1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Bài Thảo luận) Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ

20 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 102,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng. Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN 1

I Cơ sở lý thuyết và những vấn đề liên quan đến cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng 2

1.1 Các khái niệm 2

1.2 Động cơ can thiệp của chính phủ đối với cơ sở hạ tầng ( cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng ) 2

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng 3

1.4 Vai trò của chính phủ khi can thiệp vào cơ sở hạ tầng 8

II Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ 9

2.1 tổng quát về các biện pháp can thiệp cơ sở hạ tầng của chính phủ 9

2.2 Thực trạng khi chính phủ thực hiện các biện pháp can thiệp vào cơ sở hạ tầng 9

2.2.1 thu phí BOT 9

2.2.1 Quyết định số 355/QĐ-TTg 10

2.2.2 Nghị quyết số 26/2016/QH14 13

2.3 Thành công và hạn chế của các biện pháp 14

III Giải pháp để nhà nước sử dụng các biện pháp can thiệp vào cơ sở hạ tầng hiệu quả 15

1 Tập trung hình thành hệ thống giao thông dọc và ngang trong lãnh thổ cả nước, nối các vùng khó khăn với các vùng kinh tế trọng điểm và trung tâm đô thị lớn; phát triển hệ thống giao thông giao lưu quốc tế 15

2 Phát triển hệ thống sản xuất và mạng cung cấp điện thống nhất 16

3 Phát triển mạng lưới bưu chính, viễn thông, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt 16

4 Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng 16

5 Gỉai quyết thất bại thị trường 18

Trang 2

LỜI CÁM ƠN !

Trước hết, nhóm em xin gửi tới giảng viên Phạm Thị Tuệ chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cám ơn sâu sắc Sự thành công nào cũng đều gắn liền với những

sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người xung quanh dù cho sự giúp đỡ đó là ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp Trong suốt thời gian học tập học phần Nhập môn tài chính -tiền tệ chúng em xin cám ơn cô vì những bài giảng của cô đã truyền cảm hứng cho những sinh viên thêm yêu thích bộ môn tài tài chính doanh nghiệp nói chung và học phần nhập môn kinh tế công cộng nói riêng

Từ khi bắt đầu làm đề tài thảo luận đến nay, nhóm chúng em đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của cô đến nay đến nay nhóm đã có thể hoàn thành

đề tài thảo luận được giao Trước khi trình bày nội dung chính của bài thảo luận, chúng

em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những sự hỗ trợ tận tâm từ cô

Một lần nữa chúng em xin cám ơn cô Phạm Thị Tuệ đã nhiệt tình giúp đỡ nhóm

em hoàn thành đề tài thảo luận này một cách tốt nhất !

Hà Nội, Ngày 30 tháng 10 năm 2020 Đại diện nhóm, Nhóm trưởng (Ký rõ họ, tên)

Huyền Phan Khánh Huyền

Trang 3

Đề tài: Cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng Phân tích các biện pháp

can thiệp của chính phủ

I Cơ sở lý thuyết và những vấn đề liên quan đến cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng

I.1 Các khái niệm

-Cơ sở hạ tầng (Infrastructure) còn được gọi là kết cấu hạ tầng, công trình hạ tầng, là hệ thống các công trình xây dựng làm nền tảng cho mọi hoạt động của đô thị.Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm hai hệ thống: hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội -Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và các công trình khác

-Hệ thống hạ tầng xã hội bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình khác Ngoài ra còn có hệ thống hạ tầng kinh tế theo nghĩa hẹp bao gồm các công trình nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, thủy lợi, chuồng trại, phục vụ trực tiếp các ngành sản xuất và dịch vụ kinh tế Cơ sở hạ tầng về kinh tế theo nghĩa rộng bao gồm các cơ sở hạ tầng và kỹ thuật và xã hội

I.2 Động cơ can thiệp của chính phủ đối với cơ sở hạ tầng ( cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng )

Quyền sở hữu: là quyền con người cơ bản

Là nền tảng cần thiết cho tiến bộ kinh tế và thịnh vượng

- Do chính vai trò đặc biệt quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với nền kinh tế xã hội và đời sống nhân dân

- Do nhu cầu phát triển và vận hành đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt

là hệ thống kỹ thuật Nhu cầu đồng bộ là một nhu cầu khách quan của sự vật có tính hệ thống, cơ sở hạ tầng lại là các hệ thống lớn và phức tạp

- Cơ sở hạ tầng đều là những công trình lớn, cố định, tồn tại lâu dài, vốn đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn châm

Quyết định đầu tư các công trình kỹ thuật hạ tầng đều phải theo luật " Hạ thủ bất hoàn" Do đó, việc nghiên cứu để đi đến quyết định đầu tư phải rất công phu Mặt khác, vốn đầu tư vào các công trình hạ tầng thường thu hội chậm Với vốn lớn và thu hồi chậm chỉ có Nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế rất lớn mới có, hoặc chỉ có Nhà nước mới huy động được

Trang 4

- Áp lực tăng trưởng và xu thế phát triển tự phát của nền kinh tế thị trường thường xuyên đe dọa sự mất cân bằng, ổn định của đô thị: Xu thế phát triển này như dòng nước chảy, chỉ có thể khơi dòng để định hướng dòng chày, chứ không thể ngăn chặn được Việc khơi dòng ấy chính là việc quy hoạch và cung ứng cơ sở hạ tầng đô thị Kinh nghiệm các nước cho thấy, trong thời kỳ công nghiệp hóa, tất cả các thành phố đều không đáp ứng kịp nhu cầu tăng trưởng đô thị Tình trạng chiếm đất xây dựng

tự phát ở nơi chưa có cơ sở hạ tầng, tình trạng nghèo, đói và tệ nạn xã hội phổ biến ở các khu vực phát triển tự phát Về giá trị vật chất, những công trình nhà ở tự phát thường không lớn, nhưng so với tài sản của những người nghèo thì rất lớn Xây dựng

tự phát không có cơ sở hạ tầng, đặc biệt về giao thông, thoát nước đã tạo nên môi trường sống cực kỳ ô nhiễm và thiếu an toàn Chỉ có kịp thời quy hoạch và phát triển

hạ tầng mới chống lại nạn xây dựng tự phát một cách hiệu quả

- Phát triển hệ thống hạ tầng là việc của cộng đồng, chỉ có Nhà nước đứng ra mới huy động được nguồn lực từ cộng đồng: Nhà nước có trách nhiệm tổ chức và huy động mọi nguồn lực từ nhân dân để phục vụ nhân dân Nguồn lực từ cộng đồng được hiểu là

từ từng khu dân cư tới toàn khu đô thị và toàn xã hội Nguồn lực đó bao gồm từ tài chính ( vốn) tài sản (ví dụ đất đai) tới trí tuệ và sức lực Hình thức tham gia của cộng đồng bao gồm:

- Trực tiếp góp tiền hoặc đất đai để xây dựng,

- Trực tiếp tham gia ý kiến về quy hoạch, kỹ thuật xây dựng, từ khâu thiết kế đến thi công,

- Đầu tư qua hình thức BOT,

- Đầu tư qua hình thức công trái và cổ phiếu,

- Giám sát thực hiện việc xây dựng và quản lý khai thác Tham gia bảo vệ công trình,

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ sở để chính phủ can thiệp vào cơ sở hạ tầng Một là, hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mạng lưới giao thông chưa kết nối giữa các loại đường, giữa đường với cảng, giữa các vùng, nên chưa có khả năng phát triển vận tải đa phương thức Tình trạng kỹ thuật của hệ thống đường bộ chưa cao, chất lượng đường bộ còn thấp và lạc hậu Đường cấp I, II, II chiếm 48,3%; đường cấp

IV chiếm 31,3% và đường cấp V chiếm 20,4% Năng lực thông qua hạn chế, đường bốn làn xe chỉ chiếm gần 4%, đường 2 làn xe chiếm 36% Tỷ lệ quốc lộ có tiêu chuẩn

kỹ thuật cao và trung bình mới chiếm 47%, tỷ lệ đường cao tốc mới chỉ đạt 0,1% trong

Trang 5

khi ở Thái Lan là 13,3%, Malaysia là 2,1% và Hàn Quốc là 3,3% Chất lượng đường giao thông nông thôn thấp, giao thông vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Công tác quản lý, bảo trì đường bộ còn chưa được coi trọng đúng mức Cơ cấu đầu tư cho xây dựng cơ bản và vốn bảo trì chưa hợp lý, vốn đầu tư cho công tác bảo trì mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu bảo trì của hệ thống đường bộ Đường sắt chủ yếu

là đường đơn khổ 1.000 mm, lại hạn chế về kỹ thuật nên tốc độ chạy tàu thấp, kém an toàn, khai thác mới chỉ đạt 60-70% năng lực Năng lực vận chuyển thấp, chưa có tuyến nào vượt quá 25 đôi tàu/ngày-đêm, trong khi đó ở các nước tiên tiến con số này là

40-45 đôi tàu/ngày-đêm Trong tổng số trên 2.600 km đường sắt, chỉ có 237 km khổ 1.435

mm Đường sắt nối vào các cảng biển chưa được chú trọng đầu tư Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên chưa có đường sắt Hệ thống cảng biển quy mô, công nghệ kỹ thuật thấp, số cầu cảng tiếp nhận được tàu 50.000 DWT chỉ chiếm có 1,4%, tỷ lệ bến chuyên dùng cho hàng container còn thấp trong khi nhu cầu vận tải hàng này tăng rất nhanh Chưa có cảng trung chuyển quốc tế lớn, hiện đại, mặc dù đã

có những hải cảng quốc tế như Cảng Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu Quy hoạch bến bãi chưa tốt, không gian bến chưa hợp lý, quản lý khai thác thiếu tính chuyên nghiệp nên hiệu quả bốc xếp container tại các cảng Việt Nam thấp hơn mức trung bình của các cảng trong khu vực Hệ thống cảng sông còn rất lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu.Hệ thống logistics còn yếu, tuy đã có một số cảng cạn (ICD) cho hàng container song chưa phát huy được vai trò trung tâm tiếp nhận phân phối, trung chuyển hàng hóa Phí dịch vụ hàng hóa qua cảng cao, thời gian thông quan kéo dài, chưa có cảng container trung chuyển quốc tế.Trong 22 cảng hàng không, chưa có cảng hiện đại tầm cỡ quốc tế, chưa

có sân bay đạt tiêu chuẩn loại 4F hiện đại Nhiều cảng hàng không chưa đủ khả năng tiếp nhận máy bay vào ban đêm hoặc khi thời tiết xấu, 40% số cảng hàng không chỉ có khả năng khai thác máy bay nhỏ Năng lực vận tải hành khách và hàng hóa bằng đường hàng không còn thấp so với các nước trong khu vực.Công nghệ của hệ thống các nhà máy điện chỉ đạt trình độ trung bình so với trình độ công nghệ của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới Hệ thống lưới điện chất lượng thấp, tổn thất điện năng lớn so với các nước trong khu vực và trên thế giới (của Việt Nam là 9,6%, trong khi đó bình quân của thế giới là 8,4%).Nhiều công trình thủy lợi chưa đồng bộ,

Trang 6

hiệu quả thấp, nhiều công trình xây dựng đã lâu ít được duy tu, bảo dưỡng, đang bị xuống cấp nghiêm trọng, chỉ có 19% kênh mương được kiên cố hoá.Hạ tầng các khu công nghiệp chưa đồng bộ, còn thiếu các công trình hạ tầng xã hội thiết yếu, chậm đầu

tư các công trình xử lý chất thải Hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển nhanh nhưng chưa thực sự bền vững, độ phủ sóng của mạng viễn thông không đồng đều, chất lượng và mạng lưới dịch vụ chưa đáp ứng tốt yêu cầu của người sử dụng Mật độ băng rộng vẫn còn thấp so với nhiều nước trên quốc tế và trong khu vực Công nghệ thông tin chưa được phát triển như một ngành hạ tầng phục vụ cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế Mức độ tin học hóa trong các ngành, lĩnh vực còn rất thấp, công nghệ thông tin chưa thấm sâu vào từng sản phẩm của mỗi ngành, đóng góp của công nghệ thông tin cho giá trị gia tăng trong cấu thành sản phẩm còn ít Quy mô công nghiệp công nghệ thông tin còn nhỏ, năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh còn yếu Công nghiệp phần mềm còn manh mún, năng lực nghiên cứu và phát triển chưa cao, đội ngũ nhân lực còn thiếu về số lượng và yếu về các kỹ năng chuyên sâu cũng như ngoại ngữ Tỷ lệ nội địa hoá và hàm lượng giá trị gia tăng của công nghiệp phần cứng, điện tử không cao, chỉ chiếm khoảng hơn 10% tổng doanh thu Công nghiệp nội dung

số và công nghiệp dịch vụ vẫn còn mang tính sơ khai Công trình kết cấu hạ tầng đa mục tiêu còn ít, hiệu quả đầu tư thấp do thiếu sự phối hợp trong quy hoạch và quản lý quy hoạch giao thông với thủy lợi, thủy điện, kinh tế biển, dịch vụ, du lịch…Hai là, hạ tầng đô thị thiếu đồng bộ, chất lượng kém và quá tải Giao thông đô thị chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Tỷ lệ đất dành cho giao thông quá thấp (Hà Nội mới chỉ đạt 6-7%, thành phố Hồ Chí Minh 8%, trong khi tiêu chí quy định là 20-25%) Mật độ đường tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng chỉ đạt 4-5 km/km2 Trong mạng lưới, các đường giao thông chính, đường xuyên tâm, các tuyến vận tải công cộng khối lượng lớn như hệ thống đường sắt ngầm, đường sắt trên cao và đường vành đai chưa được xây dựng hoàn thiện, khép kín, ảnh hướng lớn đến

tổ chức và giải quyết các vấn đề giao thông Vận tải công cộng chưa đáp ứng kịp nhu cầu (xe buýt Hà Nội chỉ đáp ứng khoảng 15%; thành phố Hồ Chí Minh 10%, Đà Nẵng

và Hải Phòng khoảng 3%) Tỷ lệ đất dành cho giao thông tĩnh rất thấp, chỉ khoảng dưới 1%, Hà Nội chỉ có 0,23% và thành phố Hồ Chí Minh 1% so với diện tích đất xây dựng đô thị (yêu cầu là 3-5%) Hệ thống bến bãi, điểm đỗ xe thiếu về số lượng, kém về

Trang 7

chất lượng phục vụ.Thiếu hệ thống đường vành đai liên kết vùng và hệ thống giao thông công cộng liên vùng Hệ thống giao thông kết nối giữa các đô thị lớn với các đầu mối giao thông liên vùng và quốc tế còn hạn chế, tổ chức vận tải chưa hợp lý Việc tin học hóa tổ chức vận tải đa phương thức chưa được áp dụng.Chất lượng cấp điện khu vực đô thị còn kém, thiếu ổn định Tỷ lệ đường dây được ngầm hóa còn thấp Cấp nước chưa đáp ứng được nhu cầu Tỷ lệ thất thoát nước sạch đô thị ở mức cao khoảng 30%, riêng ở thành phố Hồ Chí Minh là 39%; tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước của

Hà Nội mới đạt khoảng 88,5% và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 87% Hệ thống thoát nước còn hạn chế, lạc hậu Phổ biến nhất ở các đô thị là hệ thống thoát nước chung cho cả ba loại nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và nước mưa Hầu hết các

đô thị đều không có trạm xử lý nước thải tập trung, nước thải sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp không qua xử lý mà xả thẳng vào hệ thống cống thành phố, hồ ao, kênh rạch, sông ngòi… gây ô nhiễm nặng nề Tại các khu công nghiệp và các khu đô thị mới đều đang xây dựng hệ thống thoát nước riêng, tuy vậy vẫn chưa triệt để Tình trạng ngập úng đang là vấn đề lớn cần phải giải quyết của các thành phố lớn Các dự

án cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua chưa giải quyết một cách tổng thể cho hệ thống thoát nước thành phố Ở Hà Nội, các dự án mới dừng ở cải tạo hệ thống nước mưa cho 4 quận nội thành cũ, hệ thống hồ điều hòa, các tuyến mương, cống chưa hoàn chỉnh theo quy hoạch được duyệt Triển khai các dự án chống ngập cho thành phố Hồ Chí Minh còn chậm Chất thải rắn hầu hết đang sử dụng biện pháp chôn lấp, tốn nhiều diện tích đất, không có khả năng tái chế, thu hồi và sử dụng lại nguồn nguyên liệu từ rác thải phát sinh (Hà Nội khoảng 5.000 tấn/ngày, thành phố Hồ Chí Minh khoảng 6.300-7.200 tấn/ngày) Ba là, hạ tầng xã hội chưa đồng bộ, chất lượng thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu Hạ tầng giáo dục, đào tạo vẫn còn thiếu về số lượng, kém

về chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu dạy và học tích cực, nhất là hệ thống trường mầm non, mẫu giáo Số trường đạt chuẩn quốc gia chiếm tỷ trọng thấp (cao nhất là đối với tiểu học, đạt 36,6%) Thiếu các cơ sở đào tạo đại học chất lượng cao đạt trình độ quốc

tế Phòng thí nghiệm, cơ sở thực nghiệm, thư viện, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở các trường đại học Ký túc xá cho học sinh, sinh viên còn thiếu Hệ thống giáo dục đào tạo chưa đồng bộ, liên thông, chưa cân đối

Trang 8

giữa giáo dục nghề nghiệp với giáo dục trung học phổ thông và giáo dục đại học.Hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng yêu cầu, cơ sở khám chữa bệnh còn thiếu, nhất là ở các vùng đông dân cư và vùng sâu, vùng xa Tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh chậm được khắc phục Đầu tư cho y tế còn thấp, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước đạt khoảng 8,5% Xã hội hóa trong lĩnh vực y tế còn nhiều hạn chế Tỷ lệ giường bệnh khu vực bệnh viện tư còn thấp, mới chỉ chiếm 3,8% tổng số giường bệnh Trang bị của các cơ sở y tế còn thiếu và chưa hiện đại, đặc biệt là đối với các cơ sở y tế tuyến địa phương, làm tăng áp lực, quá tải đối với các cơ sở tuyến Trung ương Vẫn chưa có những cơ sở y tế chất lượng cao tầm cỡ khu vực và thế giới Hạ tầng văn hóa, thể thao, du lịch phát triển chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Chất lượng công trình và hiệu quả khai thác, sử dụng còn thấp Bốn là,

hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển còn chưa đồng đều, nhất là ở các tỉnh miền núi

và Đồng bằng sông Cửu Long Gần 20% số xã ở Tây Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chưa có đường ô tô đến trung tâm xã Kết cấu hạ tầng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, đào tạo còn thiếu và yếu Nhiều vùng còn thiếu nước sinh hoạt gay gắt vào mùa khô, tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh mới chỉ đạt 83% vào năm 2010, chất lượng nước sinh hoạt mới được khoảng 30% đạt tiêu chuẩn y tế Điện dùng cho nông nghiệp, nông thôn chưa được bảo đảm ổn định, tỷ lệ hộ nông dân được cung cấp điện mới chỉ đạt 95,4% Tính đến năm 2011 cả nước vẫn còn 1,7 triệu

hộ dân chưa có điện, trong đó có 0,7 triệu hộ nông dân Năm là, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là rất lớn, xong tiềm lực tài chính của đất nước còn nhiều hạn chế Việt Nam đang tiến hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển KT-XH mười năm 2011-2020 với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có hệ thống CSHT tương đối hiện đại và đồng bộ Ngày 16/01/2012, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 13-NQ/TW về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Nghị quyết này đã phác thảo bức tranh tổng thể của CSHT Việt Nam vào năm 2020, với nhiều dự án hạ tầng quan trọng có tính chất đột phá Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu hoàn thành đường cao tốc Bắc - Nam, các tuyến cao tốc kết nối đến các cảng hàng không, cảng biển lớn, phát

Trang 9

triển hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; nâng cấp hệ thống lưới điện, xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận và nhiều nhà máy điện khác; xây dựng và nâng cấp hệ thống thủy lợi, đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; hiện đại hoá và mở rộng công suất các bệnh viện tuyến Trung ương… Ước tính nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 là rất lớn, khoảng 400 tỷ USD, trong đó cho hạ tầng giao thông là 154

tỷ USD, cho hạ tầng y tế là 8 tỷ USD, cho hạ tầng thủy lợi là 11 tỷ USD, cho hạ tầng cấp điện là 45 tỷ USD, cho hạ tầng đô thị khoảng 20 tỷ USD, cho hạ tầng cấp thoát nước và vệ sinh môi trường là 16 tỷ USD, cho hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông là 14 tỷ USD Tuy nhiên, hiện nay quy mô của nền kinh tế Việt Nam còn nhỏ bé Khả năng cân đối vốn từ nguồn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng là rất hạn chế, chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu

1.4 Vai trò của chính phủ khi can thiệp vào cơ sở hạ tầng

Nền kinh tế của một quốc gia sẽ không thể "cất cánh" trừ phi nó có được nền tảng là một cơ sở hạ tầng vững chắc Vì thế, nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định nền kinh tế vĩ mô của đất nước Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định do các cuộc khủng hoảng chu kỳ Sự ổn định kinh tế là điều mà mọi nhà nước đều mong muốn vì nó có lợi cho tất cả mọi người Do vậy, nhà nước phải duy trì sự ổn định đó Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh

tế, sử dụng ngân sách để tiến hành đầu tư công cho các công trình; xây dựng các dự án

cơ sở hạ tầng dựa trên căn cứ và tiêu chí kinh tế thích hợp nhằm giảm thiểu những gánh nặng chi phí của ngân sách nhà nước và của nền kinh tế; tiến hành việc kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của các tập đoàn kinh tế nhà nước để duy trì sự ổn định nền kinh tế Một thực tế hiện nay là các cơ quan hoạch định chính sách của nhà nước ta phân quyền quá tản mạn nên khó thực hiện được giải pháp đồng bộ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Vì vậy, để bảo đảm việc điều tiết nền kinh tế được hiệu quả, đòi hỏi nhà nước phải thực hiện những cải cách cơ bản để đơn giản hoá

bộ máy hành chính và phải tiến hành quản lý, kiểm soát chặt chẽ đầu tư công Với tư cách chủ đầu tư, nhà nước hướng các chương trình đầu tư của mình vào mục tiêu tối

đa hoá lợi ích của quốc gia

II Phân tích các biện pháp can thiệp của chính phủ

Trang 10

2.1 tổng quát về các biện pháp can thiệp cơ sở hạ tầng của chính phủ

trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dành sự quan tâm lớn đến đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng (CSHT) kinh tế - xã hội Nguồn lực đầu tư phát triển CSHT ngày càng lớn và đa dạng Trong mười năm qua, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển CSHT chiếm khoảng 24,5% tổng đầu tư xã hội, bằng khoảng 9% GDP, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chiếm 65%

Cơ cấu nguồn vốn ngày càng đa dạng, ngoài nguồn lực nhà nước, đã và đang mở rộng

sự tham gia của toàn xã hội, đặt biệt là sự tham gia đóng góp tự nguyện của nhân dân với nhiều hình thức đa dạng trong phát triển hạ tầng nông thôn Nhiều hình thức đầu tư phát triển CSHT cùng các mô hình, phương thức đầu tư, kinh doanh các dịch vụ hạ tầng được đa dạng hóa, mở rộng, các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án giao thông theo hình thức BOT, BTO và BT ngày càng nhiều Nhờ có sự đầu tư trên, hệ thống CSHT ở nước ta có bước phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giảm nhẹ thiên tai và bảo đảm an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền Nhiều công trình hiện đại đã được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo diện mạo mới của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

2.2 Thực trạng khi chính phủ thực hiện các biện pháp can thiệp vào cơ sở hạ tầng 2.2.1 thu phí BOT

Trạm thu phí BOT là viết tắt của từ tiếng Anh: Build – Operate – Transfer, có nghĩa là Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao Chính phủ có thể kêu gọi các Công ty

tư nhân bỏ xây dựng trước (Build) thông qua đấu thầu, sau đó khai thác vận hành một thời gian (Operate) và cuối cùng chuyển lại cho nhà nước (Transfer)

Hiện nay, nhà nước mới ban hành Thông tư số 35/2016/TT-BGTVT quy định mức giá tối đa dịch vụ sử dụng đường bộ các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh do Bộ GTVT quản lý như sau: Biểu giá tối đa cho dịch vụ sử dụng đường bộ theo lượt (Ban hành kèm thông tư số 35/2016/TT-BGTVT ngày 15 tháng 11 năm 2016)

Ngày đăng: 04/07/2021, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w