Trên cơ sở đó, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích những tác động tích cực và tác động tiêu cực từ quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến lĩnh vực quản lý và sử dụng đất trên địa bàn; Nghiên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ luận
văn của một học viên nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Vũ Thành Uy
Trang 2nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai; Trung
tâm Kỹ thuật địa chính – Nhà đất tỉnh Đồng Nai; Phòng Tài nguyên Môi trường
huyện Long Thành; Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Long
Thành và thư viện Trường Đại học Nông lâm Huế đã giúp đỡ tác giả trong quá trình
thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả cũng xin gửi lời cám ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
Đồng Nai, ngày……tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VŨ THÀNH UY
Trang 3dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp; Phương pháp xử lý số liệu
và phân tích; Phương pháp bản đồ, biểu đồ, đồ thị; Phương pháp dự báo
Kết quả nghiên cứu: Đề tài đã phân tích những yếu tố chủ yếu tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành
Tác giả đã đi sâu phân tích các nhóm yếu tố chủ yếu tác động đến quá trình đô thị hóa
trên địa bàn huyện Long Thành bao gồm: Nhóm các yếu tố tác động từ cơ chế, chính
sách; Nhóm yếu tố tác động từ việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị trên địa bàn
huyện Long Thành; Nhóm yếu tố tác động từ quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí
Minh và thành phố Biên Hòa ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện
Long Thành Trên cơ sở đó, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích những tác động tích cực
và tác động tiêu cực từ quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến lĩnh vực quản lý và sử dụng
đất trên địa bàn; Nghiên cứu sự biến động về diện tích các loại đất theo từng giai đoạn
trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành Đồng thời, để có cái nhìn
nhận khách quan và đánh giá chính xác những ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc sử
dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành Tác giả đã tiến hành điều tra, nghiên cứu và
phân tích những ảnh hưởng của đô thị hóa đến sinh kế của 107 hộ gia đình có đất bị
thu hồi trên địa bàn huyện Long Thành
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể trong quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành Nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế thấp
nhất những tác động tiêu cực mà quá trình đô thị hóa mang lại, góp phần thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
Long Thành
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Đô thị 3
1.1.2 Đô thị hóa 8
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 15
1.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới 15
1.2.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 18
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Phạm vi nghiên cứu 22
Trang 52.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành 22
2.3.2 Nghiên cứu những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành 22
2.3.3 Nghiên cứu những biến động về sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành 23
2.3.4 Điều tra, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tác động đến sinh kế của các hộ gia đình trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành 23
2.3.5 Giải pháp trong việc quản lý và sử dụng đất 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 24
2.4.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ, đồ thị 24
2.4.4 Phương pháp dự báo 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 33
3.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất 38
3.2 Những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 39
3.2.1 Nhóm yếu tố tác động từ cơ chế, chính sách 39
3.2.2 Nhóm yếu tố tác động từ việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Long Thành 41
3.2.3 Nhóm yếu tố tác động từ quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Biên Hòa ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành 48
3.2.4 Phân tích những ảnh hưởng quá trình đô thị hóa đến lĩnh vực quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành 62
3.3 Nghiên cứu sự biến động về cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa 64
Trang 63.3.1 Nghiên cứu sự biến động về diện tích các loại đất theo từng giai đoạn trong
quá trình đô thị hóa 64
3.3.2 Phân tích, đánh giá sự biến động về sử dụng đất qua từng thời kỳ trong quá trình đô thị hóa qua các giai đoạn nghiên cứu 74
3.4 Điều tra, phân tích ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sinh kế của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Long Thành 76
3.4.1 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 77
3.4.2 Phân tích tác động của quá trình đô thị hóa dưới góc độ kinh tế 82
3.4.3 Phân tích tác động của quá trình đô thị hóa dưới góc độ xã hội 88
3.4.4 Phân tích tác động của quá trình đô thị hóa dưới góc độ môi trường 92
3.5 Giải pháp trong việc quản lý và sử dụng đất 98
3.5.1 Giải pháp về chính sách quản lý 98
3.5.2 Giải pháp quản lý và giám sát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 100
3.5.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 101
3.5.4 Giải pháp về khoa học, công nghệ 101
3.5.5 Giải pháp về vốn đầu tư 102
3.5.6 Giải pháp về bảo vệ, cải tạo đất đai 103
3.5.7 Giải pháp về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 111
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hóa
CN - XD : Công nghiệp - xây dựng CSHT : Cơ sở hạ tầng
DV : Dịch vụ ĐTH : Đô thị hóa ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long GDP : Tổng sản phẩm trong nước GTSX : Giá trị sản xuất
GTVT : Giao thông vận tải HĐH : Hiện đại hóa KCN : Khu công nghiệp KCNTT : Khu công nghiệp tập trung KCX : Khu chế xuất
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KT - XH : Kinh tế - xã hội KTTĐPN : Kinh tế trọng điểm phía Nam NLTS : Nông lâm thủy sản
SXNN : Sản xuất nông nghiệp THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông QHSDĐ : Quy hoạch sử dụng đất TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Định hướng phát triển mạng lưới đường giao thông chính đến năm 2020 42
Bảng 3.2: Định hướng phát triển mạng lưới đường đô thị đến năm 2020 45
Bảng 3.3: Biến động diện tích tự nhiên giai đoạn 2005 - 2010 65
Bảng 3.4: Các loại đất có biến động lớn giai đoạn 2005 - 2010 65
Bảng 3.5: Biến động đất đai giai đoạn 2005 - 2010 66
Bảng 3.6: Biến động đất đai năm 2015 so với năm 2010 69
Bảng 3.7: Phương án điều chỉnh quy hoạch đến năm 2020 huyện Long Thành 71
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp sự biến động về cơ cấu sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng đất (giai đoạn từ năm 2005-2020) 74
Bảng 3.9: Thông tin cơ bản của các hộ điều tra 78
Bảng 3.10: Tình hình chung kinh tế của các hộ trước và sau thu hồi đất 82
Bảng 3.11 Cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ trước và sau thu hồi đất 83
Bảng 3.12 Đánh giá của các hộ dân về các khoản bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất 85 Bảng 3.13: Phương án chi tiêu, sử dụng số tiền từ thu hồi đất của các hộ dân 87
Bảng 3.14: Đánh giá của các hộ gia đình về điều kiện sống sau khi thu hồi đất so với trước thu hồi đất 89
Bảng 3.15 Đánh giá của các hộ gia đình về mức độ của các tệ nạn xã hội xảy ra ở địa phương mình hiện nay so với trước khi thu hồi đất 91
Bảng 3.16: Đánh giá của các hộ gia đình về tình trạng môi trường tự nhiên hiện nay so với trước khi thu hồi đất 92
Bảng 3.17: Đánh giá những nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến cuộc sống của các hộ gia đình trên địa bàn điều tra 93
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 25
Hình 3.2 Bảng thống kê diện tích tự nhiên và Bản đồ hành chính của các xã trên địa
bàn huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 26 Hình 3.3 Sơ đồ định hướng phát triển không gian vùng đô thị TP.HCM 49
Hình 3.4: Sơ đồ vị trí tổ chức không gian công cộng thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai 53 Hình 3.5: Định hướng phát triển không gian KĐT phía Tây đường cao tốc Biên Hòa-
Vũng Tàu 55 Hình 3.6: Định hướng phát triển không gian khu đô thị phía Đông đường cao tốc Biên
Hòa - Vũng Tàu 56 Hình 3.7: Sơ đồ hướng phát triển không gian TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai 57
Hình 3.8 Sơ đồ thể hiện tác động qua lại giữa quá trình ĐTH TP.HCM và TP Biên
Hòa với quá trình đô thị hóa huyện Long Thành 61 Hình 3.9: Bản đồ hành chính huyện Long Thành trước khi điều chỉnh địa giới hành
chính và bản đồ hành chính huyện Long Thành sau khi điều chỉnh địa giới hành chính năm 2010 64 Hình 3.10: Đồ thị thể hiện sự biến động về cơ cấu sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng
đất (giai đoạn từ năm 2005-2020) 75
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu để phát triển đất nước Gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa là quá trình đô thị hóa đang diễn ra
ngày càng nhanh ở khắp các tỉnh thành trên cả nước Quá trình này đã làm thay đổi bộ
mặt kinh tế - xã hội của từng địa phương với những mức độ khác nhau, góp phần quan
trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đồng Nai là tỉnh có vị thế rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế chung của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và cả nước Tỉnh được xem là một
tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động
nhất cả nước Đồng thời, Đồng Nai là nằm trong tam giác phát triển kinh tế của vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, đó là tam giác thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương -
Đồng Nai [35]
Long Thành được xác định là một trong những huyện thuộc vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Đồng Nai, có sức thu hút vốn đầu tư để phát triển công nghiệp với tốc
độ cao Hiện nay trên địa bàn Huyện có 4 khu công nghiệp tập trung đã đi vào hoạt
động và các khu công nghiệp đang trong giai đoạn triển khai Ngoài ra huyện còn quy
hoạch 14 cụm công nghiệp địa phương, đang hoàn thành quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ
tầng để đa dạng hóa đầu tư, thu hút các dự án có nguồn vốn đầu tư của các thành phần
kinh tế, nhằm phát huy có hiệu quả các tiềm năng kinh tế trên địa bàn Long Thành là
địa điểm lựa chọn tối ưu cho việc xây dựng một cảng hàng không quốc tế tại phía
Nam Quy hoạch này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về chủ trương (Quyết
định số 21/QĐ-TTg ngày 8/1/2009, [39]) và phê duyệt quy hoạch tổng thể (Quyết định
số 909/QĐ-TTg ngày 14/06/2011, [40]), theo đó cảng hàng không quốc tế Long Thành
sẽ là cơ sở để hình thành mạng lưới giao thông khu vực phía Nam, mang lại nhiều lợi
ích khi mạng lưới giao thông khu vực, liên vùng tiếp cận sân bay đã được hình thành
và đang tiến tới hoàn thiện, làm cơ sở cho các ngành công - nông nghiệp, dịch vụ phát
triển Đây sẽ là cảng hàng không quốc tế quan trọng nhất của khu vực phía Nam, là
cảng hàng không quốc tế lớn nhất toàn quốc và là trung tâm trung chuyển hành khách
của khu vực Trên địa bàn có nhiều tuyến giao thông huyết mạch của vùng kinh tế
trọng điểm phía nam đi qua, là cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên
Hòa và thành phố mới Nhơn Trạch [32]
Với vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ đô thị hóa diễn
ra rất mạnh mẽ, tác động rất lớn đến việc sử dụng đất trên địa bàn Bên cạnh những
mặt tích cực của đô thị hóa, huyện Long Thành cũng đang phải đối diện với rất nhiều
vấn đề như: quy hoạch thiếu đồng bộ, chất lượng cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ
phát triển, di cư tự do, tình trạng phân lô bán nền tự phát diễn ra khá phổ biến và thiếu
Trang 11kiểm soát, vấn đề việc làm đang gia tăng sức ép tới chất lượng cuộc sống của cư dân
đô thị, tình trạng ô nhiễm môi trường gây ra những tác động tiêu cực đến việc sử dụng
đất, xuất hiện sự rối loạn trên thị trường bất động sản, chính quyền địa phương đang
mất phương hướng, thiếu kiểm soát đối với thị trường bất động sản, làm phá vỡ quy
hoạch sử dụng đất, gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống người nhân dân và công tác
quản lý của Nhà nước về đất đai trên địa bàn.Vấn đề cấp thiết đặt ra là đánh giá đúng
những tác động của quá trình đô thị hóa, tìm ra được hướng đi đúng phù hợp giải
quyết được những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình sử dụng đất nhằm hạn chế
những tác động tiêu cực, phát huy được những mặt tích cực của quá trình đô thị hóa,
bảo vệ được môi trường sinh thái để thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát
triển theo hướng bền vững
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn địa bàn huyện Long Thành, tỉnh Đồng
Nai để thực hiện đề tài: “Phân tích ảnh hưởng quá trình đô thị hóa đến việc sử dụng
đất trên địa bàn huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Đô thị
1.1.1.1 Khái niệm đô thị
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn
hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành
phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [43]
Việc xác định quy mô, vai trò, chức năng của đô thị dựa vào hiện trạng và kết quả nghiên cứu phân bố lực lượng sản xuất, sơ đồ quy hoạch vùng Mỗi đô thị có một
không gian và địa giới riêng, bao gồm nội thị và ngoại ô, tùy thuộc vào loại đô thị và
đặc điểm tự nhiên của vùng kế cận Mỗi đô thị có các ngoại ô khác nhau, ngoại ô có
chức năng hỗ trợ cho nội thị Ngược lại, ngoại ô là vành đai chịu ảnh hưởng của nội thị
về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Sự phát triển mạnh các chức năng KT - XH và
quá trình đô thị hóa mạnh mẽ làm cho các đô thị có xu hướng không ngừng mở rộng
vành đai ra ngoại thành
1.1.1.2 Phân loại đô thị
Ở nước ta đô thị phân theo hai hệ thống: theo phân cấp, phân loại đô thị và theo cấp quản lý hành chính Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 2009
của Chính phủ về việc phân loại và phân cấp đô thị [42] Các đô thị Việt Nam được
chia thành 6 loại đô thị như sau:
* Đô thị loại đặc biệt:
- Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao
thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị;
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang
bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường; Khu vực ngoại thành: được đầu tư
xây dựng cơ bản đồng bộ mạng lưới hạ tầng và các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu
mối phục vụ đô thị; hạn chế tối đa việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường;
Trang 13mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng
đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp,
vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên
60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các
không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, có các tổ hợp kiến trúc
hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc tế và quốc gia
* Đô thị loại I:
- Chức năng đô thị: Đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh
tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu
mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước Đô thị trực thuộc tỉnh có
chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục –
đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh
- Quy mô dân số đô thị: Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên; Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: Khu vực nội thành: nhiều mặt được đầu
tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường;
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang
bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường; Khu vực ngoại thành: nhiều mặt
được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; hạn chế việc phát triển các dự án
gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn
phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc
phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên
50% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị Phải có
các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có các tổ hợp kiến
trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia
Trang 14* Đô thị loại II:
- Chức năng đô thị: Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao
lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh Trường hợp đô thị loại II là thành phố trực
thuộc Trung ương thì phải có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ
thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu
trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng
lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
- Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên: Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên
phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô
nhiễm môi trường; Khu vực ngoại thành: một số mặt được đầu tư xây dựng cơ bản
đồng bộ; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu
tư xây dựng; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; bảo vệ những
khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và
các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên
40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị Phải có
các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có tổ hợp kiến trúc
hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia
* Đô thị loại III:
- Chức năng đô thị: Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong
tỉnh hoặc vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một
vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên
Trang 15- Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: Khu vực nội thành: từng mặt được đầu
tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây
dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây
ô nhiễm môi trường; Khu vực ngoại thành: từng mặt được đầu tư xây dựng tiến tới
đồng bộ; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công
trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; bảo vệ
những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ
đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên
40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các
không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có công trình kiến trúc
tiêu biểu mang ý nghĩa vùng hoặc quốc gia
* Đô thị loại IV:
- Chức năng đô thị: Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học –
kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một
vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: Khu vực nội thành: đã hoặc đang được xây dựng từng mặt tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh; các cơ sở sản xuất mới xây dựng
phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô
nhiễm môi trường; Khu vực ngoại thành từng mặt đang được đầu tư xây dựng tiến tới
đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp,
vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị
Trang 16* Đô thị loại V:
- Chức năng đô thị: Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ, các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch
hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường
- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị
1.1.1.3 Vai trò của đô thị [25]
Đô thị là nơi có tiềm lực lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, có sức chi phối mạnh
mẽ, ảnh hưởng đến các vùng xung quanh và ảnh hưởng đến sự phát triển KT - XH của
mỗi quốc gia Trong xu thế toàn cầu hóa, các thành phố lớn được mệnh danh là “thành
phố trung tâm kinh tế quốc tế” hay thành phố thế giới (global city) có sức mạnh chi
phối đối với nền kinh tế, chính trị thế giới
Đô thị là hạt nhân tạo vùng kinh tế, với vai trò là trung tâm công nghiệp, dịch vụ, hành chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật Ngoài ra, nó còn tạo ra lực hút kinh tế, dịch vụ
và chi phối đời sống KT - XH đối với các vùng xung quanh, các đô thị khác và cả
vùng Sức hút của đô thị phụ thuộc vào quy mô của bản thân đô thị, vào tiềm lực của
đô thị, khoảng cách của đô thị này với các đô thị khác Đồng thời, sức hút của đô thị
còn thay đổi phụ thuộc vào sự phát triển tương quan giữa các đô thị trong vùng Sức
lan tỏa ảnh hưởng của đô thị càng lớn thì quy mô vùng kinh tế càng lớn, tiềm lực vùng
kinh tế càng mạnh
Trong vùng kinh tế, các đô thị lớn (thành phố) là hạt nhân chính, các đô thị vệ tinh và các đô thị nhỏ là hạt nhân phụ Hệ thống đô thị trong vùng là bộ khung của
vùng kinh tế Các đô thị có mối liên hệ với nhau trong mạng lưới tạo nên sự trao đổi
hàng hóa, dịch vụ, khoa học, kỹ thuật và lao động Với hệ thống dân cư đô thị có qui
mô hơn vài triệu dân trở lên và có bán kính ảnh hưởng hàng chục thậm chí đến cả trăm
km trong vùng, có thể nói chùm đô thị là hình thức chủ yếu về đô thị của thế kỷ XXI
nó có thể kết hợp hài hòa ba cuộc cách mạng: công nghệ, nhân văn và xã hội Như
Trang 17vậy, chùm đô thị có khả năng kết hợp khai thác các ưu điểm của hai lối sống thành thị
và nông thôn, hình thành một đô thị sinh thái
1.1.2 Đô thị hóa
1.1.2.1 Khái niệm
ĐTH là một phạm trù KT - XH, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất
đặc trưng nhất của sự phát triển KT - XH trong thời hiện đại Quá trình này bao gồm
sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, phân bố lực lượng
sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa,…[25]
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những thuật ngữ khác nhau chỉ đô thị như thị trấn, thị xã, thành phố Đô thị là thuật ngữ tổng quát dùng để chỉ các loại khu định
cư có tính chất phi sản xuất nông nghiệp và qui mô đô thị khác nhau Có nhiều khái
niệm khác nhau về đô thị:
Theo các nhà địa lý, ĐTH đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông nghiệp trong
một khu vực theo thời gian
Nhà đô thị học lão thành của nước ta - Giáo sư Đàm Trung Phường thì cho rằng:
“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian gắn
liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp
mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối
sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức
bộ máy hành chính, quân sự”
Theo khái niệm này thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi trên tất cả các lĩnh vực,
từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật và cả không gian cư trú của con người
Một khái niệm khác của GS.TS Nguyễn Thế Bá, tác giả cho rằng: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư
đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống…Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình
biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội,
cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị”
Những khái niệm về ĐTH được nhận định khác nhau là do các tác giả nhìn nhận
ở ĐTH những khía cạnh khác nhau Xét trên phương diện cách sống, ĐTH là một sự
thay đổi lối sống và đồng thời thay đổi khung cảnh sống Xét trên quan điểm sinh thái
nhân văn thì ĐTH là quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan của
một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái KT - XH nông thôn sang hệ sinh thái KT - XH đô
thị Xét trên phương diện kinh tế thì ĐTH là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông
nghiệp sang phi nông nghiệp
Trang 18Mặc dù còn nhiều cách nhìn khác nhau về ĐTH nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng: ĐTH là một vấn đề mang tính tất yếu khách
quan và có tính phổ quát Đó là sự chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến văn hóa,…là sự chuyển đổi từ nông thôn sang
thành thị, từ nền sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp với sự tập trung
dân cư ngày càng cao [25]
1.1.2.2 Các chỉ tiêu xác định mức độ đô thị hóa
Tỉ lệ dân thành thị: Là chỉ tiêu đơn giản nhất phản ánh mức độ ĐTH, được tính bằng tỉ lệ giữa số dân thành thị trên tổng số dân (đơn vị %)
Tỉ lệ dân số thành thị /dân số nông thôn: Được tính bằng tỉ lệ số dân thành thị trên số dân nông thôn
Mức độ tập trung đô thị: Mức độ phân bố tập trung dày đặc hay thưa thớt mạng lưới đô thị
Tốc độ đô thị hóa: Chỉ sự thay đổi tỉ lệ dân số đô thị theo thời gian
Nhịp độ đô thị hóa: Chỉ sự thăng trầm, nhanh, chậm, trong quá trình tiến hành ĐTH có kế hoạch hay ĐTH tự phát
Gia tăng dân số đô thị: Quá trình gia tăng dân số đô thị do hai yếu tố chính là gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học (chủ yếu do di dân nông thôn vào đô thị) Trong đó,
gia tăng cơ học là nhân tố chủ yếu tạo nên sự tăng trưởng dân số đô thị Dự báo dân số
đô thị: Dựa trên cơ sở gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học, đồng thời chú ý đến
khả năng mở rộng lãnh thổ đô thị ra các vùng lân cận [25]
1.1.2.3 Những biểu hiện cơ bản của đô thị hóa
- Dân số đô thị ngày càng tập trung đông vào các đô thị: Để đánh giá mức độ
ĐTH, người ta thường dựa vào tỉ lệ dân số đô thị và tốc độ tăng dân số đô thị Những
nước có tỉ lệ dân số đô thị cao thì mức độ ĐTH cao và ngược lại Tuy nhiên, tỉ lệ dân
số đô thị không phản ánh đầy đủ mức độ ĐTH cũng như tốc độ ĐTH Vì thế, chỉ dựa
vào tỉ lệ dân số đô thị để xác định mức độ ĐTH thì chưa đủ [25]
- Quá trình tập trung dân số ngày càng đông vào các đô thị lớn và cực lớn: Sự
gia tăng các đô thị lớn và cực lớn là đặc điểm nổi bật của quá trình ĐTH ngày nay
Dân số đô thị ngày càng tăng lên trên phạm vi toàn cầu cả về số lượng tuyệt đối và
tương đối làm cho tỉ lệ dân số đô thị ngày càng tăng lên Điều đó đồng nghĩa với số
người sống trong các thành phố lớn tăng lên nhanh chóng [25]
- Lãnh thổ đô thị không ngừng mở rộng: ĐTH càng cao, càng phát triển thì diện
tích đô thị càng được mở rộng Bởi nhu cầu về diện tích nhà ở, cây xanh, công viên,
trường học, bệnh viện,…ngày càng nhiều Quá trình mở rộng lãnh thổ đô thị cũng
Trang 19đồng nghĩa với việc chuyển một phần đất nông nghiệp thành đất đô thị → giảm diện
tích gieo trồng và làm suy thoái môi trường Sự gia tăng diện tích đất đô thị cũng là
một trong những nét đặc trưng của quá trình ĐTH [25]
- Phổ biến rộng rãi lối sống đô thị vào nông thôn: Quá trình ĐTH đã ảnh hưởng
đến nhiều mặt của nông thôn: Làm cho các vùng nông thôn có sự thay đổi mạnh mẽ cơ
cấu lao động sản xuất, lao động trong ngành nông nghiệp giảm xuống, lao động trong
ngành phi nông nghiệp tăng lên nhanh chóng, khoa học kỹ thuật được áp dụng vào
trong sản xuất, đời sống sinh hoạt của vùng nông thôn được nâng cao rõ rệt và có
những biểu hiện của lối sống đô thị Như vậy, vùng ĐTH là nơi chuyển động cơ bản
của các mối quan hệ KT - XH, văn hóa, là nơi chứng kiến sự hóa thân của người nông
dân thành người đô thị, là nơi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phi nông
nghiệp, là nơi chuyển hóa của các ngôi nhà yên ả thành những tòa nhà cao tầng, là nơi
minh chứng cho sự phát triển văn hóa nông thôn thành văn hóa đô thị Từ đó, làm cho
lối sống người dân nông thôn nhích lại gần lối sống người dân đô thị [25]
1.1.2.4 Tác động của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế - xã hội - môi trường
a Những mặt tích cực: ĐTH đã có những tác động tích cực đến mọi lĩnh vực
hoạt động của cả thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng:
* Về mặt kinh tế: ĐTH tác động mạnh đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
mỗi nước trên thế giới Bởi ĐTH không chỉ gắn liền với sự phát triển công nghiệp -
KHKT mà còn gắn với sự phát triển GTVT, thương nghiệp, dịch vụ Vì thế, nó là yếu
tố quan trọng làm thay đổi quá trình phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, theo
hướng giảm lao động trong ngành sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh tỉ lệ lao động
trong các ngành phi nông nghiệp, được thể hiện ở quá trình người nông dân xa rời
đồng ruộng để trở thành người thành thị Qua đó cho thấy, ĐTH đã làm thay đổi cơ
cấu kinh tế và tính chất lao động theo hướng tích cực [25]
Ngoài ra, ĐTH cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
Một khi, ĐTH phát triển cùng với sự phát triển công nghiệp, các KCN, KCX xuất
hiện, các nhà máy xí nghiệp mọc lên,… thu hút lao động tập trung quanh vùng tạo
thành các khu định cư mới Đồng thời, kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ
(GTVT, thương mại, giáo dục, y tế,…) Từ đó, làm tăng tỉ lệ dân cư đô thị, quy mô đô
thị, làm thay đổi lối sống dân cư…Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất Một diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp - lâm
- ngư nghiệp được chuyển sang xây dựng CSHT công nghiệp và đô thị Đất đô thị có
xu hướng tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt là đất dân dụng và đất công nghiệp Bên cạnh sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu sử dụng đất, ĐTH với sự phát triển mạnh của
ngành công nghiệp, dịch vụ cả về số lượng lẫn quy mô đã góp phần đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế và góp phần làm tăng tổng sản phẩm xã hội (GDP)
Trang 20* Về mặt xã hội: Ở các đô thị, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp,
dịch vụ đã tạo ra nhiều việc làm mới Trên cơ sở đó, đô thị làm thay đổi cả sự phân bố
dân cư và lao động cũng như cơ cấu dân số theo lao động, nghề nghiệp, trình độ, các
quá trình sinh tử, hôn nhân…Rõ ràng, đây là một quá trình KT - XH tạo nên sự chuyển
biến sâu rộng trong cấu trúc kinh tế và đời sống [25]
- Ảnh hưởng đến gia tăng dân số tự nhiên: Theo các tài liệu thống kê dân số ở
các đô thị cho thấy: Môi trường đô thị đã làm chậm lại việc gia tăng tự nhiên của dân
số ĐTH đã giải phóng người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào sản xuất phi
nông nghiệp với cường độ làm việc cao, tận dụng triệt để quỹ thời gian Mặt khác, lối
sống dân cư đô thị sẽ thu hút phụ nữ vào các hoạt động xã hội, trình độ văn hóa và sự
hiểu biết của phụ nữ được nâng cao làm cho các quan niệm về hôn nhân, sinh đẻ: số
con trai, con gái có tiến bộ hơn Số con trung bình trong các gia đình ở thành thị ít hơn
ở nông thôn và ở mức trung bình là từ 1 đến 2 con Tuổi kết hôn của người dân thành
thị thường muộn hơn từ 3 - 5 năm Vì thế, kế hoạch hóa gia đình ở thành thị thực hiện
tốt hơn ở nông thôn, tỉ lệ sinh thấp hơn Ở đô thị, mức sống của người dân cao hơn ở
nông thôn, có những cơ sở y tế rất tốt làm giảm tỉ lệ tử vong, tạo điều kiện cho dân cư
đô thị tăng lên nhanh chóng
- Ảnh hưởng đến gia tăng dân số cơ giới: ĐTH cùng với sự phát triển của công
nghiệp đã làm xuất hiện những vùng dân cư mới, đông đúc, ít phụ thuộc vào sản xuất
nông nghiệp Nơi đó có nhiều nhà máy, xí nghiệp, có chất lượng cuộc sống cao hơn
thôn quê,…đã làm làn sóng di cư từ nông thôn lên đô thị càng nhiều
- Ảnh hưởng đến kết cấu dân số:Kết cấu dân số theo tuổi: Dân cư thành thị cũng
có cũng có sự khác biệt về kết cấu lứa tuổi so với nông thôn Dân cư đô thị trong độ
tuổi lao động, nhất là tuổi từ 20 - 40 nhiều hơn nông thôn nhưng dưới độ tuổi lao động
ít hơn vùng nông thôn, do tỉ lệ sinh của thành phố thấp hơn vùng nông thôn và do hoạt
động sản xuất phi nông nghiệp đã thu hút một lực lượng lao động nhập cư lớn Kết cấu
dân số theo giới tính: ĐTH gắn liền với quá trình di chuyển dân cư từ các vùng nông
thôn đến đô thị, trong đó lực lượng nam giới có tính cơ động cao hơn nữ giới, cho nên
tỉ lệ tỉ lệ nam giới trong lao động nhập cư thường cao hơn nữ Tuy nhiên, trong giai
đoạn hiện nay, ở các thành phố lớn, nhu cầu lao động trong các ngành dịch vụ nhiều
lên, lại có khả năng lôi cuốn lao động nữ nhiều hơn nam Mặt khác, cuộc sống của các
vùng đô thị cao hơn và văn minh đô thị càng làm cho tuổi thọ nữ cao hơn nam Vì vậy,
tỉ lệ nữ ở thành phố thường cao hơn nam Kết cấu dân số theo nghề nghiệp: Ở vùng
nông thôn, đại bộ phận dân cư hoạt động trong khu vực nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và các ngành dịch vụ nông nghiệp, còn các ngành dịch vụ khác và công nghiệp
ít phát triển Quá trình ĐTH diễn ra làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu nghề nghiệp dân cư
theo hướng: lao động trong nông nghiệp chuyển sang sản xuất công nghiệp và hoạt
Trang 21động dịch vụ Ở thành thị, sự phân hóa nghề nghiệp rất sâu sắc, cơ cấu nghề nghiệp
của dân cư rất đa dạng: từ lao động trí óc, nghệ thuật cho đến công nhân, những người
nội trợ và làm nghề phục vụ,…Bởi dân cư thành thị có sự khác biệt lớn về trình độ văn
hóa, nguồn gốc, xã hội, quốc tịch Ngoài ra, thành thị có môi trường thuận lợi cho sự
phân công lao động xã hội sâu sắc, hình thành nhiều ngành nghề mới, đặc biệt là các
ngành dịch vụ, làm cho tỉ lệ lao động trong các ngành dịch vụ tăng lên nhanh chóng
- Ảnh hưởng đến mật độ dân số và phân bố dân cư: Ở nông thôn, đại bộ phận dân
cư sản xuất nông nghiệp Do đó, dân cư phân tán trong không gian, mật độ dân cư thưa
thớt Sự phát triển của công nghiệp và đi cùng nó là quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự
tập trung đông đúc dân cư vào các đô thị, làm cho mật độ dân cư ở thành thị cao,
nguồn lao động dồi dào
* Về mặt môi trường: ĐTH gắn liền với việc mở rộng và phát triển của không
gian đô thị Trên cơ sở đó hình thành môi trường đô thị Môi trường sinh thái đô thị là
môi trường nhân tạo Môi trường nhân tạo này lại nằm trong mối tương tác liên tục với
môi trường tự nhiên xung quanh Đặc biệt thông qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt,
nghỉ ngơi, giải trí của con người, môi trường đô thị được mở rộng và vận động, chuyển
hóa không ngừng Môi trường sinh thái đô thị bao gồm những bộ phận chính: Môi
trường ở và sinh hoạt Môi trường làm việc Môi trường nghỉ ngơi, giải trí Các môi
trường này của đô thị được biểu hiện bằng các khu chức năng của đô thị như: các khu
ở, các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ, thương mại, các công viên, các khu thể
thao, nhà hát,…Sự tương tác giữa môi trường sinh thái đô thị và môi trường tự thiên
nhiên luôn luôn vận động phức tạp, nhất là vùng nông thôn ven đô, ngoại thành Nơi
mà một phần đã chuyển hóa đô thị, còn một phần vẫn mang đặc trưng nông thôn Sự
chuyển hóa nông thôn thành đô thị ở đây diễn ra theo thời gian và không gian [25]
b Những mặt tiêu cực: Về khách quan, ĐTH đã phần nào giúp giải quyết nạn
thất nghiệp ĐTH đòi hỏi biến đổi nhanh chóng các hoạt động nghề nghiệp của tầng
lớp dân cư đô thị Các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ, thương mại ngày
càng đòi hỏi người lao động phải có trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghề
nghiệp,…nếu họ muốn nâng cao thu nhập, trình độ học vấn, năng lực chuyên môn của
đội ngũ lao động tăng lên, nguồn chất xám phong phú đã góp phần đẩy nhanh tăng
trưởng của thành phố Nhưng nếu lượng nhập cư đổ về thành phố quá lớn trong khi
sức tải thành phố có hạn thì thành phố phải đối đầu với nạn thất nghiệp, những vấn đề
giải quyết việc làm, nhà ở, GTVT , môi trường,…Đó là những vấn đề của đô thi hiện
nay cần được quan tâm giải quyết, nhất là ở những nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam của chúng ta ĐTH có mối liên hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hóa
Việc phát triển ĐTH không bắt nguồn và cân đối với quá trình công nghiệp hóa sẽ gây
ra những vấn đề tiêu cực về KT - XH cũng như sự suy thoái môi trường sống [25]
Trang 22* Vấn đề việc làm: Việc làm là một trong những vấn đề nan giải ở các đô thị Với
việc phát triển của quá trình ĐTH, dân cư tập trung ngày càng nhiều trong các thành
phố Vì vậy, việc làm không thể đáp ứng cho mọi lao động Hơn nữa, không phải người
lao động nào cũng được đào tạo và có trình độ chuyên môn, tay nghề, nghiệp vụ để phục
vụ cho các ngành kinh tế Nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và để lại những ảnh hưởng
xấu đến KT - XH của các đô thị, đặc biệt là các thành phố triệu dân
* Nhà ở: Nhà ở cũng là nỗi lo của các đô thị Dân cư ngày càng đông đúc trên
một lãnh thổ có hạn đã làm cho vấn đề nhà ở trở nên cấp thiết Ở các thành phố lớn,
bên cạnh khu vực hành chính, buôn bán, dịch vụ và các dãy phố, chung cư khang trang
còn tồn tại các khu ổ chuột - nơi tá túc của người lao động nghèo, thu nhập thấp Ngay
cả ở các nước phát triển cũng không hiếm những người vô gia cư gắn liền với tình
trạng thất nghiệp Chính các khu ổ chuột làm xuống cấp môi trường đô thị
* Kết cấu hạ tầng đô thị: Kết cấu hạ tầng đô thị nhất là ở các nước đang phát
triển trở nên quá tải trước sức ép rất lớn về dân số và các hoạt động KT - XH Kết cấu
hạ tầng đô thị bao gồm trước hết là giao thông đô thị (mạng lưới đường và phương tiện
vận tải công cộng), cung cấp năng lượng (điện, xăng, dầu, ga,…), cấp thoát nước, thu
gom rác thải, công viên - cây xanh…Chỉ tính riêng về GTVT, trong các thành phố ở
các nước đang phát triển còn nhiều bất cập Quy mô của thành phố được mở rộng, nhu
cầu đi lại, vận chuyển không ngừng tăng lên Vì thế, áp lực càng gia tăng đối với giao
thông đô thị, mà một trong những biểu hiện rõ nét nhất là nạn tắc đường, kẹt xe Điều
này còn ảnh hưởng đến cả môi trường đô thị Vấn đề cung cấp điện, nước và thoát
nước trong các đô thị lớn cũng thường bị quá tải ở các nước đang phát triển Bởi ĐTH
quá mức so với sự phát triển kinh tế là đặc trưng của quá trình ĐTH ở các nước đang
phát triển nên hệ thống điện, nước và đường dẫn điện đã trở nên quá tải, không đáp
ứng đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Tình trạng thiếu điện, thiếu nước luôn là vấn đề
bức xúc của các quốc gia này Nước sinh hoạt trong đô thị thường không đáp ứng đủ
nhu cầu của dân cư và nhu cầu phát triển sản xuất Trong khi đô thị thiếu nước sạch thì
nước thải luôn trở nên quá tải, thải trực tiếp ra kênh rạch dẫn đến ô nhiễm môi trường
trầm trọng
* Môi trường: Ngày nay quá trình ĐTH diễn ra trong bối cảnh của ba mối lo về
sinh thái: Sự bùng nổ dân số; Sự cạn kiệt tài nguyên; Sự ô nhiễm môi trường Ba tác
nhân này gây sức ép mạnh mẽ lên quá trình ĐTH, làm cho quá trình ĐTH hiện nay,
đặc biệt ở các nước đang phát triển bị biến dạng ghê gớm Quá trình ĐTH ở những
nước này gây ra hàng loạt hiện tượng quá tải, làm môi trường sinh thái phải chịu hậu
quả nặng nề và phá vỡ môi trường tự nhiên Chất lượng môi trường đô thị đang đứng
trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm môi trường và suy thoái
môi trường đô thị là thách thức quá lớn đối với quá trình ĐTH Ở các nước đang phát
Trang 23triển, quá trình ĐTH diễn ra dưới sự tác động của sự bùng nổ dân số, cạn kiệt tài
nguyên là không thể kiểm soát được
- Môi trường không khí: Đô thị là vùng tập trung dân cư đông Sản xuất công
nghiệp, dịch vụ phát triển, đồng thời cũng kéo theo ô nhiễm không khí và tiếng ồn,
nhưng nguồn ô nhiễm này không dừng lại ở phạm vi môi trường thành phố mà lan tỏa
khắp nơi Hoạt động của các máy lạnh thải ra chất CFC, hoạt động giao thông và công
nghiệp thải ra O2, NOX, COX,…Những chất thải này một mặt làm tăng hiệu ứng nhà
kính Mặt khác, lỗ thủng tầng ozone trong tầng bình lưu tăng lên Các nhà khoa học
chứng minh rằng 80 - 85% nguyên nhân gây lỗ thủng ozone bắt nguồn từ khí thải
không khí Ô nhiễm không khí của một số đô thị không những làm nguy hại cho môi
trường ở đô thị nào đó, mà còn gây ô nhiễm cho những vùng lân cận Bầu không khí
của thành phố nhiễm đầy CO2 và NO2 cùng với những bụi bẩn khác khi gặp đám mây
tụ lại tạo thành những đám mưa acid gây tác hại cho làng mạc ruộng vườn, cây cối
- Môi trường nước: Sự phát triển đô thị đồng thời với sự gia tăng dân số và tăng
cường sản xuất công nghiệp khiến cho yêu cầu nước sinh hoạt và sản xuất ngày càng
tăng Nguồn nước từ sông hồ ngày càng ô nhiễm nặng đòi hỏi phải khai thác nước
ngầm để sử dụng Điều đó, đồng nghĩa với làm cạn tài nguyên nước và ô nhiễm nước
ngầm Mặt khác, sản xuất và sinh hoạt đô thị thải ra một lượng nước thải lớn vào hệ
thống cống rãnh sông rạch với đủ các loại ô nhiễm hữu cơ, vô cơ, vi sinh độc hại và
nguy hiểm Hầu hết các thành phố đều có sông chảy qua và hầu hết hạ lưu của các con
sông này đều bị ô nhiễm Nguồn nước bị ô nhiễm mang mầm bệnh, vi khuẩn, làm ảnh
hưởng đến thủy sinh và dân cư sống ở vùng hạ lưu Ô nhiễm đô thị kéo theo sự ô
nhiễm môi trường đất đô thị Bởi một khi không khí và nước đều bị ô nhiễm thì nó sẽ
thấm vào môi trường đất làm cho đất ô nhiễm, hay cũng có thể ô nhiễm trực tiếp vì
nguồn thải vào đất, trong đó chứa nhiều rác độc hại, xác súc vật, phân người, chất thải
công nghiệp, dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, làm môi trường đất bị ô nhiễm
=> Tóm lại ĐTH là vấn đề của quốc tế, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát
triển trong đó có Việt Nam Hàng loạt vấn đề đã và đang đặt ra liên quan đến quá
trình đô thị hóa như: ĐTH rồi sẽ đi đến đâu? Nó đã và đang mang lại những gì cho
con người và lấy mất đi những gì? Liệu rồi, trước sức ép của ĐTH, con người
và tự nhiên có còn giữ được mối quan hệ hữu cơ hài hòa hay không?
Thực tế, ĐTH đã cho thấy rằng, nó là một giải pháp đúng để nâng cao mức sống, làm cho xã hội loài người tiến bộ, văn minh như nhận định của Liên Hợp
Quốc “Đô thị hóa là giải pháp duy nhất đúng” nếu chúng ta biết điều khiển ĐTH
Trang 241.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới
Bước vào thế kỷ 21 thế giới diễn ra những biến đổi trên nhiều phương diện khác nhau, trên góc độ đô thị hóa cho thấy có nhiều biến đổi tác động đến sự hình thành và
phát triển các đô thị
Trước hết, đó là quá trình tăng trưởng kinh tế diễn ra theo xu hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo ngành công nghiệp làm chuyển dịch đáng kể lực lượng lao động từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nên sự gia tăng nhanh
chóng dân số khu vực đô thị, các đô thị được phát triển nhanh cả về số lượng và quy
mô trên phạm vi toàn thế giới
Trong một vài thập kỷ gần đây, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chuyển dịch theo hướng từ Châu Âu sang Châu Á, tạo luồng di chuyển nguồn vốn đầu tư vào các
nước Châu Á càng lớn, càng đẩy nhanh tốc độ phát triển của các nước Châu Á Những
tác động trên đã thúc đẩy các nước Châu Á phát triển nhanh, nhiều đô thị lớn mức tập
trung dân cư đã quá sức đối với hệ thống hạ tầng và môi trường
Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế là quá trình hội nhập đã tạo cơ hội cho các
đô thị lớn của các nước quan hệ chặt chẽ với nhau trên nhiều lĩnh vực Trước hết, đó là
sự liên hệ ngày càng rộng của mạng lưới giao thông vận tải và mạng bưu chính viễn
thông giữa các đô thị, sự liên kết đó đòi hỏi các đô thị phải đáp ứng các yêu cầu của
các mối quan hệ kinh tế để tạo nên sự thống nhất trong một hệ thống toàn cầu, toàn
khu vực, đó là những cơ sở để các đô thị phát triển và mở rộng quan hệ với quốc tế
Cùng với quá trình đó, các mối liên hệ trong nước cũng được phát triển và mở rộng
giữa các đô thị lớn với xung quanh tạo nên một guồng máy hoạt động liên hoàn, trong
đó mỗi đô thị là một mặt xích
Sự tăng trưởng ngành công nghiệp và dịch vụ là động lực đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, những ngành này phát triển gắn kết chặt chẽ với các đô thị hoặc các điểm đô
thị, đồng thời làm cơ sở để tăng nhanh lực lượng lao động phi nông nghiệp tham gia
vào quá trình sản xuất Xu hướng đô thị hóa phát triển nhanh và diễn ra ở châu Âu vào
những năm cuối của thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 20 Ở nữa cuối thế kỷ 20 xu hướng đô thị
hóa được mở rộng ở nhiều châu lục và đan xen ở các nước phát triển và các nước đang
phát triển
Cho tới nay, các nước tư bản phát triển có tới 70% dân số sống ở đô thị (Hoa Kỳ:76%, Anh: 89%, Pháp: 73%, Nhật: 78%, Đức: 86%, Canada: 78%, Italia: 70%)
Các nước thuộc khối ASEAN trong một vài thập kỷ trở lại đây có quá trình đô thị hóa
diễn ra nhanh chóng và còn tiếp tục có xu hướng phát triển nhanh hơn [8]
Trang 25Xu hướng phát triển đô thị: Quá trình tăng nhanh dân số đô thị đã tác động mạnh
mẽ quá trình phát triển của hệ thống đô thị Hiện nay trên thế giới tồn tại hai xu hướng
phát triển đô thị [8]:
- Xu hướng phát triển tập trung cao độ vào một số cực phát triển
- Xu hướng phát triển hệ thống đô thị vệ tinh, làm đối trọng với các cực phát triển
Xu hướng tập trung là xu hướng diễn ra ở nhiều nước đang phát triển, theo xu hướng này thì quá trình phát triển được tập trung vào một vài cực phát triển, các cực
phát triển này có những ưu thế về tài nguyên phát triển và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội thuận lợi Vì thế, đã có những lợi thế để thu hút nguồn đầu tư trong và ngoài nước
để phát triển Đó là những hạt nhân của nền kinh tế cả nước hoặc vùng kinh tế Xu
hướng tập trung thường được phát triển ở nhiều nước châu Á như: Thái Lan,
Indonesia, Hàn Quốc,… Các nước này chấp nhận trong giai đoạn đầu của quá trình
công nghiệp hóa thì các đô thị lớn được phát triển cả về quy mô dân số và quy mô diện
tích, mặc dù Nhà Nước có các chính sách hạn chế sự tập trung quá cao và quá nhanh
Tại Thái Lan, Thành phố Bangkok dân số trên 6 triệu dân nhưng Thành phố lớn thứ hai là ChieengMai ở phía Bắc dân số chỉ khoảng 300.000 người Tại Indonesia,
hơn 60% vốn đầu tư của nước ngoài và trong nước đều tập trung vào Thành phố
Jakarta trong giai đoạn trước năm 1980 Theo xu hướng này, trong thời gian đầu, đầu
tư vào các đô thị đó sẽ có hiệu quả cao nhờ tận dụng được kết cấu hạ tầng sẵn có khi
quy mô dân số chưa quá cao, môi trường chưa bị ô nhiễm và tài nguyên bị suy kiệt
Tuy nhiên quá trình tập trung đó vẫn tiếp diễn sẽ dẫn đến những hậu quả xấu: kết cấu
hạ tầng bị quá tải, về mặt xã hội sẽ tạo những bất bình đẳng về thu nhập và công ăn
việc làm giữa các đô thị cực lớn và các vùng khác Những mặt trái của quá trình tập
trung cao độ vào một số đô thị lớn đang hiện rõ nét như ở Bangkok, Mehico
Sự phát triển của các đô thị, đặc biệt là các ngành tạo thị (công nghiệp và dịch vụ) đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế Theo ước tính của Ngân hàng thế giới
(WB), 80% thành tựu tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển diễn ra tại các
Thành phố và các vùng đô thị lớn
Nghiên cứu sự phát triển đô thị, nhận thấy rằng các Thành phố lớn ở châu Âu có
ưu thế về dân số chỉ kéo dài trong hơn một thế kỷ (thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20) và đến
giữa thế kỷ 20 đã xuất hiện những đô thị lớn nhất ở Bắc Mỹ Trong những năm gần
đây và dự báo đến năm 2015 trong số 10 Thành phố có dân số đông nhất thế giới thì
có 8 Thành phố nằm ở các nước đang phát triển như Mehico (Mehico), Dhaka
(Bang-la-det), Bắc Kinh, Thượng Hải (Trung Quốc), Karachi (Pakistan), Sao Paulo (Braxin),
Jakarta (Indonesia), Bombay (Ấn Độ) Những Thành phố đông dân nhất hiện nay
không phải ở các nước giàu có mà thuộc thế giới thứ ba Chính ở các nước đang phát
triển tăng trưởng dân số ở các đô thị lớn lại diễn ra với tốc độ hết sức nhanh chóng
Trang 26Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là: bên cạnh việc phát triển dân số tự nhiên,
còn có sự di dân từ các vùng nông thôn ra thành thị Trong cuộc cách mạng công
nghiệp trước đây ở các Thành phố lớn của các nước phát triển, có đủ khả năng để tiếp
nhận làn sóng người di cư từ nông thôn ra thành thị Trong điều kiện đó, số dân này
hòa nhập dần dần và trở thành dân cư đô thị
Theo dự báo của các nhà đô thị học thuộc trung tâm phá trung tâm phát triển vùng của Liên Hợp Quốc cho thấy trong khoảng 20 – 30 năm tới, xu hướng phát triển
các đô thị lớn vẫn tiếp tục gia tăng Ngoài một số nước kiểm soát được quá trình đô thị
hóa, còn lại phần lớn các quốc gia rơi vào tình trạng bị động Đô thị hóa nhanh một
cách tự phát hoặc do mong muốn mở mang đô thị nhưng chưa đủ điều kiện đảm bảo
kết cấu hạ tầng Việc đổ xô ra thành thị sinh sống, tạo nên tình trạng: “đô thị hóa ép
buộc” ở một số nước chậm phát triển không những không mở một tương lai tốt đẹp,
mà còn là một nguy hại lớn
Xu hướng phát triển thứ hai, xây dựng hệ thống đô thị vệ tinh sẽ làm giảm sức ép lên thành phố trung tâm, khai thác được tiềm năng của các đô thị nhỏ khác trong vùng
mà vẫn đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đầu tư có hiệu quả Để tạo cơ hội cho
xu hướng phát triển của các loại hình phát triển các đô thị vệ tinh, chính phủ các nước
đã tăng cường phát triển mạng lưới đường cao tốc liên kết các thành phố vệ tinh với
nhau và giữa thành phố trung tâm với các thành phố vệ tinh Song song với việc tạo
lập các đô thị vệ tinh, các nước đã có các chính sách phát triển các đô thị trung tâm
vùng nhằm giảm bớt sự tập trung quá lớn vào một vài đô thị, một trong số các chính
sách có hiệu quả là chính sách phân bố các ngành công nghiệp đối với các đô thị vùng,
chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị
Thực tiễn phát triển của nhiều đô thị trên thế giới cho thấy, quá trình cải tạo mở rộng đô thị đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, có thể làm cho một bộ phận người nghèo
hoặc những người có thu nhập thấp phải sống xa dần các khu đô thị phát triển Ngược
lại, những người có thu nhập cao có cơ hội mua lại nhà và đất của những người nghèo
và giá trị thương mại được tăng lên Cuối cùng dẫn đến mâu thuẫn làm tăng quá trình
phân tách xã hội và không gian Sự xuất hiện những mâu thuẫn mới đòi hỏi trong quy
hoạch phát triển cần quan tâm đúng mức tới các nhân tố xã hội cho từng khu vực cụ
thể, các đối tượng quy hoạch phải đáp ứng cho nhiều đối tượng khác nhau về phong
tục, tập quán, về thu nhập, mức độ thu, chi của từng lớp người
Vấn đề nảy sinh thường gặp khác ở các đô thị của nhiều nước đang phát triển là
“những thực tiễn tự phát của dân cư đô thị” Qua nghiên cứu cho thấy: quá trình phát
triển các đô thị của nhiều nước đang phát triển luôn đi trước các quy hoạch của các cấp
chính quyền Thành phố Ở các vùng ngoại vi, sự phát triển về nhà ở thường phát triển
nhanh, các cấp chính quyền can thiệp vào quá trình phát triển thường chậm hơn và có
chừng mực Ở một số trường hợp có tới 1/3 sô căn hộ được xây dựng tự phát Nghiên
Trang 27cứu các trường hợp trên đã chỉ ra rằng: trong một giai đoạn nhất định, chúng ta buộc
phải chấp nhận tính bất ổn định của đất đai, sự thiếu thốn về kết cấu hạ tầng và sự ô
nhiễm môi trường thường xảy ra, đây là những tác nhân chính làm phân cách không
gian thành phố Tuy vậy, nếu như tình trạng trên không sớm được giải quyết sẽ trở
thành lực cản đối với quá trình phát triển đô thị
Một vấn đề khác của nhiều thành phố trên thế giới thường gặp phải là vai trò can thiệp của chính quyền địa phương trong quá trình giải tỏa các cư dân ở các khu phố
không còn thích hợp với cảnh quan thành phố để xây dựng mới thông thường, các cư
dân sống ở một nơi nào đó họ đã phải quan tâm trước hết đến nghề nghiệp của họ làm
sao cho phù hợp với nơi họ sống, nơi con cái họ đi học rồi đến các mối quan hệ gia
đình họ hàng, quan hệ cộng đồng Chính vì vậy, chính quyền địa phương phải quan
tâm đến rất nhiều nội dung khác nhau trước khi cần giải tỏa một khu phố nào đó (bố trí
nơi ở mới, phát triển kết cấu hạ tầng khu vực và các mối liên hệ giữa khu phố mới với
các khu vực của thành phố,…), có làm được điều này mới có khả năng giải tỏa nhanh
và không làm thay đổi nhiều đến cuộc sống của cư dân địa phương
Quá trình đô thị hóa phát triển càng nhanh thì nhu cầu nguồn tài chính cho phát triển các đô thị ngày càng lớn Vì vậy, vai trò đầu tư của Nhà nước trung ương trong
phát triển đô thị ngày càng thu hẹp lại, thay vào đó là tăng cường vai trò đầu tư cho
chính quyền địa phương các cấp và các cộng đồng dân cư Nhà nước trung ương chỉ
giữ vai trò hướng dẫn để phát triển kết cấu đô thị phù hợp với chức năng và quy mô
phát triển đô thị, vai trò của chính quyền địa phương trở nên rất quan trọng, là nhân tố
trực tiếp xây dựng các chương trình phát triển, đồng thời là người quản lý trực tiếp các
chương trình phát triển
1.2.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, ĐTH ở Việt Nam đã trải qua mỗi giai đoạn ĐTH, bộ mặt đô thị Việt Nam lại có những biến đổi nhất định [21]:
+ Thời kỳ trước năm 1954: Nửa đầu thế kỉ XX, người Pháp đã mở đầu cho quá trình ĐTH Việt Nam thông qua việc thiết lập một mạng lưới đô thị - trung tâm hành chính
thương mại và công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam Tuy vậy, tốc độ
tăng dân số mới đạt 7,5%; năm 1936 là 7,9%; 20 năm sau - năm 1955 mới đạt 11%
+ Thời kỳ năm 1955 – 1975: Những năm thập kỷ 60, miền Bắc Việt Nam đi vào quá trình CNH XHCN CNH đã có tác động đến việc gia tăng quá trình ĐTH Năm
1965, tỉ lệ ĐTH đạt tới 17,2% Từ giữa những năm 1960 đến năm 1975, cuộc chiến
xảy ra ác liệt, diễn biến hai quá trình “giải ĐTH” ở miền Bắc và “ĐTH cưỡng bức” ở
miền Nam trong đó quá trình thứ hai chiếm ưu thế và làm tăng giá trị tỷ lệ ĐTH của cả
nước lên đến 21,5% vào năm 1975
Trang 28+ Thời kỳ năm 1975 – 1989: Trong giai đoạn này quá trình ĐTH hầu như không
có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ
+ Thời kỳ từ năm 1989 đến nay: Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động,
nghề nghiệp cũng như những khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những
biến đổi quan trọng Quá trình ĐTH đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt
trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ
Tốc độ ĐTH ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5%
(1997), 23,65% (1999) và 25% (năm 2004) Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước
mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị
có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu
người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến 25 vạn người và các đô thị còn lại có
quy mô dân số dưới 5 vạn người [21]
Những thành phố lớn ở nước ta, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội, hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong quá trình phát triển bền
vững, đó là: Thách thức to lớn về phân bố dân cư trên từng vùng lãnh thổ Nạn ùn tắc
giao thông triền miên, tai nạn giao thông khá nghiêm trọng; Chưa có phương án hữu
hiệu xử lý rác thải (rác thải y tế, công nghiệp…) Tình trạng “nhà ổ chuột” chưa được
xử lý triệt để; Thiếu diện tích hợp lý cho công viên – cây xanh; Nạn triều cường và
ngập nước mưa; Bất cập trong công tác pḥòng cháy, chữa cháy các nhà cao tầng; Chưa
có giải pháp xử lý tốt các tệ nạn: trộm cướp, mại dâm, ma túy… Nguồn nước sạch
cung cấp cho cư dân đô thị đang có nguy cơ bị ô nhiễm; Môi trường và di sản có nguy
cơ bị đe dọa; Khu công nghiệp, sân bay, bến cảng đã nằm trong khu vực nội ô…
Nguyên nhân thực trạng phát triển đô thị của nước ta hiện nay [8] bao gồm:
+ Quá trình đô thị hóa nông nghiệp nông thôn chưa chuyển biến mạnh mẽ theo hướng “Ly nông bất ly hương”
+ Việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế diễn biến còn khá chậm Ở một số địa phương, tỷ trọng công nghiệp còn tăng chậm, thậm chí có năm tỷ trọng này còn giảm
tương đối
+ Quá trình đô thị hóa thiếu biện pháp kiểm soát chặt chẽ và không được quy hoạch hợp lý đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên
và cân bằng sinh thái
+ Nguyên nhân từ chất lượng sống ở đô thị chưa tốt, chậm được cải thiện, kém sức hấp dẫn về môi trường sống nên rất nhiều người khi nghỉ hưu đã trở về nông thôn
Trang 29Nghiên cứu quá trình đô thị hóa của Việt Nam trong thời kỳ 20 năm trở lại đây cho thấy đặc điểm rõ nét trong quá trình hình thành và phát triển các đô thị Việt Nam
hình thành theo hai dạng phát triển không gian [8] đó là:
+ Cấu trúc không gian đô thị theo dạng cực ở phía Bắc và phía Nam, với trung tâm là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, từ các trung tâm phát triển lan tỏa
theo các trục giao thông hướng tâm đi các đô thị vệ tinh, với các khoảng cách từ 20 –
+ Hệ thống kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, chưa đáp ứng kịp nhu cầu đời sống dân
cư đô thị hiện nay
Những đặc điểm nêu trên đòi hỏi các đô thị Việt Nam cần được đổi mới trên nhiều phương diện nhằm đáp ứng nhu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Với nhu cầu đòi hỏi của từng giai đoạn lịch sử, các đô thị Việt Nam vừa phải phát triển
các yếu tố mới vừa cải tạo những nét lạc hậu không phù hợp với thời đại
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề đô thị hóa từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, nhưng ở Việt Nam quá trình nghiên cứu vấn đề này gần đây mới được
chú ý đến Theo GS Đàm Trung Phường - nhà đô thị thuộc lớp kiến trúc sư đầu tiên
tham gia quy hoạch xây dựng lại các đô thị miền Bắc bị tàn phá trong kháng chiến
chống Pháp (1945 -1954) và nhiều thành phố công nghiệp mới của Việt Nam, cho
rằng: “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận có hệ thống”
Năm 1995 cuốn “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS Đàm Trung Phường ra đời và đã được tái bản lần thứ nhất vào năm 2005, tác giả tập trung giải quyết 2 vấn đề
cơ bản là:
Trang 30+ Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu những định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hóa thế giới và tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của thời kỳ đổi mới nước ta
+ Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của thế giới, cập nhật những thông tin liên quan đến đô thị trong nước để tham khảo cho giáo
trình giảng dạy sinh viên đại học và chủ yếu là sau đại học
Chính vì vậy mà chúng tôi coi cuốn sách “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS
Đàm Trung Phường là một trong những công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề
lý luận về đô thị nói chung cũng như đại cương về đô thị hóa ở Việt Nam nói riêng
Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình thừa nhận “quyển đô thị Việt Nam chưa
có điều kiện đi sâu vào từng đô thị mà chỉ mới dừng lại ở cấp vĩ mô (macro) và trung
mô (mezo)” [25]
Bên cạnh đó còn hàng loạt công trình đề cập đến đô thị hóa và những vấn đề liên quan đến nó như: “Dự án quy hoạch tổng thể vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía
Nam” của Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam (1996); “Đô thị hóa và chính sách
phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của Trần Văn Chữ,
Trần Ngọc Hiên (Đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1998); “Định hướng
quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020” của Bộ Xây dựng (1999);
“Dân số học đô thị” của Trần Hùng (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2001); “Quản lý đô thị thời
kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2004); “Dự thảo nhiệm
vụ quy hoạch xây dựng vùng Thành phố Hồ Chí Minh” của Bộ Xây Dựng (2004);
“Vùng đô thị Châu Á và TP.HCM” của Nguyễn Minh Hòa (Nxb Tổng hợp TP.HCM
2005); “Kinh tế đô thị và vùng” của Trần Văn Tấn (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2006);
“Ngập lụt tại các đô thị Châu Á - kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh ” của
Nguyễn Minh Hòa, Lê Thị Hồng Diệp, Trương Nguyễn Khải Huyền (Nxb Tổng hợp
TP.HCM 2006); Văn hóa ngoại thành TP.HCM (từ góc nhìn thiết chế) của Nguyễn
Minh Hòa (Nxb Tổng hợp TP.HCM 2007); “Công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô
thị” của Trần Trọng Hanh (Nxb Xây dựng 2008); “Địa lý đô thị”của Phạm Thị Xuân
Thọ (Nxb Giáo dục 2008); vv… Ngoài các công trình kể trên còn có bài viết của một số
tác giả được đăng trên các tạp chí hoặc báo cáo tại các hội thảo khoa học
Các công trình nghiên cứu cũng như các hội thảo trên đã đề cập rất nhiều vấn
đề từ lý luận đến thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và trong cả nước, kể cả TP.HCM
Nhưng nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến tác
động của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện
Long Thành Chính vì vậy, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích ảnh hưởng
quá trình đô thị hóa đến việc sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành, tỉnh
Đồng Nai”
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
- Nghiên cứu sự biến động về diện tích các loại đất trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
- Nghiên cứu những ảnh hưởng của đô thị hóa tác động đến sinh kế của các hộ dân có đất bị thu hồi trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành, tỉnh
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình quản lý và sử dụng đất
trên địa bàn huyện Long Thành
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên đất đai tại huyện Long Thành
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội gây sức ép đến vần đề sử dụng đất
- Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Long Thành
2.3.2 Nghiên cứu những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện
Trang 322.3.3 Nghiên cứu những biến động về sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa trên
địa bàn huyện Long Thành
2.3.3.1 Nghiên cứu sự biến động về diện tích các loại đất theo từng giai đoạn trong
quá trình đô thị hóa
So sánh sự biến động về cơ cấu sử dụng đất qua các năm 2005,2010, 2015 và cơ cấu sử dụng đất theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành đã
được phê duyệt đến năm 2020
2.3.3.2 Phân tích, đánh giá sự biến động về sử dụng đất qua từng thời kỳ trong quá
trình đô thị hóa
- Phân tích, đánh giá sự biến động về cơ cấu sử dụng đất qua từng thời kỳ, trên
cơ sở những số liệu thống kê, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử
dụng đất
- Đánh giá về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn
2.3.4 Điều tra, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tác động đến sinh kế
của các hộ gia đình trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Long Thành
- Tiến hành điều tra, phân tích, đánh giá những biến động về giá cả của thị trường bất động sản, để từ đó tìm ra những quy luật, những tác động tích cực và tiêu cực của
thị trường bất động sản ảnh hưởng đến người dân trên địa bàn và công tác quản lý nhà
nước về đất đai trên địa bàn huyện Long Thành
- Tiến hành điều tra, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sinh kế các hộ dân sống trên địa bàn huyện Long Thành
2.3.5 Giải pháp trong việc quản lý và sử dụng đất
Tìm ra những mô hình sử dụng đất hiệu quả, những phương thức quản lý đất đai phù hợp, những giải pháp cụ thể cho việc sử dụng đất và công tác quản lý nhà nước về
đất đai trên địa bàn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập tài liệu thứ cấp:
Phương pháp này được sử dụng để thu thập các thông tin, số liệu của huyện Long Thành có liên quan đến đề tài bao gồm: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã
hội; Tổng diện tích đất tự nhiên; Bản đồ hiện trạng sử dụng đất; Bản đồ quy hoạch sử
dụng đất; Các báo cáo kèm theo các bản đồ quy hoạch sử dụng đất; Bản đồ địa chính;
Số liệu kiểm kê đất đai các năm 2005, 2010, 2015 của huyện Long Thành từ các
Trang 33phòng ban chức năng trực thuộc UBND huyện Long Thành, Văn phòng đất đai tỉnh
Đồng Nai, Trung tâm Kỹ thuật Địa chính – Nhà đất tỉnh Đồng Nai và sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đồng Nai Thu thập báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Hồ Chí Minh; Quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Các quyết định, chỉ thị
phê duyệt quy hoạch từ Thư viện Pháp luật và trích dẫn từ các đề tài khoa học của một
số tác giả có nghiên cứu về những nội dung nêu trên
- Thu thập tài liệu sơ cấp:
+ Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng bảng phỏng vấn hộ bán cấu trúc (như phụ
lục số 1) với số lượng 107 hộ dân theo lý thuyết thống kê để phỏng vấn người dân và
cán bộ chuyên môn để thu thập các thông tin về ảnh hưởng của đô thị hóa đến giá cả
thị trường bất động sản và sinh kế của người dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên
địa bàn nghiên cứu Đồng thời, lấy ý kiến về những giải pháp trong quản lý và sử dụng
đất trên địa bàn phù hợp với thực tiễn địa phương
+ Phương pháp chuyên gia: Tác giả đã phỏng vấn lãnh đạo Văn phòng đăng ký
đất đai (1 người), lãnh đạo Trung tâm Công nghệ thông tin tỉnh Đồng Nai (1 người),
để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tế của địa phương, giải quyết những mâu
thuẫn phát sinh trong quá trình đô thị hóa
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Nghiên cứu này sử dụng phần mềm Excel: Được sử dụng để xử lý thống kê, tính toán, thiết lập cơ sở dữ liệu đầu vào, vẽ đồ thị Để từ đó làm cơ sở đánh giá sự biến
động về diện tích các loại đất trong quá trình đô thị hóa và phân tích những nhân tố
ảnh hưởng chủ yếu tới sinh kế người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn huyện Long
Thành
2.4.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ, đồ thị
Nhằm chứng minh, làm sáng tỏ sự biến đổi của các hiện tượng kinh tế - xã hội,
sự tác động của các yếu tố với nhau, ngoài việc dùng số liệu tương đối và tuyệt đối để
chứng minh, cụ thể hóa bằng các biểu đồ, phân tích quá trình đô thị hóa qua bản đồ
hiện trạng sử dụng đất của các năm 2005, 2010, 2015 và sử dụng biểu đồ của Atlast
Đồng Nai Việc sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ
thể, trực quan và toàn diện hơn Ngoài ra chúng tôi còn thể hiện mối quan hệ giữa các
yếu tố và các giải pháp bằng các sơ đồ để các thông tin ngắn gọn trực quan dễ hiểu, thể
hiện tính logic của các thông tin
2.4.4 Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo dựa trên cơ sở tính toán từ các số liệu đã thu thập được và
sự phát triển có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và
tương lai
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý và sử
dụng đất trên địa bàn huyện Long Thành
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý: Huyện Long Thành nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Đồng Nai, có
diện tích tự nhiên 43.078,97 ha (theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2015), bằng 7,3%
diện tích toàn tỉnh Đồng Nai Với tổng dân số năm 2015 là 223.981 người, mật độ dân
số 520 người/km2 Địa giới hành chính huyện Long Thành tiếp giáp cụ thể như sau:
+ Phía Bắc giáp TP Biên Hòa
và huyện Trảng
Bom
+ Phía Đông giáp huyện Thống
Nhất và huyện
Cẩm Mỹ
+ Phía Tây giáp Quận 9, TP
Hồ Chí Minh
+ Phía Tây Nam giáp huyện
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
Hiện nay, huyện có 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 14 xã và 01 thị trấn với diện tích tự nhiên như sau:
Trang 35STT Đơn vị hành
chính cấp xã
Diện tích
tự nhiên (ha)
Hình 3.2 Bảng thống kê diện tích tự nhiên và Bản đồ hành chính của các xã trên địa
bàn huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Nguồn: theo kết quả kiểm kê đất đai năm
2015 - Trung tâm Kỹ thuật Địa chính Nhà đất tỉnh Đồng Nai)
Huyện Long Thành có mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng khá thuận lợi; đang
và sẽ được đầu tư nhiều công trình cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia trên địa bàn
hoặc đi qua như: Tuyến đường sắt TP.Hồ Chí Minh - Vũng Tàu, tuyến đường cao tốc
Bến Lức - Nhơn Trạch - Long Thành, đường cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Long Thành -
Dầu Dây, tuyến đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, sân bay quốc tế Long Thành,
các công trình cấp điện, cấp thoát nước và hệ thống cảng sông thông ra biển…
Với vị trí tiếp giáp nhiều khu vực kinh tế khác nhau và nằm tại trung tâm của tam giác kinh tế (TP.Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu) thuộc vùng kinh tế trọng điểm
Phía Nam (KTTĐPN), huyện Long Thành có nhiều lợi thế để phát triển trên mọi lĩnh
vực kinh tế, đặc biệt về công nghiệp, thương mại - dịch vụ - du lịch và nông nghiệp
Đây đồng thời cũng là sức ép rất lớn đối với việc định hướng sử dụng đất của huyện,
đặc biệt trong phân bổ cơ cấu sử dụng đất hợp lý để khai thác các tiềm năng sẵn có
khác, đồng thời đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững
Trang 36b Đặc điểm địa chất, địa hình [32]
* Địa chất:
Huyện Long Thành có tập hợp đá mẹ và mẫu chất rất đa dạng vừa tạo cho huyện một quỹ đất rất phong phú, vừa là nguồn cung cấp nguyên vật liệu xây dựng rất quan
trọng Với tập hợp đá mẹ và mẫu chất sau:
(1) Đá bazan bao phủ khoảng 7.300 ha, chiếm 16,9% diện tích lãnh thổ, phân bố
ở rìa phía Tây của huyện, nơi tiếp giáp với huyện Cẩm Mỹ và huyện Châu Đức tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu
Đặc điểm chung của đá bazan là hàm lượng oxyt sắt cao (10 - 11 %), oxyt magie
từ 7 - 10%, oxyt photpho 0,5 – 0,8%, hàm lượng kali cao hơn một chút Vì vậy các đá
bazan thường có màu đen và trong điều kiện nhiệt đới ẩm đã phát triển một lớp vỏ
phong hóa dày trung bình từ 20 - 30 m Từ đá bazan hình thành 2 nhóm đất nổi tiếng là
đất đỏ bazan và đất đen trên bazan là hai loại đất có chất lượng cao và thích hợp với
nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Ngoài ra, đá bazan trong huyện còn là nguồn
vật liệu xây dựng có tính chịu lực rất cao
(2) Mẫu chất phù sa cổ: Mẫu chất phù sa cổ (Pleistocene) chiếm một diện tích khá lớn khoảng 30.000 ha, chiếm 69,6% diện tích lãnh thổ Phân bố ở khu vực trung
tâm huyện, là vùng rất thuận lợi cho việc bố trí các khu công nghiệp Tầng dầy của
phù sa cổ từ 2 - 3 đến 5 - 7 mét, vật liệu có màu nâu vàng, sát tầng mặt chuyển sang
màu xám Cấp hạt thường thô, tạo cho đất có cấp hạt cát là chủ yếu (cát, cát pha, thịt
nhẹ và thịt trung bình) Các loại đất hình thành trên phù sa cổ thường thường có thành
phần cơ giới nhẹ, cùng với điều kiện nhiệt đới gió mùa, mưa lớn và tập trung, làm cho
đất bị rửa trôi mạnh, nghèo dưỡng chất và có hoạt tính thấp Nên phần lớn đất hình
các điều kiện yếm khí chiếm ưu thế, sự ngập mặn đều đặn theo chu kỳ của nước lợ, sự
có mặt của thực vật ngập mặn và tốc độ bồi tích chậm Trên trầm tích này hình thành
chủ yếu nhóm đất phèn dưới rừng ngập mặn
Phù sa sông suối: Đơn vị này có diện tích khoảng 3.400 ha, là loại trầm tích trẻ hợp cả với tuổi holocen muộn - hiện đại (QIV) Phù sa thường có màu nâu sẫm đến
nâu vàng nhạt, phân bố không liên tục thành các dải dọc ven các sông suối vùng
nghiên cứu Hình thành trên trầm tích này là nhóm đất phù sa
Trang 37* Địa hình:
Địa hình của huyện thuộc dạng địa hình rất bằng phẳng, cao trình vừa phải, vừa
có địa hình đồi gò, vừa có địa hình đồng bằng ven sông rất thuận lợi cho bố trí sử dụng
đất Đặc biệt nền địa chất chủ yếu là các trầm tích Plestocen và đá Macma, có nền
móng vững chắc, rất thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng cũng như các công
trình công nghiệp…
- Là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ôn hòa, có tài nguyên rất đa dạng, bao gồm những vùng đồi núi hình thành trên đá bazan, các đất hình thành trên phù sa
cổ, rất thích hợp cho các cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao như: cao su, tiêu, cây
ăn quả, điều, vừa có các loại đất đồng bằng như đất phù sa, đất phèn là các loại đất
thích hợp cho việc trồng các loại cây hàng năm như lúa, mì, đậu đỗ, rau các loại… và
Tây Nam Địa hình này chiếm diện tích lớn khoảng 30 ngàn ha, chiếm khoảng 70%
tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trên địa hình này là nơi phân bố các loại đất đồi
như đất xám, đất đỏ và đất đen bazan, có nền móng vững chắc Địa hình này không chỉ
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, với các loại cây trồng như cao su, điều, cây ăn trái
và các loại cây trồng khác
Địa hình đồng bằng ven sông: bậc thềm sông có độ cao từ 5 - 10 m, có nơi cao 2
- 5 m, dọc theo các nhánh sông Đồng Nai Đất ở đây được cấu tạo từ các sản phẩm bồi
đắp aluvi hiện đại bao gồm các đất phù sa và đất phèn, là các loại đất thích hợp cho
việc trồng lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản
So với tỉnh Đồng Nai nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung, Long Thành là huyện có địa hình bằng phẳng Trong tổng diện tích đất tự nhiên có tới 39.576 ha đất
có độ dốc <30 (chiếm 91,9%), còn lại 3.489 ha có độ dốc 3-70 (chiếm 8,1%) Toàn
huyện có 2 dạng địa hình chính:
Địa hình đồi lượn sóng nhẹ: có độ cao từ 20 - 100 m, bao gồm những đồi đất bazan Và đất phù sa cổ, có chiều hướng nghiêng dần theo hướng từ Đông Bắc xuống
Tây Nam Địa hình này chiếm diện tích lớn khoảng 30 ngàn ha, chiếm khoảng 70%
tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trên địa hình này là nơi phân bố các loại đất đồi
như đất xám, đất đỏ và đất đen bazan, có nền móng vững chắc Địa hình này không chỉ
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, với các loại cây trồng như cao su, điều, cây ăn trái
và các loại cây trồng khác
Trang 38Địa hình đồng bằng ven sông: bậc thềm sông có độ cao từ 5 - 10 m, có nơi cao 2
- 5 m, dọc theo các nhánh sông Đồng Nai Đất ở đây được cấu tạo từ các sản phẩm bồi
đắp aluvi hiện đại bao gồm các đất phù sa và đất phèn, là các loại đất thích hợp cho
việc trồng lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản
c Đặc điểm khí hậu [32]
Long Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh, không có những cực đoan lớn về
khí hậu, rất thuận lợi cho bố trí sử dụng đất
Khí hậu vùng Đông Nam Bộ nói chung và Long Thành có riêng mang đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa không đồng nhất với các đặc điểm chính sau: có cấu trúc đa
dạng về thời tiết mùa, khí hậu có tính biến động rất cao do hệ quả của phức hệ gió mùa
và quan hệ tương tác với cảnh quan
Long Thành nằm trong vùng có lượng mưa tương đối cao, nhưng phân bố không đều nhau hình thành hai mùa trái ngược nhau: Mùa mưa và mùa khô
Mùa khô kéo dài trong vòng 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm khoảng 8 - 10% lượng mưa cả năm Mùa mưa léo dài trong 6 tháng
từ tháng 5 đến tháng 10, mưa rất tập trung, lượng mưa trong 06 tháng mùa mưa chiếm
91 - 92% tổng lượng mưa cả năm
d Đặc điểm cảnh quan môi trường [32]
Cảnh quan môi trường trên địa bàn huyện có 03 dạng cơ bản:
- Dạng cảnh quan ven sông: gồm khu vực xã Tam An chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với cây trồng chính là lúa, xã Long Phước gồm sản xuất nông nghiệp và rừng
phòng hộ ngập mặn, xã Phước Thái gồm rừng phòng hộ ngập mặn và hoạt động công
nghiệp
- Dạng cảnh quan rừng: chiếm tỷ lệ lớn nhất (khoảng 50% diện tích tự nhiên của huyện) thuộc các xã ở khu vực phía Đông của huyện, cây trồng chủ yếu là cây
cao su do Công ty cao su Đồng Nai quản lý
- Dạng cảnh quan khu dân cư, khu công nghiệp: trải dài từ Bắc xuống Nam theo hướng Tây - Đông dọc theo trục Quốc lộ 51, dạng cảng quan này chủ yếu là công trình
xây dựng xen lẫn cây phân tán, cây trồng chủ yếu là cây ăn quả và cây tạp
Huyện Long Thành trong những năm gần đây được xem là khu vực năng động của tỉnh về thu hút đầu tư, xây dựng và khai thác vật liệu xây dựng,… do đó dạng cảnh
quan môi trường trên địa bàn có những xáo trộn đáng kể như mảng xanh bị thu hẹp,
lượng bụi gia tăng tại các trục đường chính và khu xây dựng, lượng rác thải tăng
nhưng chưa được thu gom, xử lý triệt để Do đó, việc sử dụng đất trong những năm tới
cần xem xét duy trì mảng xanh tối thiểu, bảo vệ cảnh quan tự nhiên ven sông, rừng
ngập mặn để đảm bảo sự cân bằng về môi trường tự nhiên và nhân tạo
Trang 39e Đặc điểm sông ngòi, thủy văn [32]
* Hệ thống sông ngòi: Trên địa bàn huyện có 1 hệ thống sông chính là hệ thống
sông Đồng Nai, với 2 nhánh chính sau:
- Sông Đồng Nai: Bắt nguồn từ dãy núi cao Trường Sơn Nam, phần thượng lưu gồm hai nhánh Đa Nhim và Đa Dung, với tổng chiều dài khoảng 635km, diện tích lưu
vực khoảng 40.000 km2, độ cao nguồn 1.700 m, độ cao bình quân lưu vực 470m , độ
dốc bình quân lưu vực khoảng 4,6% Đoạn chảy qua huyện Long Thành dài khoảng 7
km có lòng sông khá rộng và sâu trung bình 5-10 m, đáy sông có nhiều cồn cát ngầm
nên chỉ có thể lưu thông được tàu có trọng tải dưới 1000 tấn
- Sông Thị Vải: Bắt nguồn từ cao nguyên Xuân Lộc và đổ thẳng ra biển Đông, đoạn sông chính chảy qua huyện dài 13 km, rộng trung bình 400 m, phần hạ lưu sông
mở rộng chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ thủy triều biển Đông Sông có các chi lưu
chính như: Suối Cả, suối Đá vàng…
* Thủy văn: Nhìn chung chế độ thủy văn của hệ thống sông Đồng Nai chịu sự
chi phối của 4 yếu tố: chế độ mưa nội vùng, thủy triều, chế độ điều tiết nước của các
công trình đầu nguồn, khả năng giữ nước và bổ sung của lưu vực
- Về thủy triều: Các sông rạch thuộc các xã dọc sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều Biển Đông, biên độ triều bình quân 1,86 mm, cao
nhất 2,06m (tháng II/1989), thấp nhất 1,05m (tháng IX), đã có tác dụng rất lớn đến khả
năng tưới, tiêu ở khu vực đất bằng ven sông
- Về xâm nhập mặn: trước đây khi chưa có công trình thủy điện Trị An, mặn theo chiều xâm nhập tới hạ lưu cầu xa lộ Đồng Nai Sau khi công trình hồ Trị An đi vào
hoạt động, mặn đã đẩy lùi tới Nhà Bè, nên khu vực thuộc lưu vực sông Đồng Nai trên
địa bàn huyện có nước ngọt quanh năm Riêng khu vực thuộc hạ lưu Sông Thị Vải, do
phân bố trên địa hình thấp, gần cửa sông nên trong năm thường có 5 - 6 tháng (từ
tháng XII đến tháng IV năm sau) mặn xâm nhập trực tiếp vào sâu trong sông rạch và
nội đồng
- Về trình trạng ngập: Trước khi có công trình Trị An, thường vào thời điểm tháng VIII đến tháng X, do mưa lớn tập trung làm cho lưu lượng dong chảy trên các
sông tăng nhanh, cộng với thủy triều biển Đông dâng cao, đã hạn chế lớn khả năng
tiêu thoát nước của các sông này gây tình trạng ngập úngcho các khu vực đất thấp ven
sông, gây trở ngại lớn cho sản xuất nông nghiệp Sau khi có công trình Trị An, tình
trạng trên hầu như được khắc phục
f Đặc điểm các nguồn tài nguyên với vấn đề sử dụng đất [32]
- Tài nguyên đất đai: Theo mô tả của chuyên đề “Đánh giá tài nguyên đất huyện
Long Thành ở tỷ lệ bản đồ 1/25.000” được thực hiện trong Dự án Điều chỉnh QHSDĐ
huyện Long Thành giai đoạn 2003-2010, huyện Long Thành có 6 nhóm đất, với 12
đơn vị bản đồ đất (Soil mapping units) Cụ thể như sau:
Trang 40+ Nhóm đất phèn: nhóm đất phèn có 2 đơn vị bản đồ ,với diện tích 2.897 ha
(6,7%).Trong nhóm đất phèn, có đất phèn tiềm tàng dưới rừng ngập mặn và đất phèn
tiềm tàng sâu Đất phèn phân bố ở ven sông Đồng Nai (Long Phước 785,97 ha: Xã
Tam An: 1.074,85ha; Phước Thái: 527,25 ha; TT Long Thành 347,23 ha; An Phước
493,12 ha và Long an: 196,72 ha)
+ Nhóm đất phù sa: Nhóm đất phù sa có 02 đơn vị bản đồ, với diện tích 1.565
ha(3,63%), phân bố ở ven sông Đồng Nai (Long Phước 699 ha; Phước Bình 161 ha và
Tam An 157 ha,…)
+ Đất xám: Nhóm đất xám có 02 đơn vị bản đồ, với diện tích 9.442 ha (21,92%),
phân bố chủ yếu ở xã: Long An 2.145 ha; Long Phước 1.409 ha; Phước Thái 833 ha;
Lộc An 752 ha; Tân Hiệp 737 ha, An Phước 681ha; Long Đức 646 ha; Phước Bình
676 ha; Bình Sơn 629ha, TT Long Thành 540 ha; Tam An 154 ha
+ Đất đen: Nhóm đất đen có 02 đơn vị bản đồ, với diện tích 5.601 ha(13%) Đất
đen hình thành trên các sản phẩm đá bazan và đá bọt bazan Đất đen phân bố chủ yếu
ở các xã: Cẩm Đường 1.632ha, Bàu Cạn 1.592ha, Bình An 685ha, Suối Trầu 567ha,
Tân Hiệp 315ha và Long An 164ha
+ Nhóm đất đỏ vàng: Nhóm đất đỏ vàng có 03 đơn vị bản đồ,với diện tích
26.432ha (49,42%),phân bố ở hầu hết các xã trong huyện,tập trung nhiều nhất ỡ các
xã: Bình Sơn 3.348ha, Phước Bình 2.706ha, Bàu Cạn 2.666ha, Long Đức 2.391ha,
Bình An 2.133ha, Phước Tân 2.030ha, Tân Hiệp 2.082ha,… Đất đỏ vàng được hình
thành từ 02 loại đá mẹ và mẫu chất là: đá bazan và phù sa cổ.Trong đó đất nâu đỏ và
đât nâu vàng trên bazan (gọi chung là đất đỏ bazan) có 3.731ha (6,98%);đất nâu vàng
hình thành trên phù sa cổ có diện tích lớn nhất trong các loại đất là 22.701ha,chiếm
42,45% diện tích toàn huyện
+ Nhóm đất dốc tụ: Nhóm đất dốc tụ có 798ha, chiếm 1,49% DTTN Đất dốc tụ
hình thành và phát triển từ các sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của các loại đất ở các chân
sườn thoải hoặc khe dốc
- Tài nguyên nước:
+ Nước mặt: Ngoài nước mưa, nguồn nước mặt chủ yếu được cung cấp chủ yếu
từ các sông suối thuộc hệ thống sông Đồng Nai Theo số liệu quan trắc nhiều năm, trên
sông Đồng Nai lưu lượng trung bình 312 m3/s, lưu lượng tháng cao nhất 1.083m3/s
(tháng 9).Chất lượng nước sông trong khu vực huyện Long Thành có chất lượng tốt,
có khả năng sử dụng nguồn nước mặt dồi dào này cho hoạt động kinh tế - xã hội của
huyện
+ Nước ngầm: Theo đánh giá của Liên đoàn địa chất thủy văn 8, nước ngầm
trên địa bàn huyện khá dồi dào, căn cứ vào mức độ khả năng khai thác có thể chia
thành 2 cấp như sau: