1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc ngái

144 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Về Vũ Trụ Và Nhân Sinh Trong Sáng Tác Dân Gian Của Dân Tộc Ngái
Tác giả Ngọ Thị Xuân
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 4,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (7)
  • 3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu (11)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (12)
  • 5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu (12)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (13)
  • 7. Đóng góp của đề tài (14)
  • Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI (15)
    • 1.1. Tổng quan về lịch sử dân tộc Ngái ở Việt Nam (15)
      • 1.1.1. Nguồn gốc tộc người (15)
      • 1.1.2. Nguồn gốc và tộc danh (19)
    • 1.2. Văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái (20)
      • 1.2.1. Khái niệm về văn hóa, văn học dân gian (20)
      • 1.2.2. Cơ sở hình thành những sáng tác dân gian của dân tộc Ngái ở Việt Nam . 18 1.2.3. Ảnh hưởng của sáng tác dân gian đến đời sống tinh thần của người Ngái 25 1.2.4. Thực trạng văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái hiện nay (23)
    • 1.3. Tiểu kết chương 1 (34)
  • Chương 2: QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI (36)
    • 2.1. Quan niệm về vũ trụ (36)
    • 2.2. Quan niệm về vũ trụ trong sáng tác văn học dân gian của dân tộc Ngái (36)
      • 2.1.1. Quan niệm về sự hình thành trời đất, con người và muôn loài (36)
      • 2.2.2. Quan niệm về các hiện tượng tự nhiên (45)
      • 2.2.3. Quan niệm về thời gian và không gian (48)
    • 2.3. Tiểu kết chương 2 (55)
  • Chương 3: QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI (57)
    • 3.1. Khái niệm về quan niệm nhân sinh (57)
    • 3.2. Quan niệm nhân sinh trong sáng tác dân gian của người Ngái (58)
      • 3.2.1. Mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên (59)
      • 3.2.2. Mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống (61)
      • 3.2.3. Quan niệm nhân sinh trong tín ngưỡng dân gian của người Ngái (74)
    • 3.3. Những giá trị và hạn chế trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái (82)
      • 3.3.1. Những giá trị trong sáng tác dân gian của người Ngái (82)
      • 3.3.2. Hạn chế (83)
    • 3.4. Tiểu kết chương 3 (86)
  • PHỤ LỤC (94)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về văn học dân gian của các dân tộc thiểu số Việt Nam như Thái, Dao, Tày, Nùng, nhưng tài liệu về sáng tác dân gian của dân tộc Ngái còn rất hạn chế Chưa có công trình chuyên khảo nào khai thác sâu về vấn đề này, và các nghiên cứu hiện có thường chỉ đề cập đến phong tục cưới hỏi và tín ngưỡng trong đời sống tâm linh mà chưa đi vào những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người Ngái Đây là vấn đề mà luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu Trong quá trình thu thập tài liệu, tôi đã tiếp cận được một số nguồn tài liệu liên quan.

Trong cuốn sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)”, dân tộc Hoa được nhắc đến với người Ngái là một nhóm địa phương của họ Mặc dù cuốn sách đã đề cập đến tên gọi và nguồn gốc cư trú của người Ngái, nhưng vẫn còn thiếu thông tin chi tiết về đặc trưng văn hóa và các tác phẩm văn học dân gian của tộc người này.

Ngoài ra, có một số bài báo đã công bố liên quan đến dân tộc Ngái, cụ thể là:

Trong bài viết "Tìm lại Cội nguồn người Ngái," tác giả nêu rõ sự thiếu nhất quán trong việc xác định tộc người Ngái và người Hoa tại Việt Nam Tác giả khẳng định rằng người Ngái ở Thái Nguyên là một dân tộc độc lập, hoàn toàn khác biệt với người Hoa Để minh chứng cho quan điểm này, tác giả mô tả kiểu nhà và lối kiến trúc truyền thống của người Ngái qua việc quan sát các ngôi nhà cổ trong làng Ngoài ra, tác giả còn giới thiệu những nét văn hóa đặc trưng trong ẩm thực và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của người Ngái tại Thái Nguyên.

Bài viết về dân tộc Ngái trình bày tên gọi và tên tự gọi của họ, cùng với những đặc điểm văn hóa vật chất như ẩm thực, nơi ở và trang phục Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến phương tiện di chuyển, các hình thức cưới xin, ma chay, tín ngưỡng, cũng như những kiêng kị mà phụ nữ Ngái tuân thủ sau sinh Cuối cùng, bài viết khám phá các lễ hội trong năm và các hình thức cúng lễ của người Ngái tại Thái Nguyên.

Kiểu nhà phòng thủ của người Ngái xưa tại Thái Nguyên, với lối kiến trúc nhiều mái, thể hiện đặc trưng văn hóa độc đáo Bài viết cũng giới thiệu nguyên liệu và quy trình xây dựng nhà của người Ngái, đồng thời phân tích sự biến đổi văn hóa trong kiến trúc nhà cửa hiện nay Hiện tại, kiểu dáng và vật liệu xây dựng của người Ngái đã có sự thay đổi, tương đồng với người Kinh, phản ánh quá trình thích ứng với văn hóa xung quanh.

Ẩm thực độc đáo của người Ngái ở Thái Nguyên phản ánh nguồn sinh kế chủ yếu của họ, với những cách chế biến đặc trưng và các loại thức ăn phong phú Người Ngái ưa chuộng những gia vị riêng biệt, và chế độ ăn uống của họ thường phụ thuộc vào nông lịch cũng như đặc điểm khí hậu của từng mùa Những yếu tố này tạo nên những nét đặc trưng tiêu biểu trong ẩm thực của cộng đồng Ngái tại Thái Nguyên.

Lễ Kỳ Yên của dân tộc Ngái tại Bắc Giang là một sự kiện văn hóa quan trọng, diễn ra tại xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, với mục đích cầu mưa thuận gió hòa và bình an cho dân chúng trong năm mới Bài viết giới thiệu nghệ thuật dân gian của người Ngái, đặc biệt là hát Xướng ca (Sường cô) và các nghi lễ thờ cúng diễn ra trong năm Nó cũng mô tả các lễ vật, người tổ chức và quy trình thực hiện nghi lễ Đáng chú ý, lễ Kỳ Yên hiện nay đã có sự biến đổi so với truyền thống, với các thủ tục được rút gọn và lễ vật đơn giản hơn trước.

Trong bài viết “Vì sao cô dâu khóc trong ngày cưới”, tác giả Trà Giang đã phân tích tục lệ và nguồn gốc của việc cô dâu khóc trước khi về nhà chồng, đặc biệt là trong văn hóa của người Ngái Tác giả chia sẻ những câu chuyện về cảm xúc của các cô dâu trong ngày trọng đại, lý giải nguyên nhân khiến họ rơi nước mắt, như nỗi lo lắng cho cuộc sống mới và việc phải xa gia đình Đám cưới của người Ngái đòi hỏi nhiều lễ vật như tiền mặt, thịt, rượu, gạo, chè thuốc và các vật dụng cần thiết cho cô dâu Bài viết cũng đề cập đến sự thay đổi trong phong tục đám cưới của cô dâu người Ngái hiện nay.

Người Ngái ở Thái Nguyên đang đối mặt với tình trạng mai một bản sắc văn hóa dân tộc Tại xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, số lượng người hiểu biết về văn hóa truyền thống ngày càng giảm sút, trong khi tài liệu gia phả của họ gần như không còn Các thông tin và hiện vật liên quan đến người Ngái cũng trở nên hiếm hoi, cả về số lượng lẫn nội dung Đặc biệt, ngôn ngữ của người Ngái đang bị mai một do sự thích ứng với xã hội xung quanh và sự đồng hóa văn hóa với người Kinh.

Trong cuốn sách “Cộng đồng quốc gia các dân tộc Việt Nam”, Đặng Nghiêm Vạn nêu rõ rằng tộc người Ngái bao gồm nhiều nhóm với nguồn gốc đa dạng, và họ từng sinh sống tại huyện.

Phòng Thành và các vùng biển tỉnh Quảng Đông như Sin, Đản, Lê có những nhóm tộc người chưa xác định rõ, đôi khi tự nhận là Sán Chay hoặc Việt Những nhóm này chủ yếu cư trú tập trung tại Hà Bắc, Lạng Sơn, đặc biệt là ở Quảng Ninh và các hòn đảo trong Vịnh Bắc Bộ.

Năm 2003, cuốn “Niên giám thống kê của tỉnh Thái Nguyên” đã cung cấp thông tin chi tiết về số lượng người Ngái cũng như các địa điểm cư trú của họ tại Thái Nguyên.

Trong cuốn “Địa chí Thái Nguyên,” tác giả Mai Thanh Sơn cung cấp cái nhìn tổng quan về dân số, phân bố cư dân, hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội, cùng với văn hóa vật chất và tinh thần của người Ngái Đây là tài liệu duy nhất mô tả về người Ngái tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, giúp độc giả hiểu rõ hơn về những đặc điểm văn hóa của dân tộc Ngái, đặc biệt trong bối cảnh dân số của họ đang giảm sút.

Cuốn "Địa chí Bắc Giang" của tác giả Bùi Xuân Đính khám phá về cộng đồng người Hoa và người Ngái, nhấn mạnh các đặc điểm tổ chức xã hội của họ trước năm 1954 Mặc dù bài viết cung cấp cái nhìn tổng quát, nhưng thông tin cụ thể về người Ngái, đặc biệt là các sáng tác dân gian, vẫn còn hạn chế và chưa được đề cập đầy đủ.

Trong cuốn “Tổng quan văn hóa các dân tộc Việt Nam” của GS.TS Hoàng Nam

Bài viết năm 2011 đã cung cấp cái nhìn tổng quan về 54 dân tộc Việt Nam, bao gồm cả dân tộc Ngái, với thông tin về lịch sử cư trú, kinh tế và văn hóa truyền thống Tuy nhiên, nội dung vẫn chưa đi sâu vào đặc điểm cụ thể của người Ngái mà chỉ dừng lại ở những khái quát chung.

Báo điện tử Thái Nguyên bài“Sự thay đổi trong đời sống của người Ngái Xóm

Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái

Luận văn này làm rõ quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái, từ đó rút ra những giá trị triết lý về thế giới, vị trí và vai trò của con người, cũng như triết lý sống và đạo đức trong văn hóa của người Ngái Những giá trị này không chỉ giúp nâng cao ý thức của đồng bào các dân tộc Việt Nam mà còn góp phần quan trọng trong việc khôi phục, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống trước xu thế hội nhập và ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường hiện nay.

Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

- Sưu tầm, khảo sát về các sáng tác dân gian của dân tộc Ngái

- Làm sáng tỏ những nét đặc sắc trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái

Người Ngái có những quan niệm độc đáo về vũ trụ và nhân sinh, được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm dân gian của họ Khi so sánh với những quan niệm tương tự của các dân tộc khác, ta thấy rằng những niềm tin và giá trị văn hóa của người Ngái phản ánh sự gắn kết giữa con người và thiên nhiên, cũng như cách họ nhìn nhận vị trí của mình trong thế giới rộng lớn Sự hiểu biết này không chỉ làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân tộc Ngái mà còn góp phần vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại.

Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, việc khôi phục, giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần trong sáng tác dân gian của người Ngái là rất quan trọng Các định hướng cần tập trung vào việc bảo tồn các truyền thống văn hóa độc đáo, phát triển các hình thức nghệ thuật dân gian và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tiếp cận và sáng tạo trên nền tảng văn hóa dân gian Đồng thời, cần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa này, góp phần xây dựng bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng những phương pháp cụ thể sau:

Phương pháp lịch sử giúp chúng ta khám phá quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân tộc Ngái, đồng thời tìm hiểu những đặc trưng văn hóa độc đáo vẫn được gìn giữ đến ngày nay.

Phương pháp liên ngành cho phép có cái nhìn tổng quan về dân tộc Ngái, đồng thời so sánh các quan niệm nhân sinh và vũ trụ trong sáng tác dân gian của họ với những dân tộc anh em khác Qua đó, ta nhận diện được những điểm tương đồng và khác biệt giữa các dân tộc trên cùng một lãnh thổ, đặc biệt là sự so sánh với dân tộc Hoa, nhấn mạnh sự gần gũi về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai dân tộc này.

Phương pháp điền dã dân tộc học:

Để khám phá các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc Ngái và những quan niệm về nhân sinh, vũ trụ trong đó, phương pháp điền dã dân tộc học là công cụ chủ yếu Phương pháp này được thực hiện thông qua nhiều hình thức cụ thể nhằm thu thập và phân tích các sáng tác văn học.

Để thực hiện luận văn, tôi đã tiến hành các chuyến điền dã tại những địa phương có đồng bào Ngái sinh sống, cụ thể là ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bắc Kạn và Cao Bằng Những chuyến đi này nhằm thu thập tư liệu về tác phẩm dân gian cũng như phong tục tập quán của dân tộc Ngái.

Để thu thập thông tin cho luận văn, tôi đã tiến hành phỏng vấn các cá nhân tại nơi cư trú của dân tộc Ngái nhằm sưu tầm tác phẩm dân gian và hiểu rõ hơn về quan niệm vũ trụ, nhân sinh của họ Qua nhiều cuộc phỏng vấn với các gia đình như vợ chồng bác Thẩm Dịch Thọ, Thẩm Dịch Sơn, Lâm Ngọc Dung, và bà Thẩm Thị Gấm tại thôn Tam Thái, Đồng Hỷ, Thái Nguyên; ông Sằn Tắc Sình, bà Trương Thị Phụng tại Thị Trấn Phủ Thông, Bắc Kạn; cùng ông Trần Sửu Gioóng tại Cốc Đán, Bắc Kạn, tôi đã thu thập được nhiều thông tin quý giá Đặc biệt, trong hai ngày tại Bắc Giang, tôi đã tham gia lễ hội Tả Tài Phán và gặp gỡ nhiều người Ngái, trong đó có bà Dương Thị Lỷ (80 tuổi), người đã cung cấp những bài hát giao duyên và ca dao quý báu cho luận văn.

Phương pháp thống kê được áp dụng thông qua khảo sát phỏng vấn cộng đồng người Ngái tại Thái Nguyên, từ đó tác giả đã thu thập và tổng hợp số liệu thống kê làm tư liệu minh họa cho đề tài nghiên cứu.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Chương 1: Tổng quan về lịch sử, điều kiện từ nhiên- xã hội và văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái

Chương 2: Quan niệm về vũ trụ trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái Chương 3: Quan niệm nhân sinh trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái.

Đóng góp của đề tài

Luận văn này đóng góp vào việc sưu tầm văn học dân tộc Ngái, đồng thời làm rõ các quan niệm của người Ngái về vũ trụ và nhân sinh trong các tác phẩm dân gian Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm về đời sống tâm hồn phong phú và độc đáo của một tộc người thuộc nhóm dân tộc thiểu số ít người.

TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI

Tổng quan về lịch sử dân tộc Ngái ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa văn hóa với 54 tộc người, mỗi tộc mang đến sự phong phú và đa dạng văn hóa Các cộng đồng này được hình thành từ cư dân bản địa và cư dân di cư, nhưng tất cả đều gắn bó với lịch sử và luật pháp của Nhà nước Việt Nam Sự hòa hợp này tạo nên một mái nhà chung vừa đa dạng vừa thống nhất.

Theo nghiên cứu lịch sử, người Ngái có nguồn gốc từ Đông Nam Trung Quốc, cụ thể là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây Do biến động lịch sử và áp lực kinh tế - xã hội, tổ tiên họ đã di cư đến Phòng Thành (Quảng Tây) và sau đó vào Móng Cái, Hà Cối (nay thuộc Quảng Ninh) Đến nay, quá trình di cư này đã diễn ra qua 7-8 thế hệ Từ khu vực này, người Ngái tiếp tục di cư sâu vào nội địa, đến các tỉnh như Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, và một số lớn đã vào Nam sau năm 1954 Bác Thẩm Dịch Thọ, người am hiểu về dân tộc Ngái, đã chia sẻ nhiều thông tin quý báu về lịch sử và văn hóa của họ.

Cộng đồng Ngái di cư từ Hà Cối, tỉnh Hải Ninh lên Thái Nguyên đã trải qua nhiều khó khăn trong cuộc sống ban đầu, đặc biệt là sau những biến cố lịch sử như chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 Dù một số người đã di cư sang Trung Quốc hoặc vào Nam, nhiều người vẫn kiên quyết ở lại Thái Nguyên để mưu sinh Ngày nay, tại thôn Tam Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, có bốn dòng họ lớn: họ Thẩm, họ Trần, họ Lâm và họ Hoàng, trong đó họ Thẩm là dòng họ lớn nhất Cộng đồng này vẫn giữ gìn những nét văn hóa đặc trưng của người Ngái, phản ánh sự bền bỉ và quyết tâm trong cuộc sống.

Nguyên, người gốc Hán nói tiếng Ngái và tiếng Khách, có nguồn gốc từ La Lương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, đã định cư tại Việt Nam.

Gia đình họ Thẩm đã trải qua 8 đời, trong đó bốn đời đầu định cư tại vùng Hà Cối, tỉnh Hải Ninh (cũ) Tại đây, họ chủ yếu làm ruộng trồng lúa, ngô, khoai và sắn, nhưng không thể định cư lâu dài do đất đai kém và chăn nuôi không hiệu quả Cụ Thẩm Hoa Huân, 91 tuổi, vẫn nhớ rõ cuộc di cư cùng gia đình mình.

Khi 11 tuổi, cụ Thẩm Dịch Đức di cư từ Hà Cối, Quảng Ninh đến Thái Nguyên, nơi có đất đai màu mỡ và nhiều mỏ thép, giúp cuộc sống dễ dàng hơn Ông chia sẻ rằng trước kia, cuộc sống ở Hà Cối rất khó khăn do đất đai bạc màu và gần biển, khiến việc làm ăn thất bát Thái Nguyên được biết đến với ruộng vườn phong phú và núi rừng an toàn, là nơi mà nhiều gia đình, bao gồm cả gia đình họ Thẩm, đã chọn để định cư và duy trì liên lạc với nhau qua các thế hệ.

Khánh đã phân tích nguyên nhân di cư và các dạng di trú của người Trung Hoa trong lịch sử, chỉ ra rằng sự mất mùa, đói kém, bệnh tật, và dân cư thừa thải đã buộc nhiều người phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm nơi sống tốt hơn Việt Nam và các nước Đông Nam Á với điều kiện tự nhiên thuận lợi và vị trí gần gũi với Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc di cư Phong tục, lối sống, và tôn giáo của người Việt Nam cũng như các cư dân khu vực gần gũi với người Trung Hoa, giúp họ dễ dàng lập quê hương mới Mỗi dòng họ người Ngái khi vào Việt Nam đều mang theo câu chuyện di cư, để lại dấu ấn văn hóa độc đáo ở mỗi vùng đất họ đi qua Sự hòa quyện này đã tạo nên một nền văn hóa tộc người đa dạng, được hình thành từ nhiều yếu tố và được gìn giữ qua thời gian.

Năm 1978, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trở nên căng thẳng do mâu thuẫn trong chiến tranh biên giới Tây Nam, khiến người Hoa ở Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề Mâu thuẫn giữa người Việt và người Hoa dẫn đến nhiều tranh chấp, khiến phần lớn người Hoa phải trở về Trung Quốc Trong bối cảnh này, cộng đồng người Hoa, đặc biệt là người Ngái có nguồn gốc từ Trung Quốc, cũng trải qua nhiều biến động Ông Sằn Tắc Sình, một người Ngái tại Thái Nguyên, chia sẻ rằng những biến cố lịch sử năm 1979 để lại nhiều kỷ niệm vui buồn và cuộc sống của họ gặp không ít khó khăn do hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Ông bà không muốn nhắc lại quá khứ không vui, với ông cho rằng "đã là quá khứ không vui thì không nên nhắc lại" Bà Trương Thị Phụng chia sẻ rằng họ đã đến với Việt Nam từ thời các cụ và xem nơi đây như quê hương, thể hiện tình yêu và sự gắn bó với đất nước Ông bà vẫn giữ những trang phục truyền thống của người Ngái, nhưng hiện tại, việc mặc trang phục này đã giảm đi, chủ yếu họ mặc trang phục của người Kinh trong sinh hoạt và lao động.

Sau năm 1979, người Ngái được công nhận là một tộc người riêng, khác biệt với người Hoa, dẫn đến nhiều tranh cãi về động cơ chính trị và khoa học đằng sau sự tách biệt này Một số ý kiến cho rằng đây là chính sách phân hóa của Việt Nam nhằm giảm sự liên kết của người Ngái với các nhóm Hán, trong khi các nhà nghiên cứu cho rằng việc tách biệt có cơ sở khoa học và nhằm chống lại chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc Tuy nhiên, từ khi được công nhận, người Ngái vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ giới nghiên cứu dân tộc học, dẫn đến số lượng công trình nghiên cứu về họ rất hạn chế, đặc biệt là về văn hóa và văn học của tộc người này.

Dân tộc Ngái đang trải qua sự biến động về dân số Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, có 4.841 người Ngái, nhưng sau 10 năm, con số này giảm xuống còn 1.035 người vào năm 2009, với sự hiện diện tại 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Đến năm 2015, theo số liệu của Ủy ban Dân tộc, cả nước chỉ còn 999 người Ngái Tuy nhiên, theo Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2019, con số đã tăng lên 1.649 người Nguyên nhân giảm sút dân số có thể do biến cố trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và việc một số người Ngái chuyển đổi tộc danh sang các tộc người lân cận như Sán Dìu, Tày, Nùng Gần đây, một số người Ngái ở Quảng Ninh và Bắc Giang đã khai báo là người Hoa, mặc dù họ vẫn tự nhận mình là người Ngái và nói tiếng Ngái.

Dân tộc Ngái có nhiều đặc trưng riêng biệt nhưng lại có mối quan hệ gần gũi với người Hoa Họ sinh sống rải rác khắp Việt Nam, không tập trung thành bản hay làng như một số dân tộc thiểu số khác, mà hòa nhập với các dân tộc lân cận như người Kinh, người Hoa, và người Sán Dìu Sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc đã tạo ra sự đa dạng phong phú cho nền văn hóa và văn học dân tộc Mỗi dân tộc giữ bản sắc văn hóa riêng, nhưng sự cộng cư cũng đã hình thành niềm cộng cảm, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo nên mối quan hệ thân thuộc và gần gũi giữa các dân tộc anh em.

1.1.2 Nguồn gốc và tộc danh

Người Ngái ở Việt Nam, còn được biết đến với nhiều tên gọi như Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Sín, Đản, Lê, Hẹ, Xuyến, Khách, nhưng tên chính thức được Nhà nước công nhận là dân tộc Ngái Tự xưng là Sán Ngái, nghĩa là “người ở rừng” hay “người miền núi”, họ tự hào về quê hương sơn cước của mình Tên gọi này không chỉ phản ánh địa hình sinh sống mà còn khẳng định vai trò của dân tộc Ngái trong việc khai phá và xây dựng các bản làng tại các vùng cao nơi họ cư trú.

Sau năm 1979, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã dẫn đến việc nhiều người Ngái thay đổi tộc danh của mình thành tộc danh của các dân tộc lân cận như Sán Dìu, Sán Chay, Nùng, và một số người đã trở về Trung Quốc Hiện nay, tại Lục Ngạn, Bắc Giang và Bằng Khẩu, Bắc Kạn, một số người Ngái vẫn kê khai là người Hoa trong thành phần dân tộc, mặc dù họ luôn tự nhận mình là người Ngái Điều này có thể do nguồn gốc di cư từ Trung Quốc Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn, ý thức tộc người của người Ngái chưa rõ ràng, dẫn đến sự biến động về số lượng và địa bàn cư trú của họ Ở một số địa phương, người Ngái vẫn được ghi nhận là người Hoa trong các văn bản hành chính, nhưng hầu hết người dân đều ý thức mình là người Ngái, điều này cần được xem xét khi nghiên cứu về tộc danh và tên gọi của dân tộc Ngái.

Người Ngái sử dụng tiếng Ngái, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng, là phương ngữ của người Sán Há (hay dân tộc Xa) sống tại Đông Bắc, tỉnh Quảng Đông và Phụng Hoàng Sơn, tỉnh Phúc Kiến, hiện nay thuộc huyện Nhiêu Bình, Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Mặc dù có nguồn gốc từ Quảng Đông và sử dụng ngôn ngữ bản địa là tiếng Hoa, người Ngái đã được Chính phủ Việt Nam công nhận là một dân tộc độc lập với dân tộc Hoa.

Văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Ngái

1.2.1 Khái niệm về văn hóa, văn học dân gian

Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người, hình thành các giá trị và chuẩn mực xã hội trong lao động và sinh hoạt hàng ngày Những giá trị này có ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trong mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người.

UNESCO đã công nhận văn hóa là yếu tố cốt lõi trong phát triển xã hội, đóng vai trò trung tâm và điều tiết các mối quan hệ xã hội Văn hóa không chỉ là nguồn lực nội sinh mà còn là mục tiêu và động lực cho sự phát triển Nó giúp con người hoàn thiện bản thân và định hình tính cách riêng của từng xã hội, tạo nên sự khác biệt giữa các dân tộc Văn hóa phản ánh và thể hiện mọi khía cạnh của cuộc sống cá nhân và cộng đồng, từ quá khứ đến hiện tại, hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, từ đó mỗi dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình.

Văn hóa có bản chất trí tuệ và sáng tạo, thể hiện khát vọng nhân văn trong hoạt động của cá nhân, cộng đồng và dân tộc Giá trị văn hóa hướng đến sự hoàn thiện bản thân và phát triển cộng đồng, mặc dù tiêu chuẩn của các giá trị này không giống nhau giữa các dân tộc Hơn nữa, giá trị văn hóa mang tính khách quan, không bị ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài nào.

Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc được coi là "mật mã di truyền xã hội" của các thành viên, tích lũy qua quá trình hoạt động Quá trình này hình thành bản sắc văn hóa riêng, với yếu tố dân tộc là quyết định hàng đầu Một dân tộc mất đi truyền thống văn hóa và bản sắc sẽ đánh mất chính mình Do đó, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa là rất quan trọng cho sự tồn vong của mỗi dân tộc.

Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa đa dạng nhưng thống nhất của đất nước Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật phong phú, văn học dân gian nổi bật như một thành tố tiêu biểu, phản ánh đầy đủ đời sống vật chất, tinh thần và lịch sử phát triển của các dân tộc.

Sáng tác dân gian là sản phẩm nghệ thuật do nhân dân lao động sáng tạo và được hoàn thiện qua nhiều thế hệ, bao gồm âm nhạc, mỹ thuật, điêu khắc, múa và tín ngưỡng Văn học dân gian là thành tố quan trọng nhất, mang lại những giá trị tinh thần vượt thời gian, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam.

Sáng tác văn học dân gian đóng vai trò quan trọng như cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc, góp phần làm phong phú đời sống và gia tăng bản sắc văn hóa.

Văn học dân gian, ra đời sớm nhất trong lịch sử văn học dân tộc và gắn liền với khái niệm folklore, không bị triệt tiêu khi văn học viết xuất hiện Hai dòng văn học này song song tồn tại và phát triển, có sự tác động qua lại, với văn học dân gian luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng văn học viết Đây là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, thể hiện tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng và tình cảm của con người về cuộc sống xã hội và thiên nhiên Trong xã hội hiện đại, văn học dân gian vẫn giữ được sức sống mãnh liệt của nó.

Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ được truyền miệng, phản ánh đời sống và tâm tư của các tầng lớp nhân dân lao động Phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, thể loại này đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và vẫn tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Tại Việt Nam, văn học dân gian thường được gọi bằng ba thuật ngữ tương đương: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, và folklore (văn học folklore).

1.2.1.3 Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam

Trên đất nước Việt Nam, bên cạnh dân tộc Việt chiếm đa số, còn có 53 dân tộc thiểu số anh em cùng chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong nền văn học đa dân tộc, phản ánh lịch sử và tâm hồn của từng dân tộc Qua quá trình phát triển, văn học dân gian đã góp phần hình thành bản sắc văn hóa và văn học Việt Nam Đồng thời, nó cũng chứng minh giá trị và sự phong phú đa dạng của văn hóa Việt Nam, góp phần giới thiệu văn hóa nước nhà với thế giới.

Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam ra đời và phát triển từ những sinh hoạt hằng ngày của người dân lao động, bao gồm làm nương rẫy, dạy dỗ con cháu, và các nghi lễ tâm linh Những tác phẩm này không chỉ mang giá trị tinh thần mà còn thực hiện chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ Văn học dân gian thường được sáng tác ngay trong các hoạt động đời sống, với người sáng tác đồng thời là người thưởng thức và lưu truyền Mặc dù một số dân tộc đã ghi lại tác phẩm trên giấy hay lá, nhưng phương thức truyền miệng vẫn là yếu tố chính giúp văn học dân gian tồn tại và phát triển, gắn liền với đời sống của từng cộng đồng.

Văn học dân gian của người Ngái ra đời và phát triển trong môi trường sinh hoạt của cộng đồng, phản ánh quan niệm về vũ trụ và nhân sinh Các tác phẩm này thường được sáng tác trong những hoạt động hàng ngày như lao động, văn hóa gia đình và lễ hội Nhờ tính chất truyền miệng, văn học dân gian có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu và đa dạng về dị bản Nó mang dấu ấn văn hóa của một thời kỳ đã qua, liên quan đến tín ngưỡng và phong tục tập quán của người Ngái Những bài hát ru và dân ca nghi lễ thể hiện sự gắn bó với đời sống gia đình và tín ngưỡng Tổng thể, văn học dân gian của người Ngái rất phong phú, bao gồm truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ và dân ca, phản ánh sâu sắc quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong đời sống của họ.

1.2.2 Cơ sở hình thành những sáng tác dân gian của dân tộc Ngái ở Việt Nam 1.2.2.1 Cơ sở khách quan để hình thành sáng tác dân gian của người Ngái

Việt Nam là đất nước đa dân tộc, sống hòa hợp, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau

Văn học dân gian Việt Nam là kho tàng phong phú, phản ánh sinh động cuộc sống của nhân dân lao động Mỗi dân tộc có những sáng tác dân gian mang ý nghĩa và tầm quan trọng riêng, tồn tại lâu dài với đa dạng thể loại và số lượng tác phẩm phong phú Những tác phẩm này không chỉ giàu nội dung mà còn đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ, như những nguồn sữa trong lành nuôi dưỡng thế hệ trẻ trong chiếc nôi tre Việt Nam, qua tiếng ru ầu ơi và những câu chuyện cổ tích của bà, của mẹ.

Sáng tác dân gian của các dân tộc Việt Nam là một phần quan trọng trong văn hóa, phản ánh nhận thức của nhân dân lao động về thiên nhiên, lao động sản xuất và các mối quan hệ xã hội Những tác phẩm này chế giễu thói hư tật xấu, ca ngợi điều thiện, và thể hiện cảm xúc trong tình yêu Với tư duy đơn giản, người xưa chưa thể lý giải khoa học về hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhưng qua thời gian, họ đã khám phá ra một số quy luật tự nhiên Họ tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi về nguồn gốc con người, cuộc sống và cách ứng xử trong xã hội Những câu chuyện, bài hát và lễ hội dân gian đã giúp họ lý giải các hiện tượng này, đồng thời thể hiện quan niệm về vũ trụ và nhân sinh.

Sáng tác dân gian Việt Nam rất phong phú và đa dạng, với lịch sử lâu đời và mối quan hệ gắn bó giữa các tác phẩm của các dân tộc, tạo nên một nền văn học dân gian thống nhất trong sự đa dạng Văn học dân gian có sức sống mạnh mẽ và đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà Mặc dù có những nét chung và tính thống nhất, các tác phẩm văn học dân gian của từng dân tộc vẫn mang những đặc trưng riêng biệt, trong đó văn học dân gian của người Ngái cũng được hình thành trên cơ sở đó.

1.2.2.2 Cơ sở riêng để hình thành sáng tác dân gian của người Ngái

Tiểu kết chương 1

Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc tại Việt Nam, có ngôn ngữ riêng thuộc phương ngữ Hán - Tạng Họ có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc, di cư vào Việt Nam chủ yếu qua đường bộ, nhưng thời điểm di cư chính xác vẫn chưa được xác định Khi đến Việt Nam, người Ngái đã mang theo những nét văn hóa đặc sắc của quê hương, tạo nên sự tương đồng với người Hoa về nguồn gốc và sinh hoạt Tuy nhiên, họ vẫn giữ những đặc trưng văn hóa riêng biệt, khẳng định rằng người Ngái là một dân tộc độc lập, không phải là một nhánh của người Hoa.

Người Ngái, một bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, đã đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ và xây dựng đất nước, đồng thời làm phong phú nền văn hóa dân tộc với những nét văn hóa đặc sắc của họ Trong văn hóa, đặc biệt là trong các sáng tác dân gian, người Ngái vẫn gìn giữ những quan niệm sâu sắc về vũ trụ và nhân sinh, thể hiện qua cách ứng xử với tự nhiên và trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa này gặp nhiều khó khăn do dân số người Ngái rất ít, sống rải rác và không tập trung Điều này dẫn đến việc văn hóa văn học dân gian của họ dần bị mai một và đồng hóa bởi các dân tộc xung quanh Đây không chỉ là mối lo ngại của các gia đình người Ngái mà còn là trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu và các cấp ngành liên quan đến việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Chương 2 “Quan niệm về vũ trụ trong sáng tác dân gian của dân tộc Ngái” sẽ khám phá những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong các tác phẩm dân gian của người Ngái Bài viết sẽ làm sáng tỏ những quan niệm tích cực cần được bảo tồn và lưu giữ, dựa trên nguồn tài liệu thực địa để trả lời các câu hỏi liên quan.

QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI

QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH TRONG SÁNG TÁC DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC NGÁI

Ngày đăng: 04/07/2021, 18:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Ban chấp hành Hội Văn Hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam (1992), Nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Ban chấp hành Hội Văn Hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1992
2. Phạm Vân Anh (2014), Tìm lại Cội nguồn người Ngái. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2015, từ http:/www.bienphong.com.vn/tìm-lại-cội-nguồn-ngườingái/2593. bbp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm lại Cội nguồn người Ngái
Tác giả: Phạm Vân Anh
Năm: 2014
3. Chevalier.J, Gheerbrant.A(1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier.J, Gheerbrant.A
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
4. Trần Ngọc Bình (Chủ biên), Đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh Niên
6. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5, khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5, khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Nguyễn Khoa Điềm (2004), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Trà Giang, “Vì sao cô dâu khóc trong ngày cưới” (2015), Giadinh.net.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao cô dâu khóc trong ngày cưới”
Tác giả: Trà Giang, “Vì sao cô dâu khóc trong ngày cưới”
Năm: 2015
10. Lê Văn Hòa (2003), Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
Tác giả: Lê Văn Hòa
Năm: 2003
11. Hoàng Thị Hỏi (năm 2015) “Người Ngái ở thôn Cầu Vồng (Bắc Giang): Lịch sử tụ cư, đặc điểm văn hóa và biến đổi” (Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Ngái ở thôn Cầu Vồng (Bắc Giang): Lịch sử tụ cư, đặc điểm văn hóa và biến đổ"i
12. Nguyễn Linh Hương (năm 2015), “Hôn nhân và gia đình của người Ngái thôn Đồng Tâm, xã Đồng Niên, Huyện Phú Bình, Tỉnh Thái Nguyên” (luận văn thạc sĩ trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình của người Ngái thôn Đồng Tâm, xã Đồng Niên, Huyện Phú Bình, Tỉnh Thái Nguyên
13. Trần Khánh (2002), Nguyên nhân di cư và các dạng di trú của người Hoa trong lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Khánh (2002)
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 2002
14. Kiểu nhà “phòng thủ” của người Ngái xưa, thuvien.datviet.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu nhà “phòng thủ” của người Ngái xưa
15. Thanh Lê (2005), Hành trang văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trang văn hóa
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
16. “Lễ Kỳ Yên dân tộc Ngái tỉnh Bắc Giang” (2014) Báo văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ Kỳ Yên dân tộc Ngái tỉnh Bắc Giang
17. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1995), Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
18. E.M. Mêlêtinxki: Từ điển thần thoại. Nxb. Bách khoa Xôviết. M. 1991. Bùi Mạnh Nhị dịch. (Trong sách Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu. Nxb. Giáo dục, H, 1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thần thoại
Nhà XB: Nxb. Bách khoa Xôviết. M. 1991. Bùi Mạnh Nhị dịch. (Trong sách Văn học dân gian
19. “Nét ẩm thực độc đáo của người Ngái ở Thái Nguyên” (2013), Báo văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét ẩm thực độc đáo của người Ngái ở Thái Nguyên
Tác giả: “Nét ẩm thực độc đáo của người Ngái ở Thái Nguyên”
Năm: 2013
20. Lò Giàng Páo (1997), Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số
Tác giả: Lò Giàng Páo
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
21. Giàng Seo Pùa (2020), Người Ngái trình tường nhà bằng đất sét trộn rơm, Sắc màu các dân tộc Việt Nam, Vovworld.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Ngái trình tường nhà bằng đất sét trộn rơm
Tác giả: Giàng Seo Pùa
Năm: 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm