1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện đức phổ, tỉnh quảng ngãi

129 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Với phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu thứ cấp thông qua các cơ quan chức năng và thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Huế, ngày 01 tháng 04 năm 2016

Tác giả luận văn

Cù Thị Thanh Tâm

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Lê Thanh Bồn

đã định hướng và chỉ dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Tài nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp; Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm Huế

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện Đức Phổ, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

huyện, Chi Cục Thống kê huyện, các phòng ban của huyện và nhân dân các xã Phổ

Phong, Phổ Vinh, Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, Sở Tài nguyên và

Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo

mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân để tôi nghiên cứu, hoàn

thành luận văn

Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Huế, ngày 01 tháng 04 năm 2016

Tác giả luận văn

Cù Thị Thanh Tâm

Trang 3

TÓM TẮT

Với phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu thứ cấp thông qua các cơ quan chức năng và thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp đánh giá nhanh nông

thôn có sự tham gia của người dân (PRA); Sau đó tổng hợp, xử lý số liệu điều tra và

phân tích thống kê để đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp; Đánh giá

hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường một số loại hình sử dụng đất trên các vùng sinh

thái khác nhau; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng trong quá trình sử dụng đất sản xuất

nông nghiệp, để đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản

xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại các vùng sinh thái của huyện Đức Phổ như sau:

a Hiệu quả kinh tế:

+ Vùng đồng bằng: Có 4 kiểu sử dụng đất chính Hiệu quả sử dụng đất tăng dần theo thứ tự các kiểu sử dụng đất sau đây: lúa < lạc < ngô < rau

+ Vùng gò đồi: Có 6 kiểu sử dụng đất chính Hiệu quả sử dụng đất tăng dần theo thứ tự các kiểu sử dụng đất sau đây: lúa < rau < ngô < lạc < khoai lang < sắn

+ Vùng ven biển: Có 5 kiểu sử dụng đất chính Hiệu quả sử dụng đất tăng dần theo thứ tự các kiểu sử dụng đất sau đây: lúa < lạc < ngô < rau < khoai lang

+ Kiểu sử dụng đất trồng lúa: hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng đồng bằng > tiểu vùng gò đồi > tiểu vùng ven biển

+ Kiểu sử dụng đất trồng ngô: hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng đồng bằng > tiểu vùng gò đồi > tiểu vùng ven biển

+ Kiểu sử dụng đất trồng lạc: hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng gò đồi > tiểu vùng đồng bằng > tiểu vùng ven biển

+ Kiểu sử dụng đất trồng rau: hiệu quả sử dụng đất tiểu vùng đồng bằng > tiểu vùng ven biển > tiểu vùng gò đồi

b Hiệu quả xã hội:

Vùng đồng bằng: Kiểu sử dụng đất thu hút được nhiều lao động nhất là kiểu sử dụng đất trồng rau và ít nhất là trồng lúa

Vùng gò đồi: Kiểu sử dụng đất thu hút được nhiều lao động nhất là kiểu sử dụng đất trồng rau và ít nhất là trồng sắn

Trang 4

Vùng ven biển: Kiểu sử dụng đất thu hút được nhiều lao động nhất là kiểu sử dụng đất trồng rau và ít nhất là trồng khoai

- Giá trị ngày công lao động và thu nhập cho người dân ở tiểu vùng đồng bằng

> tiểu vùng gò đồi > tiểu vùng ven biển

c Hiệu quả môi trường:

- Hệ số sử dụng đất tiểu vùng đồng bằng là cao nhất (2,13); tiếp đến là vùng gò đồi (1,64); thấp nhất là vùng ven biển (1,62)

- Kiểu sử dụng đất trồng lạc có khả năng cải tạo đất tốt nhất Kiểu sử dụng đất trồng sắn có ảnh hưởng xấu đến độ phì của đất

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH xi

MỞ ĐẦU 1

1.TÍNHCẤPTHIẾTCỦAĐỀTÀI 1

2.MỤCTIÊUCỦAĐỀTÀI 2

3.ÝNGHĨAKHOAHỌCVÀÝNGHĨATHỰCTIỄN 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.CƠSỞLÝLUẬNCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 4

1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp 4

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 4

1.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 5

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8

1.1.5 Nguyên tắc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 12

1.1.6 Những chi tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả một hệ thống sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 14

1.1.7 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 16

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 19

1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 19

1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 22

1.2.3 Phương hướng phát triển nông nghiệp trong tương lai 27

1.2.4 Xây dựng nền nông nghiệp bền vững 27

1.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 30

Trang 6

1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới 30

1.3.2 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nước 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 37

2.2.1 Phạm vi về không gian 37

2.2.2 Phạm vi về thời gian 37

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 37

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu 37

2.4.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 38

2.4.3 Phương pháp phân tích thống kê, xử lý và tổng hợp số liệu 39

2.4.4 Phương pháp chuyên gia 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐỨC PHỔ 40

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 45

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 51

3.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN VÀ CỦA CÁC XÃ NGHIÊN CỨU 52

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Đức Phổ năm 2014 52

3.2.2 Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 54

3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất các xã nghiên cứu 55

3.2.4 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp các xã nghiên cứu 57

3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CHÍNH TẠI VÙNG NGHIÊN CỨU 60

3.3.1 Các loại hình sử dụng đất chính tại vùng nghiên cứu 60

3.3.2 Mô tả các loại hình sử dụng đất chính 62

3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 63

Trang 7

3.4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT

TẠI VÙNG NGHIÊN CỨU 88

3.4.1 Yếu tố tự nhiên 88

3.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 91

3.5 ĐỀ XUẤT CÁC KIỂU SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CÓ HIỆU QUẢ CAO 92

3.5.1 Cơ sở đề xuất 92

3.5.2 Đề xuất các kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao 93

3.5.3 Đề xuất các giải pháp sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao 95

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 103

1 KẾT LUẬN 103

2 ĐỀ NGHỊ 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 110

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFPPD Diễn đàn các nghị sĩ châu Á về dân số và phát triển ANLT An ninh lương thực

CAQ Cây ăn quả CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa CNXH Chủ nghĩa xã hội

CPTG Chi phí trung gian FAO Tổ chức Nông - Lương Liên hợp quốc GTGT Giá trị gia tăng

GTNC Giá trị ngày công GTSX Giá trị sản xuất HTX Hợp tác xã

LĐ Lao động LUT Loại hình sử dụng đất TNHH Thu nhập hỗn hợp UNESCO Tổ chức Văn hóa - Giáo dục - Xã hội Liên hợp quốc UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc

USD Đô la Mỹ

WB Ngân hàng thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2011 - 2014 45

Bảng 3.2 Tỷ trọng cơ cấu các ngành Nông, lâm, ngư giai đoạn 2011 - 2014 46

Bảng 3.3 Tình hình dân số, lao động, việc làm và thu nhập của huyện năm 2014 48

Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Đức Phổ 53

Bảng 3.5 Tình hình biến động về sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Đức Phổ

giai đoạn 2011 -2014 54

Bảng 3.6 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của các vùng nghiên cứu năm 2014 57

Bảng 3.7 Các kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại các vùng nghiên cứu 61

Bảng 3.8 Giá trị tổng sản lượng của đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp

năm 2014 63

Bảng 3.9 Tỷ lệ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp năm 2014 64

Bảng 3.10 Hệ số sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại các vùng nghiên cứu

năm 2014 64

Bảng 3.11 Mức đầu tư chi phí cho cây lúa tại các xã nghiên cứu 65

Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất chuyên lúa 66

Bảng 3.13 Mức đầu tư chi phí cho cây lạc tại các vùng nghiên cứu 67

Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất lạc 68

Bảng 3.15 Mức đầu tư chi phí cho ngô tại các vùng nghiên cứu 69

Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng ngô tại các vùng nghiên cứu 70

Bảng 3.17 Mức đầu tư chi phí cho rau tại các vùng nghiên cứu 71

Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng rau 71

Bảng 3.19 Mức đầu tư chi phí cho khoai lang tại các vùng nghiên cứu 73

Bảng 3.20 Hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng khoai lang 73

Bảng 3.21 Hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng sắn 74

Bảng 3.22 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng đồng bằng 74

Bảng 3.23 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng gò đồi 75

Bảng 3.24 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng ven biển 76

Trang 10

Bảng 3.25 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất tại các vùng sinh thái 78

Bảng 3.26 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất chính vùng đồng bằng 80

Bảng 3.27 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất chính vùng gò đồi 81

Bảng 3.28 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất chính vùng ven biển 83

Bảng 3.29 Độ che phủ tại các vùng nghiên cứu 84

Bảng 3.30 Ảnh hưởng của địa hình đến HQSDĐ trồng lúa 89

Bảng 3.31 Ảnh hưởng của địa hình đến HQSDĐ trồng lạc 90

Bảng 3.32 Ảnh hưởng của điều kiện đất đai đến HQSDĐ trồng lúa 90

Bảng 3.33 Ảnh hưởng của điều kiện tưới tiêu đến HQSDĐ trồng lúa 91

Bảng 3.34 Giá cả một số nông sản chính 92

Bảng 3.35 Ảnh hưởng của giá cả đến HQKT của các KSDĐ chính 92

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Đức Phổ 40

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ trọng cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2011 - 2014 45

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ trọng cơ cấu các ngành Nông, Lâm, Ngư giai đoạn 2011 - 2014 46

Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất của vùng nghiên cứu 56

Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của 3 xã nghiên cứu 59

Hình 3.6 Biểu đồ cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp tại vùng nghiên cứu 60

Hình 3.7 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng lúa 67

Hình 3.8 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng lạc 69

Hình 3.9 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng ngô 70

Hình 3.10 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất trồng rau 72

Hình 3.11 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng đồng bằng 75

Hình 3.12 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng gò đồi 76

Hình 3.13 Biểu đồ hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng ven biển 77

Hình 3.14 Biểu đồ hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất vùng đồng bằng 81

Hình 3.15 Biểu đồ hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất chính vùng gò đồi 82

Hình 3.16 Biểu đồ hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất vùng ven biển 83

Hình 3.17 Biểu đồ hệ số sử dụng đất của các vùng nghiên cứu 85

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người và các sinh vật trên Trái đất, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước,

là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội an ninh

và quốc phòng Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay

thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, đất đai là nguồn

tài nguyên có giới hạn về số lượng, cố định về vị trí không gian, không thể di chuyển

được theo ý muốn của con người

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, loài người muốn tồn tại và phát triển thì không thể thiếu những nhu cầu thiết yếu như: ăn, mặc và những

tư liệu sinh hoạt khác, những thứ đó đều do nông nghiệp cung cấp Hầu hết các nước

trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa

vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác

Mục đích của việc sử dụng đất đai là làm thế nào để khai thác nguồn tài nguyên có hạn

này mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường cao nhất, đảm bảo

lợi ích trước mắt và lâu dài

Sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, như: sản xuất phần lớn còn nhỏ lẻ, lạc hậu, thiếu tập trung, hiệu quả kinh tế còn thấp, chưa đảm bảo

được tính bền vững Đặc biệt trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp phát

triển vẫn còn mang tính tự phát, chủ yếu chạy theo số lượng, ít quan tâm đến chất

lượng, giá thành sản xuất lại khá cao dẫn tới sức cạnh tranh trên thị trường kém Mặt

khác, thu nhập người dân ở các vùng nông thôn vẫn còn thấp, lao động nông thôn dư

thừa nhiều, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, thị trường tiêu

thụ không ổn định Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi phải có định hướng sử dụng đất

hợp lý mang tính chiến lược, đất sản xuất nông nghiệp phải cần được khai thác sử

dụng có hiệu quả và bền vững

Đức Phổ là một huyện đồng bằng ven biển, cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 40 km về phía Nam, có diện tích tự nhiên là 37.287,56 ha Trong đó, diện tích

nông nghiệp chiếm 81,30% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Tuy diện tích đất nông

nghiệp tương đối lớn nhưng đất đồi núi chiếm tới 53%, đất trồng cây hàng năm chiếm

40% (trong đó đất trồng lúa chiếm 20%), còn lại là đất làm muối và đất nông nghiệp

khác [15] Việc khai thác sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả chưa cao, hiệu

quả kinh tế còn thấp, sử dụng đất còn theo tập quán, thiếu sự bền vững

Năm 2014, thu nhập bình quân đầu người của huyện chỉ đạt 40 triệu đồng, đạt 97,32% so với Nghị quyết HĐBD huyện, tăng 7,85% so với năm 2013 [16] Vì vậy,

Trang 13

muốn nâng cao đời sống của nhân dân và có biện pháp nhằm hướng dẫn cho người dân

sử dụng đất hợp lý, lựa chọn loại cây trồng phù hợp nhằm tăng năng suất, cải thiện đời

sống, đồng thời áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ chống thoái hóa đất, hướng tới sử

dụng đất bền vững, có như vậy người dân mới yên tâm bám đất, giữ đất, chăm sóc đất

để tăng gia sản xuất mà không bỏ hoang ruộng đất để chuyển sang ngành nghề khác có

hiệu quả kinh tế cao hơn

Xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu cấp thiết đó, đã thúc đẩy việc chọn đề tài:

"Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất

nông nghiệp tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi"

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

a Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trong việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đức Phổ,

tỉnh Quảng Ngãi, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đồng

thời đưa ra được những giải pháp khả thi để hướng tới sử dụng đất bền vững

thái của huyện Đức Phổ; Là cơ sở để lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông

nghiệp có hiệu quả cao, đồng thời cung cấp các luận chứng kinh tế - kỹ thuật để lập quy

Trang 14

hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và xây dựng các vùng chuyên canh trên địa

Trang 15

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp

- Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí

nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo

vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng

thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác

- Đất sản xuất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp,

bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm:

+ Đất trồng cây hàng năm là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả đất sử dụng

theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục

đích chăn nuôi, bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng

năm khác

+ Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng,

như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như thanh long, chuối, dứa,

nho… bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và

đất trồng cây lâu năm khác

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:

- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Chịu ảnh hưởng của

thời tiết, khí hậu rất lớn

- Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế

Ruộng đất bị giới hạn bởi diện tích, con người không thể tăng theo ý muốn chủ quan

nhưng sức sản xuất của đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác

chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên của loài người về các nông

sản phẩm

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống Các loại cây trồng, vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản

Trang 16

xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp

sản phẩm thu được ở chu kỳ trước làm tư liệu sản xuất cho chu kỳ sau

- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình

tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động

và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song hoàn toàn lại không trùng hợp nhau, sinh

ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp

1.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

1.1.3.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển

rừng, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi

trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm của rừng, phát

triển công nghệ chế biến vừa và nhỏ với thiết bị công nghệ tiên tiến; khai thác tiềm năng

lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xóa đói, giảm nghèo, thu hút nguồn lực

đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành nông - lâm nghiệp vào phát triển

kinh tế quốc dân

Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu

đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và

sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó, nông nghiệp cần được sử dụng theo

nguyên tắc “hợp lý, đầy đủ và hiệu quả”

- Đầy đủ: đảm bảo diện tích canh tác luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích đất nông nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái

được bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người

- Hợp lý: việc bố trí cây trồng vật nuôi phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất của cây trồng vật nuôi đồng thời gìn giữ,

bảo vệ và nâng cao độ phì của đất

- Hiệu quả: đây là kết quả của việc sử dụng đất đầy đủ và hợp lý Việc xác định hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác

nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che

phủ đất,

Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì: Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích,

xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý góp phần bảo vệ độ phì đất Sử

dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các

nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân Sử dụng đầy đủ và hợp

Trang 17

lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của

nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và

phát triển nền nông nghiệp bền vững

Sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp có nghĩa là có thể chuyển đổi việc sử dụng đất vào nhiều mục đích sản xuất khác nhau phù hợp với điều kiện và cơ hội sản xuất khác

nhau nhằm đa dạng hóa cây trồng Việc sử dụng đất linh hoạt cho phép nông dân có

thể ứng xử với các tín hiệu thị trường như là giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra

Nông dân sẽ có lợi nhiều khi sử dụng đất linh hoạt và sẽ giúp họ giảm thiểu rủi ro,

đồng thời tiết kiệm chi phí, giảm thiểu tổn thất và do đó tăng thu nhập cho họ Đất đai

đối với mỗi quốc gia là có hạn, đặc biệt trong tiến trình công nghiêp hóa hiện đại hóa

đất nước, đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp lại Cùng với đó, việc sử dụng đất bền

vững, tiết kiệm và có hiệu quả là mối quan tâm đặc biệt của nước ta

Bảo vệ nghiêm ngặt đất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

“Nhà nước có chính sách bảo vệ đất chuyên trồng lúa nước, hạn chế chuyển đất

chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Trường hợp cần

thiết phải chuyển một phần diện tích đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục

đích khác thì nhà nước có biện pháp bổ sung diện tích đất hoặc tăng hiệu quả sử dụng

đất chuyên trồng lúa nước Nhà nước có chính sách hỗ trợ, đầu tư xây dựng kết cấu hạ

tầng, áp dụng khoa học và và công nghệ hiện đại cho vùng quy hoạch chuyên trồng lúa

nước có năng suất, chất lượng cao Người sử dụng đất chuyên trồng lúa nước có trách

nhiệm cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất; không được chuyển sang sử dụng vào mục

đích trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản và vào mục đích phi nông

nghiệp nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép” (Điều 74 Luật Đất

đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009)

1.1.3.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hóa

cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu

- Áp dụng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp, đa dạng hóa sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền vững

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với sinh thái và

bảo vệ môi trường

- Phát triển nông - lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa của

nên kinh tế quốc dân

Trang 18

- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn với việc xóa đói giảm nghèo, giữ gìn ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hóa truyền thống của các dân

tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực của con người

- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở địa phương phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế của cả vùng và cả nước

1.1.3.3 Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế đã gây áp lực lớn đối với đất đai, nhất là đất nông nghiệp Mục tiêu của con người trong quá trình sử

dụng đất là sử dụng khoa học và hợp lý Trong thực tế, do quá trình sử dụng đất lâu

dài, nhận thức của con người về sử dụng đất còn hạn chế dẫn đến rất nhiều vùng đất bị

bạc màu, thoái hóa, ảnh hưởng đến môi trường sống của con người Diện tích đất đai

thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở

mang thêm diện tích cánh tác trên những vùng đất không thích hợp, đồng thời dùng

mọi biện pháp để tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất, đã để lại hậu quả vô

cùng lớn đó là thoái hóa, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng, làm cho chất

lượng đất nông nghiệp ngày càng suy giảm

Từ trước những năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói đến giống mới, năng suất cao, kỹ thuật cao Nhưng sau năm 1970 một khai niệm mới đã xuất hiện và càng

có tính thuyết phục, khái niệm tính bền vững và tiếp theo là nông nghiệp bền vững

Theo Lê Viết Ly, Bùi Văn Chính, nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm truyền thống mà phối hợp, lòng ghép những sáng kiến

mới từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả hai Điều trở nên thông thường đối với

những người nông dân, bền vững là sử dụng những công nghệ và thiết bị vừa mới

được phát kiến, những mô hình canh tác tổng hợp, những phát kiến mới nhất để giảm

giá thành đầu vào Đó là công nghệ mới về chăn nuôi động vật, những kiến thức sâu về

sinh thái để quản lý sâu hại và thiên địch Theo Lê Văn Khoa [12], để phát triển nông

nghiệp bền vững cũng phải loại bỏ ý nghĩ đơn giản rằng nông nghiệp, công nghiệp hóa

sx đầu tư từ bên ngoài vào Phạm Chí Thành cho rằng, có 3 điều kiện để tạo ra nông

nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và

những tổ chức từ các nhóm địa phương Tác giả cho rằng xu thế phát triển nông

nghiệp bền vững được các nước khởi xướng mà hiện nay đã trở thành đối tượng để các

nước nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc các tích lũy của các nền nông nghiệp,

chứ không chạy theo cái hiện đại mà bác bỏ những cái thuộc về truyền thống Trong

nông nghiệp bền vững như chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không

thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra, nghiên cứu để hiểu biết thiên nhiên

Trang 19

Không có ai hiểu biết về hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính người sinh ra và lớn lên ở đó Vì vậy, xây dựng nền nông nghiệp bền vững cần thiết phải có

sự tham gia của nông dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững là việc quản lý

và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể

chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên tục những nhu

cầu của con người, của những thế hệ hôm nay và mai sau

Fetry cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nôn nghiệp chính

là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ

thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đưa ra các

chỉ tiêu cụ thể trong nông nghiệp bền vững là [7]:

+ Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về

số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác

+ Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp

+ Duy trì và chỗ nào có thể, tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà

không phá vỡ bản sắc văn hóa xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không

gây ô nhiễm môi trường

+ Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân

Cũng trong năm 1992, thế giới kỷ niệm 20 năm thành lập Chương trình Bảo vệ môi trường của Liên Hợp quốc, lần đầu tiên hội nghị thượng đỉnh về môi trường và

phát triển đã họp tại Rio De Janerio, Brazin (gọi tắt là Rio-92), định hướng cho các

quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để bước

vào thế kỷ 21 Trong bối cảnh đó, quan điểm sử dụng đất bền vững đã được triển khai

trên thế giới

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên

cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố

ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây [7]:

1.1.4.1 Các yếu tố tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như: đất đai, khí hậu thời tiết, nước, sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp, bởi vì đây là cơ sở để sinh vật

sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác

định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng

Trang 20

- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: Trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần cơ

giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất

lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp

đến hiệu quả sử dụng đất

- Nguồn nước và chế độ nước: Là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan

trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh

trưởng và phát triển

- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: Điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là

yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng

phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi

- Vị trí địa lý: Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng,

nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết định đến khả

năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần

tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao

nhất về kinh tế, xã hội và môi trường

- Điều kiện khí hậu: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông

nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự sai

khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân

bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh, lượng

mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như

khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản

1.1.4.2 Nhân tố kinh tế - xã hội:

Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm rất nhiều nhân tố như: chế độ xã hội, dân số, cơ

sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối

với kết quả và hiệu quả sử dụng đất Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:

- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: Trong các yếu tố cơ sở hạ

tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào

việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất

Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự

ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi và điện là yếu tố không

thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất theo bề rộng và bề

sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu

quả sử dụng đất

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: Là cầu nối giữa người sản xuất và

tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ

thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo

Trang 21

- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất: Thể

hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao

động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản

xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nâng cao

hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ

thuật là hết sức quan trọng

- Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế

nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất,

chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính

sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư,

chính sách xoá đói giảm nghèo… các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến

vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới Trong các

nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế

từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến

hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối

với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế

phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề

mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những

biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả

1.1.4.3 Biện pháp kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành,

phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1994) thì biện

pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người

về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo

thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử

dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra

Theo Frank Ellis và Douglass C.North [25], ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra

yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất

tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến

giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến

30% của năng suất kinh tế

Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Trang 22

1.1.4.4 Khoa học - công nghệ

Khoa học - công nghệ cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình chuyển từ nền nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp

hàng hóa Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ có vai trò ngày càng quan

trọng đối với sự hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp Nhận định đó được thể

hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

Những tiến bộ trong khâu sản xuất và cung ứng giống cây trồng, vật nuôi mới

Các loại giống cây, con có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng qui

mô sản lượng hàng hoá mà không cần mở rộng diện tích trong nông nghiệp Các loại

giống mới có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi;

ổn định sản lượng sản phẩm hàng hoá

Đặc biệt, trong công nghệ ghép mắt của cây trồng đã trưởng thành vào gốc cây trồng non đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các vùng chuyên canh cây trồng dài

ngày mau chóng cho sản phẩm, rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản của vườn cây, ổn

định tính năng di truyền những phẩm chất tốt của cây cung cấp mắt ghép, đồng thời lại

có sức sinh trưởng cao của gốc cây non Với công nghệ mới đó, các loại cây ăn quả lâu

năm, cây công nghiệp dài ngày đang có những bước tăng trưởng cao trong những năm

gần đây

Bên cạnh những tiến bộ trên về công tác giống, còn phải kể đến xu hướng lai tạo, bình tuyển các giống cây trồng cho sản phẩm phù hợp với kinh tế thị trường: Chịu

được va đập trong quá trình vận chuyển, giữ được độ tươi ngon dài hơn trong quá trình

vận chuyển Có thể nói xu thế tuyển tạo các loại giống phù hợp với yêu cầu của công

nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể không lưu ý đến khả năng chịu được những tác động

của sự vận chuyển sản phẩm đi xa, trong thời gian ngày càng dài hơn Bên cạnh tiến bộ

công nghệ trong sản xuất cây con mới, hệ thống qui trình kỹ thuật tiên tiến cũng được

hoàn thiện và phổ biến nhanh đến người sản xuất nông nghiệp

Sự phát triển của qui trình công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm đang tạo

ra những điều kiện có tính cách mạng để vận chuyển sản phẩm đi tiêu thụ tại những thị

trường xa xôi Điều đó cũng đã có ý nghĩa to lớn để mở rộng thị trường tiêu thụ sản

phẩm của từng vùng chuyên canh, xét về không gian

Thay vì nông sản chỉ được tiêu thụ tại chỗ, hoặc ở vùng lân cận quanh vùng chuyên môn hoá, thì nay sản phẩm được đưa đi tiêu thụ tại những thị trường cách vùng

sản xuất hàng ngàn, hàng vạn km nhờ công nghệ bảo quản và chế biến nông sản tiên

tiến Đồng thời, cuộc cách mạng trong lĩnh vực này cũng tạo điều kiện để mở rộng thị

trường tiêu thụ sản phẩm của vùng chuyên môn hoá xét về thời gian Thay vì nông sản

chỉ được tiêu dùng trong một khoảng thời gian ngắn vào thời vụ thu hoạch, thì nay,

Trang 23

ngày càng có điều kiện để tiêu thụ nông sản loại nào đó ngày càng dài hơn, thậm chí là

quanh năm

Công nghệ chế biến cũng mở rộng thị trường nông sản vùng chuyên canh, làm

đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng cuối cùng Trong nghiên cứu công nghệ chế biến

nông sản, cần hướng tới những mục tiêu cụ thể như, đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng

cuối cùng, kéo dài thời gian tiêu dùng sản phẩm trong năm, tăng dung lượng sản phẩm

nông nghiệp được tiêu thụ , ngoài mục tiêu truyền thống là tăng giá trị nông sản

thông qua quá trình chế biến

1.1.4.5 Các nhân tố kinh tế tổ chức

Nhóm nhân tố này bao gồm [1]:

- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất

Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào ĐKTN (khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất với khả năng thích hợp của đất, nguồn nước và

thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi hợp lý, nhằm khai thác

đất theo chiều rộng một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm

canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng đất nông nghiệp

- Hình thức tổ chức sản xuất

Phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là

cần thiết Vì vậy cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông

nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ

giữa các hình thức đó

1.1.5 Nguyên tắc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam [35] thì: “Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua

lượng sản phẩm, lượng giá trị (lợi nhuận) thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội,

là thể hiện hiệu quả của lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động

kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất”

Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra

như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu

ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ

dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản

xuất tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung

đánh giá hiệu quả

Trang 24

Các nhà kinh tế học Samuel - Nordhuas cho rằng [19]: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả

sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không

cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên

đường giới hạn khả năng năng suất của nó”

Thông thường, hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ

không có ý nghĩa Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả

tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí

Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan

hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu

cầu thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản

phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm

làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết

để phát triển được nền nông nghiệp hướng xuất khẩu có tính ổn định và bền vững,

đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi

trường cao nhất

Việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố liên quan Vì vậy, xác định bản chất và khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác

và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời gian, tài

nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và phải bảo vệ môi trường

Điều đó có nghĩa là đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải được xem xét trên 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Sử dụng đất có hiệu quả là phải đảm bảo được cả

3 yếu tố đó Ba yếu tố này có một mối quan hệ tương tác, thống nhất và không thể tách

rời nhau, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm

Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định những chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và chỉ tiêu đã chọn, các

chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy

pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ

hiện tại của nền kinh tế [9]

Trang 25

Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ nông nghiệp phát triển ở nước

ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản

phẩm có khả năng suất khẩu

Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

1.1.6 Những chi tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả một hệ thống sử dụng đất nông

nghiệp ở Việt Nam

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các chỉ tiêu hiệu quả về kinh tế, hiệu quả về xã hội và hiệu quả về môi trường

1.1.6.1 Hiệu quả về kinh tế

Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất lựa chọn, đề tài

đã sử dụng các chi tiêu sau [20]:

- Giá trị sản xuất (GTSX): Là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức

luân canh hay hệ thống sử dụng đất)

- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ,

nhiên liệu, nguyên liệu…)

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:

- Giá trị gia tăng (GTGT): Là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian:

1.1.6.2 Hiệu quả về xã hội [10]

Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu về mức thu hút lao động, mức độ

sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập, đảm bảo đời

sống xã hội Đáp ứng được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên

nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường, ) Sản phẩm thu

được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân Đảm

bảo sự hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử

Trang 26

lý chất thải có hiệu quả,

Rất nhiều chỉ tiêu về mặt xã hội khó định lượng được, vì thế tùy theo tình hình cụ thể để lựa chọn chỉ tiêu đánh giá cho phù hợp; Có thể đề cập đến một số chỉ tiêu sau:

- Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;

- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;

- Mức độ chấp nhận của người dân để đầu tư sản xuất

- Mức độ hài lòng của người dân đến các loại hình sử dụng đất

- Số hộ áp dụng loại hình sử dụng đất

- Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Các chỉ tiêu hiệu quả về mặt xã hội cho từng kiểu sử dụng đất được đánh giá bằng định tính theo 3 mức độ: Cao, trung bình và thấp

1.1.6.3 Hiệu quả về môi trường

Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với

việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an

toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền

vững hơn độc canh, )

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích

trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh

giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo

vệ thực vật và chất lượng nguồn nước tưới trong sản xuất nông nghiệp

Trong thực tế tác động môi trường diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau, cây trồng phát triển trên đất có đặc tính, chất lượng phù hợp Nhưng

trong quá trình sản xuất dưới sự hoạt động quản lý của con người sử dụng hệ thống

cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường

Bởi vậy, có thể lựa chọn các tiêu chí cải thiện môi trường chính như sau:

- Khả năng che phủ đất

- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì cho tài nguyên

- Khả năng phù hợp với đất đai và nguồn nước

- Việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu bệnh và cỏ dại của người dân trong quá trình canh tác

Trang 27

Các chỉ tiêu hiệu quả về môi trường cho từng kiểu sử dụng đất cũng như được đánh giá bằng định tính theo mức độ: cao, trung bình và thấp

1.1.7 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp

1.1.7.1 Cơ sở của việc đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp

- Truyền thống, kinh nghiệm và tập quán sử dụng đất lâu đời của nhân dân Việt Nam

- Những số liệu, tài liệu thống kê định kỳ về sử dụng đất (diện tích, năng suất

và sản lượng), sự biến động và su hướng phát triển

- Chiến lược phát triển của ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông,

- Các dự án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của các vùng và địa phương

- Kết quả nghiên cứu tiềm năng đất đai về phân bổ sản lượng, chất lượng và khả năng sử dụng ở mức độ thích nghi đất đai

- Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất đạt hiệu quả kinh

tế cao

- Tốc độ gia tăng dân số và dự báo dân số qua các thời kỳ

1.1.7.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Khai thác sử dụng đất phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

“Quản lý đất đai thông qua lập quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất đâi vừa đảm bảo

tính thống nhất của quản lý Nhà nước về đất đai vừa tạo điều kiện để phát huy quyền

làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất” (Bộ nông nghiệp và phát triển nông

Trang 28

Khai thác sử dụng đất phải dựa trên kinh tế của nông hộ, nông trại phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán nhằm phát huy kiến thức bản địa và nội lực

của địa phương

Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ổn định về xã hội và an ninh quốc phòng

Để đưa ra hệ thống sử dụng để sản xuất nông nghiệp tối ưu, hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương cũng như tân dụng và phát

huy được tiềm năng của đất, nâng cao năng suất cây trồng, góp phần từng bước cải

thiện đời sống của nhân dân là rất cần thiết Vì vậy việc thực hiện đề tài này không

nằm ngoài mục tiêu trên

1.1.7.3 Các căn cứ để định hướng sử dụng đất nông nghiệp

Với phương châm tạo sự phát triển hài hoà cả trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội

và môi trường, các chuyên gia đã đề xuất những biện pháp đồng bộ trong Bản dự thảo

Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tới như sau:

Để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cần có 4 ưu tiên: Tăng trưởng kinh

tế nhanh; thay đổi mô hình tiêu dùng; "công nghiệp hoá sạch" và phát triển nông

nghiệp bền vững Đối với tăng trưởng kinh tế nhanh, theo khuyến cáo của các chuyên

gia, cần chuyển từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang tăng trưởng chủ yếu theo

chiều sâu Sự chuyển đổi này sẽ làm giảm suất đầu tư hạn chế sự tiêu hao tài nguyên

tính chính mỗi đơn vị giá trị sản phẩm Việc chuyển nền kinh tế dựa vào khai thác và

sử dụng tài nguyên thô sang chế biến sâu hơn cũng được khuyến cáo như một giải

pháp quan trọng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nhờ tiết

kiệm và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên

Liên quan đến giải pháp nhằm thay đổi mô hình tiêu dùng, các chuyên gia nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cơ cấu lại hệ thống sản xuất, nâng cao hiệu quả môi

trường của sản phẩm, khuyến khích sáng chế các sản phẩm mới tiết kiệm tài nguyên

và bảo vệ môi trường, đồng thời tuyên truyền, giáo dục nhằm xây dựng lối sống lành

mạnh sử dụng công cụ kinh tế điều chỉnh hành vi tiêu dùng, hỗ trợ đồng bào nghèo để

đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản

Đối với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, cần đặc biệt trú trọng những giải pháp liên quan đến hoàn thiện luật pháp và chính sách phát triển bền vững,

quy hoạch phát triển nông thôn, cơ cấu lại kinh tế nông thôn theo hướng đẩy mạnh các

ngành phi nông nghiệp, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, công nghệ sinh học, thúc đẩy

công nghệ chế biến nông sản

Theo phân tích của các chuyên gia, để có được sự phát triển xã hội bền vững, vẫn tiếp tục phải ưu tiên giải quyết 5 vấn đề là xoá đói giảm nghèo; hạn chế tăng dân

số; định hướng đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục; cải thiện y tế và

Trang 29

vệ sinh môi trường Đối với mỗi vấn đề này, phải có những giải pháp cụ thể được

kiến nghị

Để tăng cường độ bền vững của "chân kiềng" thứ ba là môi trường, nhiều chuyên gia đề cập đến vấn đề chống thoái hoá đất, sử dụng và quản lý tài nguyên

nước; bảo vệ tài nguyên biển, ven biển; bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; giảm

thiểu ô nhiễm không khí ở đô thị và khu công nghiệp; quản lý chất thải rắn; bảo tồn đa

dạng sinh học

Để có sự phát triển bền vững lâu dài cần phải:

+ Cần có sự tham gia của toàn dân và đặc biệt là việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong thực hiện phát triển bền vững thông qua hoạt động xây dựng hệ

thống chỉ tiêu đánh giá và giám sát, các công cụ tài chính

+ Đưa yếu tố vùng vào hệ thống quy hoạch và kế hoạch phát triển; hình thành

tổ chức phối hợp, giám sát sự phát triển bền vững ở quy mô vùng và rà soát lại chiến

lược, quy hoạch các vùng dưới góc độ phát triển bền vững

+ Mở rộng hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững thông qua việc tham gia và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về phát triển bền vững; tham gia tích cực các

hoạt động hợp tác nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu và khu vực cũng như nỗ lực thu

hút sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính quốc tế nhằm mục đích phát triển bền vững và

tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phát triển bền vững

Quan điểm chính trong sử dụng đất đó là sử dụng đất phải gắn với các mục đích kinh tế, xã hội và môi trường và đó là vấn đề hiện đang được nhiều nước và người sử

dụng đất quan tâm Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, mối quan hệ giữa người và

đất cũng chịu sự chi phối của các mục đích sử dụng đất nêu trên

* Sử dụng đất với mục tiêu kinh tế

Sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có lúc trùng

nhau và có lúc không trùng nhau

Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ có thể thay đổi

cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc họ có thể bán phần đất của họ cho người

khác hoặc thay đổi mục đích sử dụng

Trong khi đó cộng đồng (xã, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối quan tâm

kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương thực; có đất

để mở mang đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu cụm công nghiệp, bảo

vệ môi trường và các khu vui chơi giải trí

Sử dụng đất được xem là hợp lý không có nghĩa là thoả mãn được nguyện vọng

Trang 30

của từng chủ sử dụng đất mà là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về

mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể Trong vấn đề này

bao giờ cũng đặt ưu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài và mối quan tâm chung của toàn

thể cộng đồng

* Sử dụng đất với mục tiêu xã hội

Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là một phương

pháp hữu hiệu nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu (xã hội, kinh tế và môi trường)

Công bằng xã hội là rất cần thiết cho mọi người Trong sử dụng đất Chính phủ thường có những dự án ưu đãi cho nhóm người nghèo trong xã hội

Việc làm giảm tình trạng căng thẳng giữa các nhóm dân số cũng là một mục

tiêu xã hội của Chính phủ (mâu thuẫn giữa dân bản địa, dân di cư )

Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ về việc

sử dụng đất Đó là việc sử dụng đất của các thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi ích của

các thế hệ con cháu Do đó đã có khuyến cáo: “Đất không thể là đối tượng của từng cá

thể! Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta!

Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của

loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau”

* Sử dụng đất với mục tiêu môi trường

Đối với bất kỳ vùng đất nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính

phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường

Việc nhìn nhận “môi trường” không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn

về hoá học Đất nước, phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị Vì thế, những

vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện

kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Nông nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh

tế của nhiều quốc gia trên thế giới Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông

nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo

ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) [27], tổng sản lượng lương thực sản xuất hiện tại chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên sản

lượng sản xuất ra có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng Hiện nay trên thế giới

Trang 31

có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại đa

phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp

được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%,

châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%

Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết

đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một

lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón Hiện tượng suy thoái đất

có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường Báo cáo của Viện Tài nguyên

thế giới [13], cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt

động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân

không nhỏ làm suy thoái đất

Nông nghiệp nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích đất nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha Điều kiện khí hậu - đất đai đặc biệt với hoàn cảnh kinh

tế xã hội tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống

cây trồng, vật nuôi Vùng nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều và tập trung gây dòng chảy và

xói mòn nghiêm trọng Đất đai so với vùng ôn đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn và

bị khoáng hoá mạnh Khí hậu và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây

lâu năm, cà phê, chè, ca cao và các loại cây ăn quả nhiệt đới Đối với những vùng đất

trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống

cây ngắn ngày, cây lương thực Hiện nay, tại các vùng nhiệt đới, việc sử dụng đất nông

nghiệp theo đã hướng vào thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ Áp dụng mạnh mẽ

các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là những nguyên nhân gây tình trạng

thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất Điều đó đặt ra vấn đề là phát triển sản xuất

nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây dựng nông nghiệp bền vững [13]

Khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam

Á cho thấy [28]:

- Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với

những thách thức mới của thế kỷ XXI

+ Thái Lan: phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và

tăng cường đầu tư công nghệ chế biến

+ Malaixia: Tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao Tăng

cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của

từng địa phương

Trang 32

+ Inđônêxia: hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như:

hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ

+ Philipin: Phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị Tăng cường đầu tư cho

nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược

chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh

Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới

Theo Đường Hồng Dật (1994) [4], trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề

nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức;

- Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường

Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:

* Nông nghiệp công nghiệp hoá: Sử dụng nhiều thành tựu và kết quả của công

nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc, sản xuất theo quy

trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng

suất lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn

đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên

nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng

sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên [1]

* Nông nghiệp sinh thái: đưa ra nhằm khắc phục những nhược điểm của nông

nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ

những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp, với mục tiêu: Cải thiện chất lượng

dinh dưỡng thức ăn; Nâng cao độ phì nhiều của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng chất

mùn trong đất…; Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi trường với đất, nước, môi trường,

thức ăn

Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nghiệp bền vững, đó là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn

bảo vệ môi trường đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài

Trong thực tế đã có những khuynh hướng phát triển trong sản xuất nông nghiệp

Trang 33

được coi như những cuộc cách mạng làm thay đổi cục diện của nền sản xuất nhằm đáp

ứng cho nhu cầu của con người Cụ thể như:

- “Cách mạng xanh” đã được thực hiện ở các nước đang phát triển ở châu Á,

Mỹ la tinh và đã đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó vào những năm

của thập kỷ 60 Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng các

giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa mì, ngô ) xây dựng hệ thống

thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học “Cách mạng xanh” đã dựa vào cả một số

yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và cả thành tựu của công nghiệp

- “Cách mạng trắng” được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất

và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang ít nhiều tính

chất công nghiệp Cuộc cách mạng này đã tạo được những bước phát triển lớn trong

chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với “cách

mạng xanh”

- “Cách mạng nâu” diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai, khuyến

khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp

Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó khăn trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và

bền vững Giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực

hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là

sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được

vận dụng phù hợp, với điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng [10]

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây

trồng và đa dạng hoá sản xuất Như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến

lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp

phát triển; Thái Lan những năm 1982-1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển

nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh

lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ cũng chuyển sang

đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây

trồng ngoài lương thực,

1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

1.2.2.1 Thực trạng quỹ đất nông nghiệp

Việt Nam là nước có diện tích đứng thứ 4 ở vùng Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người xếp vào hàng thứ 9 trong

Trang 34

khu vực Theo số liệu thống kê tại thời điểm 01/01/2006 diện tích đất nông nghiệp cả

nước là 24.583,8 nghìn ha; diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 9.412,2 nghìn ha

Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 1.118,42m2/người

Những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang dần từng bước

xóa bỏ tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và phục vụ xuất khẩu

Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất

nông nghiệp Tuy nhiên nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên trên

người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135 trên thế giới,

xếp thứ 9/10 nước Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân

diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm Tốc độ tăng dân số bình quân trên năm là

2,0% Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1-1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là

100,8 triệu người vào năm 2015 [32] Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều

hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH

đất nước Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối

với Việt Nam trong những năm tới

Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp [8], việc nghiên cứu và ứng

dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày có

năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh

trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm

vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của

Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1993) [13], đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo

quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Trần Anh Phong (1996) [14]

Vùng ĐBSH có tổng diện tích đất nông nghiệp là 903.650 ha, chiếm 44%, diện tích tự nhiên trong vùng Trong đó, gần 90% đất nông nghiệp dùng để trồng trọt [23]

Đây là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước, là nơi thu hút nhiều công

trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây

trồng và sử dụng đất thích hợp Ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình

luân canh cây trồng 3-4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh

thái ven đô, tưới tiêu chủ động Đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây

trồng, trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế như: hoa, cây

ăn quả, cây thực phẩm cao cấp

Việc quy hoạch tổng thể vùng ĐBSH, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả và các nhà khoa học như:

Vũ Năng Dũng, Trần An Phong, Phùng Văn Phúc [22], [23], [14], [26] Các tác giả đã

chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

Trang 35

khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả

các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế sản xuất tổ chức ngành hàng trong nông nghiệp cũng như trong nông hộ của: Phạm Vân Đình,

Nguyễn Ích Tân, Đỗ Văn Viện [17], [28], [29]

Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ

đất, cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá sử dụng đất, quản lý đất đai bền vững

trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam

1.2.2.2 Tình trạng mất đất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp bị giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau Cụ thể như sau:

* Đô thị hóa và công nghiệp hóa: Quỹ đất trồng trọt tăng không đáng kể trong khi dân số tăng nhanh nên diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ngày càng

giảm Trung bình mỗi năm, người nông dân phải nhường khoảng 74.000 hecta đất

nông nghiệp để xây dựng các công trình nhà ở, đô thị và khu công nghiệp 63.000 hecta

cho phát triển giao thông

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình mỗi hecta đất nông nghiệp bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông

thôn Sau khi bị thu hồi đất, có tới 53% số hộ bị giảm thu nhập so với trước, 13% số

hộ có thu nhập tăng

Ở nước ta, trong thời gian qua tỷ lên mất đất canh tác hàng năm khoảng 0,4%, riêng đất trồng lúa có tỷ lện mất cao hơn khoảng 1% Tuy nhiên, với tốc độ công

nghiệp hóa ngày càng tăng thì tỷ lệ mất đất sẽ không dừng lại ở con số trên Một điều

đáng lo ngại là phần đất canh tác bị chuyển đổi là những vùng đất tốt, những diện tích

đất trồng trọt màu mỡ Như vậy, với đà này đến năm 2020 sản lượng lúa của Việt nam

chỉ còn đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước chứ không có khả năng xuất khẩu

Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chủ yếu để phục vụ cho mục đích xây dựng sân golf và các khu công nghiệp, khu đô thị Thực chất mục tiêu chính của các dự án

xây dựng sân golf và các biệt thư cao cấp kèm theo bên cạnh sân golf Có tới 40% đất

trong số các dự án triển khai làm sân golf lại được dùng để kinh doanh bất động sản

Trong tổng số hơn 23.000 hecta của 76 dự án sân golf đã và đang triển khai trong cả

nước, có tới 8.000 hecta đất chiếm 40% để kinh doanh bất động sản, biệt thự, nhà

hàng, khách sạn Ngoài việc lấy đất canh tác để xây dựng các sân golf thì kèm theo là

việc chặt phá cây rừng, san ủi hành triệu khối đất đá, thay đổi địa hình, phá vỡ cảnh

quan tự nhiên Để có những thảm cỏ dài, xanh, phẳng mịn, trung bình 1,5 tấn/hecta

hóa chất được đổ xuống để diệt nấm và sâu bệnh, cao gấp ba lần số hóa chất cho việc

Trang 36

canh tác nông nghiệp bình thường Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

sống của con người cả hiện tại và thế hệ mai sau

* Đất canh tác bị mất do xây dựng các công trình thủy điện: Từ năm 2010 đến nay, cả nước có khoảng 130.000 hecta đất nông nghiệp bị lấy để xây dựng các công

trình thủy điện Tuy các công trình thủy điện được xây dựng chủ yếu ở miền núi, nơi

đất canh tác có năng suất thấp, mật độ dân cư thưa thớt, những hồ tích nước của các

công trình này làm ngập các thung lũng, là nơi tập trung chủ yếu ruộng lúa nước vốn

rất quý hiếm ở miền núi

* Mất đất do bị thoái hóa đất:

- Xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, do mưa lớn, do canh tác không hợp lý

và do chăn thả quá mức

+ Thoái hóa đất do mất rừng: Chất lượng đất đai không thể duy trì nếu không

có rừng Nước ta hiện nay mặc dù đã có nhiều nỗ lực trồng và bảo vệ nhưng chỉ còn

khoảng 5 triệu hecta rừng

+ Thoái hóa đất do sử dụng thuốc BVTV: Ở nước ta có 300 loại thuốc BVTV đang được sử dụng Liều lượng phun thuốc khoảng 2-3 lít/hecta Số lần phun thuốc ở

những vùng trồng chè là khoảng 30 lần/năm, trồng rau khoảng 20-60 lần/vụ Dư lượng

thuốc BVTV trên đất trồng và không khí vượt mức cho phép, cụ thể là 30% số mẫu đất

có dư lượng thuốc BVTV vượt quá tiêu chuẩn 2 - 40 lần, 55% mẫu không khí có nồng

độ thuốc BVTV vượt quá tiêu chuẩn từ 2 - 10 lần Diện tích dần bị thu hẹp, để tăng

năng suất sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu về lúa gạo, lượng phân bón hóa học sử dụng

hàng năm nước ta cao gấp 2 lần Thái Lan

- Chua hóa, mặn hóa, phèn hóa, hoang mạc hóa, cát bay, mất cân bằng dinh dưỡng Tỷ lệ bón phân N: P2O5; K2O trung bình thế giới là 100: 33: 17, còn ở Việt

Nam là 100: 29: 7, thiếu lân và kali nghiêm trọng

1.2.2.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản của mỗi quốc gia Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công

nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn, nông nghiệp chỉ chiếm

một phần nhỏ, nhưng những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đã gây ra không ít

những xáo động trong đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và

phát triển của nền kinh tế, thậm trí gây nên những cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc

Để nông nghiệp có thể thực hiện vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc

dân đòi hỏi nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc

Đặc biệt ngày nay khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO Hai mươi năm nay, hàng nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi nhiều nước, nhiều mặt

hàng nằm trong tốp đứng đầu thế giới như gạo mỗi năm xuất khẩu 4,5-5 triệu tấn, cà

Trang 37

phê 6.000 tấn, hồ tiêu 10.000 ngàn tấn, hạt điều chế biến 50.000 tấn Vào WTO,

trong vòng 5-7 năm, thuế nhập khẩu bình quân giảm từ 17,4% xuống còn 13,4%; riêng

hàng nông sản trong 5 năm tới thuế nhập khẩu giảm từ 23,5% hiện xuống còn 20,9%

Chúng ta phải nhanh chóng đổi mới nền nông nghiệp để đáp ứng được nhu cầu của thị

trường, đảm bảo chất lượng Con đường tất yếu để phát triển nông nghiệp nước ta hiện

nay là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá

Theo TS Nguyễn Quốc Vọng [5], kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm 1995 của Việt Nam là 1,3 tỉ USD, năm 2005 đã đạt 5,7 tỉ USD So với Thái Lan, Malaixia,

Philipin và các nước có tiềm năng tương tự Việt Nam, họ đã đạt và vượt mức này từ

lâu Mailaixia đạt kim ngạch xuất khẩu 14 tỉ USD từ năm 1986, Thái Lan đạt 10 tỉ

USD năm 1987, Philipin năm 1992 Hiện nay kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan,

Malaixia, Philipin đều lớn hơn Việt Nam

Ở Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới 30-40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước [10] Một số mặt hàng tăng trưởng cả về số lượng và kim

ngạch xuất khẩu như cà phê 7% về lượng và 56% về kim ngạch xuất khẩu, cao su tăng

lần lượt là 45% và 121% Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng rau

trên đất nông nghiệp cả năm 2006 của Việt Nam là 644,0 nghìn ha, tăng 29,5% so với

năm 2000 Năng suất cao nhất từ trước tới nay (149,9 tạ/ha) Tổng sản lượng rau cả

nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt 144 nghìn tỷ đồng, chiếm 9% GDP của ngành nông

nghiệp, trong khi diện tích chỉ chiếm 6%

Sản xuất hàng hoá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế xã hội, tự nhiên, môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất là không thể tránh khỏi Mặt khác chúng

ta chưa hình thành một nền nông nghiệp hàng hoá theo đúng nghĩa cũng như chưa có

công nghệ để giải quyết vấn đề này Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá

là sự tiến hoá hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nông nghiệp truyền thống, manh

mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại Sản xuất hàng hoá là quy luật khách

quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã

hội đó Theo V.I Lênin thì nguồn gốc của sản xuất hàng hoá là sự phân công lao động

xã hội Vì thế phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì sản xuất hàng hoá càng phát

triển [10]

Nền sản xuất hàng hoá có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Đó là nền sản

xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối

đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng Vì thế nó là nền nông nghiệp có hiệu

quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với nhiều chủng loại phong phú và có chất

lượng cao

Đưa nông nghiệp sang phát triển hàng hoá là quá trình lâu dài và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên

Trang 38

canh và thâm canh ngày càng cao và phải gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, ngư nghiệp,

công nghiệp chế biến và được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội

hoá sản xuất, ứng dụng các công nghệ tiến bộ mới vào sản xuất

1.2.3 Phương hướng phát triển nông nghiệp trong tương lai

Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự

cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu

Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ

yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:

+ Tập trung sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành, nhóm sản phẩm, dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và khai thác

tốt lợi thế so sánh của các vùng [1]

+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ

sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá

+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trọng lao động nông

nghiệp xuống còn 50%, tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông

nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch

vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ

trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn

+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá

+ Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao

trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản

hàng hoá

+ Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

[27] và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu

1.2.4 Xây dựng nền nông nghiệp bền vững

1.2.4.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý báu không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai

Khi dân số trên trái đất còn ít thì diện tích đất luôn đáp ứng một cách dễ dàng nhu cầu

Trang 39

của con người và con người cũng ít tác động lớn đến tài nguyên quý báu này

Theo tài liệu của FAO/UNESCO: Trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó suy thoái vì xói mòn do

nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa

trôi 12,2% diện tích Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm

30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị

chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng

860 ha đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người

Theo kết quả điều tra của FAO, 1992 [30], do chế độ canh tác không tốt đã gây xói

mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất

dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi:

5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha

Những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây

ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mong manh

rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải sản

xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các

yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến nhu cầu của các thế hệ

tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó

cũng là hướng đi trong tương lai [26]

Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên

trên người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135 trên thế

giới, xếp thứ 9/10 Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân

diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm

Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần

thiết đối với Việt Nam trong những năm tới

Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý Mục tiêu

đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc gia, nhằm phục vụ

phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Việc sử dụng đất dựa trên nguyên

tắc là ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp

1.2.4.2 Định hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững

Những năm gần đây Chính phủ đã ban hành một số chính sách về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Theo đó 10 năm tới những ngành sản

Trang 40

xuất hàng hoá quan trọng của nông nghiệp nước ta cần phát triển theo định hướng sau:

- Về sản xuất lương thực: Lúa gạo là ngành sản xuất có thế mạnh, sản lượng ổn định khoảng 33 triệu tấn/năm Cây màu lương thực chủ yếu là ngô, cần phát triển đạt

mức 5 - 6 triệu tấn/năm đủ nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi

- Về cây công nghiệp ngắn ngày: Phát triển mạnh cây có dầu (lạc, đậu tương, vừng, hướng dương…) để cung cấp dầu ăn, các loại cây có sợi (dâu tằm, bông…) gắn

với ngành ươm tơ dệt lụa

- Những cây công nghiệp lâu năm truyền thống có giá trị kinh tế cao, tập trung phát triển cà phê, chè; sản lượng cà phê trong tương lai giữ mức khoảng 600.000

tấn/năm Phát triển mạnh cây điều ở miền trung, diện tích cây cao su Bên cạnh đó phát

triển mạnh công nghiệp chế biến các sản phẩm mủ từ cao su, gỗ cao su

- Về rau, hoa quả và cây cảnh, ngoài các loại rau truyền thống, phát triển các loại rau cao cấp mới như: Các loại đậu rau, ngô rau, măng, nấm ăn, nấm dược liệu… là

những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, có thị trường tiêu thụ, tiếp tục phát triển các

loại cây ăn quả có khả năng suất khẩu: vải, nhãn, dứa, thanh long,… gắn với công

nghiệp chế biến

- Về lâm nghiệp: ngoài việc bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, trồng rừng phòng hộ, cần phát triển rừng sản xuất Cụ thể là phát triển các loại tre trúc, keo thông, các loại

bạch đàn… làm nguyên liệu cho phát triển ngành giấy Tiếp tục phát triển các ngành

sản xuất gỗ ván nhân tạo gồm ván ghép thành, ván dăm, ván sợi, công nghiệp chế biến

và xuất khẩu gỗ, thủ công mỹ nghệ…Phát triển các loại quế hồi… các loại cây quý

hiếm như giáng hương, sao, lim, lát, pơmu, tếch… các loại cây đặc sản, cây lấy gỗ để

làm nguyên liệu để chế biến sản phẩm thủ công mỹ nghệ

- Về chăn nuôi: Phát triển đàn lợn phù hợp với nhu cầu cảu thị trường tiêu dùng trong nước, một số vùng chăn nuôi lợn chất lượng cao để xuất khẩu Phát triển đàn bò

sữa, nâng cao chất lượng và năng suất sữa Phát triển đàn gia cầm chủ yếu là chăn nuôi

gà vịt ngan

- Về thuỷ sản: Cùng với việc phát triển đánh bắt xa bờ, tập trung đầu tư phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Tôm là ngành chủ lực trong nuôi trồng thuỷ

sản gồm tôm nước lợ và tôm nước ngọt Đồng thời phát triển mạnh nuôi các loại cá

nước ngọt, nước lợ, nước mặn và các loại đặc sản khác [24]

Ở Việt Nam, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp: năm 1990-1992 tăng 4,21%, GTSX nông nghiệp

tăng 5,83%, trong đó trồng trọt tăng 5,88%, chăn nuôi tăng 5,98% Năm 1999, cơ cấu

GTSX ngành nông nghiệp tính theo giá hiện hành cho thấy: ngành trồng trọt chiếm

79,39%, chăn nuôi chiếm 18,22%, dịch vụ chiếm 2,39% Cơ cấu GTSX ngành trồng

Ngày đăng: 05/07/2021, 06:46

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w