1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN XÂY DỰNG QUANG HUY

51 281 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Tài Chính Tại Doanh Nghiệp Tư Nhân Xây Dựng Quang Huy
Người hướng dẫn Đỗ Thị Hải Hà
Trường học Trường Đại học Xây Dựng
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 86,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo tốt nghiệp quản lý tài chính tại doanh nghiệp tư nhân xây dựng Quang Huy

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường kinh doanh ngày nay đang ngày một mở rộng hơn, một mặtmang lại những lợi ích dài hạn để doanh nghiệp phát triển thông qua mở rộng thịtrường và đổi mới cơ chế quản lý và kinh doanh theo yêu cầu cạnh tranh,mặtkhác sẽ là những thách thức không nhỏ đối với khả năng của doanh nghiệp, buộccác doanh nghiệp phải cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, chuyển dịch đầu tư vàđiều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình đối phó với các tháchthức cạnh tranh đặt ra cho các doanh nghiệp cần thiết có sự hỗ trợ từ nhiều phíanhằm tạo điều kiện để các nguồn vốn tài chính được nhanh chóng chuyển sang

sử dụng ở các lĩnh vực kinh doanh khác hiệu quả hơn Và trong quá trình này,vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp là một vấn đề lớn mà các doanh nghiệprất cần phải quan tâm và chú trọng

Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tìnhhình tài chính của doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của doanhnghiệp và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tàisản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp Quản lý tài chính doanh nghiệp là quá trình bao quát tổng thể và

có liên quan mật thiết với mọi hoạt động của doanh nghiệp, vì thế nếu hoạt độngquản lý tài chính đạt hiệu quả không chi giúp nâng cao năng lực tài chính củadoanh nghiệp mà còn thúc đầy mọi hoạt động khác cùng phát triển

Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp

tư nhân xây dựng Quang Huy cũng không nằm ngoài sự vận động đó

Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công tykhông đạt hiệu quả như mong muốn và một trong những nguyên nhân cơ bản làcông tác quản lý tài chính của Công ty chưa được quan tâm và chưa thực sự đạtđược hiệu quả Do đó, trong tương lai Công ty muốn khắc phục được những yếu

Trang 2

kém của mình cũng như góp phần hỗ trợ cho hoạt động sản xuất phát triển thìhoạt động quản lý tài chính của Công ty cần được đổi mới và cải thiện theohướng ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn Nhận thấy hoạt động quản lý tàichính có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động của Công ty cũng nhưnhững bất cập đang tồn tại của nó, em đã chọn đề tài “

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN XÂY DỰNG QUANG HUY” Thông qua các dữ liệu và tài liệu được cung cấp tại Công ty

cũng như các tài liệu tham khảo từ bên ngoài, em đã tiến hành nghiên cứu quátrình quản lý tài chính và rút ra những kết luận với mục đích có thể đưa ra một

số phương án có thể góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản

lý tài chính của Công ty

Nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp bao gồm 3 phần chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý tài chính tại doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính của doanh nghiệp tư nhân xây dựngQuang Huy

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại doanh nghiệp tư nhân xâydựng Quang Huy ở thị trấn Yên Ninh, Tỉnh Ninh Bình

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Giáo viênhướng dẫn Đỗ Thị Hải Hà cùngCác thầy cô giáo trong khoa quản

l trường cùng sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ phòng kế toán doanh nghiệp tư nhân xây dựng Quang Huy trong quá trình thực tập

Em xin trân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI

DOANH NGHIỆP 1.1 Quản lý

1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một khái niệm có hàm xác định song lâu nay thường có các

cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữkhác nhau Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là gì? ) còn có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên với sự

phát triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách

hiểu thống nhất

Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cánhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiệnmục tiêu chung của tổ chức

Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản

lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành độngnhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất Quản lý bao gồm các yếu tố:

+ Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và

một đối tượng bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện

tác động quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liêntục nhiều lần

+ Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là căn

cứ chủ yếu để tạo ra các tác động Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều người Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng…)

Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của

quản lý là những con người trong tổ chức; thông qua đó tác động lên các yếu tố

Trang 4

vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động Vì vật khi xét về thực chất, quản lý trước hết và chủ yếu là quản lý conngười (trong bất cứ hành động nào)

1.1.2 Đặc điểm của quản lý

Thứ nhất: Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến

Tính tất yếu và phổ biến của hoạt động quản lý biểu hiện ở chỗ:Bản chất của con nguời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Điều đó

có nghĩa là con người không thể tồn tại và phát triển nếu không quan hệ

và hoạt động với người khác Khi con người cùng tham gia hoạt động vớinhau thì tất yếu phải có một “ý chí điều khiển” hay là phải có tác nhânquản lý nếu muốn đạt tới trật tự và hiệu quả Mặt khác, con người thông quahoạt động để thoả mãn nhu cầu mà thoả mãn nhu cầu này lại phát sinh nhu cầukhác vì vậy con người phải tham dự vào nhiều hìnhthức hoạt động với nhiềuloại hình tổ chức khác nhau Chính vì vậy, hoạt độngquản lý tồn tại nhưmột tất yếu ở mọi loại hình tổ chức khác nhau trong đó tổ chức kinh tế chỉ làmột trong những loại hình tổ chức cơ bản của con người

Thứ hai: Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con

người.

Thực chất của quan hệ giữa con người với con người trong quản lý

là quan hệ giữa chủ thể quản lý (người quản lý) và đối tượng quản lý (người bịquản lý).Một trong những đặc trưng nổi bật của hoạt động quản lý so vớicác hoạt động khác là ở chỗ: các hoạt động cụ thể của con người là biểu hiệncủa mối quan hệ giữa chủ thể (con người) với đối tượng của nó (là lĩnh vực phicon người) Còn hoạt động quản lý dù ở lĩnh vực hoặc cấp độ nào cũng là

sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người Vì vậy, tácđộng quản lý (mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý) có sự khác biệt sovới các tác động của các hoạt động khác

Thứ ba: Quản lý là tác động có ý thức.

Trang 5

Chủ thể quản lý tác động tới đối tượng quản lý là những con người hiệnthực để điều khiển hành vi, phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họnhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức Chính vì vậy, tác động quản lý (mụctiêu, nội dung và phương thức) của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý phải làtác động có ý thức, nghĩa là tác động bằng tình cảm (tâm lý), dựa trên cơ sở trithức khoa học (khách quan, đúng đắn) và bằng ý chí (thể hiện bản lĩnh) Có nhưvậy chủ thể quản lý mới gây ảnh hưởng tích cực tới đối tượng quản lý.

Thứ tư: Quản lý là tác động bằng quyền lực.

Hoạt động quản lý được tiến hành trên cơ sở các công cụ, phươngtiện vàcách thức tác động nhất định Tuy nhiên, khác với các hoạt động khác,hoạt động quản lý chỉ có thể tồn tại nhờ ở yếu tố quyền lực (có thể coi quyền lực

là một công cụ, phương tiện đặc biệt) Với tư cách là sức mạnh đượcthừa nhận, quyền lực lànhân tố giúp cho chủ thể quản lý tác động tới đốitượng quản lý để điều khiển hànhvi của họ Quyền lực được biểu hiện thông quacác quyết định quản lý, các nguyêntắc quản lý, các chế độ, chính sách.v.v Nhờ

có quyền lực mà chủ thể quản lý mớiđảm trách được vai trò của mình làduy trì kỷ cương, kỷ luật và xác lập sự pháttriển ổn định, bền vững của

tổ chức Điều đáng lưu ý là cách thức sử dụng quyềnlực của chủ thểquản lý có ý nghĩa quyết định tính chất, đặc điểm của hoạt động quản lý,của văn hoá quản lý, đặc biệt là của phong cách quản lý

Thứ năm: Quản lý là tác động theo quy trình.

Các hoạt động cụ thể thường được tiến hành trên cơ sởnhững kiến thức chuyên môn, những kỹ năng tác nghiệp của nó cònhoạt động quản lý được tiến hành theo một quy trình bao gồm: Lập kếhoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Đólà quy trình chung cho mọi nhàquản lý và mọi lĩnh vực quản lý Nó được gọi là các chức năng cơ bản củaquản lý và mang tính “kỹ thuật học” của hoạt động quản lý Với quy trình nhưvậy, hoạt động quản lý được coi là một dạng lao động mang tính gián tiếp và

Trang 6

tổng hợp Nghĩa là nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà nhờ thực hiệncác vai trò định hướng, thiết kế, duy trì, thúc đẩy và điều chỉnh để từ đó giántiếp tạo ra nhiều sản phẩm hơn và mang lại hiệu lực và hiệu quả cho tổ chức.

Thứ sáu: Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực.

Thông qua tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình mà hoạtđộngquản lý mới có thể phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài

tổ chức Cácnguồn lực được phối hợp bao gồm: nhân lực, vật lực, tàilực và tin lực Nhờ phốihợp các nguồn lực đó mà quản lý trở thành tác nhânđặc biệt quan trọng trong việctạo nên hợp lực chung trên cơ sở những lực riêng,tạo nên sức mạnh tổng hợp trêncơ sở những sức mạnh của các bộ phận nhằmhoàn thành mục tiêu chung một cáchhiệu quả mà từng cá nhân riêng lẻ hay các

bộ phận đơn phương không thể đạt tới

Thứ bảy: Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.

Hiệu quả của các hoạt động cụ thể được đo bằng kết quả cuốicùng mà nómang lại nhằm thoả mãn nhu cầu của chủ thể đến mức độ nào, cònhoạt động quản lý ngoài việc thoả mãn nhu cầu riêng của chủ thể thì điềuđặc biệt quan trọng là phải đáp ứng lợi ích của đối tượng Nó là hoạtđộng vừa phải đạt được hiệu lực,vừa phải đạt được hiệu quả.Trong thực tiễnquản lý, không phải bao giờ mục tiêu chung cũng được thựchiện một cách triệt

để Điều đó tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của những giai đoạn lịch sửnhất định Những xung đột về lợi ích giữa chủ thể quản lý với đốitượng quản lýthường xuyên tồn tại vì vậy, hoạt động quản lý xét đến cùng là phải đưa ra cáctác động để nhằm khắc phục những xung đột ấy Mức độ giảiquyết xung đột và thiết lập sự thống nhất về lợi ích là tiêu chíđặc biệt quan trọng để đánh giá mức độ ưu việt của các mô hình quản lýtrong thực tế

Thứ tám: Quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang

tính nghệ thuật.

Trang 7

Tính khoa học của hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ các nguyên tắc quản

lý, phương pháp quản lý, các chức năng của quy trình quản lý và các quyết địnhquảnlý phải được xây dựng trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm mànhà quản lý cóđược thông qua quá trình nhận thức và trải nghiệm trongthực tiễn Điều đó cónghĩa là, nội dung của các tác động quản lý phải phù hợpvới điều kiện khách quan của môi trường và năng lực hiện có của tổ chức cũngnhư xu hướng phát triển tất yếu của nó.Tính nghệ thuật của hoạt động quản lýthể hiện ở quá trình thực thi các quyếtđịnh quản lý trong thực tiễn vàđược biểu hiện rõ nét trong việc vận dụng các phương pháp quản lý,việc lựa chọn các phong cách và nghệ thuật lãnh đạo.Tính khoa học và nghệthuật trong quản lý không loại trừ nhau mà chúng cómối quan hệ tương tác,tương sinh và được biểu hiện ra ở tất cả các nội dung của tác độngquản lý Điều đó tạo nên đặc trưng nổi bật của hoạt động quản lý sovớinhững hoạt động khác

Thứ chín: Mối quan hệ giữa quản lý và tự quản

Quản lý và tự quản là hai mặt đối lập của một chỉnh thể Điều đó thể hiện

ở chỗ, nếu hoạt động quản lý được thực hiện một cách khoa học nghĩa

là không áp đặt quyền lực một chiều từ phía chủ thể mà là sự tác động qua lạigiữa chủ thể và đối tượng thì quản lý và tự quản lý là có sự thống nhất với nhau.Như vậy, quản lý theo nghĩa đích thực đã bao hàm trong nó cả yếu tố tựquản.Tuy nhiên, trong quá trình hướng tới tự do của con người, khôngphải khi nào và ở đâu cũng có thể đạt tới sự thống nhất giữa quản lý và

tự quản mà nó là một mâu thuẫn cần phải được giải quyết trong từngnấc thang của sự phát triển.Quá trình đó có thể được gọi là quản lý tiệm cậntới tự quản

1.2 Quản lý tài chính tại doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm và mục tiêu về quản lý tài chính

Trang 8

1.2.2.1 Khái niệm về quản lý tài chính

Quản lý tài chính là một phạm trù rất rộng, nó bao gồm hàng loạt nhữngchức năng rộng lớn trong các đơn vị kinh doanh theo các loại hình kinh tế rấtkhác nhau Nhưng nhìn chung quản lý tải chính giúp doanh nghiệp trả lời ba câuhỏi sau:

+ Doanh nghiệp nên đầu tư vào lĩnh vực nào, dài hạn hay ngắn hạn, lợinhuận tạo ra có tương xứng không?

+ Doanh nghiệp cần phải huy động tiền cho đầu tư như thế nào, ở đâu vàvào thời điểm nào?

+ Lợi nhuận của doanh nghiệp được sử dụng như thế nào?

1.2.2.2 Mục tiêu quản lý tài chính

Các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường luôn luôn biến động,thậm chí là hốn loạn Và từ đó luôn xuất hiện những cơ hội và có thể đem lại lợinhuận cũng như những thách thưc, rủi ro cho doanh nghiệp Trong những điềukiện đó, các nhà quản trị phải có khả năng đưa ra những quyết định phù hợp vớimục đích và mục tiên của doanh nghiệp, đồng thời phải có khả năng thực hiệnchúng Nhìn chung, công tác quản lý tài chính không nằm ngoài ba mục tiêu chủyếu sau:

+ Tối đa hóa lợi nhuận

Hầu hết các doanh nghiệp đếu có mục tiêu là làm ra lợi nhuận càng nhiềuthì càng tốt Nhưng mục tiêu này chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như thờigian, rủi ro…Và do đó công tác quản trị tài chính lại càng quan trọng hơn

+ Tối thiểu hóa rủi ro

Đây là một yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của doanhnghiệp Trong bất cứ môi trường thực tế nào thì cũng có sự hiện diện của yếu tốrủi ro, hay tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh với khả năng tạo ralợi nhuận trong tương lai

Trang 9

+ Tối đa hóa giá thị trường

Trong khi tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, bên cạnh việc phải xemxét hoạt động kinh doanh dưới giác độ của yếu tố thời gian, rủi ro… chúng tacòn đề cập đến giá trị thị trường của doanh nghiệp Tối đa hóa giá trị thị trườngcủa doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị những tài sản của các chủ sở hữu hiện tạicủa doanh nghiệp Quá trình này đáp ứng những yêu cầu hợp lý của doanhnghiệp, vì lẽ mục tiêu này không chỉ được đánh giá dưới góc độ thời gian, rủi ro

mà còn gồm nhiếu yếu tố khác

1.2.2 Vai trò của quản lý tài chính

Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động tàichính trong doanh nghiệp Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cầnđược nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông

và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp vàChính phủ Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanhnghiệp Do vậy, nhà quản lý tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạtđộng nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá củangười ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhà nước…

Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạtđộng khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục nhữngkhiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cânnhắc, hoạch định kĩ lưỡng có thể gây nên những tổn thất lớn cho doanh nghiệp

và cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trườngnhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nềnkinh tế phát triển Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quantrọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia

Quản lý tài chính luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lýdoanh nghiệp Quản lý tài chính quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh

Trang 10

nghiệp trong quá trình kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quảntrị tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:

- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh

các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyêncủa doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của tài chính doanhnghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn cácphương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và bênngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Ngàynay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới chophép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của quản lýtài chính doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọncác hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạtđộng nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp

- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Quản lý tài chính doanh

nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên

cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phầnchọn ra dự án đầu tư tối ưu Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpphụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Việc huy động kịp thời cácnguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các

cơ hội kinh doanh Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp,cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phầnquan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với doanh nghiệp từ đónâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng caohiệu quả sử dụng tiền vốn

- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu

Trang 11

tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soátđược các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tạivướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh cáchoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.

1.2.3 Các nguyên tắc trong quản lý tài chính

Hoạt động tài chính của doanh nghiệp dù nhỏ hay lớn căn bản là giống nh

au nên nguyên tắc quản trị tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn với những điềukiện cụ thể

* Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận

Quản lý tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận

Nhà đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro

mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự án đem lại lợi nhuận kỳ vọngcao

* Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền

Một đồng tiền ở thời điểm hiện tại luôn có giá trị lớn hơn một đồng tiền ở

thời điểm tương lai Vì vậy, cần quan tâm đến giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi Ých và chi phí của dự án về một thời điểm, thường là thời điểm

Trang 12

được tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí Không những thế, khi đưa ra các quyết định kinh doanh, doanh nghiệp cần tính đến

dòng tiền tiềm năng, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế

* Nguyên tắc sinh lời

Nguyên tắc quan trọng đối với nhà quản lý tài chính không chỉ đánh giácác dòng tiền mà dự án đem lại mà còn tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếm các

dự án sinh lợi Trong thị trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó có thể kiếm được nhiều lợi nhuận trong một thời gian dài, khó có thể tìm kiếm được nhiều dự án tốt.Cần phải biết các dự án sinh lợi tồn tại thế nào và ở đâu trong môi trường

cạnh tranh Tiếp đến, khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết làm giảm tính cạnh tranh của thị trường thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt với sản phẩm

cạnh tranh và bằng cách đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh

* Nguyên tắc thị trường có hiệu quả

Trong kinh doanh, những quyết định nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của các

chủ sở hữu làm thị giá cổ phiếu tăng Như vậy, khi đưa ra các quyết định tài

chính hoặc định giá chứng khoán, cần hiểu rõ giá trị thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị trường mà giá trị của các tài sản tại bất kỳ một thời

điểm nào đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách công khai Trong thị

trường có hiệu quả, giá cả được xác định chính xác Thị giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin sẵn có về giá trị của một doanh nghiệp Điều đó có nghĩa

là mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của các cổ đông có thể đạt được trong

những điều kiện nhất định bằng cách nghiên cứu tác động của các quyết định tớithị giá cổ phiếu

* Tác động của thuế

Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định tài chính nào, nhà quản trị tài chính

luôn tính tới tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp Khi xem xét một quyết định đầu tư, doanh nghiệp phải tính tới lợi Ých thu được trên cơ

sở dòng tiền sau thuế do dự án tạo ra Hơn nữa, tác động của thuế cần được

Trang 13

phân tích kỹ lưỡng khi thiết lập cơ cấu vốn doanh nghiệp Bởi lẽ, các khoản nợ

có một lợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu Đối với doanh nghiệp, chi phí trả lãi là chi phí giảm thuế Vì thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của

chính phủ nên thông qua thuế, Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng và đầu tư, các doanh nghiệp cần cân nhắc tính toán để điều chỉnh các quyết định tài chính cho phù hợp, bảm bảo lợi ích cổ đông, lợi ích nhà đầu tư

Ngoài ra, trong quản lý tài chính, nguyên tắc hành vi đạo đức và trách

nhiệm đối với xã hội có vị trí quan trọng Hành vi đạo đức là việc làm đúng đắn Mặc dù khó có thể định nghĩa được “việc làm đúng đắn”, nhưng mỗi người có một thước đo giá trị để làm nền tảng cho hành vi của mình, điều gì đúng để làm Trong một chừng mực nào đó, có thể coi luật lệ, qui tắc phản ánh tiêu chuẩn xử

sự trong xã hội mà nhà quản lý tài chính phải tuân theo Những hành vi

vô đạo đức sẽ làm mất niềm tin, mà thiếu niềm tin thì doanh nghiệp không thể thực hiện được hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, nhà quản trị tài

chính doanh nghiệp cũng cần có trách nhiệm đối với xã hội ngoài việc tối đa hoá giá trị tài sản cho các cổ đông, cho người sở hữu vốn

Ngoài những nguyên tắc nêu trên, trong quản lý tài chính doanh nghiệp còn cần tôn trọng các nguyên tắc khác như: Nguyên tắc gắn kết, hài hoà các lợi Ých; nguyên tắc tôn trọng pháp luật; nguyên tắc hạch toán kinh doanh; nguyên t

ắc giữ chữ tín; nguyên tắc an toàn phòng ngừa rủi ro

Đó là những nguyên tắc rất cơ bản cần được quán triệt trong công tác quản

lý tài chính doanh nghiệp

1.2.4 Chủ thể thực hiện quản lý tài chính doanh nghiệp

Ở Việt Nam, giám đốc hoặc một phó giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý tài chính Bên dưới là một hệ thống phòng ban tài chính hỗ trợ

1.2.5 Nội dung quản lý tài chính

a Hoạch định tài chính

Hoạch định tài chính là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến toàn

Trang 14

bộ các khâu khác trong quá trình quản lý tài chính Khâu này sẽ là cơ sở choviệc lựa chọn các phương án hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong tươnglai và cũng đồng thời là căn cứ để tiến hành kiểm tra, kiểm soát các bộ phậntrong tổ chức

Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5 bướcnhư sau:

Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường

Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứucác nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tàichính của doanh nghiệp Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài

để có thể xác định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đếnhoạt động tài chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức

để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp đểcó thể có nhữnggiải pháp hữu hiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểmmạnh

Bước 2: Thiết lập các mục tiêu

Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận,mục tiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả Các mục tiêu tài chính cần xác địnhmột cách rõ ràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi Do đó cácmục tiêu này phải được đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp haynói cách khác là dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môitrường Đồng thời, cùng với việc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản lý cần phảixác định rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong doanhnghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu này

Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu

Trang 15

Căn cứ vào các mục tiêu đã đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động củadoanh nghiệp, các nhà quản lý xây dựng các phương án để thực hiện các mụctiêu này Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉnhững phương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích

Bước 4: Đánh giá các phương án

Các nhà quản lý tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính củatừng phương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của rừngphương án cũng như khả năng hiện thực hoá như thế nào, tiềm năng phát triểnđến đâu…

Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu

Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn.Phương án này sẽ được phổ biến tới những cá nhân, bộ phận có thẩm quyền vàtiến hành phân bổ nguồn nhân lực và tài lực cho việc thực hiện kế hoạch

b Hoạt động quản lý tài chính

Hoạt động quản lý tài chính bao gồm 3 nội dung quan trọng là: Quản lývốn cố định, Quản lý vốn lưu động và Quản lý vốn đầu tư tài chính

- Quản lý vốn cố định

Vốn cố định là tổng lượng tiền khi tiến hành định giá tài sản cố định Tàisản cố định là những tư liệu lao động có giá trị sử dụng trong thời gian dài, thamgia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vật chất không thay đổi từkhi đưa vào sản xuất cho đến khi thanh lý Để quản lý vốn cố định một cách cóhiệu quả, tổ chức cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

+ Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo chu

kỳ và phải đảm bảo chính xác

Trang 16

+ Dựa vào đặc điểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tài sảncủa Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thuhồi vốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý

+ Thường xuyên đổi mới, nâng cấp để không ngừng nâng cao hiệu suất sản xuấtcủa tài sản cố định

+ Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán, đánhgiá hiệu quả sử dụng vốn cố định Từ đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biệnpháp khắc phục những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tàisản cố định

+ Khai thác hợp lý các nguồn tài trợ vốn lưu đông

+ Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng, tìm hiểu và phát hiện xem vốn lưu động bị ứ đọng ở mặt nào, khâu nào đểkịp tìm kiếm những biện pháp xử lý hữu hiệu

Trong công tác quản lý vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc sau:

• Bảo đảm thoả mãn nhu cầu vốn cho sản xuất đồng thời bảo đảm sử dụng vốn

có hiệu quả Trong công tác quản lý vốn lưu động thường xuất hiện những mâuthuẫn giữa khả năng vốn lưu động thì có hạn mà phải đảm bảo cho nhu cầu sảnxuất kinh doanh rất lớn Giải quyết mâu thuẫn này, doanh nghiệp phải cải tiếnquản lý, tăng cường hạch toán kinh doanh, đề ra những biện pháp thích hợp đểhoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 17

• Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư, hàng hoá Vốnlưu động là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hoá Luân chuyển vốn lưu động

và vận động của vật tư kết hợp chặt chẽ với nhau Cho nên quản lý tốt vốn lưuđộng phải đảm bảo sử dụng vốn trong sự kết hợp với sự vận động của vật tư,nghĩa là tiền chi ra phải có một lượng vật tư nhập vào theo một tỷ lệ cân đối,hoặc số lượng sản phẩm được tiêu thụ phải đi kèm số tiền thu được về nhằm bùđắp lại phần vốn đã chi ra

• Tự cấp phát vốn và bảo toàn vốn: Doanh nghiệp tự mình tính toán nhu cầuvốn để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện bằng cácnguồn vốn được huy động Nguyên tắc này đề cao tinh thần trách nhiệm củadoanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất trong khuôn khổ các nhiệm vụ đã đề racủa mục tiêu kế hoạch Doanh nghiệp phải tổ chức những nguồn vốn mình cầnđến trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó những kết quả hoạtđộng của bản thân doanh nghiệp là tiền đề để tiến hành tái sản xuất mở rộngtheo kế hoạch Chính vì thế khả năng phát triển trong tương lai của mỗi doanhnghiệp phụ thuộc vào chỗ hoạt động trong năm nay kết quả như thế nào Tuynhiên không thể xuất phát một chiều hoàn toàn từ những khả năng tài chính hiện

có để kế hoạch hoá mở rộng sản xuất Điểm xuất phát của kế hoạch hoá tái sảnxuất mở rộng là việc tiến hành những dự đoán: Sự phát triển nhu cầu, nhữngthay đổi trong quy trình công nghệ của sản xuất để nâng cao khả năng cạnhtranh trên thị trường trong nước và ngoài nước, những sự hoàn thiện nhằm mụcđích tăng khối lượng sản xuất sản phẩm đang có ưu thế trên thị trường và tổnglợi nhuận Quán triệt quan điểm này, doanh nghiệp phải một mặt chủ động khaithác và sử dụng các nguồn vốn tự có, mặt khác huy động các nguồn vốn khácbằng các hình thức linh hoạt và sử dụng vốn vay một cách thận trọng và hợp lý

- Quản lý vốn đầu tư tài chính

Trang 18

Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu, tráiphiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác để gópphần đảm bảo cho nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng thunhập cho doanh nghiệp Trong xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại thì đầu

tư tài chính ngày càng phát triển và mang lại lợi ích ngày càng lớn cho cácdoanh nghiệp Chính vì thế hoạt động quản lý vốn đầu tư tài chính ngày càng cóvai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp

c Giám sát, kiểm tra quản lý tài chính

Giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý tài chính là hoạt động theo dõi vàgiám sát một hoạt động nào đó dựa trên căn cứ là các mục tiêu chiến lược đã đề

ra và trên cơ sở đó phát hiện ra những sai sót và có những sửa chữa kịp thời Do

đó, kiểm tra là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng và không thể thiếutrong mọi lĩnh vực hoạt động của mọi tổ chức Tài chính là một vấn đề phức tạp

có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mọi hoạt động của tổ nên hoạt động giámsát, kiểm tra tài chính lại càng trở nên quan trọng và cần được tổ chức đúng quytrình và nghiêm túc

Giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý tài chính giúp cho cơ quan quản lý theodõi thực hiện các quyết định tài chính được ban hành và giúp ngăn chặn, sửachữa kịp thời những sai sót trong việc thực hiện quyết định của cấp trên

Nội dung của kiểm tra hoạt động quản lý tài chính gồm 3 giai đoạn:

- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính

- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt

- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính

1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý tài chính của doanh nghiệp

1.2.6.1 Những nhân tố chủ quan

Trang 19

Là những nhân tố tồn tại của doanh nghiệp như:

+ Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất

+ Đặc điểm kinh tế của ngành

+ Trình độ và năng lực của bộ máy quản lý tài chính

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP TƯ

NHÂN XÂY DỰNG QUANG HUY 2.1 Giới thiệu về thị trấn Yên Ninh, huyện Yên Khánh, Tỉnh Ninh Bình

Thị trấn Yên Ninh là trung tâm huyện lỵ và hiện cũng là một thị trấn duynhất của huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình Trụ sở thị trấn nằm cách trungtâm thành phố Ninh Bình 12 km về phía Đông Nam dọc theo quốc lộ 10 nốitới thị trấn Phát Diệm

Thị trấn chủ yếu chạy dọc theo quốc lộ 10, với 6 khu phố, và 4 khu tương đương(khu Đông, Trung Lân, Thị Lân, Vườn Chay)

Khu phố 5 được coi là trung tâm của thị trấn, đây là nơi đặt trụ ở Uỷ Ban Nhândân Thị trấn, Trường trung học, Trạm Y Tế,… và nhiều cơ sở quan trọng khác.Chợ Huyện – Phố 2 Thị Trấn Yên Ninh là 1 trong 8 chợ ở huyện yên khánhtrongdanh sách các chợ loại 1, 2, 3 ở Ninh Bình

Trong những năm gần đây thị trấn yên ninh càng ngày càng phát triển, cónhiều công ty mới được thành lập đặc biệt là những công ty về lĩnh vực may

Trang 20

mặc Đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động Từ đógiúp cho nền kinh tế của thị trấn ngày một đi lên.

2.2 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân xây dựng Quang Huy

Địa chỉ:Phố cầu rào Thị Trấn Yên Ninh – Yên Khánh – Ninh Bình

Mã số Thuế: 2700345356

2.3 Thực trạng quản lý về tài chính tại doanh nghiệp

2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý tại doanh nghiệp

Bộ máy quản lý tài chính tại công ty bao gồm:

+Giám đốc công ty chịu trách nhiệm đối với các quyết định tài chính của công ty

+Kế toán trưởng công ty

+Phòng tài chính kế toán

+Đơn vị kế toán trực thuộc hạch toán phụ thuộc

2.3.2 Phổ biến, tuyên truyền về quản lý tài chính tại doanh nghiệp

Để quản lý tài chính, doanh nghiệp tiến hành hoạch định tài chính Côngtác hoạch định tài chính của doanh nghiệp tập trung vào việc lựa chọn phương

án hoạt động cho doanh nghiệptrong tương lai Các kế hoạch tài chính củadoanh nghiệp được xây dựng dựa trên các mục tiêu phát triển tổng thể củadoanh nghiệp và mục tiêu quản lý tài chính của doanh nghiệp Công tác hoạchđịnh tài chính của doanh nghiệp được xây dựng dựa trên việc xem xét tình hìnhhuy động và sử dụng nguồn tài chính của doanh nghiệp, sự biến động của thịtrường, từ đó xác định được những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.Các kế hoạch tài chính được xây dựng dựa trên cơ sở là định hướng của cácchính sách kinh tế xã hội chung, các chính sách của từng ngành và chính sách cụthể của doanh nghiệp

Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện như sau:

Trang 21

Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường

Công ty tiến hành phân tích môi trường bên ngoài có tác động đến hoạtđộng quản lý tài chính của doanh nghiệp Các nhà quản lý nghiên cứu thị trườnghang hoá về các sản phẩm bao bì, thị trường tài chính ngân hàng… để thấy đượcnhững cơ hội, thách thức mà doanh nghiệp đã, đang gặp phải hay còn đang tiềm

ẩn Tiến hành nghiên cứu và phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệpthông qua kết quả hoạt động, thực trạng huy động và sử dụng các nguồn vốn…

để có thể thấy được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó các nhà quản

lý có được định hướng và cơ sở cho các bước tiếp theo

Bước 2: Thiết lập các mục tiêu

Sau khi phân tích môi trường bên trong và môi trường bên ngoài củadoanh nghiệp, trưởng phòng tài chính và ban lãnh đạo doanh nghiệp đặt ra mụctiêu hoạt động cho năm tài chính tiếp theo Mục tiêu hoạt động tài chính năm

2013 của doanh nghiệp được thống nhất như sau:

- Tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt 35%

- Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đạt -100% ( Năm 2012 Công ty bị lỗ nên

lợi nhuận đạt âm, mục tiêu của Công ty là năm 2013 Công ty sẽ không bị lỗ)

- Các chỉ tiêu tài chính dự kiến cho năm tài chính 2013 như sau:

MỤC TIÊU CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH NĂM 2013

2013

Đơn vị tính

1.Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời 1,2 Lần

2.Nhóm chỉ tiêu đặc trưng về kết cấu tài chính

Trang 22

Hệ số nợ 0,5 Lần

3.Nhóm chỉ tiêu về hoạt động, sử dụng các

nguồn lực

4.Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi

Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu

Phòng tài chính cùng với ban giám đốc đưa ra những phương án thực hiện

để đạt được mục tiêu trên cơ sỏ phù hợp vời tình hình tài chính của công ty và

có tính khả thi cao

Bước 4: Đánh giá các phương án

Các nhà quản lý tiến hành phân tích và đánh giá để lực chọn phương ántối ưu Quá trình đánh giá được dực chủ yếu vào việc so sánh các chỉ tiêu tàichính cũng như độ khả dụng của các phương án Phương án được lựa chọn làphương án mang lại hiệu quả cao nhất và có tính khả thi cao

Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu và triển khai phương án

Sau khi đánh giá các phương án và lựa chọn được phương án tài chính tối

ưu, tiến hành thể chế hóa kế hoạch tài chính và phổ biến xuống toàn bộ cán bộcông nhân viên của công ty Phân công trách nhiệm và quyền hàn rõ ràng chotừng bộ phận có trách nhiệm thực hiện kế hoạch tài chính

Trang 23

2.3.3 Hoạt động quản lý tài chính

2.3.3.1 Hoạt động quản lý vốn cố định

Vốn cố định là giá trị bẳng tiền của toàn bộ tài sản cố định của công ty,tài sản cố định của công ty là những tư liệu lao động chủ yếu của công ty mà đặcđiểm của chúng là có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài được sử dụng trong quátrình hoạt động kinh doanh của công ty Tài sản cố định của công ty gồm tài sản

cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình Tài sản cố định vô hình như quyền

sử dụng đất Tài sản cố định hữu hình bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy mócthiết bị, phương tiện vận tải và dụng cụ quản lý Nguyên tắc đánh giá tai sản cốđịnh của công ty được đánh giá theo nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH

Khoản mục Nhà cửa, vật

kiến trúc

Máy móc, thiết bị

Phương tiện vận tải

Dụng cụ quản lý

Trang 24

và sử dụng nguồn vốn cố định của công ty Từ đó, căn cứ vào các kết quả có liênquan có thể giúp cho nhà quản lý đánh giá được tình hình huy động vốn và sửdụng vốn có hiệu quả hay không.

2.3.3.2 Hoạt động quản lý vốn lưu động

Vốn lưu động là giá trị bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của công ty.Tài sản lưu động là một nguồn tài sản của công ty thường có sự quay vòngnhanh hơn so với tài sản cố định Việc quản lý tài sản lưu động có vai trò rấtquan trọng đối với công ty Công ty tiến hành quản lý vốn lưu động có hiệu quả

là vòng quay vốn của công ty nhanh

Quá trình của hoạt động quản lý vốn:

- Xác định lượng vốn lưu động cần dùng trong một chu kỳ kinh doanh củacông ty Công ty tiến hành xác định một cách chính xác để đảm bảo cho quátrình kinh doanh diễn ra thuận lợi, tránh tình trạng thiếu vốn làm ngưng trệ haythừa vốn làm ứ đọng vốn không có hiệu quả

Trang 25

- Tiến hành khai tác nguồn tài trợ vốn lưu động một cách hợp lý và cóhiệu quả Đây là các khoản tài trợ trong ngắn hạn và bị hạn chế về thời gian nênđảm báo sử dụng một cách hợp lý là yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp.

- Đẩy mạnh hiệu quả trong khâu tiêu thụ sản phẩm, xử lý hàng hóa, hànghóa bị ứ đọng và áp dụng các hình thức tín dụng thương mại nhằm bảo toàn vàphát triển vốn lưu động doanh nghiệp

- Doanh nghiệp thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốnlưu động thông qua việc xem xét và đánh giá các chỉ số tài chính có liên quan.Qua đó lãnh đạo doanh nghiệp có thể có những đánh giá chính xác về tình hìnhvốn lưu động của doanh nghiệp, và có thể đưa ra những giải pháp nâng cao hiệuquả huy động và sử dụng vốn lưu động cho các kinh doanh tiếp theo

Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn chú ý đến những thay đổi trong vốnlưu chuển, nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi và ảnh hưởng của sự thay đổi đóđối với tình hình hoạt động của doanh nghiệp Khi quản lý nguồn vốn lưuchuyển trong doanh nghiệp, nhà quản lý xem xét các bộ phận cấu thành sau:

- Tiền mặt và các khoản tương đương tiền: Khi lập các kế hoạch tài chính,doanh nghiệp luôn phải đảm bảo các vấn đề có liên quan đến tiền mặt như:Lượng tiền mặt của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu chi phí không? Mốiquan hệ giữa lượng tiền thu được và chi phí như thế nào? Khi nào thì công tycần đến các khoản vay ngân hàng…?

TIỀN VÀ CÁC KHOẢN TƯƠNG ĐƯƠNG TIỀN

01/01/2012 VNĐ

31/12/2012 VNĐ

Tiền gửi ngân hàng 98.873.848 23.159.998

Ngày đăng: 16/12/2013, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w