1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12

102 283 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tây Tiến
Tác giả Quang Dũng
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại bài làm
Năm xuất bản 1948
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 220,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12 Những bài Văn mẫu chuyên sâu Ngữ Văn 12

Trang 1

TÂY TIẾN – Quang Dũng

Đề 1:

Trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng có đoạn:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

… Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Anh/chị hãy cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tây Bắc và hình ảnh người lính qua đoạnthơ trên Từ đó nhận xét về bút pháp tài hoa lãng mạn của nhà thơ

BÀI LÀM

Nói về Quang Dũng là nói về một người chiến sĩ mang tâm hồn nghệ sĩ Bạn bè đồngchí thường trầm trồ thán phục trước tài năng nhiều mặt của ông Không chỉ hát hay,đàn giỏi mà ông còn sáng tác nhạc, vẽ tranh và viết kịch Đặc biệt, trong những giâyphút thăng hoa của tâm hồn, Quang Dũng cũng có những bài thơ để đời như “TâyTiến”, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ” và nhiều tác phẩm truyện, kí khác…Chính bởi sự đa tài ấy mà hồn thơ Quang Dũng cũng mang nét riêng độc đáo Đó làmột tâm hồn thơ bay bổng lãng mạn, phóng túng và tài hoa Đọc thơ của Quang Dũng, ta như vừa nghe giai điệu ngân vang của một nhạc phẩm, vừa tưởng thấy sắc màu vàđường nét của một bức họa Lại vừa cảm cái chân tình, sâu sắc của đời lính Tất cảquyện hòa nhuần nhuyễn mà tự nhiên, sinh động mà sâu lắng Đặc biệt, ở những bàithơ viết về người lính của ông Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, cũng làmột trong những sáng tác hay nhất viết về người lính thời chống Pháp của văn họcdân tộc Chúng ta cùng tìm hiểu đoạn đầu bài thơ: Nỗi nhớ về những chặng đườnghành quân qua miền Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, gian nan vất nhưng không kém phầnthơ mộng mà ấm áp tình người

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Với cảm xúc nhớ nhung, hoài niệm chân thành mà sâu sắc,những hình ảnh thơgợi về từ miền kí ức không xa với đoàn binh Tây Tiến, một đơn vị quân đội chốngPháp ở biên giới Việt Lào, nơi ông từng gắn bó gần hai năm vào sinh ra tử, và vớitâm hồn lãng mạn hào hoa, Quang Dũng đã viết nên bài thơ “ Nhớ Tây Tiến” , Sauđổi thành “Tây Tiến” Bài thơ in trong tập thơ “Mây đầu ô”

Cả bài thơ gồm có 4 đoạn thơ, mạch cảm xúc là nỗi nhớ của nhà thơ về “TâyTiến” từ những chặng đường hành quân gian khổ đến những lúc dừng chân nghỉ ngơi

và cả khi đau đớn tột cùng trước những hi sinh mất mát của đồng đội mình, và kết lạibài thơ là lời thề gắn bó với mảnh đất thiêng liêng Tây Bắc

Bài thơ được viết năm 1948 khi Quang Dũng đã rời xa đoàn quân Tây Tiến,một đơn vị quân đội chiến đấu chống Pháp ở biên giới Việt Lào, nơi mà ông đã gắn

bó hai năm trên cương vị đại đội trưởng Mới chỉ rời đơn vị không lâu, ngồi tại Phù

Trang 2

Lưu Chanh, nỗi nhớ về Tây Tiến, về mảnh đất và con người nơi ấy đã thôi thúc nhàthơ cầm bút viết lên những vần thơ đầy xúc động

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơiDòng hồi tưởng đưa Quang Dũng trở về với những kí ức xa xưa: về những cungđường chiến đấu, về đồng đội của mình… Mỗi kí ức là một mảng ghép tạo thành bứctranh đa sắc màu về miền nhớ “Tây Tiến” thân thương Khởi đầu của nỗi nhớ là hìnhảnh sông Mã hiện ra vừa thơ mộng, trữ tình nhưng cũng vừa ẩn chứa nét hoang sơ, dữdội, một dòng sông gắn liền với chặng đường hành quân của người lính, trở thànhchứng nhân lịch sử, thành kỉ niệm trường tồn của những ngày tháng chiến đấu và hisinh Nhớ về sông Mã là nhớ về đoàn quân Tây Tiến, hai tiếng thân thương ấy vanglên đầy tha thiết trong dòng cảm xúc nhớ nhung đầy tiếc nuối! Các từ “rồi”, “ơi” đặtcuối mỗi cái tên được xướng lên nghe như da diết ngân vang, xúc động lòng người

Nhớ về Tây Tiến là nhớ về núi rừng hoang sơ, địa bàn hoạt động của đoànbinh Nhà thơ điệp lại hai lần từ “nhớ” trong một câu thơ như tô đậm cảm xúc baotrùm toàn bài thơ Và đặc biệt, Quang dũng đã diễn tả thật chính xác cảm giác nhớnhung trong lòng mình Không phải là cái nhớ đến cồn cào da diết trong tình yêu,cũng không phải là cái nhớ thương khắc khoải của người vợ ngóng chồng nơi biên ải,cũng chẳng phải cái nhớ bồn chồn, bâng khuâng trong tình quân dân son sắt dó là nỗinhớ chơi vơi Một nỗi nhớ dàn trải miên man, lan tỏa qua không gian, thời gian, làmchênh chao lòng người và ám ảnh tâm trí Dường như không gian mênh mông quá,lòng người trống trải quá mà nỗi nhớ tan hòa khó chế ngự đến vậy Theo dòng kí ứccòn tươi màu thời gian ấy, những cái tên gắn liền với chặng đường hành quân củanhững chiến binh tây Tiến hiện ra: Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông

…Đó từng là những địa danh xa lạ, đầy bí hiểm của chốn rừng thiêng nước độc đốivới những chành trai Hà thành giờ đã trở thành một phần kỉ niệm không thể nàoquên:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơiCon đường hành quân hiện lên với đầy thử thách, hiểm nguy Đó là kỉ niệm vềnhững ngày hành quân xuyên qua sương mù giăng kín lối, những đêm ngang qua bản

Mường Lát hoang sơ, huyền ảo “hoa về trong đêm hơi” Và dấu chân người lính đã

in trên cả những sườn đèo dốc núi nhiều hiểm nguy mà không kém phần thơ mộng:

Dốc lê khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trờiNgàn thước lên cao ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Câu thơ được tạo bởi những từ láy tượng hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” rồi các từngữ đối lập “ngàn thước lên cao” và “ ngàn thước xuống ” như những nét vẽ đầy gânguốc tái hiện chân thực sự hiểm trở của địa hình Tây Bắc Càng thấu hiểu nhữnggian khổ hiểm nguy trên đường hành quân ta càng thấy cảm phục ý chí kiên cường

Trang 3

của những chàng lính trẻ Hà Thành, họ luôn dũng cảm vượt núi băng rừng với “bướcchân nát đá” tiến lên phía trước tiêu diệt quân thù.

Không chỉ cứng cỏi bản lĩnh mà giữa không gian thơ mộng của núi rừng với

“heo hút cồn mây”, mưa“mưa xa khơi”, những chàng trai hào hoa ấy luôn mở lòngđón nhận và say mê thưởng ngoạn Vượt qua được trăm suối nghìn đèo là phút giâytân hưởng cảm giác được chế ngự thên nhiên, đứng trên đỉnh cao và thả hồn bay bổngcùng trời mây “Súng ngửi trời” – mũi súng chạm đến mây xanh, một hình ảnh thơthật độc đáo, vừa gợi được thế đứng trên cao của người lính, như chiếm lĩnh khônggian, vừa gợi đến cách nhìn hóm hỉnh, lạc quan của tâm hồn người lính Như hìnhảnh “đầu súng trăng treo” đầy ấn tượng trong thơ Chính Hữu Tâm hồn người lính cụ

Hồ là như thế, coi thường mọi gian nguy, và luôn lãng mạn yêu đời

Trong hai cặp câu thơ trên, tác giả đã sử dụng nghệ thuật hài thanh thật điêuluyện Những câu thơ nhiều thanh trắc diễn tả cái hiểm trở của địa hình được đan xenkhéo léo đầy ý nghĩa với những câu thơ có nhiều thanh bằng, miêu tả không gian lãngmạn, huyền ảo của núi rừng Tây Bắc Người đọc như đang cảm thấy rõ lắm cái vịmặn của mồ hôi, của nước mắt, của máu đã thấm trên từng dãy đá tai bèo sắc nhọn,trên từng đèo dốc treo leo Người đọc cũng như đang cảm thấy rõ lắm tiếng thở phàonhẹ nhõm, thảnh thơi hòa vào gió ngàn heo hút, hình dung rõ lắm ánh mắt ngỡ ngàngthích thú của những chiến sĩ khi chạm tới mây trời và ngắm “nhà ai” ẩn hiện trong lànmưa xa khơi Thật sinh động vô cùng

Trong lá thư của Đại Tướng Võ Ngyên Giáp gửi các chiến sĩ Tây Tiến trướckhi lên đường có đoạn: “Trên con đường về miền Tây, các đồng chí sẽ phải lặn lội nơirừng xanh suối bạc, ở những địa phương hàng nửa ngày đường không thấy mộtngười… Chỉ một việc cất chân lên đường tiến về hướng Tây là đủ tỏ cái chí hy sinh,cái lòng kiên nghị của các đồng chí Các đồng chí biết rằng trên mặt trận này phảiđương đầu với nhiều hiểm nghèo, khổ sở Nhưng sự hiểm nghèo, khổ sở có bao giờchinh phục được lòng anh dũng của những thanh niên hăng hái, có bao giờ chinhphục được chí hướng của một dân tộc " Quang Dũng cũng đã diễn tả những hiểmnguy, gian khổ bằng những câu thơ đầy ám ảnh:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Chốn thâm sơn cùng cốc ấy, “Chiều chiều ” rồi “đêm đêm” luôn có những âm thanhghê rợn, đó là tiếng thác gầm thét, tiếng bước chân, tiếng gầm của những con thú khátmáu Chỉ mới nghĩ đến thôi đã đủ khiến lòng người hoang mang, sợ hãi

Trang 4

Những khó khăn, hiểm nguy bủa vây, dọa dẫm, trêu ngươi suốt ngày đêm Vậy

mà, lính Tây Tiến vẫn kiên cường đối mặt để hoàn thành nhiệm vụ được giao Dẫucòn nhiều hi sinh mất mát

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Câu thơ gợi lên cái mệt mỏi của những bước chân hành quân bởi âm điệu kéo dài củacác từ “dãi dầu”, “nữa” Đó là hiện thực đau đớn của chiến trường miền Tây Chiếnđấu trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt, thiếu thốn đủ bề, thậm chí có những lúcphải nhịn đói cả ngày dài thì sự hi sinh là không tránh khỏi Nhưng, cách QuangDũng nói về cái chết của đồng đội mình “gục lên súng mũ bỏ quên đời” khiến ta ngỡnhư đó chỉ là một phút nghỉ ngơi lấy lại sức thôi, vẫn trong hàng ngũ, vẫn súng mũbên mình Đọc đến câu thơ này, nhiều cựu chiến binh Tây Tiến đã không thể cầmlòng, bởi thực tế, có những đồng đội hi sinh không thể chôn cất bởi địa bàn xungquanh toàn núi đá tai bèo Mỗi chiến sĩ đi qua chỗ đồng đội nằm lại chỉ kịp đặt xuốngmột viên đá để che thân cho bạn Họ bị ám ảnh bởi những cái chết lặng thầm đơnđộc vì họ hiểu hơn ai hết về sự hi sinh của đồng đội mình Cái chết đến nhẹ nhàng,thầm lặng mà sao nghe nhói lòng!

Với bao nhiêu kí ức hiện về, Cảm xúc thơ Quang Dũng lại một lần nữa tuôn tràothành tiếng gọi “Tây Tiến” thiết tha, trìu mến:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Đối lập với thiên nhiên khắc nghiệt hiểm trở là một không gian yên bình ấm áp củanhững bản làng đọng lại trong nỗi nhớ của nhà thơ Đó là cơm lên khói, là “thơm nếpxôi” tỏa lan khắp không gian, hương vị của sự đủ đầy, ấm no trong mái ấm gia đình,

nó như an ủi, động viên, như tiếp thêm sức mạnh cho những người lính trẻ xa nhà.Hương vị của Tây Bắc cũng là sự thơm thảo của lòng người nơi ấy, nó hiện về trong

nỗi nhớ của bất kì ai đã từng lên với Tây Bắc: Đất Tây Bắc tháng ngày không có

lịch /Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương (Chế Lan Viên)

Câu thơ cuối có kết hợp từ thật lạ “Mùa em” Phải chăng đó không chỉ là mùacủa xôi nếp mới, mùa của sự đủ đầy vật chất, mà đó còn là mùa của yêu thương, lãngmạn, mùa của sự sẻ chia tình nghĩa Có thể, “Mùa em” đã trở thành một mùa đặc biệtđược mong đợi nhất đối với những chàng lính hào hoa, nhiều mơ mộng ấy Bằng nỗinhớ và tình yêu chân thành mà sâu sắc với Tây Bắc, Quang Dũng đã thi vị hóa những

kỉ niệm, khiến chúng trở nên đẹp đẽ lung linh lạ thường!

Trang 5

Đọc thơ Quang Dũng, ngay những dòng đầu, độc giả đã thấy toát lên phong vịcủa cái tài hoa lãng mạn Thiên nhiên Tây Bắc hiểm trở, khoang sơ đến rùng mìnhnhưng qua ngòi bút của chàng trai có tâm hồn lãng mạn, nhiều mộng mơ bỗng trở nênlung linh huyền ảo Núi rừng Tây Bắc được khắc họa bởi những nét vẽ vừa gân guốccứng cỏi, vừa mềm mại uyển chuyển của nhà thơ tạo nên nét riêng thật độc đáo.Không phải chỉ bởi Quang Dũng vốn đa tài, có năng khiếu hội họa, âm nhạc mà cònbởi tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu mảnh đất hùng thiêng của một con người đã từnggắn bó máu thịt với nơi ấy đã quyện hòa làm nên phong cách tài hoa lãng mạn ấy

Tóm lại, qua mười bốn câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến, tác giả đã phác họa

thành công bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ

can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh “Chiến trường

đi chẳng tiếc đời xanh ” Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến

mà sự thành công là ở sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãngmạn Gần một thế kỉ đã trôi qua mà bài thơ vẫn giữ được giá trị trường tồn trong lòngđộc giả nhiều thế hệ

Đề 2:

Trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng có đoạn:

"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"

(Trích: Tây Tiến – Quang Dũng)

Anh/chị hãy cảm nhận đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về nét riêng trong phong cáchsáng tác của nhà thơ

BÀI LÀM

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống MĨ, ông là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc nhưng thành công nhất là thơ Với tâm hồn lãng mạn, tài hoa của một nhà thơ “xứ Đoài mây trắng”, Quang Dũng đã sáng tác những bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, như: “Tây Tiến”, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ”, Mây đầu ô, Quán bên đường…Trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Tây Tiến” Tác phẩm hấp dẫn người đọc không chỉ ở cảm

Trang 6

xúc thơ chân thực sâu lắng của tình đồng chí đồng đội, mà nó còn gợi về trong tâm tríđộc giả hình ảnh một miền đất xa xôi, hoang dại nhưng thơ mộng vô cùng, nơi ấy lưudấu những kỉ niệm không thể nào quên của một đoàn quân đã trở thành huyền thoại:

"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"

Cất chân ra đi từ mảnh đất Hà Thành, nơi phố thị phồn hoa, những chàng trai vừa đủ tuổi trưởng thành vốn chỉ quen với đèn sách bút nghiên, đã vượt cả trăm cây

số lên bảo vệ biên giới miền Tây Bắc của Tổ quốc Những chặng đường hành quân qua vực sâu núi thẳm, băng qua mưa bom bão đạn kẻ thù, và cả khi đối diện với thiếu thốn, với bệnh tật… tất cả đều đó không làm vơi đi ý chí, nghị lực phi thường của những chiến binh vệ trọc Các anh vẫn giữ được tâm hồn lạc quan yêu đời, vẫn luôn mở lòng đón nhận những rung động đẹp đẽ từ những khoảnh khắc đầm ấm vui tươi trong những đêm hội dã chiến, hay cảnh sông nước yên bình, lãng mạn ở chốn thâm sơn cùng cốc ấy

Không nhớ sao được những phút giây sôi nổi cùng nhau trong đêm liên hoan ngập tràn ánh đuốc:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Câu thơ như làm bừng sáng cả không gian, xua đi cái u uất, tịch mịch của núi rừng, xóa tan cái mệt mỏi dãi dầu trong mỗi bước hành quân của người lính Động từ

“bừng” trong câu thơ đầu đoạn không chỉ diễn tả sự vận động nhanh, rộng khắp và đầy bất ngờ của ánh sáng, mà còn gợi được cái háo hức của lòng người, gợi những ánh mắt lấp lánh niềm vui với nụ cười rạng rỡ Đêm hội liên hoan được tổ chức, không phải tiệc rượu tưng bừng, không có đèn xanh pháo đỏ nhưng cũng đủ làm lòngngười náo nhiệt bởi ánh sáng của đuốc, sắc màu rực rỡ của những bông hoa vừa đượcchọn hái giữa rừng Chỉ một nét phác họa mà gợi cả hình, cả tiếng, cả cái rộn ràng háo hức của lòng người, đủ cho thấy chất tài hoa nghệ sĩ của Quang Dũng!

Trong không khí vui tươi ấy, ta mường tượng như đang được chứng kiến từ giây phút đầu tiên khi ánh đèn sân khấu bừng lên, những diễn viên bất ngờ xuất hiện với xiêm y lộng lẫy:

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Các cô gái Tây Bắc với trang phục biểu diễn rực rỡ như những bông hoa tươi tắn của núi rừng bước ra sân khấu mang đến hương sắc ngọt ngào, say đắm lan tỏa

Trang 7

khắp nơi khiến những chàng lính trẻ Hà Thành khôi khỏi ngỡ ngàng, háo hức “Kìa em”

Những chàng lính đi từ ngỡ ngàng này đến ngạc nhiên khác, họ bị cuốn hút bởigiai điệu man dại của tiếng khèn vang xa trầm hùng như tiếng của gió ngàn, của suối reo, của chim kêu, vượn hót

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Khèn là nhạc cụ dân tộc ở núi rừng Tây Bắc, thường người Tây Bắc sẽ sử dụngloại nhạc cụ này trong các dịp lễ hội, đó là tiết mục văn nghệ đặc sắc mang nét riêng trong đời sống tinh thần của người dân Tây Bắc

"Vang vọng núi rừng tíếng khèn gọi bạn Điệu múa khèn nghiêng ngả tán ô đen."

Cùng với sự khỏe khoắn, dũng mãnh của những chàng trai trong điệu múa khèn là hình ảnh những cô gái yểu điệu dịu dàng, e ấp duyên dáng trong điệu múa xòe ô khiến người xem ngây ngất, đắm say Không khí đó đã xua tan mọi muộn phiền, mỏi mệt của đoàn quân Tây Tiến, như tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ để tiếp tục chặng đường đầy khó khăn phía trước Phải chăng, bởi vậy mà câu thơ cuối khổ đọc lên nhẹ nhàng bay bổng làm sao: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” Dường như tâm hồn chiến sĩ như đã cất cánh - thăng hoa

Nhớ về những phút giây yên bình lãng mạn không thể không nhớ đến cảnh sông nước hữu tình vùng Tây Bắc xa xôi

"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ "

Hình ảnh buổi chiều sương lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng khác với sự hùng

vĩ dữ dội ở khúc thượng nguồn sông Mã Một thế giới khác của thiên nhiên Tây Bắc được mở ra, không còn cái gân guốc, hiểm trở của sườn đèo dốc đá mà cảnh vật trở nên thơ mộng trữ tình biết mấy Cả không gian núi rừng Châu Mộc được bao phủ bởi làn sương mỏng manh lãng đãng, khiến cảnh sắc thêm lung linh huyền ảo, vừa như thực vừa như mơ, gợi nỗi buồn man mác, nỗi lưu luyến của người ra đi Xuân Diệu cũng đã từng bị cái không gian sương khói ấy làm cho thẩn thơ: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời – Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

Trang 8

Trong buổi chiều sương trên vùng sông nước Mộc Châu tâm hồn người chiến

sĩ còn nặng tình vương vấn với “hồn lau nẻo bến bờ” Vạn vật như hữu linh, lòngngười sao nỡ vô tình!

Hai câu thơ cuối là nỗi nhớ về hình bóng con người hòa quyện cùng thiênnhiên thơ mộng:

"Có nhớ dáng người trên độc mộcTrôi dòng nước lũ hoa đong đưa"

Bóng dáng người trên độc mộc với dáng vẻ vững trãi mà duyên dáng,thướt tha hàihòa trong vẻ đẹp của sông nước mênh mông Trên dòng sông ấy, những cánh hoakhông bị dập vùi mà nương theo dòng nước lũ, đong đưa như làm duyên làm dáng,bồng bềnh

Điệp ngữ "có nhớ- có thấy" làm tăng thêm xúc cảm, nỗi nhớ da diết, nồng nàncủa tác giả dành cho nơi đây Hình ảnh đối lập giữa dòng nước lũ và hoa đong đưa,dòng lũ cuộn trào mạnh mẽ với cành hoa nhẹ nhàng lung lay, hai hình ảnh như đối lậphoàn toàn nhưng lại hài hòa, nên thơ.Bút pháp gợi mà không tả với những nét vẽ cáchđiệu đã tạo nên bức tranh đậm đà chất hội họa hòa với chất thi vị trữ tình lôi cuốnngười đọc, đưa ta vào một thế giới hoang sơ, cổ tích

Khi bàn về nét riêng trong phong cách sáng tác của Quang Dũng qua “TâyTiến”, Giáo sư Hà Minh Đức có nhận xét, “Bài thơ được viết ra với những màu sắcthẩm mỹ phong phú Có cái đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở, và vẻ đẹp bình dịnên thơ của cuộc sống nơi bản làng quê hương, có cảm hứng mạnh mẽ hòa hợp vớichất trữ tình nhẹ nhàng mềm mại trong thơ Đặc biệt Tây Tiến là bài thơ giàu nhạcđiệu, nhạc điệu của cuộc sống và của tâm hồn Mỗi đoạn thơ mang một nhạc điệuriêng vừa mạnh mẽ, vừa uyển chuyển khi đưa người đọc về với những kỉ niệm xa nênthơ và gợi cảm” Và, độc giả dễ dàng nhận thấy một nhạc điệu du dương, tình tứ ngânvang, trải dài khắp không gian nỗi nhớ từ đêm hội liên hoan đến cảnh sông nướcmiền Tây thơ mộng ấy Nét riêng đầy lãng mạn hào hoa ấy ít thấy trong nhiều bài thơviết về người lính cùng thời như Đồng chí (Chính Hữu), “Cá nước” (Tố Hữu)…

Có thể nói, qua tám câu thơ đậm đà chất thơ, chất họa, chất nhạc, người nghệ sĩtài hoa Quang Dũng đã khắc họa thật đẹp những kỉ niệm buổi sinh hoạt văn nghệ đầm

ấm và cảnh sông nước hữu tình khiến lòng người mê đắm Qua đoạn thơ, ta khôngchỉ thấy vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, lạc quan yêu đời của những chàng vệ trọc mà cònthấy được cái tình trong từng nét vẽ, câu thơ của Quang Dũng Quả thực nhà thơ luôn

Trang 9

ngưỡng mộ và yêu tha thiết những kỉ niệm gắn bó cùng đoàn quân Tây Tiến Độc giảcũng trân trọng hơn những rung cảm đẹp đẽ của hồn thơ Quang Dũng và yêu thêmmảnh đất và con người Tây Bắc kiên cường.

Đề 3:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Trích: Tây Tiến – Quang Dũng)

Anh/chị hãy cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính trong đoạn thơ trên Từ đó nhậnxét về sự quyện hòa giữa chất hiện thực và lãng mạn trong thơ Quang Dũng

BÀI LÀM

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông

là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc nhưng thành công nhất là thơ Với tâm hồn lãng mạn, tài hoa của một người con “xứ Đoài mây trắng”, Quang Dũng đã sáng tác những bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, như: “ Mây đầu ô”, “Thơ văn Quang Dũng”… Trong đó tiêu biểu là bài thơ “Tây Tiến” Bài thơ không là dòng cảm xúc nhớ nhung của Quang Dũng về mảnh đất Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội

với biết bao kỉ niệm gắn bó Ấn tượng sâu đậm nhất trong dòng cảm xúc ấy là hình ảnh những người lính Tây Tiến thật oai phong lẫm liệt, thật sang trọng hào hoa:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Trang 10

Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm

vụ phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ biên giới Việt –Lào Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, những chàng trai hào hoa thanh lịch, lãng mạn yêu đời Lên với chiến trường Tây Bắc, họ phải đối mặt với bao khó khăn thử thách, nhưng vẫn luôn ngời sáng một ý chí, một tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường Quang Dũng gắn bó cùng đoàn quân Tây Tiến từ những ngày đầu thành lập trên cương vị Đại đội trưởng, anh yêu thương và cảm phục sâu sắc những chiến sĩ trẻ đầy quả cảm của đoàn quân Cuối năm 1948, khi rời đơn vị

cũ chưa lâu, tại Phù Lưu Chanh, vì rất nhớ đoàn quân, Quang Dũng đã viết bài thơ

“Nhớ Tây Tiến, sau đổi tên thành “Tây Tiến” (in trong tập thơ “Mây đầu ô”)

Hai tiếng thân thương “Tây Tiến” được nhắc đến trong bài với thật nhiều cảm xúc, khi thì đầy nuối tiếc, luyến lưu “Tây Tiến ơi!”, lúc lại da diết cồn cào: “nhớ ôi Tây Tiến”, và cái tên “Tây Tiến” lúc này được gọi lên đầy kiêu hãnh tự hào:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Những vần thơ ngồn ngộn chất hiện thực, nửa thế kỷ sau mà người đọc vẫn cảm thấy trong khói lửa, trong âm vang của tiếng súng, những gương mặt kiêu hùng của đoàn dũng sĩ Tây Tiến “ Đoàn binh không mọc tóc”, “ Quân xanh màu lá”, tươngphản với “ dữ oai hùm” Cả ba nét vẻ đều sắc, góc cạnh hình ảnh những “ Vệ túm”,

“Vệ trọc” một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên Quân phục xanh màu

lá, nước da xanh và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng, thế mà quắc thước hiên

ngang, xung trận đánh giáp lá cà “ dữ oai hùm” làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” là hình ảnh các tráng sĩ “ Sát Thát”, đời Trần “ Quân xanh màu lá dữ oai hùm” là chí khí lẫm liệt hiên ngang của anh bộ đội cụ hồ trong chín năm kháng chiến chống Pháp

Gian khổ và ác liệt thế, nhưng họ vẫn mộng vẫn mơ

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Lí tưởng sống của những chàng lính thật đẹp Họ luôn biết dung hòa giưa mộng và mơ Mộng giết giặc, đánh tan lũ xâm lăng để giữ bình yên cho xóm làng Tâm thế luôn sẵn sàng chiến đấu và lập công, “ mắt trừng” Còn mỗi đêm khuya, lại đắm mình trong những ước mơ thật đẹp :“Hà Nội dáng kiều thơm” Ba chữ “ dáng kiều thơm” đã diễn tả thật “ đắt” cái phong độ hào hoa, đa tình của những chiến binh Tây Tiến, những chàng trai của đất nghìn năm văn hiến, giữa khói lửa chiến trường vẫn mơ, vẫn nhớ về một mái trường xưa, một góc phố cũ, một tà áo trắng, một “dáng

Trang 11

kiều thơm” Ngòi bút của Quang Dũng biến hoá, lúc bình dị mộc mạc, lúc lại mộng

ảo nên thơ, và đó chính là vẻ đẹp vừa hào hùng vừa hào hoa của một hồn thơ chiến sĩ

Bốn câu thơ tiếp theo ở cuối phần 3, một lần nữa nhà thơ nói về sự hy sinh tráng liệt của những anh hùng vô danh trong đoàn quân Tây Tiến

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Có biết bao chiến sĩ đã ngã xuống nơi góc rừng, bên bờ dốc vì độc lập, tự do của Tổ quốc Đó là những cái chết lặng thầm, đơn độc và lạnh lẽo vô cùng Bởi đồng đội vẫntiếp tục hành quân, còn các anh nằm lại nơi biên cương, miền viễn xứ - đất khách quêngười Cả câu thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt khiến giọng điệu thơ trang trọng cổ kính, khiến những nấm mồ hoang dại, đơn độc trở nên thiêng liêng, nhưng cũng không tránh khỏi nỗi xót xa, thương cảm trong lòng người đọc

Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Hình ảnh “áo bào” xuất hiện trong câu thơ khiến cái chết của các anh trở nênoai hùng, bi tráng lạ thường, tưởng như đó là phút sa cơ của người dũng tướng củamột thời hào khí Đông A Nhưng sự thật đau lòng là khi nằm xuống, tấm quần manh

áo còn không lành lặn huống chi là áo bào Quấn thân các anh có thể chỉ là tấm vải dùche mưa che gió Các anh đã “về đất” một cách thanh thản, bình dị; yên nghỉ tronglòng Mẹ, giấc ngủ nghìn thu Sự ra đi thật nhẹ nhàng mà lòng người ở lại trĩu nặngnỗi xót xa

Cả đoàn quân lặng đi, chỉ còn nghe thác sông Mã thay tiếng của hồn thiêngsông núi, tiếng của đồng bào, của Tổ quốc “gầm lên” như một loạt đại bác nổ xé trời,vừa đau đớn vừa uất nghẹn căm hờn “Khúc độc hành” vừa là khúc hát tiễn đưa hồn

tử sĩ, vừa là khúc hát lên đường đầy thiêng liêng, bi tráng

Có người cho rằng, Quang Dũng là một trong những nhà thơ đầu tiên của nềnthơ ca kháng chiến nói rất cảm động về sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ vô danh.Quả thực vậy, nếu Chính Hữu, qua bài “Đồng Chí” đã nói rất hay về người nông dânmặc áo lính, thì Quang Dũng, với bài thơ “Tây Tiến” đã dựng lên một tượng đài hùng

vĩ uy nghiêm và đầy bi tráng về những chàng trai Hà Nội “mang gươm đi mở cõi”dũng cảm, can trường, trong gian khổ chiến đấu hy sinh vẫn lạc quan yêu đời Đó là

vẻ đẹp riêng độc đáo làm nên huyền thoại về một đoàn binh không mọc tóc thủa nào!Trong thơ Quang Dũng, hiện thực khốc liệt của chiến tranh được nói đến thẳng thắn,không hề né tránh, nhưng cách mà nhà thơ nhìn nhận và biểu đạt trong từng câu thơ

dù có đau thương chết chóc nhưng không khiến người đọc cảm thấy bi quan, buồnchán, mà trái lại, hiện thực chỉ càng thổi bùng lên ý thức đấu tranh đòi sự sống, cùngtình yêu và sự tôn vinh đẹp đẽ hào hùng Bởi vậy mà hình tượng tập thể anh hùng

Trang 12

Tây Tiến hiện lên trong trang thơ của Quang Dũng mang vẻ đẹp hào hùng, bi tráng,khơi gợi cảm xúc ngưỡng mộ, tự hào nhiều hơn là cảm xúc xót đau, thương cảm

Nhìn chung, đoạn thơ trên đã thể hiện thật rõ nét cốt cách và bút pháp lãngmạn, hồn thơ tài hoa của Quang Dũng Nếu “thơ là sự thể hiện con người và thời đạimột cách cao đẹp” thì đoạn thơ đã cho ta cảm nhận về ấn tượng ấy “Tây Tiến” đãmang vẻ đẹp độc đáo của một bài thơ viết về người lính – anh bộ đội cụ Hồ nhữngnăm đầu kháng chiến chống Pháp Bài thơ hội tụ mọi vẻ đẹp và bản sắc của thơ cakháng chiến ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về chất trữ tình – chính trị trongngòi bút thơ Tố Hữu

BÀI LÀM

Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt

Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” là một trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng là dòng chảy cảm xúc

Trang 13

dạt dào, tha thiết về nỗi nhớ Việt Bắc Tiêu biểu trong bài thơ là những dòng kí ức về giờ phút chia tay đầy bịn rịn lưu luyến của kẻ ở người đi:

- Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

- Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Tố Hữu viết Việt Bắc nhân một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Sau chiếndịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tên giặc Pháp cuối cùng rời khỏi quê hương, cơ quan trung ương chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô sau mười lăm năm gắn bó Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến bịn rị, Tố Hữu đã viết bài thơ này Mạch thơ tuôn trào theo dòng hồi tưởng của nhà thơ về những năm tháng gắn bó với mảnh đất và con người Việt Bắc mà khởi nguồn là giây phút chia li thật xúc động nghẹn ngào

Chúng ta đã từng có những áng văn chương lớn nói về những cuộc chia ly làm não lòng nhiều thế hệ người đọc Việt Nam Đó là giọt nước mắt chia li của người chinh phụ tiễn chồng ra biên ải (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn); đó là phút tử biệt “một giã gia đình một rửng rưng” của người chiến sĩ bước vào khói lửa đạn bom (Tống biệt hành – Thâm tâm); hay đó là cuộc chia li “chói ngời sắc đỏ” của người vợ

xa chồng trong khánh chiến chống Mĩ Thế nhưng, có một cuộc chia li không thấm đẫm nước mắt, không nhuốm màu tử biệt đã đi vào lịch sử, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của dân tộc Không phải là cuộc chia li chồng vợ hay của đôi trai gái chung tình, mà buổi tiễn chân bộ đội miền xuôi về với thủ đô vẫn nghe sao thật tình

tứ, mặn nồng

- Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Ngay từ câu thơ đầu tiên, người ở lại đã cất lên tiếng lòng đầy băn khoăn trăn trở về tình cảm của người ra đi Thật dễ hiểu, bởi trong mỗi cuộc chia li thì người ở lại luôn

có tâm trạng nặng nề hơn, vừa phải đối diện với một không gian trống trải, thiếu vắngbóng người, vừa luyến tiếc những năm tháng gắn bó, liệu người đi rồi có còn nhớ ta chăng?

Câu hỏi tu từ mang âm hưởng ca dao “mình về có nhớ ta chăng? – Ta về ta nhớhàm răng mình cười”, với lối xưng hô “mình – ta” ngọt ngào, đằm thắm như đôi trai

Trang 14

gái yêu nhau đã khơi gợi tình cảm gần gũi, tha thiết nhớ thương của người về xuôi: Người về chốn thị thành phồn hoa, có còn nhớ đến ta?

Vừa khơi gợi cảm xúc, câu hỏi tu từ vừa như nhắc nhớ về khoảng thời gian gắn bó mười lăm năm, kể từ những ngày đầu mới xây dựng căn cứ địa Việt Bắc Chỉ nhắc đến khoảng thời gian đằng đẵng ấy thôi cũng đủ khơi dậy biết bao kỉ niệm về những gian khổ, thiếu thốn “ta” và “mình” đã trải qua Nó “ thiết tha, mặn nồng” bền chặt, keo sơn và luôn in dấu trong lòng người ở lại

Kỉ niệm không chỉ được nhắc nhớ qua thời gian “mười lăm năm” mà còn được nhắc nhớ qua không gian núi rừng Việt Bắc qua cấu trúc câu hỏi được lặp lại:

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Câu thơ vẽ lên không gian đặc trưng của núi rừng Việt Bắc, không gian đã từng gắn

bó một thời gian khổ hào hùng của người đi kẻ ở, giờ đây đã trở thành không giancủa nỗi nhớ Nhà thơ đã sử dụng hai điệp từ lặp đi lặp lại ở hai vế “nhìn – nhớ” đểnhấn mạnh và khắc sâu những diễn biến sẽ có trong tâm trí người ra đi Núi rừng,sông suối nơi Việt bắc sẽ trở thành một phần kí ức của bộ đội miền xuôi, để khi về lạithủ đô, mỗi lần nhìn “cây” nhìn “sông” ở nơi ấy sẽ gợi nhắc về không gian “núi”,

“nguồn” chốn thượng ngàn Câu thơ bộc lộ sự thấu hiểu tâm trạng người đi và ngâmd

ẩn một lời nhắc nhớ ngườ đi gìn giữ tấm chân tình: đừng vì hoàn cảnh sống thay đổi

mà quên những ngày tháng đồng cam cộng khổ ở Việt Bắc thân thương

Qua hai cặp câu hỏi tu từ giãi bày nỗi lòng nhớ nhung, trăn trở của người ở lại,

ta không chỉ thấy được tình cảm đậm đà sâu sắc của đồng bào Việt Bắc dành cho cán

bộ miền xuôi, mà còn thấy được sự trân trọng, nâng niu những kỉ niệm buồn vui suốt mười lăm năm gắn bó của họ

Để đáp lại những băn khoăn trăn trở của người ở lại, người ra đi đã khẳng định tình cảm của mình bằng những câu thơ đầy xúc động:

- Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Nếu như Việt Bắc băn khoăn “mình về mình có nhớ…” thì đây chính là lời khẳng định chắc chắn về nỗi nhớ, về tình cảm của người đi dành cho Việt Bắc trong sự đồng điệu tâm hồn Người đi không chỉ nhớ mà còn khắc ghi sâu đậm trong tâm khảm “tiếng” và “hình” của người ở lại Đại từ phiếm chỉ “ai” khiến đối tượng của nỗi nhớ trở nên bao quát hơn và thi vị hơn, bởi nó khiến câu thơ mang dáng dấp những câu dân ca ngọt ngào, tình tứ: “ Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai” Bởi đã gắn bó rất lâu nên tiếng nói của người Việt Bắc đã trở thành đối tượng sâu đậm đầu tiên của nỗi nhớ Thứ thanh âm “tha thiết” quen thuộc mang đặc

Trang 15

trưng của vùng miền đã gieo vào lòng người đi nỗi “bâng khuâng” vừa buồn vui, vừa luyến nhớ, khiến bước chân trở nên “bồn chồn”, bởi lòng ngổn ngang nỗi nhớ, chùng chình nửa ở nửa đi! Trong hai câu thơ lục bát, tác giả sử dụng đến ba từ láy “tha thiết”, bâng khuâng”, “bồn chồn” để diễn tả trạng thái cảm xúc đang trào dân và luôn thường trực của người ra đi Lời đáp phải chăng đã giải đáp thỏa đáng nỗi niềm băn khoăn của đồng bào Việt Bắc?

Tiếp theo trong lời đáp ấy, nhịp thơ thay đổi, khiến câu thơ như bẻ đôi, chia li,cách biệt:

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Từ nhớ tiếng sang nhớ hình Một nét ấn tượng nữa trong tâm trí người đi đó lại làhình ảnh của chiếc áo chàm quen thuộc, đặc trưng cho lối ăn mặc của người Việt Bắc.Mượn hình ảnh hoán dụ “áo chàm” để chỉ người dân Việt Bắc, người ra đi đã bộc lộmột nỗi niềm thương nhớ và yêu mến cái chất phác, giản dị toát ra từ cái sắc trầm bền

bỉ, sắc son ấy Cùng với hình ảnh đồng bào Việt Bắc, hành động “cầm tay” cũng đểlại ấn tượng thật sâu sắc cái nắm tay thật giản đơn, mộc mạc thôi mà chất chứa bao

ân tình, hơn ngàn vạn lời nói Qua cái nắm tay, người đi cảm nhận được hơi ấm, niềmtin yêu, cảm nhận được tâm tư, tình cảm của người ra đi Cách ngắt nhịp 3/3/2 củacâu thơvà dấu chấm lửng cuối dòng đã tạo nên những khoảng lặng trong cảm xúcngười ở kẻ đi Đó là những giây phút nghẹn ngào không nói nên lời, chỉ biết nắm taynhau thật chặt để níu lại những thương yêu Thật xúc động biết bao!

Bốn câu thơ đáp lời người ở lại của cán bộ miền xuôi bằng tình cảm chân thành

và sâu nặng đã thực sự làm yên lòng người ở lại Dù không dùng đến một từ “nhớ”,nhưng nỗi nhớ tràn ngập bốn dòng thơ và xâm lấn trong tâm hồn, trong chiều sâu cảmxúc của người ra đi Tình cảm ấy cũng thủy chung son sắt, đậm đà tha thiết lắm thay!

Nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng thơ Tố Hữu là thơ của thứ tình cảm lớn,niềm vui lớn, cảm xúc thơ luôn gắn liền với những sự kiện chính trị quan trọng có ýnghĩa cộng đồng Nhưng phải nhận thấy một điều rằng, dù là đề cập đến nội dungchính trị nhưng rất gần gũi, giàu cảm xúc mà không hề khô khan giáo điều Đoạn thơnói tái hiện khung cảnh chia tay trong thời khắc lịc sử quan trọng của đất nước giữađồng bào Việt Bắc và bộ đội miền xuôi mà nghe như cuộc chia tay đầy lưu luyến bịnrịn của đôi trai gái yêu nhau vậy Thật lãng mạn và thắm thiết tình người

Qua tám câu thơ đầu, bằng việc sử dụng cấu trúc đối đáp giao duyên

“ta”-“mình”, kết hợp với việc sử dụng những ngôn từ hình ảnh giàu sức gợi hình, gợi cảm

mà mộc mạc chân thành, nhà thơ đã làm nổi bật khung cảnh chia tay đầy lưu luyếngiữa bộ đội miền xuôi và Việt Bắc Đoạn thơ cũng góp phần ngợi ca vẻ đẹp trong tâmhồn con người Việt Bắc, ngợi ca tình nghĩa cách mạng thủy chung gắn bó Bằng việc

sử dụng khéo léo, tài tình ngôn ngữ dân tộc, Tố Hữu đã trữ tình hóa mối quan hệ

Trang 16

chính trị, khiến tình quân dân trở nên thi vị và đầy ấn tượng Đoạn thơ góp phần làmnên thành công của tác phẩm và đem đến cho người đọc ấn tượng thật đẹp về mộtthời kì đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc.

Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt

Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” là một trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng thể hiện một tấm lòng tri ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng của nhà thơ nói riêng, của bộ đội miền xuôi nói chung với mảnh đất và con người Việt Bắc Lịch sử đã sang trang, mà mỗi lần đọc lại đều rưng rưng rưng xúc động:

- Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Trang 17

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

Mười lăm năm đi hết cuộc đời trai trẻ, mười lăm năm gắn bó với thượng ngànheo hút, biết bao kỉ niệm vơi đầy, người thi sĩ - chiến sĩ ấy làm sao không lưu luyếnkhi rời xa? “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” Tháng 10 năm

1954, nhà thơ theo cơ quan trung ương, chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếpquản thủ đô sau khoảng thời gian dài đã đồng cam cộng khổ cùng mảnh đất và conngười Việt Bắc, trong giây phút chia tay đầy lưu luyến và dạt dào xúc cảm, Tố Hữu

đã viết bài thơ Việt Bắc Những kỉ niệm cứ ùa về như dòng thượng nguồn tuôn chảyqua lời đối đáp ngọt ngào đằm thắm của kẻ ở - người đi mà khởi nguồn là phút nắmtay giã biệt bịn rịn đầy lưu luyến Nối tiếp là những lời gợi nhắc của người ở lại vềnhững kỉ niệm không thể nào quên

Vẫn trong cấu trúc đối đáp “ta – mình” như lời giao duyên tình tứ gợi về khônggian văn hóa làng Việt gần gũi thân thương, từng câu hỏi của người ở lại như xoáysâu vào tâm trí người đi:

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Nhớ về Việt Bắc là nhớ về những ngày tháng cùng chung sống với những cơn mưađầu nguồn xối xả, với lũ suối thành sông, với âm u núi rừng mây mù giăng khắp.Thời tiết khắc nghiệt mang đặc trưng của thiên nhiên nơi đây đã tôi luyện ý chí, nghịlực và tinh thần thép cho những người chiến sĩ đến từ miền xuôi Cách nói nhấnmạnh “những mây cùng mù” càng tô đậm những khó khăn gian khổ đã trở thànhquen thuộc, đã trở thành một phần cuộc sống suốt 15 năm ròng gắn bó Người ở lạigợi nhắc đầy trăn trở: liệu rằng người về xuôi có còn nhớ chăng?

“Mình về có nhớ chiến khu,

Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?”

Vẫn là “mình” đó mà lúc lại là “mình đi”, lúc lại là “mình về”, dường như cảmxúc của người ở lại chộn rộn quá, như chống chếnh, như chơi vơi, vừa nhớ tiếc, vừaluyến lưu Không chỉ nhớ về khung cảnh mưa lũ mây mù, có chút ảm đạm nhưngvẫn mang đậm chất trữ tình, thơ mộng, phóng khoáng và hùng vĩ của thiên nhiên, mà

người ở lại còn gợi nhớ về cuộc sống sinh hoạt ở chiến khu với “miếng cơm chấm

Trang 18

muối” đạm bạc mà nghĩa tình Câu thơ có vế sóng đôi “mối thù nặng vai” diễn tả ý

chí quyết tâm một lòng của quân và dân Việt Bắc Những khó khắn thiếu thốn ấycàng thổi bùng lên ngọn lửa hờn căm, càng nhắc nhở về mối thù quân xâm lược đangkết hình kết khối đè nặng lên vai Câu thơ cũng bộc lộ niềm tự hào của những conngười đã từng trải qua những ngày tháng gian khổ, kiên trì đấu tranh để giành lại độclập tự do và đem đến cho nhân dân cuộc sống hạnh phúc, ấm no

Phút chia tay thật nhiều điều muốn nói! Những câu hỏi như khơi sâu người ởbộc lộ nỗi trống trải, thiếu hụt trong lòng bằng hình ảnh nhân hóa:

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Người về với thị thành tấp nập, để lại khoảng trống khó lấp đầy của không gian Núirừng cũng như bần thần nhớ “ai” Những món ăn đặc sản núi rừng “trám bùi”, “măngmai” cũng để rụng, để già, không còn người thu hái Tất cả trở về với nguyên sơ, với

sự tĩnh lặng hiu hắt khi bộ đội về xuôi Không buồn nhớ sao được!

Vẫn với tâm trạng băn khoăn luyến nhớ, người ở lại hỏi người ra đi:

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son?

Hai câu thơ có hình ảnh tượng trưng và tương phản đầy ấn tượng Những ngôi nhàsàn thấp thoáng sau những vạt lau sậy hắt hiu, hoang vắng, đó là mái ấm của nhữngcon người Việt bắc chân chất mộc mạc Đó cũng là nơi nuôi dưỡng những tấm lòngson sắt thủy chung với cách mạng trường kì Vẫn trong mạch cảm xúc băn khoăntrăn trở, đồng bào gợi nhớ những hình ảnh thân thương ấy bằng một niềm kiêu hãnh

về phẩm chất cách mạng của mình Sự tương phản hình ảnh “hắt hiu lau xám” và

“đậm đà lòng son”, một hình ảnh ẩn dụ rất đẹp ca ngợi tấm lòng son sắt thủy chung,càng khắc sâu ấn tượng về những con người tuy còn nghèo khổ, thiếu thốn nhưnggiàu tình yêu nước, gắn bó thủy chung với cách mạng và kháng chiến

Nhớ về Việt Bắc, không thể không nhớ đến những ngày tháng đấu tranh gian khổ:

Trang 19

Cùng với những hình ảnh đặc trưng cho vùng cao Việt Bắc của quê hương, đại từ mình xuất hiện đều đặn, nhịp nhàng và biến hóa linh hoạt suốt khổthơ đã tạo nên sắc điệu trữ tình thắm thiết, đậm đà tính dân tộc Nếu đại

từ “mình” được dùng để chỉ những người bộ đội miền xuôi, người ra đi trong cuộc chia tay ấy thì sang đến câu thơ cuối khổ, “mình” được điệp lại ba lần với ý nghĩa khác nhau mà lại quyện hòa, gắn bó không thể rạchròi phân định Đó là cách xưng hô ân tình, đằm thắm như lời lẽ tình tứ của đôi trai gái xưa “ Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ” Mình có trong ta mà ta cũng luôn hiện hữu trong trái tim mình

Với tình cảm gắn bó tha thiết ấy, người ra đi hãy đừng quên những tháng ngàycùng nhau chiến đấu “khi kháng Nhật – thủa còn Việt Minh”, và đừng quênnhững cái tên thân thuộc Tân Trào, Hồng Thái, nơi khởi nguồn của nhữngchiến công; đừng vội phai nhòa những kí ức thiêng liêng về buổi lễ xuất quândưới gốc đa cổ thụ bên mái đình Tân Trào năm ấy

Câu thơ cuối cùng có sự đổi chỗ thú vị: Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Tràođược hoán vị thành “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” vừa nhấn mạnhcái tên đã đi vào lịch sử vừa tạo nên tính chất mới mẻ, độc đáo cho câu thơ lụcbát Người Việt Bắc luôn mong muốn người ra đi hãy khắc ghi và luôn gìn giữnhững phẩm chất cách mạng vốn có vẹn nguyên như những ngày đầu!

Nói đên sự đóng góp của Tố Hữu trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, không thểkhông nói đến đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc,tinh thần dân tộc trong thơ Thơ Tố Hữu bài nào cũng vậy, đều đậm đà sâu sắcphong vị quê hương, từ ngôn từ giản dị, mộc mạc, cách xưng hô ‘mình- ta”thân tình ấm áp; hình ảnh của dưa cà mắm muối, của sân đình gốc đa, củadáng mẹ, dáng chị, dáng anh quen thuộc, chân quê đến cách cảm, cách nghĩ vàmột tâm hồn dào dạt nghĩa tình trong thơ Tất cả điều đó đã làm nên nét rấtriêng trong phong cách sáng tác của nhà thơ Đó cũng là lí do khiến thơ của TốHữu chyển tải những điều lớn lao mà rất tự nhiên thấm sâu vào lòng người đọcnhiều thế hệ, làm nên sức sống lâu bền

Với mười hai câu thơ lục bát Tố Hữu đã tạo thành sáu câu hỏivới kết cấu trùng điệp như khắc sâu vào kỉ niệm người đi về mộtmiền đất hoang sơ mà nghĩa tình Mỗi câu đều gợi lại nét tiêu biểutrong chuỗi kỉ niệm về Việt Bắc: Việt Bắc gian khổ thiếu thốn,Việt Bắc nghĩa tình sâu đậm, Việt Bắc gắn liền với những sự kiệnlịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam Đọc đoạn thơ ta nhưthấy ngân vang khúc nhạc tình yêu êm ái dịu dàng Những câu hỏi

là nỗi niềm băn khoăn của đồng bào Việt Bắc đấy nhưng thực chấtlại chính là những lời tự dặn lòng mình của nhà thơ: trở về xuôirồi đừng quên những năm tháng cơ hàn khốn khó ở Việt Bắc,đừng quên những con người mộc mạc mà ân nghĩa thủy chung Ta

Trang 20

nhận thấy một tấm lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ với Việt Bắc,thấy yêu mến và trân trọng hơn sự cống hiến của nhân dân mọimiền cho độc lập hôm nay Tôi chợt hỏi mình “ta đã làm gì cho Tổquốc hôm nay?”

Đề 6:

- Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Trang 21

- Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Nếu ai đó không biết rằng “Việt Bắc” là lời giã biệt, lời tri ân của cán bộ, bộ đội miền xuôi với đồng bào Việt Bắc sau mười lăm năm gắn bó làm nên thắng lợi củatrận Điện Biên Phủ lừng lẫy thì hẳn sẽ nghĩ đó là những câu hát giao duyên tình tứ của những bậc liền anh liền chị ở một xứ Kinh Bắc nào Sự kiện lịch sử quan trọng ấyđược ghi khắc không chỉ trong trí nhớ mà còn khắc sâu trong trái tim của bao người yêu thơ Đó là sức mạnh của “một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng”(Hoài Thanh) trong ngòi bút trữ tình - chính trị của Tố Hữu

Có nhà phê bình từng nhận định “Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩnhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ” Tâm hồn của một thi sĩ làm cáchmạng đã khiến cho những điều khô khan, cứng nhắc cũng trở nên mềm mại trong thơ.Chẳng thế mà,Tố Hữu đã thi vị hóa mối quan hệ quân - dân trở nên gần gũi, cởi mở

và chân thành biết mấy Vốn dĩ, cách xưng hô “mình – ta” đã rất quen thuộc trong đờisống người dân lao động xưa, trong đối đáp giao duyên hay trong thơ ca dân gian Ta

dễ dàng bắt gặp những câu ca dao ngọt ngào say đắm: “ Mình về ta chẳng cho về - tanắm vạt áo, ta đề câu thơ” Hay “Mình về có nhớ ta chăng – Ta về ta nhớ hàm răng

Trang 22

mình cười” Ở đây, Tố Hữu thay lời bộ đội miền xuôi thân mật xưng hô “ta-mình” vớiđồng bào Việt Bắc, khiến tình cảm quân dân càng thêm khăng khít, mặn nồng.

Đoạn thơ là lời đáp lại tình cảm của người đi với người ở lại Đồng bào Việt Bắc vì nhớ nhung, lo lắng mà gặng hỏi người về xuôi có còn nhớ những ngày “ Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù?” Đáp lại tình cảm sâu nặng ấy, người ra đi đã bộc lộ sự thủy chung son sắt như một lời thề :

- Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Câu thơ điệp lại theo cấu trúc vòng tròn: “ta với mình” rồi lại “mình với ta” tạonên sự gắn bó quyện hòa như không thể tách rời, không gì chia cắt Lại thêm câu khẳng định tấm lòng, tình cảm trước sau như một của người ra đi, vẫn luôn “mặn mà đinh ninh”, không bao giờ phai nhạt Đọc câu thơ, ta ngỡ như đó là lời thề non hẹn biển của đôi trai gái yêu nhau: “Thuyền về có nhớ bến chăng – Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Hẳn rằng lời khẳng định chân thành ấy của bộ đội miền xuôi đã làm ấm lòng người ở lại

Dường như ngần ấy chưa đủ để nói hết những lưu luyến nhớ nhung của người

ra đi dành cho mảnh đất và con người Việt Bắc Mười lăm năm gắn bó chứ đâu phải một sớm một chiều, tất cả như còn vẹn nguyên trong tâm trí người ra đi:

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Lúc này đại từ “mình” được sử dụng để chỉ cho cả hai đối tượng, “mình” là bộ đội miền xuôi hay “mình” cũng chính là người Việt Bắc Dường như cảm xúc nhớ nhung dâng trào đến độ “ta – mình” đã hòa vào một, ta là mình và mình là ta Đến đây, độc giả lại bắt gặp một tứ trong ca dao xưa “Qua đình ngả nón trông đình – Đìnhbao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” Cách ví von “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” vừa thân thuộc vừa mang đặc trưng lối nói của người vùng cao Việt Bắc : tình nghĩa con người được ví với nước trong nguồn – một biểu tượng của thiên nhiên vô tận, vĩnh hằng Câu thơ vừa thể hiện nỗi nhớ, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ miền xuôi đối với Việt Bắc, nơi đã che chở, nuôi dưỡng cách mạng từ trong trứng nước!

Nỗi nhớ được cụ thể hóa qua không gian, thời gian:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Trang 23

Tố Hữu đã lấy thước đo giá trị của nỗi nhớ trong tình yêu để cắt nghĩa, lý giải cho tình cảm của người chiến sĩ miền xuôi với đồng bào Việt Bắc Đó không phải là nỗi nhớ của ý thức, của lí trí lạnh lùng mà là nỗi nhớ hằn in trong trái tim của người ra đi như nỗi nhớ “người yêu” – một nỗi nhớ da diết, cồn cào, mãnh liệt Câu thơ có từ để hỏi “nhớ gì” vừa thể hiện sự ngỡ ngàng về một hiện thực trong trái tim mình, dường như bản thân người đi cũng thực sự bất ngờ bởi nỗi nhớ đằm sâu mãnh liệt đến thế, vừa như khẳng định sự hiện hữu một tình cảm đặc biệt dành cho Việt Bắc trong trái tim mình Thật đáng trân trọng!

Trong xúc cảm của một tình yêu nồng nàn, khung cảnh thiên nhiên lãng mạn

mở ra “ Trăng lên đầu núi – nắng chiều lưng nương.” Một câu thơ phác họa hai thời điểm khác nhau: vế đầu là hình ảnh gợi tả không gian hò hẹn lãng mạn với ánh trăng vừa hé lộ dịu dàng e ấp, tình tứ; vế sau là hình ảnh gợi không gian của buổi chiều lao động trên nương rẫy, những tia nắng còn trải vàng trên lưng chừng núi Dường như, những khoảnh khắc đẹp như tranh vẽ ấy đã lí giải tại sao nỗi nhớ đồng bào trong lòngngười đi lại như nỗi nhớ “người yêu” Thiên nhiên và hình ảnh cuộc sống lao động của con người nơi đây thật khiến lòng người xao xuyến, đắm say!

Và như một cuốn phim quay chậm, những hình ảnh thân thuộc hiện về nguyên vẹn trong tâm trí người đi:

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Kết thúc khổ thơ , tình cảm lại toả ra tràn ngập cả núi rừng Việt Bắc Những kỷniệm chung và riêng đan xen nhau, lần lượt hiện ra rõ mồn một trong tâm trí của người đi “từng bản khói cùng sương”, “từng rừng nứa bờ tre” Nghệ thuật điệp từ

“nhớ” nằm trong cấu trúc điệp “nhớ từng”, kết hợp với biện pháp tu từ liệt kê những hình ảnh về không gian sinh sống của đồng bào, nơi đi về ấm áp trong tình cảm gia đình, những địa danh lịch sử người cán bộ đã từng đặt chân “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…” làm cho những kỷ niệm thân thương về những tháng ngày gian khổ mà kiên cường đấu tranh chống giặc hiện lên tầng tầng lớp lớp, hết hình ảnh này, đến hình ảnh khác như suối nguồn không bao giờ vơi cạn

Nhà thơ Chế Lan Viên từng nói “Thơ Tố Hữu là thơ cách mạng, chứ khôngphải thơ tình yêu, nhưng thơ anh là của một tình nhân, anh nói các vấn đề bằng tráitim của một người say đắm Cái sức mạnh lớn nhất của Tố Hữu là quả tim anh” Điềunày dễ nhận thấy ở bài thơ Việt Bắc từ việc sử dụng thể thơ lục bát, ở cách đối đáp

Trang 24

giao duyện ngọt ngào thiết tha đến việc sử dụng linh hoạt, tài tình cặp đại từ nhânxưng “mình, ta” nhịp nhàng sánh đôi để nói về tình cảm gắn bó giữa cán bộ với nhândân Chính lý tưởng cộng sản là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo trong thơ TốHữu Thơ ông luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm yêu nước, yêu chủnghĩa xã hội thuần túy với một tình cảm cá nhân đằm thắm nhất Nhờ thế, nhà thơ đãsáng tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo của thơ trữ tình chính trị, mang đậm đàbản sắc dân tộc và nâng nó lên một trình độ mới.

Tóm lại, qua những lời thơ thủ thỉ tâm tình chân thành đằm thắm của người ra

đi với người ở lại trong đoạn thơ trên, ta không chỉ thấy những hồi ức đẹp đẽ về mộtViệt Bắc thơ mộng nghĩa tình mà người đọc còn cảm nhận một tình cảm cách mạngthiết tha, sâu đậm trong tình quân dân cá nước Đoạn thơ cũng tiêu biểu cho phongcách trữ tình - chính trị của Tố Hữu, để lại dấu ấn khó phai trong lòng độc giả Nhữngvần thơ cũng góp phần nhắc nhớ con người về lối sống ân nghĩa thủy chung, có đượcnhững ngày bình yên hạnh phúc, đừng vội quên những tháng ngày gian khổ đã qua!Phải chăng vì thế mà thơ Tố Hữu bao giờ cũng mới, nó trở thành cách nhìn, thànhnếp sống phổ biến của những con người thời đại mới!”

Đề 7:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về sự kết hợp yếu tố nhạc và họatrong thơ Tố Hữu

BÀI LÀM

Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt

Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng

Trang 25

mạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” là một trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng là dòng chảy cảm xúc dạt dào, tha thiết về nỗi nhớ Việt Bắc Tiêu biểu trong bài thơ là những dòng kí ức về một bức tranh tứ bình Việt Bắc thơ mộng, ân tình:

Ta về, mình có nhớ ta

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Tố Hữu viết Việt Bắc nhân một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Sau chiếndịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tên giặc Pháp cuối cùng rời khỏi quê hương, cơ quan trung ương chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô sau mười lăm năm gắn bó Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến bịn rị, Tố Hữu đã viết bài thơ này Mạch thơ tuôn trào theo dòng hồi tưởng của nhà thơ về những năm tháng gắn bó với mảnh đất và con người Việt Bắc Nhớ về Việt Bắc, không chỉ là nỗi nhớ về những hi sinh, gian khổ “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” mà còn là nỗi nhớ về một Việt Bắc đẹp như thơ, làm say đắm lòng người

Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi tu từ Nhưng hỏi chỉ là cái cớ để thể hiện tâm tư

tình cảm, nhấn mạnh nỗi nhớ da diết của người về Thủ đô

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Hai câu đầu là lời hỏi đáp của ta - người cán bộ kháng chiến về xuôi Ta hỏi mình có nhớ ta Người cách mạng về xuôi hỏi người Việt Bắc để bộc lộ tâm trạng của mình là

dù có ở nơi xa xôi , dù có xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó với Việt Bắc Chữ "ta" và

"nhớ" được điệp đi điệp lại nhiều lần vừa nhấn mạnh chủ thể nỗi nhớ, vừa khẳng địnhmột tình cảm nhớ nhung đang chế ngự, tràn ngập trong tâm hồn người đi Nỗi nhớ hướng về "những hoa cùng người" hướng về thiên nhiên , núi rừng và con người Việt Bắc "Hoa" là sự kết tinh của hương sắc, còn "người" là bông hoa đẹp nhất giữa núi rừng Xét cho cùng, "người ta là hoa của đất" Hoa và người đồng hiện càng tôn lên

vẻ đẹp cho nhau,

khiến không gian trở nên hài hòa, lãng mạn

Nỗi nhớ hiện về trong tấm trí người đi theo mạch trình tự bốn mùa, mỗi mùa làmột bức tranh đẹp toàn bích, mà khởi đầu là bức tranh Việt Bắc trong mùa đông:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Không gian mở ra trước mắt người đi không phải là cảnh rừng ảm đạm lạnh lẽo mà làmột cánh rừng xanh bạt ngàn vô tận Trên tấm thảm xanh đầy sức sống ấy là sắc đỏ rực rỡ, tươi tắn của những bông chuối rừng Sự hài hòa giữa hai màu sắc tương phản

Trang 26

“xanh-đỏ” khiến lòng người cảm thấy ấm áp trước cái lạnh lẽo kahức nghiệt của thời tiết nơi

rừng thiêng nước độc ấy

Giữa không gian hoang vu mà thơ mộng, xuất hiện hình ảnh những con người lao động khỏe khoắn cheo leo trên những đỉnh đèo “nắng ánh” với “dao gài thắt lưng” Những ánh nắng rực rỡ của ngày mới chiếu rọi vào những chiếc dao gài ở thắt lưng tạo nên phản quang lấp lánh làm đẹp thêm hình ảnh những con người Việt Bắc chủ động, tự tin giữa đại ngàn

Bức tranh mùa xuân hiện ra cũng mang nét rất riêng của thiên nhiên nơi đây

Đó là thời điểm mà cả cánh rừng mênh mông ngập tràn sắc trắng tinh khôi của hoa

mơ nở rộ:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Cách sử dụng kết hợp từ “mơ nở trắng rừng” khiến người đọc liên tưởng đến

sự chuyển biến của màu sắc, đồng loạt và nhất thể như nhuộn trắng cả không gian, khác với sắc trắng điểm xuyết khiêm nhường trong những câu thơ miêu tả cảnh ngày xuân của đại thi hào Nguyễn Du “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Xuân ở núi rừng Việt Bắc là thế, thật riêng, thật ấn tượng

Giữa cái nền trắng của hoa mơ ấy, nổi bật lên hình ảnh con người lao động cần mẫn, dịu dàng: "chuốt từng sợi giang" Con người đẹp một cách tự nhiên trong công việc hàng ngày Động từ "chuốt" kết hợp với trợ từ "từng" đã thể hiện bàn tay khéo léo, tỉ mĩ, và tài hoa của người lao động Đó cũng chính là những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Bắc hào hùng nhưng cũng rất hào hoa

Nếu như bức tranh mùa đông và mùa xuân được nhà thơ cảm nhận bằng thị giác thì sang đến bức tranh mùa hè các giác quan quan của nhà thơ được mở rộng để đón nhận những điều thú vị tuyệt vời chỉ có ở Việt Bắc:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Âm vang của tiếng ve làm lá phách đổ vàng Đó là thứ âm thanh quen thuộc của mùa

hè Khi tiếng ve cất lên cả không gian như bừng thức, cả cánh rừng phách đột ngột

“đổ vàng” Động từ “đổ” được sử dụng độc đáo, tạo liên tưởng thú vị về sự chuyển biến thật nhanh, thật đột ngột của màu sắc khu rừng từ xuân sang hạ Tưởng như tấm voan trắng tinh khôi của mùa xuân vừa đuwọc trút bỏ thì lập tức bà mẹ thiên nhiên đãkhoác lên cách rừng một tấm hoàng bào lộng lẫy kiêu sa Cảnh tượng thật kì vĩ và ấn tượng vô cùng Câu thơ có nét tương đồng với ý thơ "Một tiếng chim kêu sáng cả rừng" của Khương Hữu Dụng Chỉ với một câu thơ mà các tác giả đã gợi lên cả sự vận động của

Trang 27

thời gian, của cuộc sống.

Và trên cái nền vàng của rừng phách ấy, hiện lên hình ảnh thật đáng yêu làmcho bức tranh thêm nên thơ, trữ tình Đó là hình ảnh: "cô em gái hái măng một mình".Một mình đấy nhưng không hề cô đơn Dường như thiên nhiên và con người đã hòalàm một, như bạn thân như tri kỉ, tôn lên vẻ đẹp của nhau thật hài hòa, thơ mộng:thiên nhiên đẹp lộng lẫy, lung linh , và con người lao động thì thật dịu dàng, duyêndáng Câu thơ khéo léo bộc lộ tấm lòng yêu mến trân trọng lối sống giản dị, lặngthầm của những con người Việt Bắc thân thương

Khép lại đoạn thơ là bức tranh về mùa thu ở Việt Bắc:

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Có lẽ ấn tượng nhất trong nỗi nhớ về hoa và người Việt Bắc đó là những đêmtrăng thu yên bình, lãng mạn Bức tranh thu không có hoa rừng khoe sắc, mà đó làmàu sắc dịu dàng, êm ái ánh trăng thu chiếu tỏa Câu thơ mở ra một không gian trànngập ánh trăng thanh bình soi chiếu khắp núi rừng chiến khu Ánh trăng ấy khôngchỉ mang vẻ đẹp tự nhiên mà nó còn gắn với niềm xúc động của những con ngườitừng trải qua bao năm khốc liệt , gian khổ của chiến tranh Và trong giây phút sốngtrong hòa bình ấy, lòng người chợt nhớ đến “tiếng hát ân tình” ngân vang, tha thiết.Tiếng hát bộc lộ lòng người, bộc lộ ân tình thuỷ chung , tình nghĩa của con ngườiViệt Bắc với cách mạng, với bộ đội miền xuôi Tiếng hát cũng nhắc nhớ người ra điđừng vội quên quá khứ nghĩa tình suốt mười lăm năm gắn bó Bức tranh mùa thu ViệtBắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và khép lại đoạn thơ bằngtiếng hát "ân tình thủy chung" ấy còn gợi cho người về và cả người đọc những rungđộng sâu xa của tình yêu quê hương đất nước

Tố Hữu đã diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng và bốn mùa hoàchung sắc màu đa dạng làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh tứ bình bằng thơ có họa vànhạc về hoa và người Việt Bắc Đọc thơ ông, người đọc như được huy động tất cả cácgiác quan để cảm nhận: Thị giác được chiêm ngưỡng những khoảnh khắc trong ngầncủa rừng mơ mùa xuân, sự chói chang huy hoàng của rừng phách mùa hè, sự tươi tắn,

ấm áp của hoa chuối mùa đông Thính giác lắng nghe âm thanh tiếng ve quen thuộccủa mùa hè, lắng nghe tiếng hát thân thương nghĩa tình của con người Việt Bắc vàtrái tim rung động biết bao! Đó là thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc Từng dòngthơ như ngân nga, như khảm vẽ vào tâm trí người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên, tìnhngười Thời gian trong đoạn thơ được diễn tả tuần tự bốn mùa bắt đầu từ mùa đông

và khép lại là mùa thu lịch sử, mùa của thắng lợi tròn đầy, mùa của bình yên lắngđọng, nhưng có một thứ bất biến, không hề đổi thay, đó là nỗi nhớ, là tình yêu nhàthơ dành cho Việt Bắc Thời gian trôi đi càng làm nỗi nhớ thêm tha thiết, sâu lắng Đó

Trang 28

là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ, cũng là mạch nguồnlàm nên chất trữ tình chính trị sâu sắc và tính dân tộc đậm đà ở mỗi vần thơ Tố Hữu

Qua mười câu thơ tuyệt bút , bằng việc sử dụng cấu trúc đối đáp giao duyên

“ta”- “mình”, kết hợp với việc sử dụng những ngôn từ hình ảnh giàu sức gợi hình, gợicảm mà mộc mạc chân thành, nhà thơ đã làm nổi bật cảnh đẹp thiên nhiên bốn mùa ởnúi rừng trong sự hài hòa với cốt cách và tâm hồn người Việt Bắc Qua đó, tác giả đặcbiệt ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người Việt Bắc, ngợi ca tình nghĩa cách mạngthủy chung gắn bó bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu nặng Với việc sử dụngkhéo léo, tài tình ngôn ngữ dân tộc, Tố Hữu đã trữ tình hóa mối quan hệ chính trị,lãngmạn hóa không gian kháng chiến khiến tình quân dân trở nên thi vị và đầy ấn tượng.Đoạn thơ góp phần làm nên thành công của tác phẩm và đem đến cho người đọc ấntượng thật đẹp về một thời kì đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc

Đề 8:

Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miềm

Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Sự lưu luyến kẻ ở người về là nguồn cảm xúc lớn cho Tố Hữu viết nên bài thơ này.Bài thơ Việt Bắc được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 - 1954) của Tố Hữu Cả bàithơ cũng là bức tranh nhiều màu sắc về mảnh đất và con người Việt Bắc từ buổi đầugian khổ gây dựng sự nghiệp cách mạng đến những đêm trường cả Việt Bắc bừng

bừng khí thế đấu tranh Đó là khúc tráng ca – khúc ca hùng tráng về một giai đoạn

lịch sử hào hùng của dân tộc

Trang 29

Câu thơ đầu đoạn vang lên khỏe khoắn, hùng tráng, chứa chan niềm tự hàokiêu hãnh:

Những đường Việt Bắc của ta Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Khắp các nẻo đường từ Việt Bắc tỏa đi muôn nơi đều là “của ta”: Haitiếng “của ta” giản dị mà vô cùng thiêng liêng Chúng thể hiện rõ ý thức làm chủcũng như niềm tự hào về sự bất khả xâm phạm của vùng căn cứ Có sống trongnhững ngày kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ khó khăn, ta mới thấm thía niềm

tự hào kiêu hãnh ấy Những con đường của ta nhưng đã phải đổ biết bao xương máumới giành lại được?

Hình ảnh thơ “Đêm đêm rầm rập như là đất rung” đặc tả sự lớn mạnh nhanhchóng, vượt bậc và khí thế ra trận hào hùng, ngút trời của đoàn quân và dân ta.Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại chọn thời điểm ban đêm Trong cuộc sống, đêm

là lúc yên bình, tĩnh mịch, vạn vật đã chìm vào giấc ngủ say nông nhưng trong khángchiến, đêm thường là điểm khởi đầu của những hoạt động, chiến dịch chuẩn bị chongày mai thắng lợi Trong màn đêm bao la bao phủ, trùm khắm, đoàn quân của ta ratrận rầm rập như vũ bão khiến đất rung, trời lở Với những từ láy rắn rỏi, hình ảnh sosánh, phóng đại, nhịp thơ đanh thép, chắc khỏe kết hợp với những phụ âm rung, câuthơ bật lên âm hưởng khỏe khoắn hùng tráng góp phần tái hiện sống động cuộc diễubinh hùng vĩ Có thể nói, tinh thần chiến đấu quả cảm, khí thế ra trận hào hùng củacha ông trong suốit bồn nghìn năm dựng nước, giữ nước đã sống dậy trong ngàytháng ra trận

Chúng ta từng tự hào trước các tráng sĩ thời Trần mang tinh thần Sát Thát, vềnghĩa quân Lam Sơn với sức mạnh Đánh một trận sạch không kình ngạc – Đánh haitrận tan tác chim muông Và cho đến bây giờ, chúng ta lại càng tự hào về cuộc khángchiến thần thánh của thời đại cách mạng:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Hai từ láy “điệp điệp" và “trùng trùng" đi liền nhau ở câu thơ có sức gợi tả đó,

nó vừa gợi lên hình ảnh của một đoàn quân đông đúc, vừa gợi lên sức mạnh, khí thếhào hùng của một đoàn quân Đoàn quân ra mặt trận hùng tráng, mang cả sức mạnhcủa lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quânthù Câu thơ thứ hai được ngắt theo nhịp 4/4: "Ánh sao đầu súng / bạn cùng mũ nan"càng làm tăng thêm vẻ đẹp của người lính - một vẻ đẹp vừa mang tính lãng mạn vừamang tính hiện thực sâu sắc Hình ảnh “Ánh sao đầu súng" có thể là hình ảnh ánh saotrời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân như "Đầusúng trăng treo” trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; “ánh sao đầu súng" ấy cũng

có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lítưởng cách mạng soi cho người lính bước đi, như nhà thơ Vũ Cao trong bài Núi đôi

đã viết: “Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường”

Trang 30

Góp phần vào sự hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc takhông chỉ có bước chân thần tốc của những chiến binh tinh nhuệ mà còn có sự gópcông góp sức của cả một tập thể quần chúng nhân dân anh hùng:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay

Họ như là những người chiến sĩ thực thụ, một lực lượng hùng hậu mang sứcmạnh của tinh thần đoàn kết Với nhiệm vụ vận chuyển lương thực, súng đạn để phục

vụ cho chiến trường, họ cũng mang vẻ đẹp hào hùng và đầy lạc quan không kémnhững người lính

Bằng một cách nói cường điệu “Bước chân nát đá ”, nhà thơ đã làm nổi bật sứcmạnh của tinh thần yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng, ý chí quyết tâm đánh thắngquân thù của người nông dân lao động Những người nông dân đôn hậu, chất phác,lớn lên từ bờ tre, gốc lúa ấy đã đi vào cuộc kháng chiến với tất cả những tình cảm vàhành động cao đẹp, họ bất chấp những hi sinh, gian khổ, chấp mưa bom bão đạn củaquân thù, đạp bằng mọi trở lực để đi theo tiếng gọi của lòng yêu nước và lí tưởngcách mạng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nói trong bài Đất Nước: “Ôm đất nướcnhững người áo vải /Đã đứng lên thành những anh hùng”

Với bước trân nát đá, muôn tàn lửa bay ấy, núi rừng như bừng thức sự im lặng,tăm tối bỗng bị xé toang bởi ánh sáng đèn pha:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên

Hình ảnh so sánh trong câu: Đèn pha bật sáng như ngày mai lên đặt trong thế đốisánh tương phản với tình cảnh nô lệ của đất nước “ Nghìn đêm thăm thẳm sươngdày”, thoạt nghe có vẻ cường điệu nhưng phải so sánh như thế thì nhà thơ mới nói hếtđược niềm phấn chấn đang tràn ngập lòng người trước sự lớn mạnh vượt bậc củaquân đội ta khi cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn thắng lợi cuối cùng Câuthơ cũng thể hiện niềm tin vào một tương lai tốt đẹp đang đến rất gần ngay trước mặt,khiến người người hân hoan vui sướng

Khúc hùng ca Việt Bắc ra trận được khép lại bằng tiếng reo ca khi toàn thắng

về ta:

Tin vui thắng trận trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

Điệp từ “vui” được điệp đi, điệp lại nhiều lần cùng với nhịp thơ ngắn, nhanh mạnhtạo nên âm hưởng hào sảng, hùng tráng Những cụm vui từ, vui về, vui lên tạo nênkhông khí phấn chấn, vui tươi, hồ hởi Từ Việt Bắc, tốc độ của chiến thắng bùng lên,chiến thắng nối tiếp chiến thắng, niềm vui gọi niềm vui Điểm đáng chú ý trong đoạnthơ là việc liệt kê hàng loạt các địa danh mà không làm mất đi sự hấp dẫn của đoạn

Trang 31

thơ Nếu ở Tây Tiến, những địa danh của Quang Dũng xuất hiện với niềm thương nỗinhớ thì Tố Hữu lại gọi tên những địa danh lừng lẫy chiến công với niềm vui sướng, tự

hào như lan tỏa ra mênh mông Có thể nói, đây là điểm độc đáo, làm nên giọng điệu

hào sảng trong thơ Tố Hữu

Việt Bắc trong kháng chiến là đoạn trích tái hiện không khí đấu tranh hàohùng, oanh liệt của quân và dân Việt Bắc trong trận chiến Điện Biên Phủ lừng lẫytiếng tăm Người đọc cảm nhận được chất sử thi qua không gian trải dài của nhữngcon đường Việt Bắc, của núi rừng trùng điệp, không gian của tụ họp trong tình nghĩaquân dân, qua thời gian lịch sử được đo dếm bằng số từ “nghìn đêm”, diễn tả một quátrình lâu dài trong thăm thẳm sương dày, đấu tranh kiên cường để bảo vệ đất nướccủa quân và dân Khác với giọng thơ trữ tình mềm mại ở những đoạn thơ trên, đoạntrích mang giọng điệu khỏe khoắn, hùng tráng, khơi gợi cảm xúc tự hào, ngưỡng mộcủa độc giả

Hình tượng nhân vật được xây dựng trong đoạn trích đó là tập thể đoàn quân

“điệp điệp trùng trùng” cùng với “dân công đỏ đuốc từng đoàn Đó là tập thể quân

và dân mang sức mạnh quật cường “ bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” đạp bằngmọi thử thách gian lao, tiến về phía trước bằng sức mạnh của ý chí, của tinh thầnđoàn kết đấu tranh Tất cả hòa làm một tạo nên bức tượng đài sừng sững về tập thểdân tộc anh hùng Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống xâm lược

Trong đoạn trích, ta dễ dàng thấy được chất sử thi qua hàng loạt các từ láytượng thanh, từ láy tượng hình, những từ ngữ vốn có khả năng khơi gợi những rungcảm mạnh mẽ như “rầm rập”, “điệp điệp, trùng trùng”, “ thăm thẳm” kết hợp với lối

so sánh ví von “đêm đêm rầm rập như là đất rung”, “đèn pha bật sáng như ngày mailên” cả cách nói khoa trương phóng đại “ bước chân nát đá” và hàng loạt các từ ngữcực tả không khí khẩn trương, gấp gáp ào ào như thác lũ của cuộc tổng tiến côngchống kẻ thù xâm lược “nghìn đêm, muôn tàn lửa bay, trăm miền…Tất cả đều gópphần làm ổi bật khí thế đấu tranh của bộ đội và nhân dân Việt Bắc, mang hào khí củanhững trận chiến sát thát của nghìn năm trước

Với lối thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với chất thơ trữ tình cách mạng, thậtsôi nổi, hào hùng, thiết tha, nhà thơ Tố Hữu trong đoạn thơ này đã thể hiện nổi bậtkhí thế đấu tranh quật cường của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp

ở Việt Bắc, làm sống lại một thời đại hào hùng mang tinh thần của cuộc chiến chốnggiặc Mông Nguyên thủa nào Đồng thời, đoạn thơ còn thể hiện niềm lạc quan cáchmạng, ý chí chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, làm nên những chiến thắng vẻ vang,mang niềm vui về cho dân tộc Những dòng thơ mang đậm chất sử thi đã gieo vàolòng người đọc niềm tự hào về sức mạnh dân tộc, làm thức dậy tình yêu quê hươngđất nước và lối sống trách nhiệm với quê hương ở thế hệ trẻ hôm nay và mãi mai sau

Trang 32

ĐẤT NƯỚC – Nguyễn Khoa Điềm

Đề 9:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng Đất nước có từ ngày đó

(Trích: Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về nét độc đáo trong ngòi bút thơNguyễn Khoa Điềm

« rũ bùn đứng dậy sáng lòa » trong thơ Nguyễn Đình Thi, một đất nước « Sống vững

chãi bốn ngàn năm sừng sững - Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa » trong cái

nhìn của Huy Cận Có thể nói rằng , muốn viết những vần thơ tuyệt vời về Đất nước

không chỉ đơn thuần là nhà thơ biết rung động trước một vầng trăng, một tia nắng,một điệu dân ca hay một tiếng thơ cổ điển Mà trên hết, đó là một tình yêu chân thật,nồng nàn và một ý thức tự tôn dân tộc, gắn sứ mệnh của mình với vận mệnh của non

sông Cùng viết về đề tài này, ở đoạn thơ “Đất Nước” (trích trong chương V trường

ca “Mặt đường khát vọng”), Nguyễn Khoa Điềm đã chọn một lối đi riêng đem đếncho người đọc những trải nghiệm mới mẻ, độc đáo trong cách lí giải về đất nước.Điều đó thể hiện rõ nét qua đoạn thơ sau :

“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

… Đất Nước có từ ngày đó…”

Tác phẩm được trích từ Trường ca “Mặt đường khát vọng” viết năm 1971 tạichiến khu Trị - Thiên giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang ở giai đoạn

Trang 33

cam go, ác liệt nhất Với giọng thơ thủ thỉ tâm tình vừa nồng nàn tha thiết vừa suy tưsâu lắng, thi sĩ đã lí giải về Đất Nước thật giản dị, mộc mạc, gần gũi mà thú vị, đầybất ngờ Từng dòng thơ như thức tỉnh ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ về tinh thầnyêu nước, sẵn sàng đứng dậy đấu tranh để bảo vệ tổ quốc

Nếu hai tiếng « quê hương » gợi trong ta những xúc cảm dịu dàng, gợi về miềnnhớ miền thương với sự gần gũi quê mùa như những câu thơ đậm chất đồng nội củanhà thơ Đỗ Trung Quân : Quê hương là chùm khế ngọt, Quê hương là vàng hoa bí/

Là hồng tím giậu mồng tơi/ Là đỏ đôi bờ dâm bụt… thì hai từ Đất Nước lại gợi ra cáithâm nghiêm, kì vĩ, cái hoành tráng , kiêu hùng trong lòng người Nhưng thật lạ kìkhi ta bắt gặp những vần thơ trong « Đất Nước » của Nguyễn Khoa Điềm, cái cảmgiác gần gũi thân thuộc của mùi rơm rạ, của sắc áo nông dân, của bờ tre giếng nướcquê hương cứ ăm ắp đầy lên, mơn man và dịu ngọt biết mấy

Bằng giọng thơ thủ thỉ trò chuyện trong vai trò của lớp người anh đi trước,Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo « giác ngộ » cho người em về ý thức trách nhiệm vớiĐất Nước Từng lời giải thích nhẹ nhàng tự nhiên như lời ăn tiếng nói thường ngày

mà gợi nhiều suy tư sâu lắng Hẳn người em sẽ không cảm thấy nặng nề khó hiểu :

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Có lẽ em chưa hiểu rằng đất nước có từ bao giờ, hoặc cũng có thể câu hỏi đó làđiểm xuất phát mà Nguyễn Khoa Điềm chọn để bắt đầu cho một câu chuyện dài về

Đất Nước Theo cách giải thích của Nguyễn Khoa Điềm thì “Đất nước là một giá trị

lâu bền, vĩnh hằng; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khác Cho nên “khi ta lớn lên đất nước đã có rồi!” (Nguyễn Khoa Điềm – Tác giả và Tác phẩm) Cách nói ấy đã thể hiện niềm tự

hào mãnh liệt về sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử Đất Nước

cũng như Trời và Đất, khi ta sinh ra Đất đã ở dưới chân, Trời đã ở trên đầu Hiểu ĐấtNước phải đi từ cội nguồn của bốn nghìn năm trước Nhưng khác với tư duy thôngthường, câu trả lời của nhà thơ không phải là một mốc thời gian cụ thể nào mà đưa

em vào không gian cổ xưa huyền thoại, để rồi tự em sẽ cảm nhận được cả chiều dàilịch sử và bề dày của văn hóa quê hương :

Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Các mốc thời gian hình thành nên Đất Nước như thời điểm ra đời, bắt đầu xâydựng và lớn lên, tất cả đều được nhà thơ hình ảnh hóa, cổ tích hóa bởi những thứ thậtgần gũi, thân thương Tác giả mượn chất liệu văn học dân gian để giải thích sự ra đờicủa Đất Nước bằng một cách diễn đạt thật lạ «Đất Nước có trong những cái ngàyxửa ngày xưa mẹ thường hay kể » Đối với trẻ thơ, Đất Nước thân thương qua lời kể

“Ngày xửa ngày xưa” của bà của mẹ…Có nghĩa là Đất Nước đã có từ lâu đời; ĐấtNước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời và hiện hữu ngay trong những câuchuyện cổ tích mà em đã thuộc nằm lòng Chính những câu chuyện cổ và những bàihát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành nuôi dưỡng tâm hồn nhân hậu, baodung của con người nước Việt Thật đáng trân trọng biết bao !

Trang 34

Đất Nước cũng có những ngày đầu phát triển bình dị và tự nhiên như « miếngtrầu bây giờ bà ăn »- một miếng trầu nhỏ bé đơn sơ thôi nhưng gọi về cả nền văn hóabốn nghìn năm của lịch sử dân tộc Miếng trầu là hiện thân của lịch sử, hiện thân củanhững giá trị văn hóa đẹp đẽ còn tồn tại đến ngày nay Đó là minh chứng cho tục ăntrầu từ nghìn đời « miếng trầu là đầu câu chuyện » « Miếng trầu nên dâu nhà người »,

là minh chứng cho tấm lòng thủy chung son sắt, trọng tình trọng nghĩa của hai anh

em họ Cao và nàng Lưu thị trong « Sự tích trầu cau » Quả thật, chỉ một hình ảnhgiản dị là thế mà sức gợi vô cùng!

Cách dùng từ giản đơn « Đất Nước lớn lên » khiến ta có cảm giác Đất Nướcnhư một cơ thể sống, được nuôi dưỡng bằng nền văn hóa phong phú đẹp đẽ, nhưngcũng trải qua bao thử thách « Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo/ Suốt ngàn nămbóng giặc vẫn chập chờn » (Nguyễn Việt Chiến) Và Đất Nước ấy vẫn lớn lên theokinh nghiệm « trồng tre mà đánh giặc», chủ động, cảnh giác trước quân thù Cách nóigợi liên tưởng sâu sắc đến chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc, nhắc người em nhớđến truyền thống đánh giặc của quê hương với hình ảnh vị Phù Đổng Thiên vươngnhổ tre làm vũ khí quét sạch bóng quân thù Rồi Tre mọc bạt ngàn trên khắp quêhương như thành như lũy vây chắn bước chân giặc ngoại xâm Nó như là sự đồnghiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đônhậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong tranhđấu Hình ảnh thân thương mà thể hiện ý chí bền gan, bất khuất ấy đã trường tồncùng Đất Nước từ thủa sơ khai đã chạm đến trái tim của người em, làm sống dậy mộtlòng yêu nước và tự hào về truyền thống văn hóa, truyền thống đánh giặc của quêhương

Ai đó đã từng nói « Quê hương là nơi chân ta có thể rời đi nhưng tim ta vẫnmãi ở đó » Thật vậy, bởi đó là mảnh đất êm dịu dung dưỡng tâm hồn ta, nhắc ta nhớ

về nguồn cội, giống nòi Ở đó có mẹ cha ta, có những kỉ niệm tuổi thơ ta ngọt ngào,sâu lắng :

Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên

Còn gì thân thiết hơn, cảm xúc hơn hình ảnh người mẹ trong tim ta Nét đẹp

bình dị chân quê, không phấn son điểm trang, không trau chuốt lụa là, mà chỉ đơngiản trong chiếc áo bà ba đã ngả màu, ống quần luôn xắn lên cao, còn mái tóc lúc nàocũng búi lên gọn gàng sau đầu khi làm việc hình ảnh đó dẫu đơn sơ nhưng lại trởthành biểu tượng văn hóa Việt, nét đẹp Việt, khiến lòng ta ngập tràn thương mến

Nét đằm thắm dịu dàng cùng tấm lòng thủy chung son sắt trong nghĩa vợ tìnhchồng đã làm nên vẻ đẹp rất riêng của người phụ nữ Việt Nam Nguyễn Khoa Điềm

đã khéo léo tôn lên vẻ đẹp ấy chỉ với vài nét chấm phá, chọn lọc tinh tường bằng mộtgiọng thơ vừa khẳng định đinh ninh, vừa tự hào sâu sắc Câu thơ cũng đưa ta về miềnvăn hóa Kinh Bắc xưa với những câu ca đậm tình đậm nghĩa như thế :

“Tay bưng đĩa muối chén gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

Hay:

Trang 35

“Muối ba năm muối đang còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta tình nặng nghĩa đầy

Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”

Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câuthơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung

ở đời Quy luật của tự nhiên là gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn.Quy luật trong tình cảm con người là con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩacàng đong đầy

Từ cha mẹ thương nhau mới đi đến “Cái kèo cái cột thành tên” Câu thơ gợinhắc cho người đọc nhớ đến tục dựng nhà của người Việt xưa Đó là tục làm nhà sửdụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưagió, thú dữ Cái kèo, cái cột bởi thế cũng trở thành quen thuộc, gắn bó với mỗi thànhviên trong gia đình, thậm chí, nó còn trở thành những cái tên mộc mạc, giản đơn đisuốt cuộc đời một con người

Không chỉ đằm thắm thủy chung trong tình cảm gia đình, người dân ta cũngcòn mang những vẻ đẹp tuyệt vời trong lao động, tăng gia sản xuất :

Hạt gạo cũng phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng…

Câu thơ sử dụng hàng loạt các động từ chỉ hoạt động lao động làm ra hạt lúacủa người nông dân « xay, giã, dần, sàng », kết hợp với thành ngữ « một nắng haisương » đã làm nổi bật sự sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta những ngày đầu của nền

văn minh lúa nước, khi nông nghiệp còn lạc hậu, nghèo nàn « Cày đồng đang buổi

ban trưa/Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần »

Đất Nước bốn ngàn năm/ Vất vả và gian lao » đã hiện hữu trong thơ NguyễnKhoa Điềm thật giản dị, dễ hiểu Khép lại dòng cảm hứng lí giải Đất Nước có từ bao

giờ là một câu khẳng định thật tự nhiên :

« Đất Nước có từ ngày đó… »

“Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn ngày đó là ngày bắt đầu củanhững truyền thống, phong tục tập quán, ngày bắt đầu của nền văn hiến, ngày bắt đầucủa những truyền thống, đạo lí mang bản sắc quê hương….Câu thơ ngắn gọn, kếtđọng dòng cảm xúc đang tuôn chảy theo chiều dài lịch sử, găm vào lòng người đọcbiết bao suy tưởng !

Trong 9 câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng một cách linh hoạt, độc đáo chất liệudân gian : ca dao dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích… không chỉ tạo cảm giác gầngũi quen thuộc mà còn biểu hiện ý thức tự tôn tự hào dân tộc Từ “Đất Nước” đượcviết hoa và lặp lại 5 lần thể hiện sự thành kính, nâng niu, trân trọng của nhà thơ Vớicâu từ giản dị, đời thường, không có một từ pha tạp, vay mượn, Nguyễn Khoa Điềm

đã tạo nên những vần thơ tự do dạt dào cảm xúc, kết hợp với chất giọng thủ thỉ tâmtình như một điệu ru dễ đi vào lòng người Nhưng chuyển tải mạch cảm xúc ấy là mộtlối lập luận chặt chẽ: tổng - phân - hợp Chính sự kết hợp hài hoà giữa chính luận vàtrữ tình, giữa trí tuệ và cảm xúc bay bổng đã làm nên nét riêng trong phong cách thơNguyễn Khoa Điềm giữa rừng thơ Đất Nước

Trang 36

Tóm lại, qua những dòng thơ trăn trở và suy tư về một khái niệm tưởng chừngnhư đã ăn sâu vào máu thịt mỗi người dân Việt, qua chiều sâu văn hoá, sinh hoạtNguyễn Khoa Điềm đã có một phát hiện mới mẻ, độc đáo, một cảm nhận vô cùng sâusắc: Đất Nước hiện lên trong thế giới tinh thần của cộng đồng người Việt, trong cuộcsống sinh hoạt từ bao đời Đất Nước hiện lên gắn liền với những phong tục tập quánvới lối sống, nếp nghĩ, qua kho tàng văn học dân gian, qua bản sắc văn hoá Đó làmột Đất Nước không trừu tượng mà cụ thể, chứa đựng mơ ước, khát vọng, quan niêm

về vẻ đẹp phẩm chất của tâm hồn dân tộc Gương mặt Đất Nước hiên lên thật sốngđộng, lung linh: trong cuộc sống, trong lao động và trong chiến đấu Đọc đoạn thơnói riêng và bài thơ nói chung, ta cảm nghe như cội nguồn dân tộc, cội nguồn văn hóađang thấm vào tận từng mạch hồn ta, dòng máu ta Điều đó càng làm ta thêm yêuthêm quý quê hương Tổ quốc mình

Đề 10:

Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước (…)

Làm nên đất nước muôn đời…

(Trích: Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó liên hệ đến trách nhiệm của thế hệ trẻngày nay đối với đất nước

BÀI LÀM

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút tiêu biểu trong nền thơ cakháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồngnàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam mà

trường ca Mặt đường khát vọng là một sáng tác tiêu biểu Được ra đời trong cuộc

chiến chống MĨ các liệt tại chiến trường Trị – Thiên năm 1971, những dòng thơ đãtruyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân Trong đó, đoạnthơ “Đất Nước” đã bộc lộ những suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nướcthật độc đáo và ấn tượng:

Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước (…)

Làm nên đất nước muôn đời…

Trong chương V trường ca Mặt đường khát vọng, hai từ “đất nước” và “nhân dân”

đều được viết hoa, trở thành “mĩ từ” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộcao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về đất nước và nhân dân Chủ thể trữ tình là “anh và

Trang 37

em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào về sự ra đời, quá trìnhtrưởng thành và phát triển suốt bốn nghìn năm của đất nước Từ sự lí giải ở chiềurộng không gian, chiều dài thời gian và ở bề dày văn hóa, nhà thơ khéo léo khơi gợi ýthức trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước qua đoạn thơ 13 câu trữ tình sâu lắng vàđầy sức thuyết phục.

Hai câu thơ mở đoạn là lời của chủ thể trữ tình “anh” nói với em về sự tồn tại hiểnnhiên đến bất ngờ của đất nước trong mỗi con người:

Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước

Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, Tổ quốc, dântộc luôn là những khái niệm trừu tượng Với nhà thơ trẻ đang đối mặt với cuộcchiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết Khác với nhiềunhà thơ thường cảm nhận đất nước từ điểm nhìn hướng ngoại, Nguyễn Khoa Điềm đãchọn điểm nhìn hướng nội để thấy đất nước ở trong “anh” và trong “em”, đất nướctồn tại trong mỗi con người chứ không ở ngoài ta Đó là một nhận thức mới mẻ vàsâu sắc về đất nước

Tứ thơ được phát triển theo mạch mở rộng từ cá nhân “anh” và “em” đến sự gắnkết khi “hai đứa” cầm tay, cử chỉ yêu thương đã góp phần tô thắm cho Đất Nước:

Khi hai đứa cầm tay Đất nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm

Quả thực, Đất Nước được hình thành từ những mái ấm gia đình Có những con ngườiyêu thương gắn bó trong tình nghĩa mặn nồng thì đâtý nước từ đó mới phát triển Và

“khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng Gia đình là

“một phần” của đất nước Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự “hàihoà, nồng thắm” với tình yêu quê hương đất nước Đó là bản chất thống nhất trongtình cảm của thời đại mới ta cũng bắt gặp ý thơ này trong câu thơ của Nguyễn Đình

Thi: “Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất nước vẹn tròn, to lớn

Hai chữ “cầm tay” trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” có nghĩa là giao duyên,

là yêu thương “Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồngbào, Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có hình ảnh “Đấtnước vẹn tròn, to lớn”, mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam Từ “hàihoà, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sửdân tộc và đất nước Đất nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dântộc Chỉ khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lárách”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ,thiêng liêng “Đất nước vẹn tròn, to lớn”

Bốn dòng thơ nhưng thực chất là hai câu thơ có quan hệ điều kiện – kết

quả: “Khi thì ” Cả bốn dòng chỉ có một hình ảnh, lại là hình ảnh mang tính tượng

trưng: cầm tay diễn tả sự thân thiết, tin cậy, yêu thương lẫn nhau Hình ảnh ấy đi liền

Trang 38

với những tính từ chỉ mức độ “hài hòa”, “nồng thắm”, “vẹn tròn”, “to lớn” Bởi vậy,

dù ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức nặng củatình cảm chân thành Những câu thơ còn gợi ngầm ẩn một thông điệp rằng đất nướckhông phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải là một giá trị bất biến, cósẵn Đất nước là một thực thể sống và sự sống ấy ra sao còn phụ thuộc vào hành độngcủa những cá nhân trong đất nước đó

Đất nước “Nguồn thiêng ông cha”, đất nước “Trong anh và em hôm nay”, đấtnước trong mai sau Như một nhắn nhủ, như một kỳ vọng sáng ngời niềm tin:

Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng

Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước cha ông “Gánh vác phần người đi trước

để lại” xây dựng đất nước ta “Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “đànghoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh) Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trítuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng “Mơmộng” nghĩa là rất đẹp, ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, mộtcường quốc văn minh Điều mà “anh và em”, mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay,

sẽ biến thành hiện thực “mai này” gần

Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào Giọng thơ trở nênngọt ngào, say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của mình:

Em ơi em đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời…

“Em ơi em” – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướngđang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về đất nước: “Đất nước

là máu xương của mình” Đất nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu củamình, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời

Với Nguyễn Khoa Điềm thì “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân” là những biểu hiệncủa tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng “Phải biết gắn bó vàsan sẻ… phải biết hoá thân…” thì mới có thể “Làm nên đất nước muôn đời” Điệpngữ “phải biết” như một mệnh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ,tác động cả vào lí trí và tình cảm con người Có biết trường ca “Mặt đường khátvọng” ra đời tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thìmới cảm nhận được các từ ngữ: “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân” là tiếng nói tâm huyết

“mang sức mạnh ý chí và khát vọng được hi sinh hết mình cho tổ quốc của nhà thơ

Đất nước vĩ đại nhưng đất nước là một thực thể sống Thực thể ấy không phải

là sự tập hợp của những cá nhân rời rạc mà là một cộng đồng Hóa thân cũng cónghĩa là dâng hiến Thời bình, người ta dâng hiên sức lực, mồ hôi cho Tổ quốc Thờichiến, người ta dâng hiến cả sự sống của mình Sự dâng hiến ấy, theo suy ngẫm củanhà thơ, là cuộc hóa thân Bóng dáng mỗi người đã làm nên bóng dáng quê hương,

xứ sở, đất nước Không có sự hóa thân kia làm sao đất nước trường tồn, làm sao cóđược Đất nước muôn đời! Cảm hứng ấy cũng dạt dào trong thơ Chế Lan Viên

Trang 39

Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông

Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình thống nhất, tình yêu đất nước vẫn luôn gắnliền với ý thức trách nhiệm dựng xây và bảo vệ thành quả của cách mạng Không chỉ

ở thái độ tu dưỡng đạo đức, học tập nghiêm túc, trau dồi kiến thức để bắt kịp với sựphát triển của thời đại, mỗi người dân cần nâng cao ý thức cảnh giác trước mọi biểuhiện diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch trên thế giới Và khi cần, cùng phảibiết « hóa thân » cho dáng hình xứ sở trên mọi mặt trận, phải biết hi sinh khi Tổ quốccần Đó mới là lí tưởng sống đẹp đẽ của thanh niên dù ở bất cứ thời đại nào !

Bởi thông điệp ý nghĩa mà Nguyễn Khoa Điềm đã gửi gắm, đoạn trích thực sự

đã có giá trị thức tỉnh thế hệ trẻ về trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, với đấtnước Bằng việc sử dụng thể thơ tự do, cùng với ngôn từ rất mộc mạc, giản dị nhưnglại giàu chất triết lý, độc giả còn thấy ở nhà thơ những suy tư trăn trở của một conngười sống có trách nhiệm với đất nước Đoạn thơ cũng góp phần thể hiện rõ nhấtnét riêng trong phong cách viết thơ của Nguyễn Khoa Điềm Có lẽ vì thế mà đoạntrích “Đất nước” gây nhiều xúc cảm, và luôn được yêu mến trong lòng bạn đọc nhiềuthế hệ

SÓNG – Xuân Quỳnh

Đề 11:

Dữ dội và dịu êm

… Khi nào ta yêu nhau (Trích: Sóng – Xuân Quỳnh)

Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người con gái khi yêu qua đoạn thơ trên Từ đó nhận xét

về nét truyền thống và hiện đại trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 40

yêu Thơ Xuân Quỳnh không cầu kì, trau chuốt như những vần thơ của Ta – gor,cũng không mạnh bạo, cuồng si như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu Đọc bài thơ

“Sóng” của chị ta bắt gặp một cảm xúc tình yêu vừa đằm thắm dịu dàng mà vừa nồngnàn, mãnh liệt của tâm hồn người phụ nữ trong khát vọng hạnh phúc đời thường

Điều đó thể hiện rõ nét ngay qua những khổ đầu của bài thơ:

Dữ dội và dịu êm

… Khi nào ta yêu nhau

Xuân Quỳnh viết “Sóng” năm 1967 trong chuyến đi thực tế đến vùng biểnDiêm Điền (Thái Bình) giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang ở giai đoạn cam go

ác liệt Trong hoàn cảnh ấy, nhiều nhà thơ, nhà văn đi tìm kiếm và phản ánh hiệnthực lịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc, tôn vinh cái đẹp tập thểmang chất hào hùng, rất ít các nhà thơ, nhà văn tự bứt ra khỏi không khí chung đểtìm vào cái riêng tư, sâu kín của những khát vọng rất đỗi đời thường trong tâm hồncon người Xuân Quỳnh đã chọn cho mình lối đi riêng khác với các nhà thơ cùngthời Bởi chiến tranh dù có khốc liệt đến đâu cũng không thể khiến con người thôi

mơ ước, thôi khát vọng, nhất là đối với một nữ thi sĩ có tâm hồn bay bổng lãng mạn

và giàu lòng trắc ẩn như Xuân Quỳnh

Hình tượng trung tâm của bài thơ là “Sóng”, một hình tượng tưởng như đã quáquen thuộc trong thơ ca viết về tình yêu Nhưng “sóng” trong thơ của nữ thi sĩ lạimang một diện mạo mới độc đáo, đầy sáng tạo Không chỉ là biểu tượng cho tâm hồnngười con gái đang yêu đầy rạo rực, đam mê mà sóng còn là sự hóa thân, sự phânthân của cái tôi trữ tình “em Với hình tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã tìm đuợc mộtcách thể hiện xác đáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu Với cấu trúcsong hành này tạo thành chiều sâu nhận thức và nét độc đáo riêng cho bài thơ

Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đã nêu lên đặc điểm của những con sóng:

"Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”.

Mở ra trước mắt người đọc là một không gian mênh mông của sóng nước, mànhân vật trung tâm là những con sóng khi “ồn ào”, “dữ dội”, lúc lại “dịu êm”, “lặnglẽ” Hai cặp tính từ chỉ trạng thái đối nghịch được sử dụng đăng đối, song đôi trongquan hệ đồng thời “và” càng khắc sâu cái phức tạp, khó nắm bắt khó lí giải trong hìnhtượng sóng Những trạng thái phức tạp ấy của sóng quả thực rất đồng điệu với tâmhồn người con gái đang yêu Người ta thường ví rằng tình yêu là một bông hoa kìdiệu! hay tình yêu là cây đàn muôn điệu gảy lên muôn bản nhạc tình, có khi trầmbổng thiết tha, có khi nghẹn ngào đau đớn, cũng có khi e ấp, nũng nịu, dễ thương Ởđây, cảm xúc trong tình yêu của nhân vật trữ tình cũng biến thiên phức tạp và khóhiểu như những con sóng ngoài biển khơi: khi sôi nổi,ồn ào, lúc lại lặng thầm sâulắng

Ngày đăng: 04/07/2021, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w