ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Mô tả hàng loạt ca
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả các bệnh nhân bị BPTNMT điều trị ở phòng quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định.
Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) đã được điều trị tại phòng quản lý hen và BPTNMT của Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định trong khoảng thời gian từ tháng 10/2019 đến tháng 05/2020.
-Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2019( có kết quả hô hấp ký có tỷ số FEV1/FVC 0,05
- Tỷ lệ bệnh nhân nam bị loãng xương theo T-score CSTL chiếm 29,8% thấp hơn ở nữ chiếm 70%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Tỷ lệ bệnh nhân nam bị loãng xương theo T-score chung chiếm 38,3% thấp hơn ở nữ chiếm 80%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Khả năng mắc bệnh loãng xương theo T-score chung ở nhóm bệnh nhân nữ tăng gấp 6,4 lần nhóm bệnh nhân nam với KTC 95% (1,3 – 32,1)
3.2.1.4 Đặc đ ểm hút thuốc lá với tình trạ o xươ
Bảng 3.21 Phân bố hút thuốc lá theo mật độ xương tại T-score chung
Tỷ lệ bệnh nhân không hút thuốc lá bị loãng xương theo T-score chung cao hơn 50% so với 42% ở nhóm bệnh nhân có hút thuốc lá; tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
3.2.1.5 Đặc đ ểm uố rượu với tình trạ o xươ
Bảng 3.22 Phân bố uống rượu theo mật độ xương tại T-score chung
Uống rƣợu 7 (77,8%) 2 (22,2%) 9 (8,7%) 0,296 Không uống rƣợu 53 (55,8%) 42 (44,2%) 95 (91,3%)
Tỷ lệ bệnh nhân không uống rượu mắc loãng xương theo T-score chung là 44,2%, cao hơn so với 22,2% ở nhóm bệnh nhân uống rượu Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
3.2.1.6 Đặc đ ểm chỉ số khố cơ thể với tình trạ o xươ
Bảng 3.23 Phân bố chỉ số khối cơ thể với mật độ xương tại CXĐ và CSTL theo T- score
Bệnh nhân bị loãng xương có chỉ số BMI trung bình là 18,7 ± 3,4 kg/m², thấp hơn so với chỉ số BMI trung bình của bệnh nhân không bị loãng xương là 22,1 ± 3,4 kg/m² Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
BMI trung bình của bệnh nhân loãng xương theo T-score CSTL là 20,3 ± 3,6 kg/m², thấp hơn so với BMI trung bình của bệnh nhân không loãng xương là 21,7 ± 3,7 kg/m² Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bệnh nhân bị loãng xương có chỉ số BMI trung bình là 20,0 ± 3,7 kg/m², thấp hơn so với bệnh nhân không bị loãng xương với chỉ số BMI trung bình là 22,1 ± 3,6 kg/m² Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Khả năng mắc bệnh loãng xương theo T-score chung ở nhóm bệnh nhân BPTNMT giảm 0,85 lần nếu BMI tăng lên 1 kg/m 2 với KTC 95% (0,76 – 0,96)
Bảng 3 24 Tương quan giữa BMI với mật độ xương tại hai vị trí
Tươ ua ữa BMI với R p
Mật độ xương cổ xương đùi 0,206 0,036
Mật độ xương cột sống thắt lƣng
Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa BMI và mật độ xương cổ xương đùi
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa BMI và mật độ xương cột sống thắt lưng
Nghiên cứu trên 104 bệnh nhân BPTNMT cho thấy có mối tương quan thuận giữa chỉ số BMI và mật độ xương ở cổ xương đùi cũng như mật độ xương cột sống thắt lưng, với hệ số tương quan lần lượt là (r = 0,206; p < 0,05) và (r = 0,247; p < 0,05).
Bảng 3.25 Phân bố tình trạng nhẹ cân với mật độ xương tại CXĐ và CSTL theo T- score
Tại vị trí CXĐ, tỷ lệ bệnh nhân nhẹ cân mắc loãng xương lên tới 55,6%, trong khi đó, tỷ lệ này ở bệnh nhân không nhẹ cân chỉ là 16,9% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Tỷ lệ bệnh nhân nhẹ cân mắc loãng xương theo T-score CSTL đạt 55,6%, cao hơn so với 29,9% ở bệnh nhân không nhẹ cân; tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
- Tỷ lệ bệnh nhân nhẹ cân bị loãng xương theo T-score chung chiếm 59,3% cao hơn ở bệnh nhân không nhẹ cân chiếm 36,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Khả năng mắc bệnh loãng xương theo T-score chung ở nhóm bệnh nhân nhẹ cân BMI < 18,5 tăng gấp 2,5 lần nhóm bệnh nhân không nhẹ cân BMI ≥ 18,5 với KTC 95% (1,04 – 6,2)
3.2.1.7 Đặc đ ểm thời gian bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với tình trạng loãng xươ
Bảng 3.26 Phân bố thời gian BPTNMT theo mật độ xương tại T-score chung
BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu với 104 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn chọn mẫu, độ tuổi trung bình là 65,5 ± 8,6 tuổi, với độ tuổi cao nhất là 87 và thấp nhất là 40 Đặc biệt, 76,9% bệnh nhân có độ tuổi từ 60 trở lên, trong đó tỷ lệ bệnh nhân trên 70 tuổi chiếm 30,8%.
Phân bố tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu trước đây, với tuổi trung bình khoảng 67,3 ± 8,8 tuổi theo Hoàng Đức Bách; Trần Văn Bình ghi nhận tuổi trung bình là 65,7 ± 10,2, trong đó nhóm tuổi trên 70 chiếm 37,8%; Dương Kim Hương (2014) báo cáo tuổi trung bình là 67 tuổi; Nguyễn Văn Thọ ghi nhận tuổi trung bình là 68; Cao Thị Mỹ Thúy cũng có tuổi trung bình 67 tuổi Đặc biệt, nghiên cứu của Alvar Agusti trên 2164 bệnh nhân BPTNMT ổn định cho thấy tuổi trung bình là 63,4 ± 7,1 tuổi.
So sánh với nghiên cứu của tác giả Trần Văn Ngọc, tuổi trung bình trong nhóm mắc BPTNMT trong nghiên cứu của chúng tôi là 65,5, cho thấy mức độ thấp hơn đáng kể.
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 72,9, với độ tuổi thấp nhất là 37 và cao nhất là 103 So với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thành, những người nhập viện do đợt cấp có tuổi trung bình là 73 ± 10.
Theo các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, lứa tuổi mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) có sự khác biệt Cụ thể, nghiên cứu của Alvar Agusti trên 2164 bệnh nhân cho thấy tuổi trung bình là 63,4 ± 7,1 Trong khi đó, nghiên cứu của Ruparel về 15981 bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp BPTNMT ghi nhận tuổi trung bình là 70,7 ± 10,7.
Theo y văn, khi tuổi tác tăng, tình trạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến số lần nhập viện do cơn cấp tính cũng gia tăng Mặc dù có sự khác biệt về độ tuổi trung bình trong các nghiên cứu, tất cả đều chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có xu hướng gặp nhiều biến chứng hơn.
Ở độ tuổi 60, bệnh nhân BPTNMT nặng thường có tỷ lệ cao và thường đi kèm với nhiều bệnh đồng mắc như bệnh tim mạch, ung thư phổi, loãng xương và đái tháo đường Tần suất của các bệnh lý đồng mắc có sự khác biệt giữa các nghiên cứu do phương pháp đánh giá, chẩn đoán và phân bố dân số khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng bệnh tim mạch, đặc biệt là suy tim mạn, là bệnh lý phổ biến nhất trong nhóm bệnh nhân này.
Bệnh tim mạch là một vấn đề sức khỏe thường gặp và nghiêm trọng ở bệnh nhân COPD, có thể dẫn đến tiên lượng xấu và giảm khả năng gắng sức Do đó, việc phát hiện, đánh giá và điều trị kịp thời là rất cần thiết Trong lâm sàng, cần hiểu rõ tác động của thuốc điều trị COPD đối với bệnh tim mạch và ngược lại, nhằm lựa chọn thuốc phù hợp cho bệnh nhân.
Bệnh nhân COPD có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn so với người có chức năng hô hấp bình thường, và việc chẩn đoán cũng như điều trị ung thư phổi cho họ gặp nhiều khó khăn do kỹ thuật thường khó thực hiện ở những bệnh nhân có mức độ tắc nghẽn vừa và nặng Tần suất loãng xương ở bệnh nhân COPD là 14,8%, cao hơn so với 10,8% trong dân số chung, với các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, thiếu vitamin D, giảm BMI, kém vận động và sử dụng corticosteroid lâu dài Để điều trị và phòng ngừa loãng xương, cần điều chỉnh các yếu tố nguy cơ như cai thuốc lá, tập thể dục, sử dụng corticosteroid hợp lý và cải thiện dinh dưỡng.
Bệnh đái tháo đường thường gặp ở bệnh nhân COPD với tỉ lệ khoảng 14%, làm gia tăng nguy cơ nhập viện và tử vong Sử dụng corticosteroid có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường và làm tăng đường huyết ở những người có nguy cơ mắc bệnh.
Kết quả này phản ánh đúng dịch tễ học của BPTNMT, xảy ra trên bệnh nhân lớn tuổi, có thời gian dài tiếp xúc với yếu tố nguy cơ [75]
Tỷ lệ mắc bệnh Parkinson (BPTNMT) gia tăng theo độ tuổi, với nhóm từ 40 đến 59 tuổi chiếm 23,1% số bệnh nhân, cho thấy bệnh có thể xuất hiện ở những người còn trẻ và có khả năng cống hiến cho xã hội Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tầm soát thường xuyên và rộng rãi để phát hiện sớm bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả và ý thức trong việc phòng ngừa và điều trị BPTNMT.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 104 bệnh nhân được chọn theo tiêu chuẩn mẫu, trong đó 94 bệnh nhân nam (90,4%) và 10 bệnh nhân nữ (9,6%), với tỷ lệ nam/nữ là 9,4:1 Kết quả cho thấy nam giới chiếm ưu thế, tương đồng với các nghiên cứu trước đây, như của Lê Kim Nhung (90% nam, 10% nữ), Đỗ Thị Tường Oanh (86,5% nam, 16,8% nữ), và Dương Kim Hương (82,2% nam, 16,8% nữ) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc BPTNMT tăng theo mức tiêu thụ thuốc lá, với nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nữ giới, do thói quen hút thuốc lá phổ biến hơn ở nam giới, đây là yếu tố nguy cơ chính gây BPTNMT.
Tỷ lệ nam/nữ trong các nghiên cứu quốc tế thường thấp hơn so với các nghiên cứu trong nước, như nghiên cứu của John Steer tại Anh với tỷ lệ 1/1 và nghiên cứu của Maha Yousif tại Ấn Độ với tỷ lệ 2/1 Sự khác biệt này có thể do ở các nước phát triển, tỷ lệ phụ nữ hút thuốc lá cao, và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự nhạy cảm của phụ nữ đối với khói thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh ở nhóm đối tượng này.
Tình trạng hút thuốc trong nghiên cứu cho thấy 96,2% người bệnh có hút thuốc, trong đó 41,4% vẫn đang hút và 54,8% đã từng hút nhưng hiện tại đã bỏ Chỉ có 3,8% đối tượng hoàn toàn không hút thuốc Trung bình, lượng thuốc hút ghi nhận là 29,6 gói/năm, tương đồng với nghiên cứu của Dương Kim Hương với tỷ lệ người bệnh hút thuốc là 55% và số gói trung bình là 31,7 gói/năm Nghiên cứu của Hứa Thị Ngọc Quỳnh cũng cho thấy 82% người bệnh còn hút thuốc với trung bình 30 gói/năm Tình hình hút thuốc tại Việt Nam phản ánh qua Điều tra toàn cầu về tình hình sử dụng thuốc lá (GATS 2015), cho thấy tỷ lệ nam giới hút thuốc là 45,3% và nữ giới là 1,1% Hút thuốc lá được xác định là yếu tố chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT), với nhiều nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ cao người hút thuốc phát triển BPTNMT.
Phần lớn bệnh nhân nữ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) không hút thuốc lá, cho thấy sự quan trọng của các yếu tố nguy cơ khác Khuyến cáo từ GOLD 2019 đã chỉ ra rằng những nguy cơ này bao gồm khói từ chất đốt sinh hoạt, ô nhiễm khói, bụi độc tại nơi làm việc và ô nhiễm môi trường Do đó, có thể dự đoán rằng tỷ lệ nữ giới mắc BPTNMT sẽ tăng cao trong tương lai nếu tình hình ô nhiễm môi trường không được cải thiện.
ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ MẬT ĐỘ XƯƠNG Ở CỔ XƯƠNG ĐÙI VÀ CỘT SỐNG THẮT LƢNG
4.2.1 Mật độ xươ và đặc đ ểm phân bố mật độ xươ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
4.2.1.1 Mật độ xươ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương theo WHO là đo mật độ xương ở cột sống và cổ xương đùi Nghiên cứu này đã đo mật độ xương tại hai vị trí CSTL và CXĐ bằng phương pháp DEXA, với mật độ xương trung bình vùng cổ xương đùi là 0,64 ± 0,18 g/cm² và cột sống thắt lưng là 0,79 ± 0,14 g/cm² T-score trung bình tại vùng cổ xương đùi và cột sống thắt lưng lần lượt là -1,8 ± 0,9 và -1,9 ± 1,2, cho thấy cả hai vị trí đều nằm trong vùng thiếu xương từ -2,5 đến -1,1 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Dương Kim Hương, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan trên đối tượng người Việt trên 50 tuổi, cho thấy T-score tương ứng là -1,84 ± 0,96 cho cổ xương đùi và -1,61 ± 1,28 cho cột sống thắt lưng.
Nghiên cứu của Graat-Verboom và cộng sự năm 2010 trên 168 đối tượng có độ tuổi trung bình 63,6 và BMI trung bình 24,7 cho thấy tỷ lệ loãng xương đạt 38,7% Chẩn đoán được dựa vào mật độ xương tại vùng hông và cột sống thắt lưng, với mật độ xương tại vùng hông là 0,827 ± 0,149 g/cm² và tại vùng cột sống thắt lưng là 1,065 ± 0,215 g/cm².
Nghiên cứu của Karadag và cộng sự đã chỉ ra rằng trong số 28 bệnh nhân nam mắc BPTNMT giai đoạn GOLD II, tuổi trung bình là 63, chỉ số BMI trung bình đạt 25 kg/m² Mật độ xương ở vùng cổ xương đùi của các bệnh nhân là 0,790 g/cm², trong khi mật độ xương ở vùng cột sống thắt lưng là 0,87 g/cm².
Trong nghiên cứu của Jorgensen và cộng sự, 181 đối tượng có độ tuổi trung bình là 63,2, với tỷ lệ %FEV1 dự đoán là 32,6 ± 14,1 Mật độ xương tại vùng cổ xương đùi và cột sống thắt lưng lần lượt ghi nhận là 0,833 ± 0,162 và 1,027 ± 0,198.
Theo Y văn, mật độ xương có thể được đo tại vùng cổ xương đùi và cột sống thắt lưng, với chẩn đoán loãng xương chủ yếu dựa vào kỹ thuật DEXA Đặc biệt, vùng cổ xương đùi là khu vực chính để chẩn đoán loãng xương ở đối tượng BPTNMT Nghiên cứu cho thấy người Châu Á thường có mật độ xương thấp hơn so với người Châu Âu Hầu hết các nghiên cứu về mật độ xương được thực hiện ở Châu Âu cho kết quả cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, điều này có thể do đối tượng tham gia nghiên cứu ở Châu Âu có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn và độ tuổi trẻ hơn.
4.2.1.2 Tỉ lệ o xươ , t ếu xươ ở bệnh nhân BPTNMT
Trong nghiên cứu trên 104 bệnh nhân BPTNMT, có 47 đối tượng (45,2%) bị thiếu xương, trong đó 44 đối tượng (42,3%) mắc loãng xương, chỉ 13 đối tượng (12,5%) có mật độ xương bình thường Tại vùng cổ xương đùi, có 50 trường hợp (48,1%) thiếu xương, trong đó 28 trường hợp (26,9%) mắc loãng xương, và chỉ 26 trường hợp (25%) có mật độ xương bình thường Kết quả khảo sát vùng cột sống thắt lưng cho thấy 39 trường hợp (37,5%) thiếu xương, với 35 đối tượng (33,7%) bị loãng xương, và chỉ 30 đối tượng (28,8%) có mật độ xương bình thường Tỷ lệ loãng xương ở cột sống thắt lưng (33,7%) và cổ xương đùi (26,9%) có sự khác biệt thống kê với p < 0,0001.
Theo nghiên cứu của Trần Văn Ban (2012), tỷ lệ loãng xương tại vị trí cột sống thắt lưng (CSTL) là 76,7%, trong khi tỷ lệ giảm mật độ xương là 13,3% Ngược lại, tại vùng cổ xương đùi (CXĐ), tỷ lệ loãng xương chỉ là 20%, nhưng tỷ lệ giảm mật độ xương lại cao hơn, lên đến 60% Loãng xương tại CSTL thường gặp hơn ở vùng cổ xương đùi, điều này phù hợp với đặc điểm cấu trúc của CSTL, nơi chứa các đốt sống L1 - L4 với xương xốp, dẫn đến tỷ lệ mất xương hàng năm cao hơn so với xương đặc Do đó, loãng xương tại CSTL thường biểu hiện sớm hơn so với tại CXĐ.
Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân BPTNMT có tỉ lệ loãng xương cao, với 42,3%, vượt trội so với tỉ lệ 10,4% ở nam và 28,6% ở nữ trong dân số chung theo nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan.
Graat-Verboom tìm thấy tỉ lệ loãng xương giữa nhóm có bệnh BPTNMT và nhóm khỏe mạnh là 31,7% so với 5,8%[68] và tác giả Rittayamai là 31,4% so với 12,6% [128]
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy kết quả khác nhau về mật độ xương ở bệnh nhân BPTNMT, với Samiha và cộng sự báo cáo 56,6% bệnh nhân có mật độ xương thấp, trong khi Parthasarathi và cộng sự ghi nhận con số này là 73%, và Jorgensen cùng Schwarte chỉ ra rằng khoảng 50% bệnh nhân bị suy giảm mật độ xương Sự khác biệt này chủ yếu xuất phát từ các phương pháp đo mật độ xương khác nhau và đặc điểm dân số nghiên cứu, cũng như tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương Nghiên cứu của chúng tôi áp dụng phương pháp DEXA, được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán loãng xương.
Nghiên cứu của Graat-Verboom và cộng sự đã tiến hành trên 554 bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) từ trung bình đến nặng, sử dụng phương pháp DEXA toàn bộ cơ thể để sàng lọc bệnh loãng xương Kết quả cho thấy có 21% bệnh nhân mắc bệnh loãng xương và 41% bệnh nhân bị thiếu xương.
Nghiên cứu của Jorgenson và cộng sự với 62 bệnh nhân cho thấy 54 bệnh nhân được đo mật độ xương (MĐX) bằng phương pháp DEXA tại vùng hông và cột sống thắt lưng (CSTL), trong đó có 26 bệnh nhân (44,8%) mắc bệnh loãng xương và 13 bệnh nhân (22,4%) bị thiếu xương.
Nghiên cứu của nhóm TORCH cho thấy hơn 50% bệnh nhân bị bệnh Parkinson có loãng xương hoặc giảm mật độ xương theo phương pháp DEXA Tỷ lệ này cao gấp 2-5 lần so với nhóm cùng độ tuổi không mắc bệnh Do đó, các bác sĩ lâm sàng cần phát hiện sớm và điều trị loãng xương ở bệnh nhân Parkinson để ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng.
4.2.1.3 Phân bố mật độ xươ t eo các mức độ của GOLD
Trong nghiên cứu có 9 bệnh nhân ở giai đoạn GOLD I (8,7%), 48 bệnh nhân ở giai đoạn GOLD II (46,2%), 36 bệnh nhân thuộc giai đoạn GOLD III (34,6%) và
Trong nghiên cứu, có 11 bệnh nhân được phân loại vào giai đoạn GOLD IV, chiếm 10,6% Tỷ lệ loãng xương gia tăng dần từ giai đoạn GOLD I đến GOLD IV tại hai vị trí là cổ xương đùi (CXĐ) và cột sống thắt lưng (CSTL) Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các giai đoạn GOLD không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên hệ giữa mức độ bệnh và tỷ lệ loãng xương, với kết quả tương tự như các tài liệu y khoa hiện có Tuy nhiên, do số lượng bệnh nhân ở các giai đoạn GOLD I và GOLD IV quá ít, chúng tôi không phát hiện sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ loãng xương giữa các giai đoạn GOLD.
Nghiên cứu của Silva và cộng sự trên 95 bệnh nhân BPTNMT ngoại trú với tuổi trung bình 67 cho thấy 42% bệnh nhân bị loãng xương, 42% thiếu xương và 16% có xương bình thường Tỷ lệ loãng xương ở các nhóm GOLD I, II, III, IV lần lượt là 0%, 25%, 53% và 23% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi, trong đó tỷ lệ loãng xương cao nhất tập trung ở GOLD II (46,2%) và GOLD III (34,6%), trong khi GOLD I và GOLD IV có tỷ lệ thấp hơn, lần lượt là 8,7% và 10,6%.