết phát triển bền vững”, Nghiên cứu phát triển bền vững số 3 (9-2006), Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững – Viên koa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự hình thành lý thuyết phát triển bền vững”
Tác giả: Nguyễn Thanh Thủy
Năm: 2006
27. Trần Thị Cẩm Tú (2003), Giáo trình Địa lý đô thị, Đại học Sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa lý đô thị
Tác giả: Trần Thị Cẩm Tú
Năm: 2003
38. Tạp chí tuyên giáo, Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam http://tuyengiao.vn/Home/MagazineStory.aspx?mid=38&mzid=271&ID=766 39. Địa ốc, bất động sản, Thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam" http://tuyengiao.vn/Home/MagazineStory.aspx?mid=38&mzid=271&ID=766 39. Địa ốc, bất động sản
1. Bộ Xây dựng (1995), Đô thị Việt Nam tập 1, NXB Xây dựng Hà Nội Khác
2. Bộ xây dựng (2009), Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị Khác
3. Bộ xây dựng (2010), Thông tư số 10/2010/TT-BXD ngày 11/8/2010 Quy định hồ sơ của từng loại quy hoạch đô thị Khác
4. Bộ xây dựng (2010), Thông tư số 19/2010/TT-BXD ngày 22/10/2010 Hướng dẫn lập Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị Khác
5. Bộ Xây dựng (2011), Thông tư số 01/2011/TT-BXD ngày 27/01/2011 Về việc Hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược trong đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị Khác
6. Chính Phủ (1998), Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/1/1998 Về việc định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020 Khác
7. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai Khác
8. Chính phủ (2006), Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi bổ sung một số Điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần Khác
9. Chính phủ (2009), Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị Khác
10. Chính Phủ (2010), Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 về Lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị Khác
11. Chính Phủ (2010), Nghị định số 38/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 Về Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị Khác
12. Chính Phủ (2010), Nghị định số 39/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 về Quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị Khác
13. Chính Phủ (2013), Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/1/2013 Quản lý đầu tư phát triển đô thị Khác
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI Khác
15. Hội đồng Bộ trưởng (1988), Quyết định số 196/HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Về việc phân vạch lại địa giới hành chính một số xã, thị trấn của huyện Nghĩa Hành, Hoài Ân, Tư Nghĩa và Thành phố Quảng Ngãi Khác
17. Luật Đất đai năm (1993), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w