1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất tại quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng

105 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu; Phương pháp phân tích và xử lý số liệu; Phương pháp so sánh; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích; Phương pháp minh họa bằng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

HUẾ – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Mã số: 8850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN HỮU NGỮ

HUẾ – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực, chưađược sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cám ơn, các thông tin tham khảo và trích dẫn đều đã được chỉ rõ tác giả và nguồn gốc

Tác giả luận văn

Tăng Hà Vinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học và thực hiện đề tài nghiên cứu, Tôi luôn nhận được sựquan tâm của quý Thầy, Cô trong Trường Đại học Nông Lâm Huế, đặc biệt là sự góp ý

sâu sắc, nhiệt tình của quý thầy cô Hội đồng thẩm định luận văn Tôi xin gửi tới quý

Thầy, Cô lòng biết ơn chân thành nhất

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Giáo sư, Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Ngữ, là người thầy,người hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thiện

luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn Văn phòng Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên vàMôi trường, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai, Phòng Thống kê, Phòng Quản lý

đô thị quận Ngũ Hành Sơn, cùng các hộ gia đình và cá nhân đã giúp đỡ tận tình, tạo

điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè và đồng nghiệp đãgóp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Đà Nẵng, ngày 19 tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Tăng Hà Vinh

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài: Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử

dụng đất tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Mục tiêu đề tài: Nghiên cứu được tác động của đô thị hóa đến tình hình quản lý

và sử dụng đất tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn Trên cơ sở đó, đề xuất những giải

pháp nhằm góp phần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai và định hướng

sử dụng đất theo hướng hợp lý và hiệu quả hơn

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu; Phương pháp phân tích

và xử lý số liệu; Phương pháp so sánh; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân

tích; Phương pháp minh họa bằng bản đồ, biểu đồ

Kết quả nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên; tàinguyên thiên nhiên, khoáng sản mà lưu ý chủ yếu là yếu tố tài nguyên đất; thực trạng

về môi trường ta đánh giá được những thuận lợi và khó khăn để làm cơ sở kết hợp với

nghiên cứu việc quản lý và sử dụng đất đai trong quá trình đô thị hóa để xuất một số

giải pháp nhằm góp phần định hướng sử dụng đất hợp lý và hiệu quả hơn

Đô thị hóa tại quận Ngũ Hành Sơn đang xảy ra với tốc đô nhanh, Từ năm 2010đến nay, các dự án phát triển và chỉnh trang đô thị liên tục được tiến hành có rất nhiều

công trình trải dài trên diện rộng , diện tích đất nông nghiệp và đất bằng chưa sử dụng

bị chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp là rất lớn

Từ việc thu thập dữ liệu về đât đai trong các kỳ kiểm kê, thống kê từ năm 2010đến năm 2016, ta thấy được sự thay đổi lớn về cơ cấu các loại đất do đô thị hóa trên

địa bàn quận Ngũ Hành Sơn Đồng thời với việc nghiên cứu trên thực tế, diện tích

chuyển đổi mục đổi mục đích đó có phù hợp chưa, có theo quy hoạch sử dụng đất bền

vững không

Kết quả nghiên cứu đã cho ta thấy điều này Hiện nay trên địa bàn quận, đấtdành cho phát triển cơ sở sản xuất, tạo việc làm, thu hút người lao động chưa được

quan tâm nhưng có quá nhiều đất đã xây dựng khu dân cư nên đất bị bỏ trống không có

người ở khá nhiều; Lợi dụng việc nôn nóng trong thu hút đầu tư của nhà nước ta, một

số nhà đầu tư đã đầu cơ đất trục lợi chứ không xây dựng, nhiều khu vực đất đã có

quyết định của cấp có thẩm quyền giao để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, nhà

nước đã thu tiền sử dụng đất nhưng đất còn bỏ trống chưa được khai thác, sử dụng

Từ những cơ sở vừa đặt ra, tôi đã đề xuất một số giải pháp liên quan đến việc quản

lý nhà nước về đất đai; về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; sử dụng đất tiết kiệm …

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1.1.1 Khái quát về quản lý và sử dụng đất 3

1.1.2 Khái quát về quá trình đô thị hóa 5

1.1.3 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sử dụng đất 12

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 13

1.2.1 Khái quát tình hình đô thị hóa ở một số nước trên thế giới 13

1.2.2 Thực tiễn về quá trình đô thị hóa và việc chuyển đổi đất đai ở Việt Nam 17

1.2.3 Thực trạng phát triển đô thị ở thành phố Đà Nẵng 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 26

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26

Trang 7

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 27

2.4.3 Phương pháp so sánh 27

2.4.4 Phương pháp thống kê 27

2.4.5 Phương pháp phân tích 27

2.4.6 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, biểu đồ 27

2.4.7 Phương pháp SWOT 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 29

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản 30

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội quận Ngũ Hành Sơn 31

3.1.4 Thực trạng về môi trường 32

3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 35

3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 36

3.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 36

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất 45

3.3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 48

3.3.1 Biến động về dân số, lao động 48

3.3.2 Biến động về các ngành kinh tế 49

3.3.3 Những chuyển biến về cơ sở hạ tầng 51

3.4 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT 52

3.4.1 Tình hình biến động các loại đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn 54

3.4.2 Tác động của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 64

3.4.3 Phân tích SWOT khi thay đổi cơ cấu sử dụng đất 67

3.4.4 Đánh giá chung việc thay đổi cơ cấu sử dụng đất 71

Trang 8

3.5 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐỊNH HƯỚNG CƠ CẤU SỬ

DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG 72

3.5.1 Giải pháp về về chính sách 72

3.5.2 Giải pháp về quản lý đất đai 72

3.5.3 Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 72

3.5.4 Giải pháp định hướng phát triển kinh tế quận Ngũ Hành Sơn 74

3.5.5 Giải pháp về sử dụng tiết kiệm và tăng giá trị của đất 74

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

4.1 KẾT LUẬN 75

4.2 KIẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Cụm từ được viết tắt

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng1.1 Dân số đô thị và tỉ lệ % dân số sống ở khu vực đô thị năm 1970, 1990

và 2025 14

Bảng 3.1 Tình hình giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất và bố trí tái định cư cho hộ gia

đình, cá nhân giai đoạn 2010 – 2016

Bảng 3.2 Kết quả lập hồ sơ địa chính quận Ngũ Hành Sơn đến 30/6/2016

Bảng 3.3 Tình hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo từ năm 2010 - 2016

Bảng 3.4 Thống kê điện tích đất theo đơn vị hành chính quận Ngũ Hành Sơn năm

2016

Bảng 3.5 Tình hình dân số của quận Ngũ Hành Sơn qua các năm 2010- 2016

Bảng 3.6 Tình hình lao động của quận Ngũ Hành Sơn qua các năm từ 2010-2016

Bảng 3.7 Biến động các loại đất tại quận Ngũ Hành Sơn năm 2014 so với năm

2010 55

Bảng 3.8 Cơ cấu các loại đất năm 2016, 2010 và biến động diện tích năm 2016 so với

năm 2010 tại quận Ngũ Hành Sơn

Bảng 3.9 Ý kiến của các hộ điều tra về tác động của đô thị hóa

Bảng 3.10 Phân tích điểm mạnh, điểu yếu, cơ hội, thách thức của việc chuyển dịch cơ

cấu sử dụng đất tại quận Ngũ Hành Sơn

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí của quận Ngũ Hành Sơn 29

Hình 3.2 Nút giao thông Ngũ Hành Sơn- Hồ Xuân Hương-Lê Văn Hiến

Hình 3.3.Bệnh viện Sản Nhi thành phố Đà Nẵng

Biểu đồ 3.1 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2010 – 2016 40

Biểu đồ 3.2 Biến động các loại nhóm đất quận Ngũ Hành Sơn năm 2016 so với năm 2010 (đơn vị tính: ha) 66

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu các loại nhóm đất quận Ngũ Hành Sơn năm 2010 và năm 2016 66

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đô thị hoá là một xu thế tất yếu ở mỗi quốc gia, là quá trình phát triển của xãhội mang tính chất toàn cầu Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của

cuộc sống, đem đến nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển của các đô

thị nói riêng và cả xã hội nói chung Bên cạnh đó, đô thị hoá cũng đã làm nảy sinh

hàng loạt vấn đề có liên quan đến tính bền vững cho cuộc sống nhân loại Đối với các

nước đang phát triển, quá trình đô thị hoá diễn ra theo chiều rộng, chủ yếu chạy theo

việc mở rộng quy mô và gia tăng số lượng các đô thị… mà ít quan tâm đến chất lượng

đô thị cũng như chất lượng môi trường sống trong các đô thị, gây ra những hậu quả

không mong muốn, làm ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống xã hội Vì vậy, việc

đánh giá để giải quyết nhiều vấn đề trong quá trình đô thị hóa, trong đó có vấn đề quản

lý và sử dụng đất đai là rất cần thiết

Ở Việt Nam, đô thị hóa gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp và tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ

Để đáp ứng nhu cầu phát triển, trong thời gian qua các địa phương ở nước ta đãthực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, làm thay đổi rõ nét cơ cấu sử dụng

đất trong từng vùng, miền Tuy nhiên, vấn đề này cũng tạo nên nhiều áp lực cho công

tác quản lý đất đai, việc quy hoạch bố trí quỹ đất cho các mục đích sử dụng qua từng

giai đoạn phát triển đang là một vấn đề nan giải và cần một kế hoạch dài hạn, với

những giải pháp thiết thực, mang tính bền vững

Thành phố Đà Nẵng, là địa bàn chiến lược phát triển về kinh tế - xã hội, quốcphòng - an ninh, đại diện cho miền Trung, Tây nguyên, với việc diễn ra quá trình đô

thị hóa rất nhanh chóng Vì thế, cần phải có những chính sách, giải pháp thiết thực với

sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể có liên quan đến công tác

quản lý và sử dụng đất nhằm đảm bảo sự ổn định, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng

đất trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường

Với mong muốn làm rõ những mặt tích cực cũng như hạn chế của quá trình đôthị hóa, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và tìm giải pháp thực hiện tốt hơn công tác

quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương mình đang công tác, tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử

dụng đất tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”

Trang 13

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu được tác động của đô thị hóa đến tình hình quản lý và sử dụng đấttại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm góp

phần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai và định hướng sử dụng đất theo

hướng hợp lý và hiệu quả hơn

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận về quá trình đô thị hóa vànhững tác động của nó đến sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà lãnh đạo của quận Ngũ Hành Sơn

có được những thông tin khách quan, có cơ sở khoa học để chỉ đạo tốt hơn công tác

quản lý nhà nước về đất đai và định hướng quy hoạch, sử dụng đất theo hướng hợp lý

và hiệu quả hơn tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn trong thời gian đến

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái quát về quản lý và sử dụng đất

1.1.1.1 Khái quát về quản lý nhà nước về đất đai

a) Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý Nhà nước về đất đai là một dạng cụ thể của quản lý Nhà nước đối với mộtlĩnh vực cụ thể nào đó, nên nó có bản chất của quản lý Nhà nước, tuy nhiên mức độ cụ thể

và chi tiết hơn Ở mỗi thời kỳ khác nhau thì Nhà nước có chính sách quản lý đất đai khác

nhau, tuy nhiên dù ở chế độ nào đi nữa thì Nhà nước vẫn có quyền lực tối cao Đề ra

những quy định, những bộ luật nhằm quản lý và sử dụng đất đai có hiệu quả

b)Nội dung quản lý nhà nước về đất đai

Luật đất đai 2013, tại Điều 22 đã nêu lên 15 nội dung quản lý Nhà nước về đấtđai như sau:

1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó

2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

3 Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất

4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất

7 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

8 Thống kê, kiểm kê đất đai

9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai

10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất

11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật

về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai

Trang 15

14 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.

15 Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [4]

1.1.1.2 Khái quát về chuyển đổi đất đai

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất(SDĐ) là một hoạt động vừa mang tính chấtkinh tế, vừa mang tính chất xã hội lớn và phức tạp

Trong thực tế theo quy luật vận động của xã hội thì công nghiệp hóa (CNH) và

đô thị hóa (ĐTH) là quá trình tất yếu và luôn song hành Các quá trình này thường

diễn ra theo chiều hướng mở rộng quy mô diện tích để đáp ứng sự phát triển hết sức

nhanh chóng của các khu công nghiệp, khu kinh tế, các đô thị Sự thay đổi cơ cấu các

ngành nghề sản xuất dịch vụ, du lịch, thương mại Phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) đã

tạo ra một nhu cầu to lớn, một sức ép liên tục và mạnh mẽ làm thay đổi cơ cấu SDĐ,

việc chuyển đổi đất đai đã trở thành nhu cầu bức thiết không thể cưỡng lại để đảm bảo

cho quá trình CNH và ĐTH được diễn ra thuận lợi Không nước nào thực hiện CNH,

HĐH mà không phải chuyển dịch một phần lớn đất nông nghiệp (NN) cũng như cả đất

ở sang các mục đích phi NN Ngay trong nội bộ ngành NN, quá trình CNH, HĐH để chuyển sangmột nền NN hiện đại, sản xuất hàng hóa phát triển cũng đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nôngnghiệp, tích tụ và tập trung ruộng đất Càng CNH, HĐH càng xuất hiện nhiều ngành nghề mới, cần đất chonhững ngành mới, hơn nữa mỗi ngành cũng không ngừng phát triển, cần được bổ sung thêm quỹ đất

Giá trị đất đai càng ngày càng tăng lên do hai nguyên nhân, thứ nhất là cung khôngthay đổi mà cầu ngày một tăng và tăng rất nhanh, thứ hai là con người ngày càng tìm ra

được nhiều cách sử dụng đất đai có lợi cho mình, làm tăng giá trị SDĐ, do đó xu hướng

chuyển đổi đất đai diễn ra càng mạnh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn khi sử dụng

vào mục đích mới Đơn cử như chuyển đổi đất NN sang mục đích đất ở hoặc đất xây dựng

hạ tầng, nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh bước đầu cho thấy hiệu quả vì đáp ứng kịp

thời nhu cầu phát triển, tuy nhiên, điều này lại có thể làm mất vĩnh viễn khả năng sản xuất

của đất NN vì việc chuyển đổi là một chiều, không thể tái tạo lại được, hay ở một phương

diện khác sẽ gây ảnh hưởng đến đất NN ở các khu vực lân cận do quá trình ĐTH làm ô

nhiễm môi trường hoặc thay đổi về điều kiện sản xuất NN [1]

Ở nước ta hiện nay chuyển đổi đất đai có hai dạng, đó là chuyển đổi tự nguyện và chuyển đổibắt buộc Chuyển đổi đất đai tự nguyệnlà người SDĐ đề nghị đăng ký chuyển mục đích SDĐ hoặc thông qua việccho thuê hoặc góp vốn chủ đầu tư đăng ký chuyển mục đích SDĐ và phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

Chuyển đổi đất đai bắt buộc là Nhà nước thu hồi đất để giao hoặc cho thuê đất

để sử dụng vào mục đích khác, việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho

Trang 16

người bị thu hồi đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhưng phải phù

hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được duyệt Trong trường hợp này thường là để

thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội (KT-XH), cho mục đích quốc

phòng an ninh

1.1.2 Khái quát về quá trình đô thị hóa

1.1.2.1 Khái niệm về đô thị

Trong tiếng Việt, có nhiều từ chỉ khái niệm “đô thị”: đô thị, thành phố, thị trấn,thị xã Các từ đó đều có 2 thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành

chính Thị, phố có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạt động kinh

tế Hai thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại trong quá trình

phát triển Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi NN và làm chức năng, nhiệm vụ của

một trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế của một khu vực lớn nhỏ, là những tiêu

chí cơ bản đầu tiên để định hình đô thị [1]

Định nghĩa về đô thị khá phong phú, tùy vào đặc điểm của mỗi quốc gia mà cónhững khái niệm khác nhau

Định nghĩa về đô thị thì khác nhau tại các quốc gia khác nhau Thông thườngmật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người trên một

cây số vuông hay 1000 người trên một dặm vuông Anh Các quốc gia châu Âu định

nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một

khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì

dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị Tại các quốc gia kém

phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện

nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay

đánh cá [1]

Dưới khía cạnh xã hội học, đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nộidung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau Các nhà xã hội học đã đưa ra rất

nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn Sự phân chia đó có thể dựa

trên cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông

nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ, hoặc dựa trên

các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, gia

đình hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay theo bình diện lãnh thổ

Cũng có một số nhà lý luận xã hội học lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và nông

thôn theo sự khác biệt giữa chúng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Như về

mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự khác biệt về lao động, nghề nghiệp, mức

độ và cách thu nhập về dịch vụ Về mặt xã hội thì đó là sự khác biệt trong lối sống,

giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở Về mặt môi trường thì chủ yếu ở

đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì cả đô

Trang 17

thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có

những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các

vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Vì vậy, trước hết đô thị và nông thôn cần được

xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm

trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng được

chấp nhận, là việc coi đô thị và nông thôn như các hệ thống xã hội được phân biệt theo

ba đặc trưng cơ bản sau:

- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp côngnhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức Còn đối vớinông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp nhưđịa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ

- Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp Ngoài ra, còn

có các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần

Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, còn

phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp

mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, thì đối với nông thôn thường rất đặc trưngvới lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng chokhu vực đô thị Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn từ hệthống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi, đếnkhía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế, ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ởđều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống tách biệt nhau Đây là đặc trưng cơ bảnnhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo rabản sắc riêng, diện mạo riêng cho hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn [7]

Ở Việt Nam, Điều 6 của Nghị định 42/2009/NĐ/CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ quy định:

Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị

Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sởhiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại

thời điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm:

Trang 18

2 Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên

3 Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tínhtrong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khuvực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động

5 Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:

a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;

b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lýkiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không giancông cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu

và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên [3]

Như vậy, đô thị được xác định khi thỏa mãn các tiêu chí tối thiểu nêu trên vàtùy theo mức độ đạt được các tiêu chí phân cấp để phân loại đô thị

1.1.2.2 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoácủa xã hội; Là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ

thuật và văn hoá

Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo

điều kiện thúc đẩy công nhiệp hóa nhanh chóng Đô thị tối ưu hóa việc sử dụng năng

lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh

hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và

phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô

thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước

Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồngnông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh

1.1.2.3 Khái niệm đô thị hóa

Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình ĐTH và đưa rakhông ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo

tương lai của quá trình này

Trang 19

“Đô thị hóa” được hiểu theo chiều rộng là sự phát triển của thành phố và việcnâng cao vai trò của đô thị trong đời sống của mỗi quốc gia với những dấu hiệu đặc

trưng như: Tổng số thành phố và tổng số cư dân đô thị Theo khái niệm này thì quá

trình ĐTH chính là sự di cư từ nông thôn vào thành thị Đó cũng là quá trình gia tăng

tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia

Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học như trên thì sẽkhông thể nào giải thích được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của ĐTH cũng như

ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà khoa học ngày càng

ngả sang cách hiểu ĐTH như một phạm trù KT-XH, phản ánh quá trình chuyển hoá và

chuyển dịch chủ yếu sang phương thức sản xuất và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt

mới - phương thức đô thị Đây là một quá trình song song với sự phát triển CNH

Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự hình thành cácđiểm dân cư đô thị do yêu cầu CNH Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản

xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây

dựng từ dạng nông thôn sang dạng thành thị

1.1.2.4 Tính tất yếu của đô thị hóa

Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến

từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH thì đều

gắn liền với ĐTH

Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình côngnghiệp hóa, là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại

hoá: Tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành

nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP

Nhìn chung, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển

Như vậy, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển, là một quy luật kháchquan, phù hợp với đặc điểm tình hình chung của mỗi quốc gia, là một quá trình mang

tính lịch sử, toàn cầu và không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả

của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới

1.1.2.5 Quan điểm của đô thị hóa

CNH và cùng với nó là ĐTH trở thành xu thế chung của mọi quá trình chuyển

từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Vấn đề quan trọng đặt ra

là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của đô thị hóa, daanf dần đi

đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình ĐTH

phải gắn liền với khái niệm “Phát triển bền vững”

Trang 20

Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển của Ngân hàng thế giới, thuật ngữ “Pháttriển bền vững” được định nghĩa như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm

thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển để

thỏa mãn nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai” Bền vững là ngày hôm nay được

hưởng lợi ích như thế nào thì những thế hệ mai sau cũng được hưởng lợi ích như vậy

Phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của tất cả các quốc gia Tăng trưởng kinh

tế và cải thiện mức sống xã hội là mục tiêu trung tâm của mọi Chính phủ Kinh tế toàn

cầu tăng trưởng liên tục Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của nền kinh tế lại kéo theo

các vấn đề về xã hội như gây ra sự mất bình đẳng giữa các quốc gia về thu nhập, phân

hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong việc sử dụng tài nguyên… và một điều tất yếu là

gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, môi trường sống bị ô nhiễm,

hệ sinh thái bị suy thoái, khi hệ sinh thái mất cân bằng sẽ dẫn đến làm mất dần các

nguồn tài nguyên quý giá, và cũng là nguyên nhân làm gia tăng bệnh tật, đe dọa đến

sức khỏe của con người Vậy phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là tăng trưởng

về kinh tế, phát triển về xã hội mà bao gồm cả bảo vệ môi trường, các mặt này cần

phải hài hòa và thúc đẩy kinh tế phát triển Trong đó, một trong những nội dung cơ bản

nhất của phát triển bền vững là “phát triển vì con người” và lấy “phát triển con người

làm trọng tâm” [10]

Tuy rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quátrình ĐTH song nó vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối

thượng Mục tiêu của ĐTH là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật

chất và tinh thần của con người, tức là lấy con người làm trọng tâm

1.1.2.6 Tác động của đô thị hóa

ĐTH là một quá trình đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra một cách phổ biến trên thếgiới ĐTH từng bước đưa con người tiếp cận cuộc sống văn minh, đồng thời cũng đặt

ra không ít vấn đề tiêu cực, khó khăn - những vấn đề ảnh hưởng xấu đối với quá trình

ĐTH một cách bền vững

Một là, ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa và dịch vụ thườngđạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tương đối lớn với

nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do các doanh nghiệp tập

trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian đô thị nhất định

Đồng thời khi kinh tế của các đô thị lớn đạt tới độ tăng trưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu

ứng lan tỏa kích thích mạnh tới tăng trưởng kinh tế của cả nước

Hai là, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH

Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng của khu

vực NN và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản

Trang 21

xuất NN nói riêng, ĐTH góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ

cấu giá trị sản xuất Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang

có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế

cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành

NN thì xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi

Ba là, cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng ĐTH tạo ra sự tập trung sản xuất côngnghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa và thông tin

Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu hạ tầng, nhà ở, các dịch

vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó mà hệ thống giao thông vận tải,

năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô

làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trong sản xuất NN, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ thuật cần thiết chongười nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làm tăng

năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn

lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong ngoài nước

Năm là, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng lâncận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ra nhiều

cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập

cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/ tháng tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời

sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân Điều đó

cho thấy ĐTH làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc

thực hiện xóa đói giảm nghèo

Sáu là, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi thọtrung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân

cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa [9]

Trang 22

về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rất

nhanh Điều này dẫn đến tình trạng nuốt chửng những diện tích đất NN vốn rất cần

thiết cho một đô thị như: sản xuất lương thực thực phẩm, tạo mảng không gian xanh

có vai trò “giải độc” cho môi trường sống, tạo khu nghỉ ngơi cho thị dân Đồng thời

sự suy giảm diện tích đất NN đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của

nhiều người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh

nhai truyền thống

Thứ hai, khoét sâu hố phân cách giàu nghèo Quá trình ĐTH nhanh đã làm cho

hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị, giữa nông thôn và

thành thị trở nên trầm trọng hơn

Thứ ba, gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về mức sống, điều kiệnsống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và đang được coi là

những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận lớn người dân rời

khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị Lực lượng lao động ở nông thôn chỉ

còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứng được những công việc nhà

nông vất vả Cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hướng suy kiệt

nguồn lực lao động Đồng thời thị trường lao động ở thành thị lại bị ứ đọng

Thứ tư, môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suy thoái khánặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát

sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao

thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn

Thứ năm, phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đời sống đô thịhay của cả quá trình ĐTH Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóa truyền thống

bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang ngự trị trong lối sống đô

thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đều được phát sinh và phát

triển tại các trung tâm đô thị lớn

Tóm lại, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước thì quá trình ĐTH ngày càng giatăng Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem lại phải được chú trọng đồng thời việc

phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồn nhân lực con người làm trọng tâm [9]

Đô thị hóa sẽ thúc đẩy quá trình CNH diễn ra một cách ồ ạt, nhiều chất thải độchại được thải ra môi trường, kéo theo những vấn đề cực kỳ nóng bỏng đòi hỏi sự hợp

tác giải quyết toàn cầu, nhất là vấn đề về môi trường ĐTH cũng làm cho cơ cấu sử

dụng đất thay đổi, xu thế chung là giảm tỷ trọng đất NN và tăng tỷ trọng đất phi NN

Tại thời điểm này, việc chuyển đổi đất NN sang đất phi NN đang diễn ra một cách ồ ạt

trên cả nước Hàng năm có khoảng 10.000 ha đất NN phải chuyển sang các mục đích

sử dụng khác Nếu cứ tiếp tục theo xu thế này thì vấn đề an ninh lương thực trong thời

Trang 23

gian sắp tới là vấn đề rất đáng lo ngại Vì vậy, trước tình hình trải thảm đỏ thu hút đầu

tư đang diễn ra mãnh mẽ trên cả nước như hiện nay, cần hạn chế tối đa việc thu hẹp

diện tích đất NN, đặc biệt là đất trồng lúa năng suất cao bởi đây là nguồn tài nguyên

rất quý giá mà một khi đã mất đi thì không thể tái sinh được

Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, nó diễn ra trên một khônggian rộng lớn và trong khoảng thời gian lâu dài để chuyển biến các xã hội nông nghiệp

- nông dân - nông thôn sang các xã hội đô thị - công nghiệp và thị dân ĐTH làm biến đổi sâu sắc

về kinh tế - xã hội của đô thị và các khu vực nông thôn lân cận trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông,dịch vụ Từ đó có thể nói ĐTH có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Để đánh giá về đô thị hóangười ta thường dùng tiêu chí mức độ ĐTH và tốc độ ĐTH

Đô thị hóa mở ra những cơ hội hết sức to lớn để phát triển kinh tế, song bảnthân đô thị hóa cũng tạo nên những thách thức khó khăn cho quá trình phát triển của cả

đô thị và nông thôn như: thất nghiệp, nghèo đói, mất công bằng xã hội, ô nhiễm, cạn

kiệt tài nguyên

Tóm lại, ĐTH làm thay đổi và phân bố lại các lực lượng sản xuất, việc bố trídân cư, hình thành và phát triển lối sống kiểu thành thị trên cơ sở phát triển cơ sở vật

chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số Tuy nhiên ĐTH cũng đặt ra những khó khăn,

thách thức phải giải quyết Khi ĐTH diễn ra đòi hỏi con người phải chuyển động theo,

tức là đòi hỏi con người nơi đó phải có lối sống, cách cư xử văn hóa phù hợp, phải

thích nghi với điều kiện mới, hòa nhập với nếp sống văn minh đô thị

1.1.3 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sử dụng đất

ĐTH là một quá trình song song với sự phát triển CNH và cách mạng khoa học

kỹ thuật Quá trình ĐTH phản ánh tiến trình CNH, HĐH trong nền kinh tế thị trường

Không ai phủ nhận rằng, một quốc gia được coi là CNH thành công lại không có tỷ lệ

cư dân đô thị ngày càng chiếm vị trí áp đảo so với cư dân nông thôn ĐTH trước hết là

hệ quả trực tiếp của quá trình CNH và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền

kinh tế theo hướng HĐH, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ

trọng của ngành NN trong cơ cấu tổng sản phẩm

Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, ĐTH giữ vai trò đặcbiệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh

quốc phòng và bảo vệ môi trường ĐTH xúc tiến tối đa CNH, HĐH đất nước Sự

nghiệp CNH, HĐH muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu

kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, thay đổi

cơ cấu lao động Trước hết có sự tập trung cao các điểm dân cư, kết hợp với xây dựng

đồng bộ và khoa học các cơ quan và các xí nghiệp trung tâm Quá trình này là bước

Trang 24

chuẩn bị lực lượng ban đầu cho CNH, HĐH đất nước Khi đó máy móc hiện đại được

đưa vào sản xuất nhiều hơn kéo theo việc nâng cao trình độ tay nghề công nhân, đồng

thời nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý ĐTH sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới

của tiến trình CNH, trong đó công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ đạo của

nền kinh tế, không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong tổng sản phẩm mà

còn cả về phương diện phân bố nguồn lao động xã hội

CNH càng mạnh, quy mô đô thị tập trung lớn hơn, hoạt động đô thị phức tạphơn nên cấu trúc đô thị cũng phức tạp, xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm như làm tăng

nhu cầu phát triển hệ thống CSHT, nhà ở Điều này đồng nghĩa với quá trình CNH và

ĐTH luôn gắn liền với việc chuyển đổi đất đai Con người luôn kỳ vọng vào việc khai

thác triệt để quỹ đất chưa sử dụng, tuy nhiên hầu hết diện tích này thường nằm ở khu

vực không thuận lợi để phát triển, nhất là phát triển đô thị Mặt khác, xu hướng đô thị

hóa thường lan rộng tại những khu vực có lợi thế về vị trí, điều kiện tự nhiên, KT-XH

thuận lợi, do đó thường có hướng tập trung phát triển tại các vùng đồng bằng, nơi tập

trung phần lớn diện tích đất sản xuất NN màu mỡ mà nông dân đang sản xuất Cuốn

theo xu hướng phát triển của xã hội, việc chuyển đổi các diện tích đất NN này sang

mục đích phi NN là khó tránh khỏi, điều này đã làm chuyển dịch cơ cấu SDĐ trong

một lãnh thổ qua từng giai đoạn phát triển Ngoài ra, CNH và ĐTH ồ ạt rất dễ làm ảnh

hưởng xấu đến môi trường sinh thái, môi trường đất NN ở các vùng phụ cận, nếu

không có các giải pháp quản lý SDĐ hợp lý thì có thể làm mất cân đối cơ cấu SDĐ,

nhất là đối với đất NN bị chuyển đổi sang mục đích phi NN vì quá trình chuyển đổi

này là một chiều - không thể tái tạo lại được, làm cho việc SDĐ thiếu tính bền vững

trong tương lai [7]

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Khái quát tình hình đô thị hóa ở một số nước trên thế giới

Tiến trình ĐTH gắn bó chặt chẽ với sự trường tồn phát triển của lịch sử nhânloại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những

bước tiến kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong nhiều thiên nhiên kỷ qua [6]

Quá trình ĐTHcó tính chất khác nhau giữa các nước, các vùng kinh tế có trình

độ phát triển khác nhau, có chế độ xã hội khác nhau Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự

khác biệt về mức độ và tính chất ĐTHgiữa các nước vì ĐTH là quá trình mang tính

chất quy luật, các đô thị phát triển phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội - văn

hóa của đất nước và của từng vùng

ĐTH phát triển mạnh trên quy mô toàn cầu làm tăng số lượng các đô thị lớn,tăng nhanh dân số đô thị Hiện nay, xu hướng phát triển của thế giới là biến trái đất

thành một hành tinh chủ yếu bao gồm các đô thị (hành tinh bê tông) Đến thế kỉ XXI,

Trang 25

khi dân số đạt mức ổn định, thì số dân cư nông thôn thật là nông dân sẽ chỉ là một

thiểu số ít ỏi Dân số đô thị thế giới 2005 đạt tới 47% tổng dân số, ước tính đến 2025 là

61% Sự gia tăng dân số đô thi thế giới hiện nay chủ yếu tập trung ở các nước đang

phát triển

Vào giữa thế kỉ XX các nước kinh tế phát triển dân số đô thị đã đạt trên 50%,

trong khi để đạt tỉ lệ này các nước đang phát triển phải mất 75 năm nữa, tức là vào

năm 2025 Các nước chậm phát triển tỉ lệ dân số đô thị thấp đặc biệt là các nước Châu

Phi và Châu Á với tỉ lệ dân cư đô thị dưới 30% dân số Trong khi đó tỉ lệ dân cư đô thị

ở Mỹ La Tinh cao hơn đạt khoảng 70% [6]

Bảng1.1 Dân số đô thị và tỉ lệ % dân số sống ở khu vực đô thị năm 1970, 1990 và 2025

Dân số đô thị

% dân số đô thị (triệu người)

Khu vực

Toàn thế giới 1.352 2.282 5.187 37 43Các nước đang phát triển 654 1.401 4.011 25 34Các nước kém phát triển nhất 38 103 532 13 20

Các nước kinh tế phát triển 689 881 1.177 67 73

(Nguồn: [6])

Sự bùng nổ dân cư đô thị trong thế kỉ tới chủ yếu tập trung ở các nước đang

phát triển Trong khi vào những năm 60 hơn một nữa dân số đô thị thế giới tập trung ở

các nước kinh tế phát triển Tuy nhiên đến năm 1970 thì dân số đô thị ở các nước phát

triển chỉ nhiều hơn ở các nước đang phát triển khoảng 44 triệu người Nhưng trong

thời gian gần đây, sự chênh lệch dân số đô thị ở các nước phát triển và các nước đang

phát triển tăng lên nhanh chóng, từ 1975 cán cân dân số đô thị giữa hai khu vực đã có

sự thay đổi, tỉ lệ dân số đô thị của thế giới sinh sống ở các nước đang phát triển tăng

nhanh Năm 1990 quá nửa dân số đô thị thế giới (61%) tập trung ở các nước đang phát

triển Theo dự đoán dân số đô thị của liên hợp quốc, dân số đô thị thế giới năm 2025 sẽ

tập trung ở các nước đang phát triển gấp 4 lần ở các nước phát triển Tốc độ gia tăng

dân số đô thị các nước đang phát triển tăng lên nhanh chóng trong thời gian ngắn có

thể đạt tới con số hơn 4 tỉ người vào năm 2025 Trong khi đó, dân số đô thị ở các nước

Trang 27

2025 Tuy nhiên, trong số đó còn có 47 quốc gia kém phát triển nhất là những nước ở

trong tình trạng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu có tốc độ ĐTH thấp, năm 1970 tỉ lệ thị dân

đạt có 13%, đến năm 1990 là 20% với 103 triệu dân đô thị, tốc độ gia tăng trung bình

là 4,95%/ năm [6]

1.2.1.1 Đô thị hóa một số nước kinh tế phát triển

Mức độ ĐTH cao ở tất cả các nước kinh tế phát triển Các nước: Ôxtrâylia,Niudilan, Tây Âu, Bắc Mỹ có mức độ ĐTH cao, tỉ lệ dân số đô thị đạt từ 80% trở lên

Còn khu vực Đông và Nam Âu mức độ ĐTHcòn thấp, trong đó thấp nhất so với các

nước kinh tế phát triển là các nước Đông Âu: 63% dân số sống ở khu vực đô thị

Cùng với sự khác biệt về trình độ phát triển về kinh tế là sự khác biệt về mức độĐTHgiữa các nước Ở châu Âu có thể nhận ra sự khác biệt về mức độ ĐTHdễ dàng, sự

thay đổi mức độ ĐTHtrung bình đến mức độ ĐTHcao, ngay trong cùng quốc gia cũng

có sự biến đổi theo từng vùng lãnh thổ

Trong số các nước Châu Âu có 12 nước có tỉ lệ dân số đô thị hơn 75% là các nướckinh tế phát triển các nước ĐTH cao trong số các nước đang phát triển là Bỉ 97%,

Lucxambua 91%, Hà Lan 90%, Anh 89%, Đan Mạch 72% và Cộng Hòa Liên Bang Đức

88% Như vây, các nước ĐTHcao là các nước ở ven vành đai biển Bắc gồm 4 nước: Bỉ,

Hà Lan, Cộng Hòa liên Bang Đức và Đan Mạch, thêm vào đó là Anh - đất nước trải dài

trên Đại Tây Dương Trong khi một số nước nhỏ ở Châu Âu như: Monaco 100% dân số

sống ở đô thị, Malta 91% dân số đô thị, Lucxambua 91%, các nước Châu Âu khác:

Aixolen 94% có mức độ ĐTHcao cũng như những đảo ở biển Bắc

Ở khu vực Nam Âu, có trình độ ĐTH khác nhau khá lớn Một số nước có mức độ đô thịcao như: Andora 92%, Man ta 91%, Italia 90%, Tây Ban Nha 76% Nhưng nhiều nước mức ĐTHcòn thấp:Anbani 42%, Bosnia Herzegovinia 43%, Xlovennia 525, Bồ Đào Nha 53%

Ở các nước kinh tế phát triển sự di dân nông thôn và đô thị làm tăng dân số ở khu vực đôthị đã trở thành nét chung nhất ở các nước này trong những năm cuối thể kỉ XIX đầu thể kỉ XX Nhưng cuốithế kỉ XX thì quá trình ĐTHđã mang đặc trưng khác biệt giữa các nước này do quá trình ĐTHđã vào giaiđoạn kết, gắn với quá trình ngoại ô hóa, nên tỉ lệ dân số đô thị ở một số nước không tăng, thậm chí lại giảm sovới những năm trước

Nét đặc trưng của quá trình ĐTHnày có thể nhận thấy ở Mỹ giữa những năm 70

và sau đó là ơ Canada trong những năm của thập niên 80, cũng như ở các nước kinh tế

phát triển khác ở châu Âu, Úc, Niudilân, Nhật Bản

Trong thời kì 70-75 mức độ ĐTH của Hoa Kì chỉ đạt 1%/ năm còn ở Canadagiảm 0,1%/ năm [36] Ở châu Âu mức độ đô thị hóa chậm lại đặc biệt là một số nước

Trang 28

Nam Âu và Đông Âu nhưng thời gian ĐTH diễn ra chậm hơn 5-10 năm ở các nước

Băc Mĩ Trong thời gian 5 năm từ 1980-1985 mức độ ĐTH chậm lại ở Nam Âu chỉ đạt

0,8% /năm, ở Đông Âu tăng trưởng còn chậm hơn khoảng 0,16%/năm Suốt thời kì

1985-1990 Phần Lan và Pháp không tăng suốt thập niên 80 và mức độ ĐTH dường

như không đổi: Phần Lan 60%, Pháp 73% Úc trong thời kì 1975- 1980 ĐTH không

tăng thậm chí còn giảm 0,4%/năm

Ngoài ra, ở một số nước như Thụy Điển, Hà Lan, Niudilan, Nhật Bản cũng ởtrong nhóm nước giảm mức độ ĐTH Theo sự đánh giá ĐTH của Liên Hiệp Quốc nếu

mức độ gia tăng dân số đô thị nhanh hơn tốc độ gia tăng dân số thì ĐTH tích cực trình

độ ĐTH sẽ tăng và ngược lại mức độ gia tăng dân số đô thị chậm hơn mức tăng tổng

dân số thì trình độ ĐTH sẽ thấp, quá trình ĐTH trở nên tiêu cực

Vào những năm 1970 dân số đô thị thế giới khoảng 1,4 tỉ so với 3,7 tỉ dân sốthế giới, trong đó gần một nữa dân số đô thị thế giới tập trung ở các nước có nền kinh

tế phát triển (698 triệu)

Các nước kinh tế phát triển có số dân đô thị nhiều hơn các nước đang phát triểnnhưng nó mau chóng bị mất vị trí đó, do sự gia tăng dân số nhanh chóng ở các nước đang

phát triển cộng với sự di dân từ nông thôn vào thành thị Sự gia tăng dân số nhanh với sự

di dân theo hướng nông thôn, đô thị mạnh mẽ ở các nước đang phát triển làm cho cán cân

dân số bị lệch đo từ năm 1975 và tiếp tục thay đổi trong thời gian sau đó

Tỉ lệ dân số đô thị thế giới mỗi năm tăng lên so với dân số thế giới, các thànhphố ở các nước đang phát triển dân số tăng lên làm giảm bớt số người cư trú ở nông

thôn Trong khi đó ở các nước đang phát triển gắn liền với quá trình di dân ào ạt từ

nông thôn lên thành phố không kiểm soát được gây thiếu lao động có kĩ thuật ở nông

thôn, gây sức ép về việc làm, cơ sở khoa học kĩ thuật và gây ô nhiễm môi trường, gây

trở ngại lớn cho việc phát triển KT-XH [6]

1.2.1.2 Đô thị hóa một số nước đang phát triển

Khoảng 1/3 đến 2/3 dân số của phần lớn các đô thị thuộc nhóm nước đang pháttriển bị đẩy tới những khu ngoại ô lụp sụp hoặc những nơi những người chiếm đất xây

dựng, họ thường bất chấp chính quyền Các nhóm người không chính thức này thường

có ít hoặc không có quyền lợi sư dụng các dịch vụ công cộng như nước, hệ thống cống

rãnh và hệ thống thoát nước, vỉa hẹ và vận chuyển rác Khoảng 20% nhà mới ở các

thành phố ở nhóm nước đang phát triển là xây dựng theo luật Số còn lại phát triển

không chính thức

Các đô thị của Châu Phi, Châu Á và Châu Mĩ La Tinh chưa hoàn thiện về cơ sở

hạ tầng, vật chất kĩ thuật: giao thông vận tải điện nước… vấn đề sử dụng các phương

tiện giao thông công cộng hiện đại còn rất hiếm hoi do quá trình công nghiệp hóa chỉ

Trang 29

mới phát triển gần đây Cấu trúc đô thị cũng như văn hóa lối sống của cư dân khác xa

với các nước phát triển

Có thể nhận thấy một số đặc trưng chung của nhóm các nước đang phát triển là

sự di dân lâu dài từ các vùng nông thôn vào các thành thị làm cho dân số thành thị tăng

lên nhanh chóng Cư dân đông đúc, các phương tiện giao thông công cộng và dịch vụ

thì ít dẫn đến đời sống của dân cư ở đây gặp nhiều khó khăn và nhiều tệ nạn xã hội

phát sinh

Một số đô thị còn trong thời kì tiền công nghiệp, chỉ có trung tâm thương mạihay chợ có quy mô trung bình, ở đây không có trung tâm công nghiệp còn giao thông

công cộng thì rất hiếm hoi Một số đô thị khác là sản phẩm của thuộc địa phương Tây,

được hình thành từ những cảng hoặc là các công trình phục vụ cho việc điều hành

quản lí và khai thác xây dựng của người Châu Âu

Mặt khác một số nước các đô thị lại phát triển quá lớn theo lối tự phát đã dẫnđến hệ thống giao thông luôn quá tải và vấn đề giao thông là vấn nạn khó giải quyết

được Hơn nữa ở các quốc gia đang phát triển còn nổi bật vấn đề về sự tập trung dân số

quá mức vào một số đô thị đặc biệt là trong thủ phủ của các khu vực và của quốc gia

Hiện nay sự bùng nổ dân số đô thị là một hiện tượng phổ biến ở các nước đangphát triển Số dân đô thị ở các nước đang phát triển tăng nhanh, trung bình mổi năm

tăng 3.5 - 4% tức là chỉ sau 25 năm dân số đô thị của các nước này tăng lên gấp đôi Ở

các nước đang phát triển quá trình ĐTH không cùng diễn ra với quá trình CNH, mà

chủ yếu là do sự di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho tình trạng ĐTH trở nên

không kiểm soát được, gây khó khăn trở ngại đối với các vấn đề phát triển kinh tế xã

hôi mà đặc biệt nhất là vấn đề việc làm, nhà ở, phương tiện đi lại, là nguyên nhân gây

ra các tệ nạn xã hội [6]

1.2.2 Thực tiễn về quá trình đô thị hóa và việc chuyển đổi đất đai ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với

sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó diễn

ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp [6]

Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của ĐTH ở Việt Nam Đặcbiệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật Đất

đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005); Chính phủ ban hành Nghị định về Qui chế

Khu công nghiệp, Khu chế xuất (năm 1997)… nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện rộng,

số lượng lớn, tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và sự

cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn Làn sóng ĐTH đã lan

toả, lôi cuốn và tác động trực tiếp đến NN, nông thôn, nông dân [7]

Trang 30

Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 Khu công nghiệp,phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư trong, ngoài nước,

thu hút hơn 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất

là đất NNvà lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân

Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển Đếncuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40% so với năm

1995 Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, đáng

chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống

các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn

Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, kết cấu hạ tầng ở nông thôn - xưa nayvốn yếu kém, đã có sự cải thiện đáng kể Các làng nghề được chấn hưng, mở mang

góp phần làm sôi động thêm quá trình ĐTH ở nông thôn

Làn sóng ĐTH cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã thổi luồng sinh khí mới vàonông thôn, nông dân Việt Nam

ĐTH gắn với CNH, hiện đại hóa đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc

dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ

trong GDP Đối với nông nghiệp, cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng phát triển

các cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn Trong trồng trọt, tỷ

trọng hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả ngày càng tăng

Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất cáctrung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những

ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng

rãi khoa học, công nghệ… ĐTH kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng

tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh

doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động

được cải thiện - đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của ĐTH

Nhìn từ bình diện văn hóa, làn sóng ĐTH cùng với sự phát triển hạ tầng văn hóa

xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán

giữa các vùng miền đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của cư dân

nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu tố

văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hình văn

học, nghệ thuật có giá trị; sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn minh,

tiến bộ làm cho văn hoá làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hóa, trình độ

hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dân các vùng ĐTH, nhìn trên tổng

thể, được nâng lên

Đó là xu hướng chủ đạo của quá trình ĐTH ở Việt Nam trong những năm đổimới vừa qua Thực tiễn đã chứng minh tính hợp qui luật và những tác động tích cực

Trang 31

của ĐTH đối với NN, nông thôn, nông dân Việt Nam.

Tuy nhiên, do những khó khăn của bản thân nền kinh tế đất nước đang trongquá trình chuyển đổi và những hạn chế chủ quan trong quản lý, điều hành, ĐTH ở Việt

Nam còn nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến NN,

nông thôn, nông dân cần được nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả [8]

Trong nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn ĐTH, có thể nhấn mạnh một số điểmnổi bật sau đây:

a) Vấn đề qui hoạch, quản lý, sử dụng đất đai nông nghiệp

Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh CNH,hiện đạihóa đất nước, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các địa phương đã thực hiện

chính sách cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm,

chọn lựa địa điểm sản xuất, kinh doanh Bình quân hàng năm, tính từ 2001 đến 2007,

gần 10 vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi đã phục vụ xây dựng các khu công

nghiệp, dịch vụ, đường giao thông, khu dân cư; khoảng 50% diện tích đất NNthu hồi

nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/

năm Sự dễ dãi và cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đã cùng

với tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng đất tuỳ

tiện, lãng phí Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư… đều bám dọc các quốc

lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn ha “đất cấu

tượng” đất “bờ xôi, ruộng mật” - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quí giá

nhất của người nông dân; nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia - đã bị sử

dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng

chục vạn hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động NN Đi liền với thực trạng này

là sự nảy sinh phân hoá, thậm chí cả mâu thuẫn xã hội Đây là một vấn đề búc xúc, cần

được nhìn nhận thấu đáo và khắc phục sớm [9]

b) Sự chậm chạp, ít hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Những năm qua, quá trình CNH, hiện đại hóa, ĐTH đã góp phần thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng

Tuy nhiên, so với yêu cầu đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa đất nước, tốc độ chuyểndịch cơ cấu kinh tế Việt Nam còn chậm Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế

nông thôn còn chiếm hơn 40%; trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước vẫn còn tới

20%; nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất NN Trong NN, ngành trồng trọt vẫn chiếm

tỷ trọng lớn; tỷ trọng lâm nghiệp còn thấp; chăn nuôi, thủy sản phát triển thiếu ổn định

Nhìn trong tương quan khu vực và thế giới, tỷ trọng GDP NN của Việt Nam còn cao,

và nếu so với chuẩn một nước hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (tỷ trọng GDP

nông nghiệp khoảng 4 - 8% tổng GDP), thì chặng đường phấn đấu vượt lên còn rất

gian nan

Trang 32

Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, chưa tác động trực tiếp vàthúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn Doanh nghiệp

nông thôn số lượng ít, qui mô nhỏ; số doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thuỷ

sản không nhiều Đây là một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình chuyển

dịch và hạn chế chất lượng cơ cấu kinh tế ở nông thôn Phần lớn nông sản, kể cả nông

sản xuất khẩu, có giá trị gia tăng thấp, chỉ số cạnh tranh chỉ ở mức trung bình hoặc

dưới trung bình so với thế giới; giá trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình

quân mới đạt xấp xỉ 30 triệu đồng/ha năm [9]

Việt Nam, những năm qua, nhất là từ năm 2001 đến nay, quá trình dịch chuyển

cơ cấu lao động diễn ra khá nhanh và rõ nét hơn trước Nhìn trên phạm vi cả nước,

tổng lao động làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản chiếm

54,7% (năm 2006), 52,8% (năm 2007) tổng lao động xã hội; hàng năm có hàng chục

vạn lao động nông nghiệp chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp

Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nhìn chung, diễn ra vẫn chậm chạp,chưa tương thích và đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đến năm 2007,

trong GDP giá trị nông nghiệp đã giảm xuống còn 19,6%, trong khi đó lao động NNvẫn

còn chiếm tới 52,8% Nghịch lý này phản ánh một thực tế: Công nghiệp, dịch vụ trên địa

bàn nông thôn chưa đủ sức tạo nhiều việc làm mới để thu hút lực lượng lao động NN còn

rất tiềm tàng Ngoài một bộ phận không nhiều được tuyển vào các doanh nghiệp trên địa

bàn hoặc đi kiếm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp lớn, phần đông lao động vẫn

đang bị ùn đọng trong khu vực NN, nông thôn Một bộ phận lao động tiếp tục sản xuất

NNtrong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, một bộ phận chuyển sang các

hoạt động phi NNgiản đơn, theo cơ chế thoả thuận Thực trạng này chứng tỏ quá trình

CNH, ĐTH chưa gắn kết và tác động mạnh mẽ đến NN, nông thôn, nông dân Tình trạng

thiếu việc làm, dư thừa lao động; sự phân hóa thu nhập và những khó khăn về đời sống

của người nông dân, phần lớn có nguyên nhân từ đây

Đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ĐTH tất yếu dẫn theo sựdịch chuyển dân cư theo hướng chuyển hóa cư dân nông thôn thành cư dân đô thị Sự

chuyển hóa này diễn ra lâu dài thông qua các dòng chuyển cư theo chiều hướng khác

nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm, hoàn cảnh của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, những năm qua đã diễn ra sự chuyển dịch dân cư nông thôn-nông thôn, dân

cư nông thôn-đô thị Một bộ phận dân cư ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đã di chuyển một cách tự phát thiếu

tổ chức, thiếu qui hoạch vào một số tỉnh phía Nam, tập trung nhất là ở địa bàn Tây Nguyên Ở một số vùngnông thôn, điển hình là nông thôn đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long xuất hiện dòng chuyển

cư về thành thị, chủ yếu về các khu công nghiệp tập trung các đô thị lớn, đặc biệt là thủ đô

Trang 33

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tình trạng tăng vọt dân số cơ học ở các thành phố

lớn làm đậm thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động trên phạm vi toàn

quốc; làm cho các thành phố lớn phải gánh chịu áp lực quá tải rất nặng nề về dân số,

về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và không ít khó khăn, phức tạp trong công tác

quản lý đô thị [9]

d) Sự phân tán, chia cắt trong qui hoạch, tổ chức không gian đô thị

Đô thị hóa là xu thế khách quan phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất và phân công lao động xã hội Tuy nhiên, chất lượng ĐTH phụ thuộc rất lớn vào

năng lực quản lý của con người, trước hết là khả năng qui hoạch và tổ chức không gian

đô thị của bộ máy quản lý nhà nước các cấp

Qui hoạch nói chung, qui hoạch đô thị nói riêng là một khoa học tổng hợp, đòihỏi phải có sự tiếp cận liên ngành với một tầm nhìn xa rộng, sự tính toán chặt chẽ,

chính xác nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ giữa tổng thể (nhìn trên phạm vi

quốc gia) với bộ phận (vùng, địa phương); Giữa không gian đô thị với không gian

nông thôn; Giữa không gian kiến trúc với cảnh quan môi trường Qui hoạch và tổ

chức không gian đô thị là kết tinh tầm văn hóa, triết lý văn hóa và khoa học, nghệ

thuật phân bố các nguồn lực quốc gia

So với một, hai thập niên đầu kiến thiết đất nước sau khi Tổ quốc thống nhất, trình

độ qui hoạch và tổ chức không gian đô thị ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX, đầu

thế kỷ XXI có một bước tiến đáng kể, cả về qui hoạch chung, qui hoạch ngành, qui hoạch

chi tiết - nhìn trên phạm vi toàn quốc, phạm vi vùng và từng địa phương Tuy nhiên, đối

chiếu với yêu cầu phát triển toàn diện đất nước và so sánh với trình độ qui hoạch, tổ chức

không gian đô thị của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, công tác qui hoạch, tổ

chức thực hiện qui hoạch ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế

Sự phân bố các khu đô thị còn phân tán, không đồng đều giữa các vùng miền

Mặc dù, những năm gần đây, cùng với sự vươn dài, to rộng của hệ thống đường giao

thông, ven các tuyến đường mọc lên ngày càng nhiều những khu đô thị mới, những

điểm cư dân đô thị, song nông thôn các vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi, ven biển

mật độ đô thị còn thưa thớt Cho đến nay, nhịp điệu ĐTH sôi động vẫn chủ yếu diễn ra

ở ngoại vi các thành phố lớn và các vùng phụ cận, đặc biệt ở hai thành phố trung tâm Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu đô thị học, người ta gọi tình trạng tập trung phát triển quá lớn một

số thành phố trung tâm mà không quan tâm phát triển đồng bộ hệ thống các đô thị khác là “căn bệnh to đầu”,làm chậm tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; Hạn chế việc phân bổ, phát huy các nguồn lựcquốc gia, nhất là nguồn lực lao động, phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển nông nghiệp, xây dựngnông thôn, cải thiện đời sống nông dân nói riêng

Trang 34

Tư duy về qui hoạch vùng, liên vùng đã được hình thành từ sớm Bộ Chính trị

đã có nhiều nghị quyết về chiến lược phát triển các vùng, các thành phố lớn Chính

phủ đã chỉ đạo xây dựng qui hoạch các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng động lực và

tam giác phát triển… Tuy nhiên, tiến độ xây dựng, nhất là triển khai qui hoạch vùng,

liên vùng chậm, do vậy, phần lớn qui hoạch được thực hiện chủ yếu trên địa bàn hành

chính của các địa phương, dẫn đến sự thiếu đồng bộ, chia cắt, trùng lặp, lãng phí, ít

hiệu quả trong khai thác, phát huy các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, nhìn trên

phạm vi toàn quốc

Ở từng địa phương, hạn chế phổ biến trong xây dựng, thực hiện qui hoạch là thiếu tầm nhìn

xa, thiếu cách nhìn tổng thể, hệ thống và sự buông lỏng trong quản lý, triển khai qui hoạch Qui hoạch chung, quihoạch hạ tầng khung chưa được quan tâm đúng mức, xu hướng chung vẫn là chú trọng xây dựng, triển khai quihoạch chi tiết, đáp ứng nhu cầu trước mắt Hệ quả khó tránh khỏi là tình trạng tùy tiện, lộn xộn, chắp vá, chia cắt,thậm chí làm biến dạng, méo mó không gian kiến trúc Đây là chưa kể đến những yếu kém trong phê duyệt, kiểmtra thực hiện các dự án, tình trạng “qui hoạch treo”, gây ra sự lãng phí không nhỏ về đất đai và kéo theo không ítphức tạp về mặt xã hội

Trên địa bàn nông thôn đang diễn ra quá trình đô thị hóa, có thể thấy rõ sự bấthợp lý trong phân bố các công trình xây dựng sự thiếu gắn bó, liên thông giữa các

thành tố cấu thành đô thị Phần lớn các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các

điểm dân cư đều tràn ra, bám sát trục đường giao thông, tạo nên sự phát triển mất

cân đối về không gian xây dựng Trong cùng một không gian ĐTH, thiếu sự liên kết

hài hòa giữa khu vực sản xuất với khu vực dân cư; Ngay trong khu vực sản xuất cũng

thiếu sự gắn kết cần thiết giữa các khu công nghiệp với các khu thương mại, dịch vụ

với các làng nghề, cụm làng nghề… Khá phổ biến là tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu

khớp nối giữa hạ tầng bên trong hàng rào các khu vực sản xuất, kinh doanh với hạ tầng

bên ngoài hàng rào, với hạ tầng các vùng nông thôn xung quanh; Giữa hạ tầng kinh tế

- kỹ thuật với hạ tầng văn hóa - xã hội Về không gian kiến trúc, thiếu sự hòa điệu ở tầm văn hóagiữa những đường nét hiện đại của đô thị với vẻ đẹp truyền thống của nông thôn; Một số kiểu dáng kiến trúcvay mượn vội vàng từ đô thị đem cấy vào nông thôn đã làm hỏng nét đẹp riêng có của những làng cổ, làngsinh thái, làng nghề - vốn là nguồn cảm hứng, tự hào bao đời của người Việt Nam và là nguồn tài nguyên dutịch tiềm tàng hôm nay

Nhìn từ góc độ qui hoạch, thực hiện qui hoạch, ĐTH chưa thật sự kết gắn vàphục vụ hiệu quả qui hoạch phát triển KT-XH và xây dựng nông thôn mới vì mục tiêu

nâng cao chất lượng sống của nông dân [9]

Trang 35

đ) Hệ lụy về văn hóa, xã hội, môi trường

Nông thôn Việt Nam là chiếc nôi sản sinh, nuôi dưỡng, bảo vệ văn hóa dân tộcngàn năm Những năm qua, một số yếu tố tiến bộ của văn hóa đô thị đã lan tỏa về

nông thôn, tạo nên những sắc thái mới trong đời sống, sinh hoạt tinh thần của người

nông dân và cộng đồng làng xã Nhiều loại hình, giá trị văn hóa ở nông thôn cũng

được giới thiệu rộng rãi, thuận lợi hơn ở các đô thị Đó là mặt thuận Mặt chưa thuận

là, do thiếu chuẩn bị, thiếu định hướng, chọn lọc và do cả những bất cập trong công

tác qui hoạch, quản lý văn hóa, không ít những yếu tố phi văn hóa, phản văn hóa, từ đô

thị và từ các phương tiện truyền thông, đặc biệt từ internet, đã thâm nhập vào đời sống

nông thôn, đưa tới những vấn nạn xã hội đáng suy nghĩ

Theo nhiều ngả đường, một số sản phẩm, loại hình được gọi là văn hóa, vănhọc, nghệ thuật, một số quan niệm, lối sống, cách ứng xử, làm ăn không phù hợp,

thậm chí trái ngược, đối lập với thuần phong mỹ tục, với những giá trị tốt đẹp đã lan về

thôn quê chúng thâm nhập và làm tha hóa một bộ phận cư dân nông thôn, đặc biệt là

giới trẻ; làm vẩn đục môi trường văn hóa, xã hội; bào mòn và làm rạn nứt quan hệ

tương thân, tương ái, đồng thuận và thuần phác trong cộng đồng nông thôn

Từ một phương diện khác, NN, nông thôn là địa bàn đang phải hứng chịu nhữnghậu quả về môi trường Việc sử dụng không hợp lý, lãng phí quĩ đất canh tác; Tình trạng

san lấp, lấn chiếm ao hồ, sông, suối, các công trình thuỷ lợi; Nạn đốt phá rừng, khai thác

khoáng sản tuỳ tiện cùng với sự yếu kém trong xử lí nước thải, rác thải, bụi, khói, tiếng

ồn đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái, gây

ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất NN, cảnh quan nông thôn, đời sống và sức khoẻ củanông dân, giảm thiểu khả năng đề kháng, thậm chí làm trầm trọng thêm những tai biến của tự nhiên

Những nghịch lý, mâu thuẫn, thách thức nêu trên và những hệ luỵ của chúng là

có thật, đang từng ngày diễn ra trong quá trình ĐTH, từng giờ tác động đến nông

nghiệp, nông thôn, nông dân Song đó là những khó khăn khó tránh trên con đường đi

lên, là hai mặt biện chứng của quá trình phát triển [9]

1.2.2.2 Tình hình chuyển đổi đất đai ở Việt Nam

Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh CNH hiện đạihoá đất nước, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các địa phương đã thực hiện

chính sách cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm,

chọn lựa địa điểm sản xuất, kinh doanh Bình quân hàng năm, tính từ 2001 đến 2007,

gần 10 vạn ha đất NN bị thu hồi đã phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ,

đường giao thông, khu dân cư Khoảng 50% diện tích đất NNthu hồi nằm trong vùng

kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Sự dễ dãi

Trang 36

và cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đã cùng với tư tưởng

chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng đất tuỳ tiện, lãng phí

Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch,

các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn ha “đất cấu tượng”, đất “bờ xôi,

ruộng mật” - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quí giá nhất của người nông

dân Nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia - đã bị sử dụng phí phạm, tác động

mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông

thôn với hàng triệu lao động NN Đi liền với thực trạng này là sự nảy sinh phân hoá,

thậm chí cả mâu thuẫn xã hội Đây là một vấn đề búc xúc, cần được nhìn nhận thấu

đáo và khắc phục sớm [16]

Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình ĐTHdiễn ra hết sứcnhanh chóng, nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội,

Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát

triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến

năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng

700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh,

45 thị xã và trên 500 thị trấn Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia

gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị trung tâm

vùng gồm các thành phố như Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang,

Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình…

Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâmhành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông Các đô thị

trung tâm huyện Đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới

Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đếnnăm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80% [17]

Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ ĐTH của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạtkhoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân

Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ lệ

100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện

tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân

số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát

sinh từ quá trình ĐTH, đó là vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho mật độ

dân số ở thành thị tăng cao Vấn đề giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ,

nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp; vấn đề

nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị Vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm

nguồn nước [17]

Trang 37

1.2.3 Thực trạng phát triển đô thị ở thành phố Đà Nẵng

Là thành phố trực thuôc Trung ương duy nhất ở miền Trung, nhiều đơn vị, tổchức của Trung ương tập trung ở Đà Nẵng Tại thành phố Đà Nẵng tập trung trên 40

cơ quan Trung ương với khoảng trên 1000 cán bộ Trên địa bàn Thành phố còn tập

trung nhiều trường Trường Công nhân Kỹ thuật, Trường Trung học chuyên nghiệp,

Trường Cao đẳng, Đại học Việc giải quyết nhu cầu về nhà ở (kể cả nhà ở tại các khu

ký túc xá) cho giáo viên, học sinh các trường là rất cao Từ đó đã đến công tác quản lý

đất đai của Thành phố, đặc biệt là phải xử lý tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất

từ đất nông nghiệp và các loại đất khác để xây dựng nhà ở và cho thuê là rất lớn

Là thành phố trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng được sự quan tâm của Đảng vàNhà nước cho sự phát triển toàn diện, thông qua việc ban hành một số chính sách đặc

thù cho thành phố Đồng thời Đà Nẵng cũng ban hành một số cơ chế riêng để tổ chức

chỉ đạo, điều hành công tác quản lý ở địa phương Đặc thù riêng của thành phố trực

thuộc Trung ương của Đà Nẵng, trong đó có những đặc điểm nổi bật:

- Nhà nước xác định Đà Nẵng là địa bàn trọng điểm được tập trung đầu tư đặc biệt các nguồn lực cho khu vực miền Trung và Tây nguyên

- Nhà nước có chính sách ưu đãi, khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, pháttriển thành phố Vì vậy rất nhiều tổ chức trong và ngoài nước đến đầu từ và làm ăn tại Đà Nẵng hơn 10 nămqua

- Là trung tâm kinh tế, chính trị và xã hội của miền Trung, Đà Nẵng còn là trung tâm, làđầu mối xuất phát của các luồng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn nhất theo vùng kinh tế Đông Tây, vì vậy ĐàNẵng có thể khai thác thị trường của vùng và cả nước để tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu, thu gom hàng hóa sảnxuất từ các địa phương khác phục vụ xuất khẩu Đồng thời vì là trung tâm sản xuất hàng hóa lớn nhất miềnTrung, Đà Nẵng là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn cả về hàng hóa tiêu dùng và tư liệu sản xuất, hàng hóanông sản thực phẩm

Vì vậy tổ chức xây dựng đô thị Đà Nẵng phải gắn với qui hoạch vùng và khuvực, đặc biệt công tác qui hoạch tổ chức không gian đô thị cần quan tâm đầu tư có

chiều sâu hệ thống kinh tế đô thị

- Đà Nẵng là trung tâm giao dịch quốc tế lớn thứ 3 cả nước, vì thế có điều kiện thuận lợi

để đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; Đồng thời bản thân Đà Nẵng cũng chịusức ép cạnh tranh cả về thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước với các tỉnh lân cận trong vùng, vì vậyviệc xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển đô thị gắn với môi trường là tầm nhìn của Đà Nẵng

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn

- Các văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến quá trình đô thị hóa trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn

- Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn năm 2010 và 2016

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đề tài được thực hiện tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

- Số liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2010 đến 2016

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 05 năm 2017

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khái quát về địa bàn quận Ngũ Hành Sơn

+ Điều kiện tự nhiên

+ Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản

+ Thực trạng về môi trường

+ Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường

- Tình hình quản lý và hiện trạng SDĐ trên dịa bàn quận Ngũ Hành Sơn + Tình hình quản

lý nhà nước về đất đai

+ Hiện trạng SDĐ

- Tác động của đô thị hóa đến kinh tê – xã hội quân Ngũ Hành Sơn

+ Biến động về dân số, lao động

+ Biến động về các nghành kinh tế

+ Những chuyển biến về cơ sở hạ tầng

-Tác động của đô thị hóa đến sự chuyển dịch cơ cấu đất đai+ Tình hình biến động các loại đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn

+ Tác động của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

+ Phân tích SWOT khi thay đổi cơ cấu sử dụng đất

+ Đánh giá chung việc thay đổi cơ cấu sử dụng đất

- Đề xuất một số giải pháp góp phân định hướng cơ cấu sử dụng đất bền vững

Trang 39

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu, tài liệu từ các công trình nghiên cứu, báo cáo, số liệu, tài lệu của chính quyền địa phương có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Điều tra, phỏng vấn người sử dụng đất: sử dụng bảng câu hỏi để điều tra, nghiên cứu

- Quan sát thực tế: qua khảo sát thực tế để kiểm chứng lại tính xác thực của thông tin thu thập được

2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Từ số liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp, phân loại theo các chuyên đềnghiên cứu Bằng phần mềm Excel tiến hành thống kê, tổng hợp, xử lý các số liệu của

phiếu điều tra; mô tả, so sánh, số liệu theo hệ thống bảng biểu, biểu đồ Sau khi tiến

hành xử lý các số liệu và tài liệu thu thập được để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá

toàn diện những tác động của chính sách đất đai đến quá trình ĐTH, xây dựng các

trường dữ liệu về các số liệu đã được xử lý

2.4.3 Phương pháp so sánh

Phương pháp này cho phép phát hiện những điểm giống nhau và khác nhaugiữa các thời điểm nghiên cứu đã và đang tồn tại trong các giai đoạn phát triển nhất

định, đồng thời giúp cho ta phân tích được các động thái phát triển của chúng như so

sánh cơ cấu sử dụng đất qua các giai đoạn

2.4.4 Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm xử lýnhững số liệu thống kê đã thu thập được để phân tích đặc điểm của quá trình đô thị

hóa đến khu vực nghiên cứu Trên cơ sở đó, đưa ra những tác động của quá trình đô

thị hóa tới sự biến động hiện trạng sử dụng đất

2.4.5 Phương pháp phân tích

Trên cơ sở các số liệu được xử lý, tiến hành phân tích, đánh giá tài liệu, xâydựng các trường dữ liệu về các số liệu đã được xử lý để đánh giá tác động của quá

trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất

2.4.6 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, biểu đồ

Đây là phương pháp dùng các loại bản đồ, biểu đồ để minh họa các yếu tốnghiên cứu

Trang 40

2.4.7 Phương pháp SWOT

Mô hình phân tích swot là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõđiểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức(nguy cơ) trong một dự án Thông qua đó,

sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài có thể ảnh hưởng tích

cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu đề ra; giúp ta có cái nhìn tổng thể những yếu tố luôn

ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của dự án

Ngày đăng: 04/07/2021, 22:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Đào Trọng Năng, Nguyễn Thục Y (1984), Những vấn đề quy hoạch đô thị và dân cư, Nhà xuất bản Khoa học - Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề quy hoạch đô thị và dân cư", Nhà xuất bản Khoa học "-
Tác giả: Đào Trọng Năng, Nguyễn Thục Y
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học "-" Kinh tế
Năm: 1984
6. Đình Quang (2005), “Về quá trình đô thị hóa trên thế giới và ở nước ta hiện nay”, Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005, tr.17, 252 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quá trình đô thị hóa trên thế giới và ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đình Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
7. Hà Thái (2008), Ảnh hưởng của đô thị hóa đối với kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của đô thị hóa đối với kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Hà Thái
Năm: 2008
8. Lê Du Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa (2002), Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Lê Du Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
9. Phạm Ngọc Dũng (2011), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
10. Phùng Hữu Phú (2010), Đô thị hóa ở Việt Nam - Từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa ở Việt Nam "-
Tác giả: Phùng Hữu Phú
Năm: 2010
13. UBND quận Ngũ Hành Sơn (2016), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng- an ninh năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế "-
Tác giả: UBND quận Ngũ Hành Sơn
Năm: 2016
15. UBND quận Ngũ Hành Sơn (2017), Niên giám thống kê quận Ngũ Hành Sơn năm 2016 16. Wikippedia (Bách khoa toàn thư mở- tiếng Việt), Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê quận Ngũ Hành Sơn năm 2016"16. Wikippedia (Bách khoa toàn thư mở- tiếng Việt)
Tác giả: UBND quận Ngũ Hành Sơn
Năm: 2017
1. Báo mới, Điểm dừng nào cho đô thị phát triển theo chiều rộng Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014, Quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất Khác
3. Chính phủ (2009), Nghị định 42/2009/NĐ/CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ, Về việc phân loại đô thị Khác
4. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai năm 2013 Khác
11. UBND huyện Bố Trạch (2011), Báo cáo thuyết minh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Bố Trạch đến năm 2020 Khác
12. UBND quận Ngũ Hành Sơn (2016), Báo cáo thuyết minh tổng hợp kế hoạch sử dụng đất năm 2016 quân Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Khác
14. UBND quận Ngũ Hành Sơn(2016), Báo cáo Kiểm kê đất đai năm 2014 quận Ngũ Hành Sơn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w