TRẦN THỊ THANH TÚKHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI LOÃNG XƯƠNG VÀ THIẾU XƯƠNG CHUYÊN NGÀNH: LÃO KHOA MÃ SỐ: NT 62 72 20 30 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trang 1TRẦN THỊ THANH TÚ
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI LOÃNG XƯƠNG VÀ THIẾU XƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
Trang 2TRẦN THỊ THANH TÚ
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI LOÃNG XƯƠNG VÀ THIẾU XƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LÃO KHOA
MÃ SỐ: NT 62 72 20 30
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN ĐÌNH KHOA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nàokhác
Tác giả
Trần Thị Thanh Tú
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Loãng xương 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Dịch tễ học 4
1.1.3 Sinh lý bệnh 5
1.1.4 Chẩn đoán 6
1.1.5 Điều trị 7
1.2 Chất lượng cuộc sống 9
1.2.1 Định nghĩa 9
1.2.2 Các công cụ đánh giá CLCS 10
1.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân loãng xương 11
1.3.1 Các thang đo CLCS trên bệnh nhân loãng xương 11
1.3.2 Bộ câu hỏi QUALEFFO-41 12
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân giảm mật độ xương 17 1.3.4 Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.1 Dân số mục tiêu 22
Trang 52.1.2 Dân số chọn mẫu 22
2.2 Tiêu chí chọn mẫu 22
2.2.1 Tiêu chuẩn đưa vào 22
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.3.2 Cỡ mẫu 23
2.3.3 Kỹ thuật chọn mẫu 24
2.3.4 Thu thập dữ liệu 25
2.4 Liệt kê các biến số 26
2.5 Định nghĩa biến số 29
2.5.1 Biến số nền: 29
2.5.2 Biến số liên quan đến mật độ xương và CLCS 31
2.6 Mô hình nghiên cứu 34
2.7 Xử trí sai lệch số liệu 35
2.8 Phương pháp quản lý và xử lý số liệu 35
2.8.1 Nhập số liệu 35
2.8.2 Xử lí số liệu 35
2.9 Đạo đức nghiên cứu 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 38
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu- xã hội, nhân trắc 38
3.1.2 Đặc điểm thói quen và bệnh nền trong dân số nghiên cứu 42
3.1.3 Một số đặc điểm lâm sàng khác trong dân số nghiên cứu 43
3.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng trong dân số nghiên cứu 44
3.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi loãng xương và thiếu xương 48
3.2.1 Điểm chất lượng cuộc sống 48
3.2.2 So sánh chất lượng cuộc sống của nhóm loãng xương, thiếu xương và nhóm bình thường 49
3.3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên CLCS của bệnh nhân cao tuổi loãng xương
Trang 63.3.1 Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học và CLCS 54
3.3.2 Mối liên quan giữa các thói quen, bệnh nền và CLCS 58
3.3.3 Ảnh hưởng của một số đặc điểm lâm sàng khác lên CLCS 60
3.3.4 Ảnh hưởng của gãy xương đốt sống lên CLCS 62
3.3.5 Phân tích hồi quy đa biến 63
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 66
4.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 66
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu-xã hội, nhân trắc 66
4.1.2 Đặc điểm thói quen và bệnh nền trong dân số nghiên cứu 69
4.1.3 Một số đặc điểm lâm sàng khác trong dân số nghiên cứu 71
4.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng trong dân số nghiên cứu 72
4.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi loãng xương và thiếu xương 74
4.2.1 Điểm chất lượng cuộc sống 74
4.2.2 So sánh chất lượng cuộc sống của nhóm loãng xương, thiếu xương và nhóm bình thường 76
4.3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên CLCS của bệnh nhân cao tuổi loãng xương và thiếu xương 78
4.3.1 Ảnh hưởng của các đặc điểm nhân khẩu học lên CLCS 78
4.3.2 Ảnh hưởng của thói quen và bệnh nền lên CLCS 80
4.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố lâm sàng khác lên CLCS 80
4.3.4 Ảnh hưởng của gãy đốt sống lên CLCS 82
KẾT LUẬN……… ……… 85
HẠN CHẾ ĐỀ TÀI……… ……….………… ….86
KIẾN NGHỊ……… … …….………87 PHỤ LỤC 1: BỘ CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
QUALEFFO-41
PHỤ LỤC 2: PHƯƠNG PHÁP TÍNH ĐIỂM QUALEFFO-41.VN
PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 4: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU
PHỤ LỤC 5: DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Trang 9CDC Centers for Disease Control and PreventionDXA Dual-energy X-ray Absorptiometry
EQ - 5D Euroqol five item questionnaireFRAX Fracture Risk Assessment ToolGERD Gastroesophageal Reflux DiseaseHADS Hospital Anxiety and Depression ScaleHRQOL Health-related Quality of Life
IOF International Osteoporosis FoundationNYHA New York Heart Association
OFDQ Osteoporosis Functional Disability QuestionnaireOPAQ Osteoporosis Assessment Questionnaire
OPTQOL Osteoporosis-Targeted QoL QuestionnaireOQLQ Osteoporosis QoL Questionnaire
QUALEFFO Quality of Life Questionnaire of the European Foundation
for OsteoporosisQUALIOST Questionnaire QoL in Osteoporosis
Trang 10DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH – VIỆT
CDC Trung tâm phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ
HADS Thang đánh giá lo âu và trầm cảm trong bệnh việnHRQOL Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏeIOF Liên đoàn chống bệnh loãng xương thế giới
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố giới tính trong dân số nghiên cứu 38
Biểu đồ 3.2: Phân bố nhóm tuổi trong dân số nghiên cứu 38
Biểu đồ 3.3: Mật độ xương dân số nghiên cứu (g/cm2) 44
Biểu đồ 3.4: Mật độ xương dân số nghiên cứu (T-score) 45
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ gãy đốt sống ở bệnh nhân giảm mật độ xương 46
Biểu đồ 3.6: Điểm chất lượng cuộc sống trong dân số nghiên cứu 48
Biểu đồ 3.7: So sánh CLCS bệnh nhân loãng xương gãy đốt sống và bệnh nhân mật độ xương bình thường 50
Biểu đồ 3.8: So sánh CLCS bệnh nhân loãng xương không gãy đốt sống và bệnh nhân có mật độ xương bình thường 51
Biểu đồ 3.9: So sánh CLCS nhóm thiếu xương gãy đốt sống và nhóm bình thường 53
Biểu đồ 3.10: So sánh CLCS nhóm thiếu xương không gãy đốt sống và bình thường 54
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Chu chuyển xương……….5
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu 34
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương 6
Bảng 1.2: Thuốc phòng ngừa và điều trị loãng xương 8
Bảng 1.3: Các bộ câu hỏi chuyên biệt đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân loãng xương 12
Bảng 1.4: Bộ câu hỏi QUALEFFO-41 Việt hóa 14
Bảng 1.5: Tổng hợp các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân loãng xương và thiếu xương trên thế giới và Việt Nam 21
Bảng 2.1: Liệt kê các biến số nghiên cứu 26
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội, nhân trắc dân số nghiên cứu 39
Bảng 3.2: So sánh các đặc điểm nhân khẩu- xã hội, nhân trắc giữa nhóm loãng xương, thiếu xương và bình thường 40
Bảng 3.3: So sánh các đặc điểm nhân khẩu - xã hội, nhân trắc giữa nhóm loãng xương, thiếu xương và bình thường (tiếp) 41
Bảng 3.4: Đặc điểm thói quen và bệnh nền trong dân số nghiên cứu 42
Bảng 3.5: Một số đặc điểm lâm sàng khác trong dân số nghiên cứu 43
Bảng 3.6: Đặc điểm gãy đốt sống ở bệnh nhân giảm mật độ xương 47
Bảng 3.7: So sánh chất lượng cuộc sống của nhóm loãng xương và nhóm bình thường (tương đồng về tuổi, giới) 49
Bảng 3.8: So sánh chất lượng cuộc sống của nhóm thiếu xương và nhóm bình thường (tương đồng về tuổi, giới) 52
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học và CLCS 55
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học và CLCS (tiếp theo) 57
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa các thói quen và CLCS 58
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa các bệnh lý và CLCS bệnh nhân giảm mật độ xương 59
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của một số yếu tố lâm sàng lên CLCS của bệnh nhân giảm mật độ xương 60
Trang 13Bảng 3.14: Ảnh hưởng của gãy đốt sống lên CLCS 62Bảng 3.15: Phân tích đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống 64Bảng 4.1: Điểm QUALEFFO-41 toàn bộ trong một số nghiên cứu 74
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những ảnh hưởng của lão hóa lên hệ cơ xương khớp là giảm sự tạoxương dẫn đến mất cân bằng với quá trình hủy xương [4] Do đó, giảm mật độ xươngnói chung và loãng xương nói riêng đã trở thành một trong những bệnh lý thường gặpnhất ở người cao tuổi [23] Bệnh lý này được định nghĩa là một rối loạn chuyển hóalàm tổn thương sức mạnh bộ xương dẫn đến gia tăng nguy cơ gãy xương [76] Trong
đó, sức mạnh bộ xương là sự toàn vẹn cả về khối lượng lẫn chất lượng xương [76].Trên thế giới, hiện có khoảng 200 triệu người bị loãng xương [43] Tại Mỹ, bệnh
lý này ảnh hưởng đến hơn 10 triệu người và dự tính đến năm 2020 sẽ có gần 14 triệungười trưởng thành trên 50 tuổi bị loãng xương [63] Tại Việt Nam, một khảo sát từtháng 12/2011 - 10/2014 cho thấy tỷ lệ loãng xương của nam giới từ 60 tuổi trở lên
là 35,6%; trong khi đó ở nữ giới từ 50 tuổi trở lên, tỷ lệ này lên đến 58,4% [1].Biến chứng quan trọng nhất của loãng xương và thiếu xương là gãy xương [25].Sau gãy xương, bệnh nhân thường gặp phải vấn đề đau, giới hạn vận động [52], [75].Điều này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Thậm chí ngay cả khikhông gãy xương, bệnh nhân vẫn có thể có một số triệu chứng như đau mỏi mơ hồ,
gù lưng, giảm chiều cao [75] Những vấn đề này gây ảnh hưởng đến hoạt động sốnghàng ngày cũng như cảm xúc tinh thần của người bệnh Đây đều là những lĩnh vựcquan trọng của chất lượng cuộc sống Do đó, chất lượng cuộc sống là vấn đề cần đượcchú ý ở bệnh nhân loãng xương cũng như thiếu xương
Trên thế giới, vấn đề chất lượng cuộc sống trên các bệnh lý mạn tính luôn đượcquan tâm [37] Đối với bệnh nhân loãng xương nói riêng và giảm mật độ xương nóichung, các nghiên cứu hầu hết tập trung đánh giá ảnh hưởng của gãy xương lên chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: gãy xương do loãngxương, đặc biệt là gãy xương hông hoặc gãy nhiều xương đốt sống gây ảnh hưởnglớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [14], [30], [44], [55] Ngay cả khi khônggãy xương, bệnh nhân loãng xương cũng có những suy giảm nhất định về chất lượng
Trang 15cuộc sống [7] Một số nghiên cứu cho thấy bệnh nhân thiếu xương cũng có chất lượngcuộc sống kém hơn trên tất cả các lĩnh vực khi so sánh với nhóm mật độ xương bìnhthường [6].
Tại Việt Nam, vấn đề chất lượng cuộc sống chưa được quan tâm đúng mức Mộttrong số ít những nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống trên phụ nữ mãn kinh bịloãng xương đã chỉ ra sự suy giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đặc biệt chấtlượng cuộc sống liên quan đến đau [3] Tuy nhiên, nghiên cứu này không khảo sáttrên nhóm thiếu xương Đồng thời, chưa có nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống
ở dân số bệnh nhân cao tuổi Điều này là do hầu hết bệnh nhân và các bác sĩ thường
dễ dàng chấp nhận những suy giảm chất lượng cuộc sống và giới hạn hoạt động trênbệnh nhân cao tuổi là hậu quả tất yếu của tuổi tác
Những điều trên có thể là nguyên nhân mà các nghiên cứu trong nước còn ít quantâm đến câu hỏi liệu có hay không ảnh hưởng của bệnh loãng xương và thiếu xươnglên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cao tuổi cũng như những yếu tố nào liênquan đến chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân này? Chính vì vậy mà chúng tôi
tiến hành nghiên cứu “Khảo sát chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan trên
bệnh nhân loãng xương và thiếu xương cao tuổi” nhằm thông tin về chất lượng
cuộc sống cũng như từng lĩnh vực chất lượng cuộc sống bị suy giảm trên dân số bệnhnhân cao tuổi; đồng thời đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống củabệnh nhân giảm mật độ xương Thông qua đó, chúng tôi mong muốn nhân viên y tế
có sự quan tâm đúng mức đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi giảm mật
độ xương, từ đó có những biện pháp can thiệp phù hợp nhằm cải thiện chất lượngcuộc sống cho người bệnh
Trang 16MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Khảo sát chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi (≥ 60 tuổi) loãng xương
và thiếu xương tại phòng khám Nội Tổng quát, phòng khám và khoa Nội Cơ XươngKhớp bệnh viện Chợ Rẫy
MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT
1 Xác định điểm số chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi có loãng xươnghoặc thiếu xương dựa trên bộ câu hỏi QUALEFFO-41 (Việt hóa) và so sánhvới bệnh nhân cao tuổi có mật độ xương bình thường
2 Khảo sát các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổiloãng xương và thiếu xương
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Loãng xương
1.1.1 Định nghĩa
Theo Tổ chức y tế thế giới, loãng xương (LX) là một rối loạn chuyển hóa của bộxương Rối loạn này làm tổn thương sức mạnh của xương dẫn đến gia tăng nguy cơgãy xương Sức mạnh của bộ xương là một khái niệm bao gồm sự toàn vẹn cả về khốilượng lẫn chất lượng xương [76]
1.1.2 Dịch tễ học
LX được xem là một trong những bệnh có quy mô toàn cầu Trên thế giới cókhoảng 200 triệu người bị LX [43] Tại Mỹ, bệnh lý này ảnh hưởng đến hơn 10 triệungười và dự tính đến năm 2020 sẽ có gần 14 triệu người trưởng thành trên 50 tuổi bị
LX [63] Tại một số nước châu Á phát triển khác như Nhật Bản cũng có đến 15 triệungười bị LX [40] Dự báo, con số này sẽ tiếp tục gia tăng mạnh trong những năm tiếptheo bởi xu hướng già hóa dân số như hiện nay
Gãy xương là biến cố chính trên bệnh nhân LX [65] Mỗi năm, LX gây ra hơn 8,9triệu trường hợp gãy xương trên toàn thế giới [65] Châu Âu là khu vực có tỷ lệ gãyxương do LX cao nhất [65] Tại Mỹ, mỗi năm cũng ghi nhận thêm khoảng 1,5 triệutrường hợp gãy xương do LX [20] Gãy xương hông, cột sống và đầu xa xương cẳngtay là các vị trí gãy thường gặp nhất [38] Các vị trí gãy xương khác cũng đã đượcbáo cáo như: xương cánh tay, xương sườn, xương chậu [38]
Gãy xương làm gia tăng tỷ lệ tử vong [73] Phụ nữ bị gãy xương vùng hông sẽ giatăng 10 - 20% nguy cơ tử vong [34] Khoảng 30% nam giới tử vong trong vòng 1năm sau khi gãy xương hông [4] Đối với nữ, tỷ lệ này thấp hơn, khoảng 12% [4].Như vậy mặc dù nam giới thường có mật độ xương cao hơn và tỷ lệ mất xương thấphơn nữ giới nhưng một khi bị gãy xương, lại có tỷ lệ tử vong cao hơn [34]
Trang 18LX không chỉ dẫn đến những hậu quả nặng nề về mặt sức khỏe mà còn gia tăngchi phí đáng kể cho ngành Y tế Năm 2015, Mỹ phải chi trả lần lượt 637,5 triệu đô la
và 31,3 tỷ đô la cho các trường hợp tử vong và không tử vong sau té ngã [12] Theothông báo của Liên đoàn Chống bệnh Loãng xương thế giới (IOF), hiện nay, chi phícho bệnh LX tương đương chi phí cho đái tháo đường (ĐTĐ) [4] Có thể thấy, LXđặc biệt là các biến chứng của nó đã trở thành một trong những bệnh lý mạn tính tiêutốn nhiều tiền nhất [4]
Tại Việt Nam, một nghiên cứu thực hiện trên 424 nam giới từ 60 tuổi trở lên và
988 nữ giới từ 50 tuổi trở lên sống tại miền Bắc Việt Nam từ 12/2011 – 10/2014 chothấy tỷ lệ LX của nam chiếm 35,6%; trong khi đó ở nữ tỷ lệ này lên đến 58,4% [1]
Trang 19Ở người cao tuổi, sự tạo xương không theo kịp tốc độ của quá trình hủy xương.Hậu quả dẫn đến các điểm xương bị hủy không được thay thế bởi mô xương mới tạonên các điểm xương yếu, những đứt gãy vi cấu trúc Tổng thể những tổn thương nàylàm giảm sức mạnh toàn bộ xương và gia tăng nguy cơ gãy xương Sự thay đổi nàyngày càng rõ rệt và nặng dần theo tuổi nếu không có những can thiệp phù hợp [4].
1.1.4 Chẩn đoán
1.1.4.1 Chẩn đoán xác định loãng xương
Chẩn đoán LX dựa trên mật độ xương (BMD: Bone Mineral Density) đo bằngphương pháp hấp phụ tia X năng lượng kép (DXA) Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của
tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1994, ngưỡng giá trị chẩn đoán được tóm tắt trongbảng chẩn đoán sau đây [87]:
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương
BMD (so với giá trị trung bình ở người phụ nữ trẻ,
khỏe mạnh)
Nguồn: World Health Organization (1994) [87].
Ngoài ra, nhiều mô hình dự báo nguy cơ gãy xương cũng ra đời nhằm bổ sungthông tin về sức mạnh bộ xương Trong đó, FRAX là một trong những mô hìnhthường dùng [51] Mô hình này sử dụng 12 yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi, giới, cânnặng, chiều cao, mật độ xương, tiền sử gãy xương của bản thân, gia đình, sử dụngrượu, thuốc lá, corticosteroid, bệnh lý viêm khớp dạng thấp, LX thứ phát Thông quacác yếu tố này, mô hình sẽ tính toán để đưa ra kết quả tiên lượng về xác suất gãyxương trong vòng 10 năm [51]
Trang 201.1.4.2 Chẩn đoán gãy xương cột sống
Gãy xương cột sống do LX không phải lúc nào cũng có triệu chứng lâm sàng [31]
Do đó X - quang là công cụ chẩn đoán hình ảnh quan trọng để chẩn đoán gãy đốtsống [31] Tác giả Genant và các cộng sự đã đưa ra tiêu chuẩn bán định lượng đánhgiá gãy xương đốt sống [28]
Theo phương pháp này, các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sẽ đọc phim dựa vào chiềucao thân đốt sống ở 3 vị trí: trước, giữa và sau trên phim nghiêng để phân loại gãyđốt sống
1.1.5.2 Các phương pháp điều trị loãng xương
Các can thiệp điều trị LX hướng đến các mục tiêu chính [76]:
- Ngăn ngừa gãy xương (bằng cách tăng mật độ xương và giảm nguy cơ té ngã)
Trang 21- Giảm triệu chứng (hậu quả của gãy xương và biến dạng xương)
- Duy trì chức năng cơ thể
- Giảm tử vong
Để đạt được những hiệu quả kể trên, điều trị bệnh nhân LX cần phải tác động toàndiện, phối hợp biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc
Điều trị bằng thuốc
Bảng 1.2: Thuốc phòng ngừa và điều trị loãng xương
70 mg uống/tuần
Risedronate 5 mg uống/ ngày
35 mg uống/ tuần
150 mg uống/ tháng
35 mg uống/tuần
150 mg uống/thángStronsium
ranelate 2 g/ ngàyZoledronic acid 5 mg TTM/ 2 năm 5 mg TTM/ năm 5 mg TTM/ năm
ngày
Trang 22Điều trị khác
Bên cạnh điều trị đặc hiệu bằng thuốc, những điều trị hỗ trợ khác cũng rất quantrọng trên bệnh nhân LX bao gồm: bổ sung can-xi và vitamin D, giảm rượu bia, tậpthể dục, ngăn ngừa té ngã [80]
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa CLCS là sự nhận thức của một cá nhân về tìnhtrạng hiện tại của cá nhân đó, dựa trên những chuẩn mực văn hóa và hệ thống giá trịcủa xã hội mà cá nhân đó đang sống, những chuẩn mực này gắn liền với các mục tiêu,
kỳ vọng, tiêu chuẩn, và mối quan tâm của mỗi cá nhân [37]
Có thể thấy, CLCS là một khái niệm tương đối rộng Để phản ánh những khía cạnhchuyên biệt hơn của CLCS, tổ chức y tế thế giới đưa ra khái niệm CLCS - liên quanđến sức khỏe (health - related Quality of Life) [86] Đây là khái niệm được sử dụngrộng rãi trong các nghiên cứu CLCS liên quan đến sức khỏe là sự đo lường các mốiquan hệ kết hợp về thể chất, tinh thần, sự tự hài lòng và mức độ hoạt động độc lậpcủa cá nhân cũng như sự tác động của mối quan hệ này với các đặc tính nổi bật tronghoàn cảnh sống của người đó [86] Từ phần này về sau, chúng tôi sẽ đề cập đến cụm
từ CLCS để chỉ CLCS liên quan đến sức khỏe
Trang 231.2.2 Các công cụ đánh giá CLCS
Có hai công cụ đánh giá CLCS chính là thang đo CLCS tổng quát (bao gồm: chỉ
số đơn lẻ, thang đo sức khỏe, thang đo tiện ích) và thang đo CLCS chuyên biệt [33]
Thang đo tổng quát
Trong phần thang đo tổng quát, chúng tôi sẽ đề cập đến hai thang đo phổ biến làthang đo sức khỏe và thang đo tiện ích
Thang đo sức khỏe
Thang đo sức khỏe là một công cụ được xây dựng nhằm đo lường tất cả các khíacạnh quan trọng của CLCS [33] Ưu điểm lớn nhất của thang đo sức khỏe nói riêng
và thang đo tổng quát nói chung là nó có thể được ứng dụng trong mọi bệnh lý, mọilĩnh vực sức khỏe, mọi dân số nghiên cứu bất kể bệnh lý nền là gì [36] Và bởi vìthang đo tổng quát áp dụng được trên nhiều dân số khác nhau, nó cho phép so sánh,đánh giá hiệu quả của nhiều chương trình can thiệp sức khỏe khác nhau Tuy nhiên,thang đo tổng quát không phản ánh tốt sự thay đổi CLCS trong các bệnh lý chuyênbiệt [36]
Thang đo tiện ích
Thang đo này phản ánh mối quan tâm của bệnh nhân về quá trình và kết quả điềutrị [79] Thang đo tiện ích được biểu hiện dưới dạng một điểm số trong khoảng từ 0đến 1 Trong đó 1 đại diện cho tình trạng khỏe mạnh nhất còn 0 tương đương với tửvong [79] Thang đo tiện ích cũng có thể được dùng để đo lường sự thay đổi CLCScủa bệnh nhân sau các can thiệp điều trị [33] Sự thay đổi này được tính toán bằngcách lấy điểm số CLCS cải thiện sau điều trị trừ đi điểm số gánh nặng do tác dụngphụ của điều trị gây ra Nhìn chung, thang đo này có thể đánh giá được sự cải thiệnhoặc xấu đi của CLCS nhưng nó không chỉ ra được sự thay đổi đó nằm trong lĩnh vựcnào Nếu kết hợp với các thang đo sức khỏe hoặc thang đo chuyên biệt thì có thể cảithiện được nhược điểm trên [33]
Trang 24Thang đo chuyên biệt
Nếu như thang đo tổng quát tập trung vào hầu hết các lĩnh vực của chất lượng cuộcsống thì thang đo chuyên biệt chỉ tập trung vào một lĩnh vực sức khỏe đặc trưng chotừng bệnh lý cụ thể, từng dân số bệnh nhân riêng biệt [61] Cụ thể, nhiều thang đochuyên biệt ra đời nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống trên một bệnh lý cụ thể nhưsuy tim hay hen suyễn, một dân số mục tiêu như người già suy yếu, một hoạt độngchức năng chính như giấc ngủ hay đi lại, một vấn đề quan tâm ví dụ như đau [33].Chính vì đặc điểm này mà thang đo chuyên biệt được sử dụng nhiều trong các nghiêncứu lâm sàng khi mà các nhà nghiên cứu quan tâm đến một bệnh lý, vấn đề hay dân
số cụ thể nào đó Sử dụng thang đo chuyên biệt làm tăng khả năng phát hiện nhữngthay đổi CLCS dù là rất nhỏ vì nó chỉ nghiên cứu một vài lĩnh vực của CLCS [33]
1.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân loãng xương
1.3.1 Các thang đo CLCS trên bệnh nhân loãng xương
Cũng giống như các bệnh lý khác, đo lường CLCS trên bệnh nhân LX cũng có hainhóm công cụ chính là các thang đo tổng quát và các thang đo chuyên biệt
Có nhiều thang đo tổng quát được sử dụng trong bệnh lý cơ xương khớp nhưng Bộcâu hỏi ngắn gồm 36 câu (The short form 36 questionnaire: SF - 36) và Bộ câu hỏi 5câu (Euroqol five item questionnaire: EQ - 5D) là hai công cụ được sử dụng nhiềunhất [10] Hai thang đo này đã được nghiên cứu trong nhiều bệnh lý cơ xương khớptrong đó có LX Tuy nhiên, như đã đề cập, các thang đo tổng quát không thể pháthiện được những thay đổi nhỏ trong CLCS của từng bệnh lý riêng biệt Vì vậy nhiềucông cụ đánh giá CLCS chuyên biệt nhằm đánh giá riêng cho bệnh nhân LX ra đời
Có 6 công cụ chuyên biệt thường dùng để đánh giá CLCS ở bệnh nhân LX [10] 6công cụ này bao gồm: bộ câu hỏi QUALEFFO-41 (Quality of Life Questionnaire ofthe European Foundation for Osteoporosis), bộ câu hỏi QUALIOST (questionnaireQoL in Osteoporosis), OPAQ (osteoporosis assessment questionnaire), OQLQ(osteoporosis QoL questionnaire), OFDQ (osteoporosis functional disabilityquestionnaire), và OPTQoL (osteoporosis-targeted QoL questionnaire)
Trang 25Bảng 1.3: Các bộ câu hỏi chuyên biệt đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân
Đau, chức năng cơ thể, chức năng xã hội, chứcnăng sức khỏe tổng quát, chức năng tinh thầnChức năng cơ thể, tình trạng cảm xúc
Nguồn: Lips Paul (2005) [55].
1.3.2 Bộ câu hỏi QUALEFFO-41
Bộ câu hỏi QUALEFFO-41 là một công cụ đánh giá CLCS xây dựng riêng chobệnh nhân LX Nó được phát triển bởi hội Loãng xương châu Âu Bộ câu hỏi ban đầugồm 48 câu hỏi trên các lĩnh vực: đau, hoạt động hàng ngày, công việc quanh nhà, đilại, giải trí và hoạt động xã hội, cảm xúc và nhận thức về tình trạng sức khỏe nóichung Nội dung các câu hỏi và lĩnh vực mà bộ câu hỏi khảo sát chủ yếu dựa trênnhững than phiền thường gặp cung cấp từ những bệnh nhân LX đến khám [54].Sau đó bộ câu hỏi được rút ngắn lại còn 41 câu hỏi trên 5 lĩnh vực 5 lĩnh vực sứckhỏe này bao gồm: đau, chức năng cơ thể (CNCT), chức năng xã hội (CNXH), cảmnhận sức khỏe tổng quát (SKTQ) và chức năng tinh thần (CNTT) [54] Bộ câu hỏi đãđược kiểm chứng về giá trị của nó trên bệnh nhân LX [53] Các nhóm câu hỏi trongQUALEFFO-41 phản ánh tương đối tốt lĩnh vực mà nó đại diện Bộ câu hỏi đã đượckiểm chứng tính lặp lại bằng cách đánh giá và tái đánh giá lại sau 3-4 tuần trên những
Trang 26là tương quan với độ nặng của bệnh Cuối cùng, QUALEFFO-41 đã chứng minh cókhả năng phân biệt tốt giữa nhóm bệnh và nhóm chứng Nó thích hợp dùng để so sánhgiữa các nhóm Sau khi được giải thích, hầu hết các bệnh nhân không gặp khó khănđáng kể nào khi hoàn thành bộ câu hỏi, cho thấy tính dễ hiểu, mạch lạc của bộ câuhỏi này [53] Chính vì vậy, dù có không ít những bộ câu hỏi chuyên biệt về LX ra đờinhưng QUALEFFO-41 vẫn là một trong những công cụ được ứng dụng nhiều trongnghiên cứu và đã được chuẩn hóa thành nhiều ngôn ngữ.
Năm 2011, tác giả Ngô Văn Quyền, Nguyễn Thy Khuê và các cộng sự đã thựchiện công trình chuyển ngữ bộ câu hỏi này sang tiếng Việt [3] Bộ câu hỏiQUALEFFFO-41 tiếng Việt đã được thẩm định giá trị và cho thấy đây là công cụ tốt
để đánh giá CLCS của bệnh nhân LX tại Việt Nam [3] Vì vậy, chúng tôi lựa chọn bộcâu hỏi này để thực hiện trong nghiên cứu của mình
Cấu trúc của bộ câu hỏi QUALEFFO-41 chia làm 5 lĩnh vực, với mỗi lĩnh vực, cáccâu hỏi tập trung vào các triệu chứng sau
Lĩnh vực 1: Đau bao gồm: đau lưngLĩnh vực 2: Chức năng cơ thể bao gồm:
Hoạt động hàng ngày: mặc quần áo, tắm rửa, đi vệ sinh, giấc ngủ
Công việc quanh nhà: lau nhà, nấu ăn, rửa chén, mua sắm, nâng vật nặng
Khả năng di chuyển: đứng dậy, cúi xuống, quỳ, leo lầu, đi bộ, ra khỏi nhà, sử dụng
Trang 27Bảng 1.4: Bộ câu hỏi QUALEFFO-41 Việt hóa
điểm
1 Đau
Tuần rồi, ông/bà có thường đau lưng không?
Nếu có đau lưng, ông/bà đau bao lâu vào ban ngày?
Lúc đau nhất, mức độ cơn đau lưng của ông/bà ra sao?
Cơn đau lưng của ông/bà những lúc khác ra sao?
Tuần rồi cơn đau lưng có làm rối loạn giấc ngủ của ông/bà không?
Mỗi câu hỏi
có 5 lựa chọnvới các mứcđiểm từ 1đến 5
2 Chức năng cơ thể
2.1.
Hoạt động hàng ngày
Ông/Bà có khó khăn trong việc mặc quần áo không?
Ông/Bà có khó khăn với việc tắm hoặc tắm vòi sen?
Ông/Bà có khó khăn trong việc đi đến hoặc sử dụng nhà vệ sinh không?
Ông/Bà ngủ có ngon không?
Mỗi câu hỏi
có 5 lựa chọnvới các mứcđiểm từ 1đến 5
2.2.
Các việc quanh nhà
Ông/Bà có thể lau nhà không?
Ông/Bà có thể chuẩn bị các bữa ăn không?
Ông/Bà có thể rửa chén dĩa không?
Ông/Bà có thể đi mua sắm hàng ngày không?
Ông/Bà có thể nâng một vật nặng khoảng 10kg và mang đi ít nhất 10 mét được không?
Mỗi câu hỏi
có 5 lựa chọnvới các mứcđiểm từ 1đến 5
Ông/Bà cúi xuống được không?
Mỗi câu hỏi
có 5 lựa chọnvới các mức
Trang 28di chuyển
Ông/Bà quỳ xuống được không?
Ông/Bà đi lên lầu một của nhà mình được không?
Ông/Bà có thể đi bộ 100 mét không?
Tuần rồi, ông/bà có hay đi ra ngoài không?
Ông/Bà có thể đi xe buýt được không?
Ông/Bà có bị ảnh hưởng đến hình dáng do loãng xương không? (giảm chiều cao, tăng vòng eo, khom lưng)
điểm từ 1đến 5
3 Các hoạt động
xã hội, lúc rãnh rỗi
Bây giờ, ông/bà có thể chơi môn thể thao nào không?
Ông/Bà có thể làm vườn không?
Bây giờ, ông/bà có sở thích riêng nào không?
Ông/Bà có thể đi xem hát, chiếu phim không?
Ông/Bà có đi thăm bạn bè hoặc người thân trong vòng 3 tháng qua không?
Ông/Bà có tham gia câu lạc bộ hưu trí, câu lạc bộ dưỡng sinh hay đi chùa/nhà thờ trong vòng 3 tháng qua không?
Cơn đau lưng của ông/bà có gây trở ngại cho hoạt động tình dục không?
Mỗi câu hỏi
có 4 lựa chọnvới các mứcđiểm từ 1 - 3
- 5 - 0 hoặc 1
- 2,3 - 3,6 -5
4 Cảm nhận sức khỏe tổng quát
Hiện tại, ông/bà thấy sức khỏe của mình là?
Trong tuần rồi, sức khỏe của ông/bà như thế nào?
So với 10 năm trước, sức khỏe hiện nay của ông/bà như thế nào?
Mỗi câu hỏi
có 5 lựa chọnvới các mứcđiểm từ 1đến 5
5 Chức năng tinh thần
Ông/Bà cảm thấy dễ mệt không?
Ông/Bà có cảm thấy chán nản không?
Ông/Bà có cảm thấy cô đơn không?
Mỗi câu hỏi
có 5 lựa chọnvới các mức
Trang 29Ông/Bà có cảm thấy mình dồi dào sức lực hay không?
Ông/Bà có hi vọng về tương lai không?
Ông/Bà có lo phiền về những điều nhỏ nhặt không?
Ông/Bà có dễ tiếp xúc với mọi người không?
Tinh thần ông/bà có thoải mái phần lớn thời gian trong ngày không ?
Ông/Bà có sợ sẽ bị lệ thuộc hoàn toàn không?
điểm từ 1đến 5
Nguồn: Ngô Văn Quyền (2011) [3].
• Tất cả các câu trả lời đã được chuẩn hóa vì vậy 1 đại diện cho CLCS tốtnhất và 5 đại diện cho CLCS xấu nhất (điểm đảo ngược ở các câu hỏi 33,
Cách chuyển từ điểm trung bình sang điểm lĩnh vực theo thang điểm từ 0-100:
Điểm lĩnh vực = (Điểm trung bình – Điểm thấp nhất có thể) × 100 / Phạm vi điểm
Ví dụ ở lĩnh vực đau, nếu điểm số các câu hỏi từ 1-5 lần lượt là 3, 3, 4, 1, 3Điểm trung bình (3 + 3 + 4 + 1 + 3) / 5 = 2,8
Điểm lĩnh vực đau quy đổi là
Trang 30Điểm lĩnh vực sau khi quy đổi sẽ được làm tròn thành số nguyên, ví dụ 43,75→44
❖ Cách tính điểm QUALEFFO-41 toàn bộ
Điểm toàn bộ được tính bằng tổng số điểm của 41 câu hỏi
Điểm toàn bộ trong phạm vi từ 41-205 (hoặc thấp hơn nếu bị thiếu câu trả lời)Sau đó điểm được chuyển sang điểm từ 0-100
Điểm toàn bộ = (Điểm thực sự – Điểm thấp nhất có thể) × 100 / Phạm vi điểm
Ví dụ nếu bệnh nhân không có câu trả lời bị thiếu thì:
Điểm QUALEFFO-41 toàn bộ = (Điểm thực sự – 41) × 100 / (205 – 41)
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân giảm mật độ xương
1.3.3.1 Thừa cân
Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh nhân giảm mật độ xương có BMI ≥ 25 thì CLCSxấu hơn so với bệnh nhân có BMI < 25 [6], [18], [71] Điều này có nghĩa là, mặc dùthiếu cân là yếu tố nguy cơ của LX nhưng một khi đã bị LX bệnh nhân thừa cân béophì lại có CLCS kém hơn [39]
1.3.3.2 Học vấn
Bệnh nhân học vấn từ trung học cơ sở trở lên có CLCS tốt hơn trên hầu hết cáclĩnh vực (đau, hoạt động cơ thể, CNXH, nhận thức chung về sức khỏe) so với nhómbệnh nhân có học vấn thấp [6]
1.3.3.3 Giảm chiều cao
Mức độ giảm chiều cao có liên quan đến CLCS Nghiên cứu của tác giả Grazynacho thấy bệnh nhân có mức giảm chiều cao từ 3 cm trở lên có liên quan đến CLCSxấu hơn [6]
Trang 311.3.3.4 Biến dạng lưng
Bệnh nhân LX và TX có thể có những thay đổi hình dạng cột sống dẫn đến nhữngbiến dạng như gù lưng, ưỡn lưng Những thay đổi này là yếu tố liên quan với CLCSxấu hơn đặc biệt trên các lĩnh vực CNCT, xã hội và tinh thần [6] Một nghiên cứu chothấy gù cột sống ảnh hưởng xấu đến tư thế dáng đi và CLCS của bệnh nhân [72]
1.3.3.5 Hoạt dộng thể chất
Một nghiên cứu cho thấy hoạt động thể chất liên quan đến CLCS tốt hơn trong lĩnhvực CNCT [6] Nghiên cứu khác cũng ghi nhận tập thể dục 3 lần/tuần giúp cải thiệnCLCS trên hầu hết các lĩnh vực CLCS ở bệnh nhân LX, trừ lĩnh vực CNTT [49]
1.3.3.6 Điều trị bisphosphonate
Một số nghiên cứu cho thấy bệnh nhân LX điều trị với alendronate không chỉ tăngmật độ xương mà còn cải thiện CLCS [47], [89] Hiệu quả này cũng được ghi nhậnđối với acid zoledronic, risedronate trong một số nghiên cứu [29], [62], [70]
1.3.3.7 Điều trị hormone thay thế
Phụ nữ mãn kinh điều trị hormone thay thế cũng cho thấy có CLCS tốt hơn so vớinhóm không điều trị [6]
1.3.3.8 Điều trị vitamin D
Tình trạng thiếu hụt vitamin D ở bệnh nhân LX có liên quan đến việc giảm CLCScủa bệnh nhân trên các lĩnh vực CNCT, xã hội và tinh thần [9]
1.3.3.9 Tiền căn gãy xương
Bệnh nhân có tiền căn gãy xương nhìn chung có CLCS xấu hơn so với bệnh nhânkhông có tiền căn gãy xương [6] Điều này được quan sát thấy trong gãy đầu xa xươngcẳng tay,gãy xương vùng hông,gãy xương đốt sống [5], [22], [55], [66]
1.3.3.10 Gãy xương đốt sống
Một nghiên cứu thực hiện trên 751 phụ nữ mãn kinh cho thấy bệnh nhân giảm mật
Trang 32xương trên tất cả các lĩnh vực [64] Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy ảnh hưởngcủa gãy xương đốt sống lên CLCS của bệnh nhân LX [5], [78].
Số lượng đốt sống gãy: nghiên cứu của tác giả Oleksik Anna và cộng sự thực hiện
năm 2000 cho thấy xu hướng gia tăng điểm số QUALEFFO-41 khi có càng nhiều đốtsống gãy [64] Thông qua đó, nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng xấu của số lượng đốt sốnggãy lên CLCS ở bệnh nhân giảm mật độ xương Một nghiên cứu khác cho thấy xuhướng giảm CLCS rõ rệt khi bệnh nhân có từ 2 đốt sống bị gãy trở lên [24]
Vị trí gãy xương đốt sống: So sánh trực tiếp giữa các vị trí gãy xương với nhau
cho thấy bệnh nhân gãy đốt sống thắt lưng giảm CLCS hơn so với bệnh nhân gãy đốtsống ngực trên các lĩnh vực CNCT, nhận thức chung về sức khỏe [64]
Độ nặng gãy xương đốt sống: Độ nặng gãy xương đốt sống cũng là yếu tố ảnh
hưởng đến CLCS Dựa trên phương pháp bán định lượng của Genant, một nghiên cứuchỉ ra gãy xương đốt sống càng nặng thì CLCS trên các lĩnh vực CNCT và CNXH
càng xấu (p < 0,0001) [24].
1.3.3.11 Lo âu trầm cảm
Những bệnh nhân giảm mật độ xương kèm theo tình trạng lo âu hoặc trầm cảmdựa vào thang lo âu và trầm cảm trong bệnh viện (Hospital Anxiety and DepressionScale: HADS) cho thấy có CLCS kém hơn [6]
1.3.4 Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu về CLCS ở phụ nữ mãn kinh bị LX Tuy nhiênnhư đã đề cập, không nhiều nghiên cứu thực hiện trên dân số người cao tuổi
Năm 2001, tác giả Romagnoli (tại Ý) thực hiện nghiên cứu trên 3 nhóm phụ nữbao gồm 66 phụ nữ mật độ xương bình thường (tuổi trung bình 57,4 ± 6,5); 150 phụ
nữ TX (tuổi trung bình 62 ± 7,5) và 145 phụ nữ LX (tuổi trung bình 63,7 ± 6,6) [69].Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về điểm số CLCS trung bình giữa bệnh nhân
LX và TX so với bệnh nhân có mật độ xương bình thường p > 0,05 [69] Tuy nhiên,
Trang 33khi xét trên từng lĩnh vực, nghiên cứu cho thấy nhóm LX giảm CLCS trên hai lĩnhvực CNTT và SKTQ Nhóm TX cũng ghi nhận giảm CLCS trên lĩnh vực CNTT.Sau đó, Barbara và cộng sự (Áo, 2009) thực hiện một nghiên cứu khác trên nhữngbệnh nhân ≥ 60 tuổi [42] Kết quả ghi nhận bệnh nhân cao tuổi LX có hay không cótiền căn gãy xương đều bị giảm CLCS so với bệnh nhân TX cùng độ tuổi [42].Một nghiên cứu gần đây của tác giả Grażyna Bączyk1 (Ba Lan, 2016) cho kết quảkhác với nghiên cứu trước đó của Romagnoli (2004) [6] Cụ thể nghiên cứu nhận vàonhững phụ nữ mãn kinh ≥ 50 tuổi: bao gồm 85 bệnh nhân LX, 122 bệnh nhân TX và
97 bệnh nhân mật độ xương bình thường [6] Kết quả nhóm bệnh nhân LX và TX đều
có CLCS giảm hơn so với nhóm bình thường [6] Đồng thời nghiên cứu đưa ra cácyếu tố ảnh hưởng đến CLCS ở bệnh nhân giảm mật độ xương bao gồm: học vấn, biếndạng lưng, tiền căn gãy xương, giảm chiều cao, sự lo lắng
Một nghiên cứu khác của tác giả Oliveira (Brazil, 2009) thực hiện trên những bệnhnhân từ 55 - 80 tuổi với độ tuổi trung bình 64, cho thấy béo phì, lối sống tĩnh tại vàmức thu nhập là các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân LX [18]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Ngô Văn Quyền (2011) thực hiện trên nhữngbệnh nhân nữ mãn kinh cho thấy: CLCS ở bệnh nhân LX có gãy đốt sống (56,98điểm) và bệnh nhân LX không gãy đốt sống (43,39 điểm) đều giảm hơn so với nhómchứng (29,22 điểm) [3] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bệnh nhân LX gãy đốt sốnggiảm CLCS so với nhóm không gãy (p < 0,05)
Trang 34Bảng 1.5: Tổng hợp các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân
loãng xương và thiếu xương trên thế giới và Việt Nam
Romagnoli(2004), tại Ý[69]
361 phụ nữ mãn kinh:
- 66 mật độ xương bìnhthường
- 150 TX
- 145 LX
Nhóm LX giảm CLCS trên lĩnhvực CNTT và SKTQ so với nhómmật độ xương bình thường
Nhóm TX giảm CLCS trên lĩnhvực CNTT so với nhóm mật độxương bình thường
Barbara (2009),tại Áo [42]
Bệnh nhân ≥ 60 tuổi
- 44 TX
- 89 LX có gãy xương
- 89 LX không gãy xương
Nhóm LX không tiền căn gãyxương có CLCS kém hơn so vớinhóm TX (p < 0,05)
Nhóm LX có tiền căn gãy xương
có CLCS kém hơn so với bệnhnhân TX (p < 0,05)
GrażynaBączyk1 (2016),tại Phần Lan [6]
Phụ nữ ≥ 50 tuổi:
- 85 LX
- 122 TX
- 97 mật độ xương bìnhthường
Nhóm LX, TX giảm CLCS trênmọi lĩnh vực so với nhóm mật độxương bình thường
Các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS:học vấn, biến dạng lưng, tiền căngãy xương, giảm chiều cao, sự lolắng
Ngô Văn Quyền(2011), tại ViệtNam [3]
Phụ nữ mãn kinh 55-82tuổi:
- 37 LX không gãy đốtsống
- 37 LX gãy đốt sống
- 37 bệnh nhân khỏe mạnh
CLCS ở nhóm LX có và không cógãy đốt sống đều giảm hơn so vớinhóm chứng
Nhóm LX gãy đốt sống có CLCSkém hơn nhóm LX không gãy đốtsống
Nguồn: Elisabetta Romagnoli (2004) [69] Barbara (2009) [42] Grażyna Bączyk1
(2015) [6] Ngô Văn Quyền (2011) [3].
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.2.1.2 Nhóm thiếu xương
Bệnh nhân cao tuổi được chẩn đoán thiếu xương tại phòng khám và khoa Nội CơXương Khớp, phòng khám Nội Tổng quát bệnh viện Chợ Rẫy, đồng ý tham gianghiên cứu
2.2.1.3 Nhóm so sánh
Bệnh nhân cao tuổi có mật độ xương bình thường tại phòng khám Nội Tổng quátbệnh viện Chợ Rẫy, đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 362.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
• Các bệnh lý khớp ảnh hưởng đến CLCS: thoái hóa khớp gối, viêm khớp gút,viêm khớp dạng thấp,…
• Có các bệnh lý nội khoa ảnh hưởng đến CLCS: ung thư, bệnh thận mạn(BTM) giai đoạn 4-5, bệnh phổi mạn tính, bệnh tim mạch mạn tính (suy timmạn giai đoạn 3-4), sa sút trí tuệ
• Các vấn đề về ngôn ngữ, nghe, hiểu mà không thể hoàn thành bộ câu hỏi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
α: là sai lầm loại 1 α = 0,05β: là sai lầm loại 2 β = 0,2
µ1, µ2: lần lượt là điểm QUALEFFO-41 trung bình của hai nhóm cần so sánhσ1, σ2:là độ lệch chuẩn điểm QUALEFFO-41 của hai nhóm cần so sánh
r là tỷ lệ giữa hai mẫu, r = 1
Vì đau là lĩnh vực chất lượng cuộc sống quan trọng nhất trên bệnh nhân LX nênchúng tôi lấy điểm số lĩnh vực đau trong bộ câu hỏi QUALEFFO-41 để so sánh
❖ Với mục tiêu so sánh giữa hai nhóm LX và mật độ xương bình thường:
- µ1 là điểm lĩnh vực đau trung bình của nhóm LX µ1 = 42,1
Trang 37- µ2 là điểm lĩnh vực đau trung bình của nhóm mật độ xương bình thường
µ2 = 18,9
- σ1 là độ lệch chuẩn điểm lĩnh vực đau của nhóm LX σ1 = 29,9
- σ2 là độ lệch chuẩn điểm lĩnh vực đau của nhóm mật độ xương bình thườngσ2 = 26,1
theo nghiên cứu của tác giả Grażyna Bączyk1 (Ba Lan, 2016) [6]
Từ đó tính ra cỡ mẫu tối thiểu của mỗi nhóm LX và nhóm mật độ xương bìnhthường là
n ≥ 23
❖ Với mục tiêu so sánh giữa hai nhóm thiếu xương và mật độ xương bìnhthường:
- µ1 là điểm lĩnh vực đau trung bình của nhóm TX µ1 = 35,1
- µ2 là điểm lĩnh vực đau trung bình của nhóm mật độ xương bình thường
µ2 = 18,9
- σ1 là độ lệch chuẩn điểm lĩnh vực đau của nhóm TX σ1 = 24,2
- σ2 là độ lệch chuẩn điểm lĩnh vực đau của nhóm mật độ xương bình thườngσ2 = 26,1
theo nghiên cứu của tác giả Grażyna Bączyk1 (Ba Lan, 2016) [6]
Từ đó tính ra cỡ mẫu tối thiểu của mỗi nhóm TX và nhóm mật độ xương bìnhthường là
n ≥ 38Vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn mỗi nhóm LX, TX, mật độ xương bình thườngtối thiểu 38 bệnh nhân Tổng cỡ mẫu tối thiểu 114 bệnh nhân
2.3.3 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, không xác suất
Trang 382.3.4 Thu thập dữ liệu
2.3.4.1 Nhóm loãng xương và thiếu xương
Bệnh nhân cao tuổi được chẩn đoán xác định LX hoặc TX (dựa trên mật độ xương
3 vị trí CSTL, cổ xương đùi, toàn bộ xương hông đo bằng DXA) tại phòng khám vàkhoa Nội Cơ Xương Khớp, phòng khám Nội Tổng quát bệnh viện Chợ Rẫy, không
có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được giải thích ý nghĩa, mục đích, lợi ích và nguy cơ củanghiên cứu
Nếu đồng ý, đối tượng sẽ kí vào giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu thập các thông tin cá nhân của bệnh nhân bao gồm: tuổi,giới, cân nặng, chiều cao, trình độ học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnhsống, thói quen tập thể dục, hút thuốc lá, mật độ xương tại 3 vị trí: CSTL, cổ xươngđùi và toàn bộ xương hông; điểm số T-score, tiền căn gãy xương, cảm nhận về thayđổi hình dáng lưng, giảm chiều cao, việc sử dụng bisphosphonate, can-xi và vitamin
D Nếu là nữ chúng tôi thu thập thêm tuổi mãn kinh
Bệnh nhân LX và TX sẽ được chụp X-quang cột sống ngực và thắt lưng thẳng,nghiêng để xác định tình trạng gãy lún đốt sống, vị trí, mức độ gãy theo phân loạiGenant
Tiếp đến, đối tượng nghiên cứu sẽ được phỏng vấn riêng bảng câu hỏiQUALLEFFO-41 Người phỏng vấn đọc lần lượt từng câu hỏi và câu trả lời cho đốitượng nghiên cứu chọn lựa Sau đó người phỏng vấn khoanh tròn lựa chọn của bệnhnhân trong bộ câu hỏi Bảng câu hỏi hoàn thành trong khoảng 20 - 25 phút (không kểthời gian giải thích)
Mọi thông tin cá nhân đối tượng sẽ được mã hóa và giữ kín
2.3.4.2 Nhóm so sánh
Bệnh nhân cao tuổi có mật độ xương bình thường (dựa trên mật độ xương 3 vị tríCSTL, cổ xương đùi, toàn bộ xương hông đo bằng DXA) tại phòng khám Nội Tổngquát bệnh viện Chợ Rẫy, không có tiêu chuẩn loại trừ sẽ được giải thích ý nghĩa, mục
Trang 39đích, lợi ích và nguy cơ của nghiên cứu Nếu đồng ý, đối tượng sẽ kí vào giấy đồngthuận tham gia nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành thu thập các thông tin cá nhân của bệnh nhân bao gồm: tuổi,giới, cân nặng, chiều cao, trình độ học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnhsống, thói quen tập thể dục, hút thuốc lá, mật độ xương 3 vị trí: CSTL, cổ xương đùi,toàn bộ xương hông; điểm T-score, tiền căn gãy xương, sử dụng can-xi và vitamin D.Nếu là nữ chúng tôi thu thập thêm tuổi mãn kinh
Tiếp đến, đối tượng nghiên cứu sẽ được phỏng vấn riêng bảng câu hỏiQUALLEFFO-41 Người phỏng vấn đọc lần lượt từng câu hỏi và câu trả lời cho đốitượng nghiên cứu chọn lựa Sau đó người phỏng vấn khoanh tròn lựa chọn của bệnhnhân trong bộ câu hỏi Bảng câu hỏi hoàn thành trong khoảng 20 - 25 phút (không kểthời gian giải thích)
Mọi thông tin cá nhân đối tượng sẽ được mã hóa và giữ kín
2.4 Liệt kê các biến số
Bảng 2.1: Liệt kê các biến số nghiên cứu
Biến số nhân khẩu, nhân trắc-xã hội
Trang 402 Sống viện dưỡng lão.Tuổi mãn kinh Biến định lượng
Biến số thói quen và bệnh lý nền
0 Không
1 Có