Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được đặc điểm cấu trúc, tái sinh của loài Đinh thối trong tự nhiên... Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động,Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM HOÀNG HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY ĐINH THỐI
(Fernandoa brilletii (Dop) Steenis) TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
1
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM HOÀNG HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY ĐINH THỐI
(Fernandoa brilletii (Dop) Steenis) TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Lâm học
Mã ngành: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN CÔNG HOAN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
i
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàntoàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàntoàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 9 năm 2020
Học viên
Phạm Hoàng Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp Đặc biệt là sự chỉ bảo hướng dẫncủa thầy giáo TS Nguyễn Công Hoan đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tàitrong thời gian nghiên cứu Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn về sự giúp đỡquý báu đó
Xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ và các hộ gia đình tại xã Quy Kỳ vàPhú Đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong việc triển khai thuthập số liệu ngoài hiện trường
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực học tập, nghiên cứu, nhưng do trình độ vàthời gian còn hạn chế, nên đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi thiếu sót.Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn
để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 9 năm 2020
Học viên
Phạm Hoàng Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN .ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Trên Thế giới 4
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 4
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 5
1.1.3 Nghiên cứu về phân bón 8
1.1.4 Những nghiên cứu về ánh sáng 8
1.2 Ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 11
1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 12
1.2.3 Những nghiên cứu về phân bón 13
1.2.4 Những nghiên cứu về ánh sáng 15
1.2.5 Những nghiên cứu về họ Đinh 16
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Cách tiếp cận: Để nghiên cứu đặc điểm lâm học và sinh thái loài Đinh, cách tiếp cận của đề tài là tổng hợp, đa ngành và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có 23
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung 24
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24
2.3.4 Xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm lâm học của thảm thực vật rừng có loài Đinh thối phân bố 31
3.1.1 Hiện trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 31
3.1.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ 31
3.1.3 Đặc điểm cấu trúc tầng thứ 34
3.1.4 Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh 35
3.1.5 Chất lượng, nguồn gốc và số lượng cây tái sinh triển vọng 37
3.1.6 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao 39
3.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây Đinh 40
3.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống cây con Đinh thối 40 3.2.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Đinh thối 42 3.3 Ảnh hưởng của che sáng đến tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây Đinh 52
3.3.1 Ảnh hưởng của che sáng đến tỷ lệ sống cây con Đinh thối 52
3.3.2 Ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng của cây Đinh thối 54
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi 29Bảng 3.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao trạng thái IIa 31Bảng 3.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao trạng thái IIb 32Bảng 3.3 Chiều cao của lâm phần và Đinh thối tại khu vực
nghiên cứu 34Bảng 3.4 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh trạng thái
IIa 36Bảng 3.5 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh trạng thái
IIb 37Bảng 3.6 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh trạng thái IIa 37Bảng 3.7 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh trạng thái IIb 38Bảng 3.8 Số lượng cây tái sinh triển vọng tại khu vực nghiên cứu 39Bảng 3.9 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao trong trạng thái IIa 40Bảng 3.7 Tỷ lệ sống của con Đinh thối ở các hỗn hợp ruột bầu khác nhau 41
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến sinh trưởng
đường kính D00 của cây Đinh thối giai đoạn vườn ươm 43Bảng 3.9 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với ��00 cây Đinh thối giai
đoạn 3 tháng tuổi 44Bảng 3.10 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với ��00 cây Đinh thối giai
đoạn 5 tháng tuổi 46Bảng 3.11 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với ��00 cây Đinh thối giai
đoạn 7 tháng tuổi 47Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các công thức ruột bầu đến sinh trưởng
chiều cao ��vn của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm 48
Trang 8thối giai đoạn 7 tháng tuổi 51Bảng 3.16 Tỷ lệ sống của con Đinh thối ở các mức độ che sáng
khác nhau 53Bảng 3.17 Ảnh hưởng của công thức che sáng đến sinh trưởng đường
kính của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm 55Bảng 3.18 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với đường kính cổ rễ
Đinh thối 3 tháng tuổi 56Bảng 3.19 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với đường kính cổ rễ Đinh
thối 5 tháng tuổi 57Bảng 3.20 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với đường kính cổ rễ Đinh
thối 7 tháng tuổi 58Bảng 3.21 Ảnh hưởng của các công thức che sáng đến sinh trưởng
chiều cao Hvn của cây Đinh thối trong giai đoạn vườn ươm 59
Bảng 3.22 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chiều cao cây Đinh
thối 3 tháng tuổi 60Bảng 3.23 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chiều cao cây Đinh
thối 5 tháng tuổi 61Bảng 3.24 Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chiều cao Cây Đinh
thối 7 tháng tuổi 62
Trang 95 tháng 45
Hình 3.4 Sinh trưởng đường kính D00 của cây Đinh thối giai đoạn
7 tháng 46
Hình 3.6 Sinh trưởng chiều cao Hvn của cây Đinh thối giai đoạn
3 tháng 49
Hình 3.7 Sinh trưởng chiều cao Hvn của cây Đinh thối giai đoạn
5 tháng 50
Hình 3.8 Sinh trưởng chiều cao Hvn của cây Đinh thối giai đoạn
7 tháng 51
Hình 3.10 Tỷ lệ sống của con Đinh thối ở các công thức che sáng 54Hình 3.11 Sinh trưởng đường kinh của cây Đinh thối giai đoạn 3
tháng 56Hình 3.12 Sinh trưởng đường kinh của cây Đinh thối giai đoạn 5
tháng 57Hình 3.13 Sinh trưởng đường kinh của cây Đinh thối giai đoạn 7
tháng 58Hình 3.14 Sinh trưởng chiều cao của cây Đinh thối giai đoạn 3 tháng 60Hình 3.15 Sinh trưởng chiều cao của cây Đinh thối giai đoạn 5 tháng 61
Trang 10Hình 3.16 Sinh trưởng chiều cao của cây Đinh thối giai đoạn 7 tháng 63Hình 3.17 Công thức đối chứng 63Hình 3.18 Công thức che sáng 25% 63
Trang 11viii
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạolại rừng chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ vềbản chất các qui luật sống của rừng trước hết là các quá trình tái sinh, sự hìnhthành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện tự nhiênmôi trường khác nhau
Hiện nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sửdụng phương thức khai thác - tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâudài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường Các phương thức khai thác - tái sinhkhông hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng vàchất lượng Ở Việt Nam, năm 1999 là 10,9 triệu ha rừng, trong đó 9,4 triệu harừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng với độ che phủ tương ứng là 33,2%.Năm 2019, theo số liệu công bố hiện trạng rừng toàn quốc đến ngày31/12/2018 diện tích đất có rừng 14.491.295 ha, trong đó rừng tự nhiên:10.255.525 ha, rừng trồng 4.235.770 ha, tỷ lệ che phủ là 41,65% Qua số liệucho thấy diện tích có rừng đã tăng lên nhưng diện tích rừng tự nhiên đã bịgiảm đi đáng kể, thay vào đó là rừng trồng thuàn loài phục vụ mục tiêunguyên liệu Do vậy, công tác phục hồi rừng tự nhiên bằng cây bản địa có giátrị kinh tế được xem như là một giải pháp quan trọng của ngành lâm nghiệptrong giai đoạn hiện nay và trong tương lai
Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo Quyếtđịnh số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ là một nhiệm vụquan trọng mà ngành Lâm nghiệp đang cùng toàn dân nỗ lực thực hiện Bêncạnh các mục tiêu kinh tế thì các mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, phụchồi hệ sinh thái rừng Việt Nam, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển các loàicây bản địa là đặc biệt có ý nghĩa Nhiều loài cây bản địa đã được đưa vàotrồng rừng và không ít loài cây đang trong quá trình nghiên cứu triển khai vớinhiều triển vọng,
Trang 13song các thông tin nhìn chung chưa được cập nhật để giúp các nhà quản lý
và nghiên cứu có được định hướng đúng đắn và kịp thời
Ở Việt Nam, cây Đinh thối có tên khoa học là Fernandoa brilletii (Dop)
Steenis, thuộc Họ Bignoniaceae là cây gỗ lớn Cành non có lông rải rác, lá képlông chim 2 lần, lẻ Lá chét không có cuống, hình trứng hay hơi hình thoi.Cụm hoa xim ở nách lá, gồm nhiều hoa Hoa nở ban ngày Đài hình chuông.Tràng có sống màu vàng hay đỏ da cam với các thùy có màu đỏ nâu; phầndưới cuả sống hình trụ, phần trên loe rộng Quả gần hình trụ, hơi thắt lại ởgiữa các hạt Hạt cứng, không có cánh.Mùa hoa tháng 3-5, tái sinh bằng hạt.Phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Bắc Kạn,Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Quảng Ninh… được biết đến như mộtloài cây gỗ lớn, có phân bố rộng và đa tác dụng Gỗ Đinh thối thuộc nhóm II,bền chắc, không cong vênh, mối mọt, lõi giác màu vàng rất đẹp, gỗ dùng làmcột nhà, đồ gia dụng; thân thẳng tròn đều, đơn trục không có bạnh vè; vỏ, lá
và rễ cây có mùi bọ xít dễ phân biệt với loài khác Song hiện nay, nhữngthông tin về phân bố, đặc điểm lâm học, kỹ thuật nhân giống và trồng rừng vềloài cây này còn rất ít và tản mạn, mặt khác Đinh thối chưa có tên trong danhmục các loài cây chủ yếu trong trồng rừng (Quyết định số 16/2005/QĐ-BNNngày 15/3/2005) Do vậy, để cây Đinh thối trở thành loài cây bản địa chủ lựctrong công tác phục hồi rừng và làm giàu rừng thì cần phải có những hiểu biết
về đặc điểm lâm học, sinh thái và nhân giống, gây trồng làm cơ sở khoa họctrong bảo tồn và phát triển loài
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và kỹ
thuật nhân giống cây Đinh thối (Fernandoa brilletii (Dop) Steenis) tại Thái Nguyên” được thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm cấu trúc, tái sinh của loài Đinh thối trong tự nhiên
Trang 14- Xác định được công thức che sáng và hỗn hợp ruột bầu có ảnh hướngtốt nhất đến sinh trưởng và phát triển của cây con Đinh thối trong giai đoạnvườn ươm.
3 Ý nghĩa nghiên cứu
Bổ sung các thông tin khoa học về loài Đinh thối làm cơ sở khoa họccho công tác bảo tồn, nhân giống, gây trồng làm giàu rừng và phát triển loàitại khu vực nghiên cứu
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Trên Thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã đượcRichards, P W (1959, 1968, 1970), Baur, G N (1976), Odum, E P (1971)tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô
tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Baur, G N (1976) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nóichung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đisâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu sử lý về mặt lâm sinh áp dụng chorừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinhcải thiện rừng
Odum, P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quanđiểm sinh thái
học
Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot,R (1965), Plaudy,J (1987)
đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu cáccấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạngsống, tầng phiến
Richards, P W (1959, 1968, 1970) đã phân biệt tổ thành rừng mưanhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thànhloài cây đơn giản Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng(thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới,ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùngnhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây
Schumarcher, F X và Coil, T X (1960) đã sử dụng hàm Weibull để
mô hình hoá cấu trúc đường kính loài Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol,hàm
Trang 16mũ, Peason, Poisson cũng đã được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng.
Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừngtheo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại theo xuhướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một sốđặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng.Đại diện cho hướng phânloại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949) Trongnhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạocủa quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hìnhthành một hướng theo ngoại mạo sinh thái
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động,Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sựbiến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhautrong quá trình phát sinh phát triển của rừng
Việc định lượng các đặc điểm cấu trúc rừng đã được tác giả trên thếgiới sử dụng trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, kể cảcác hệ sinh thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới (Weidelt 1968, Brun1969,Lamprecht H., 1969)
Phương pháp phân tích lâm sinh đã được Lamprecht, H (1969) mô tảchi tiết Các tác giả nghiên cứu rừng tự nhiên vùng nhiệt đới sau đó đã vậndụng phương pháp này và mở rộng thêm những chỉ tiêu định lượng mới chophân tích cấu trúc rừng tự nhiên như Kammesheidt, L (1994)
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa cáccách sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểurừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức
Trang 17chặt tái sinh Công trình của Walton., Bernard, A B.And Wyatt Smith, R C,(1950) với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai; Taylor and Jones (1960) vớiphương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana Nội dung hiệuquả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur,G N (1964) tổng kếttrong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng.
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đớiđáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards,P.W (1952), Bernard Rollet(1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đãnhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x1m; 1 x 1,5m) cây tái sinh tựnhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ
sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng câytái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừngnhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đớiChâu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dướitán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, dovậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh
có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995)
Lamprecht,H (1969) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài câytrong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành cácnhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi,thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng,cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Tácgiả Baur, G N (1976) cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến pháttriển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnhhưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinhtrưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kémphát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừngnhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loàicây có giá trị kinh tế
Trang 18thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấpthường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừngphục hồi sau nương rẫy.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và câybụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng củatầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ
và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinhkhông đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thìthảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân
tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫntheo Nguyễn Văn Thêm, 1992)
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giảnghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia vàVenezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ banđầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộcvào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quátrình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canhtác của khu vực đó
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biếtchỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu củaquá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự(1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tạiXishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật
Trang 19tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững.
1.1.3 Nghiên cứu về phân bón
Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng phân bón giúp cho câysinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được vớihạn hán, sâu bệnh.Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và khôngthể thiếu trong sản xuất nông nghiệp
Năm 1974 các tác giả Polster, Fidler và Lir cũng đã kết luận: Sinhtrưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng trong đấttrong suốt quá trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ ởmỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau (dẫn theoHà Thị Mừng, (1999)
Theo Thomas D Landis, (1985) chất lượng cây con có quan hệ logicvới tình trạng chất khoáng.Nito và phot pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinhtrưởng và phát triển của cây con.Tình trạng dinh dưỡng của cây con còn thểhiện rõ qua mầu sắc lá
Như vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng đặc biệt là cây con trong giai đoan gieo ươm là vô cùng quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, thông qua đó chúng ta có thể lựa chọn được loại phân bón phù hợp cho cây con nhằm tăng sức đề kháng, sức chống chịu.
1.1.4 Những nghiên cứu về ánh sáng
Năm 1949, Kozlovxki (Dẫn theo Vũ Thị Lan và Nguyễn Văn Thêm,
2006 [9]) cho rằng sự thiếu hụt ánh sáng là thường xuyên đối với cây con Khi
bị che sáng, mật độ và tái sinh của cây con sẽ giảm (Wallter, 1947; Rousse,
1962, 1967)
Những nhận định về vai trò của ánh sáng đối với tái sinh của cây gỗ ởrừng mưa nhiệt đới tìm thấy trong các tài liệu của Richards (1952), Banard(1954) và Baur (1964) Khi nghiên cứu vai trò của những yếu tố tối thiểu đốivới sinh trưởng của cây con, Karpov (1969) và Rusin (1970) cho rằng cảithiện điều kiện sinh trưởng của cây con theo yếu tố đa lượng có ảnh hưởngđáng kể đến sức sống của cây con (dẫn theo Vũ Thị Lan và Nguyễn VănThêm, 2006) theo Mazin (1996) nhân tố ánh sáng sẽ trở thành yếu tố giới hạn(dẫn theo Hoàng Công Đãng, 2000)
Trang 20Năm 1981, Sasaki và Mori đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá khảnăng chịu bóng của một số loài như: Shorea talura, Sovalis, Hopea helferei vàVatica odorata Kết quả cho thấy, sinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường
độ ánh sáng cao hơn 50% Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh tưởngcủa cây đã được đề cập ở mức độ tế bào Kramer (1993), Wagt và cộng sự(1998) Sands và Mulligan (1990) sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với nước(dẫn theo Vũ Thị Lan và Nguyễn Văn Thêm, 2006)
Như vậy, cùng với những nghiên cứu về giống và phân bón thì ánh sáng cũng có vai trò quan trọng trong công tác nhân giống cây rừng, vì vậy căn cứ vào đặc điểm sinh thái của từng loài cây mà chúng ta có thể điều tiết ánh sáng giúp cây sinh trưởng tốt, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cây giống cho công tác trồng rừng.
1.1.5 Những nghiên cứu về họ Bignoniaceae
Họ Bignoniaceae lần đầu tiên được biết đến bởi các nhà thực vật châu Âusau đợt thám hiểm trở về từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ Tournefort (1719)
là người đầu tiên đặt tên Bignonia bởi các đặc điểm đặc trưng như hoa có môi,
dạng ống; quả có vách ngăn và hạt có cánh Linnaeus (1753, 1754) chấp nhận
chi Bignonia và thống kê chi này có 13 loài, đồng thời tác giả tách Crescentia thành một chi riêng với một loài là Crescentia cujete Như vậy, ở thời điểm này họ Bignoniaceae được biết đến có 2 chi là Bignonia và Crescentia với 14
loài
Jussieu (1789) chính thức đặt tên cho họ Quao là Bignoniaceae, và xếp
họ này cùng với các họ Pedaliaceae, Martyniaceae và Chelone (họ Scrophulariaceae ngày nay) thuộc bộ Bignoniales; và chi Crescentia được
tách ra khỏi họ Quao và xếp vào bộ Solanales Trên cơ sở các đặc điểm vềdạng sống, cấu tạo quả và cách sắp xếp loài trong các chi mới của Linnaeus,
mà Jussieu đã chia bộ Bignoniales ra thành 3 nhóm nhỏ bao gồm: Incarvillea được xếp cùng nhóm với Chelone và Sesamum; Tourretia được xếp cùng nhóm với Martynia, Craniolaria và Pedalium; nhóm còn lại gồm các taxon Bignonia, Millingtonia, Jacaranda, Catalpa và Tecoma thuộc họ Quao bởi
các đặc điểm đặc trưng như cây thân gỗ và quả nang có 2 mảnh
Trang 21Nhiều loài mới của họ Quao được mô tả ở vùng nhiệt đới vào cuối thế kỷ
18 bởi Jacquin (1760, 1763), Aublet (1775) và Vahl (1798) đã góp phần quantrọng cho việc phân loại họ Quao trong giai đoạn này Năm 1802, Willdenowthừa nhận cách sắp xếp các taxon thuộc họ Quao của Jussieu và thống kê chi
Bignoia có khoảng 54 loài.
Đinh thối có tên khoa họa là Fernandoa brilletii (Dop) Steen (1976) hoặc
có tên gọi khác là Hexaneurocarpon brilletii Dop; thuộc Họ Bignoniaceae
hay còn gọi là Họ Quao Trên thế giới có 120 chi và 800 loài, phân bố chủ yếutrong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới nhất là Nam Mỹ, châu Phi và châu
Á Họ này có khoảng 650 loài trong 110-113 chi khác nhau
Đinh thối là cây gỗ, trong điều kiện tự nhiên cây có thể cao từ 25-30m,đường kính từ 70-90cm Thân cây hình trụ, tròn thẳng, vỏ màu xám bạc, nứtdọc thân, giác gỗ màu trắng Trong tự nhiên, Đinh thối thường xuất hiện rảirác mà ít khi mọc thành từng đám, chúng tham gia vào tầng cây cao của rừng
Lá kép lông chim nhiều lần hay kép chân vịt, mọc đối, gốc cuống phình
to Hoa to, cánh hoa dính thành ống, đỉnh không đều có 2 môi 4 nhị (trong đó
2 dài, 2 ngắn) Bầu 2 ô, nhiều noãn
Quả thường là quả nang hình đa giác dài thõng xuống từng chùm hay bảndài Hạt nhiều, dẹt, xếp xít nhau có cánh rộng mở ở xung quanh Phôi thẳng,thường không có nội nhũ
Theo tác giả Santisuk & Vidal (1985) trong công trình “Flore du Cambodge du Laos et du Vietnam” đã mô tả 26 loài và 3 thứ thuộc 9 chi của
họ Quao là cây tự nhiên phân bố ở khu vực Đông Dương, trong đó đã xácđịnh được tại khu vực này có 22 loài và 2 thứ thuộc 8 chi bao gồm:
Dolichandrone spatacea (L.f.) Schumann, Dolichandrone columnaris Santisuk, Dolichandrone serrulata (A.P de Candolle) Seemann, Fernandoa adenophylla (Wallich es G Don) Steenis, Fernandoa bracteata (Don)
Steenis, Fe r n a n d o a b r i l l e t i i ( D o p) S te e n i s , Fernandoa collignonii (Dop)
Steenis, Fernandoa serrata (Dop) Steenis, Markhamia stipulata var pierrei
(Dop) Santisuk, comb
& stat nov., Markhamia stipulata var kerrii Sprague, Millingtonia hortensis
Trang 22L.f., Oroxylum indicum (L.) Kurz, Pauldopia ghorta (Buchanan-Hamilton ex
G Don) Steenis, Radermachera boniana Dop, Radermachera eberhardtii Dop, Radermachera hainanensis Merrill, Radermachera ignea (Kurz) Steenis, Radermachera inflate Steenis, Radermachera sinica (Hance) Hemsley, Radermachera stellata Steenis, Stereospermum colais (Buchanan-Hamilton ex Dillwyn) Mabberley, Stereospermum annamense A Chevalier ex Dop, Stereospermum cylindricum Pierre ex Dop, Stereospermum neuranthum Kurz.
Đây là công trình được xem là đầy đủ nhất từ trước đến nay về nghiên cứu họ
Bignoniaceae (hay họ Quao) ở khu vực Đông Dương Tuy nhiên, hạn chế của
công trình này là thiếu hình vẽ và ảnh chụp minh họa, tên khoa học và tên tácgiả chưa được cập nhật và thiếu giá trị sử dụng
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặcđiểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việckinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng cáccấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình
Trần Ngũ Phương (1970) đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đórất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng
Hệ thống phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) được coi là khungphân loại chung cho TTV trên trái đất Hệ thống phân loại này dựa vào cấutrúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin chung về sinh thái, địa lý.Thảm thực vật chia thành 5 lớp quần hệ: 1 Lớp quần hệ rừng kín; 2 Lớpquần hệ rừng thưa; 3 Lớp quần hệ cây bụi; 4 Lớp quần hệ cây bụi lùn và cácquần xã gần gũi; 5 Lớp quần hệ cây thảo Trong lớp quần hệ cây bụi chia rathành 2 phân lớp: phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu thường xanh và phân lớpquần hệ cây bụi chủ yếu rụng lá Trong mỗi phân lớp này được chia thànhnhiều nhóm quần hệ và quần hệ thảm cây bụi
Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa
ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thếsinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết
Trang 23Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểmcấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựatrên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Namthành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là
14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêmnhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ bậcquần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Một số tác giả đã cứu cấu trúc rừng hỗn loài, tự nhiên như: Nguyễn VănTrương (1983), Bùi Thế Đồi (2001),Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh(2001) đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh làhoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phântầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phươngpháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây Ngoài ra, các tác giảcòn sử dụng các mô hình toán học để mô tả cấu trúc rừng
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm.
1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiêncứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, YênBái, Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quảnghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) tổng kết và kếtluận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam,hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục,không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, sốcây mạ có h<20cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thướckhác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng pháttriển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứngsinh trưởng chậm chiếm tỷ
Trang 24lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trongrừng tự nhiên.
Các kết quả nghiên cứu của một số tác giả như: Trần Văn Con (1991),Nguyễn Anh Dũng (2000), Trần Ngũ Phương (1970), Phùng Ngọc Lan(1986), Nguyễn Duy Chuyên (1988), Vũ Tiến Hinh (1991), Nguyễn NgọcLung và cộng sự (1993), Trần Xuân Thiệp (1995),… khi nghiên cứu về táisinh rừng đã đi đến kết luận, để tái sinh rừng thành công ngoài yếu tố chấtlượng cây tái sinh, mật độ cây tái sinh thì vai trò của con người có ý nghĩaquyết định đến việc phục hồi rừng trong tương lai
Trần Ngũ Phương (2000) khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tựnhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng
tự nhiên như sau:“Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên giàcỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có mộttầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế
nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuấthiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuấthiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảmthực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
1.2.3 Những nghiên cứu về phân bón
Khi nghiên cứu gieo ươm Thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân
Quát (1985) cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợpruột bầu.Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng (2000)thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm
Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát(1985) và Hoàng Công Đãng (2000) đã bón lót Super lân, Clorua kali, Sulphatamôn với tỷ lệ từ 0- 6% so với trọng lượng ruột bầu Đối với phân hữu cơ, cáctác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò và phân heo) vớiliều lượng từ 0%-
25% so với trọng lượng bầu.Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phảnứng của cây gỗ non với nước.Tuy vậy, đây là một vấn đề khó bởi vì hiện naycòn thiếu những điều kiện nghiên cứu cần thiết
Trang 25Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phầnhỗn hợp ruột bầu Theo Nguyễn Văn Sở (2004) sự phát triển của cây con phụthuộc không chỉ vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi trường sinhtrưởng của nó (tính chất lý hóa tính của ruột bầu).Tuy nhiên, không phải tất cảcác loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau mà chúng thay đổi tùy thuộcvào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây.
Nghiên cứu của Hà Thị Mừng (1999) cho thấy, thành phần ruột bầuđược cấu tạo từ 79% đất + 18% phân chuồng + 0,5%N + 2%P + 0,5%K hoặc80% đất
+ 15% phân chuồng+1%N + 3%P + 1%K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm lai
(Dalbergiabariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm.
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii),
Nguyễn Tuấn Bình (2002) cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rấtnhiều đến sinhtrưởng của cây con Theo tác giả, đất feralit đỏ vàng trên phiếnthạch sét và đất xám trên granit có tác dụng nâng cao sức sinh trưởng của câycon Dầu song nàng Hàm lượng phân super phốt phát (Long Thành) thích hợpcho sinh trưởng của Dầu song nàng là 2%-3%, còn phân NPK là 3% so vớitrọng lượng bầu
Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004), bón lót cho loài Chiêu
liêu nước (Terminalia calamansanai) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm
là việc làm cần thiết.Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8) cho Chiêu liêunước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruột bầu.Tương tự,phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15-20% so với trọnglượng ruột bầu
Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) khi gieo ươm cây Huỷnh liên (Tecoma stans (L.) H B K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân chuồng
hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5% superlân và
0,1% vôi
Trang 26Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm củamột số loài cây như sau: Thành phần ruột bầu gieo ươm cây Quế là 80% đấttầng A
Trang 27+ 20% phân chuồng hoai Thành phần ruột gieo ươm Thông gồm 80% đấttầng A + 20% phân chuồng hoai, những nơi gần rừng Thông nên lấy đất ởrừng Thông và thêm 1% Supe lân Thành phần ruột bầu gieo ươm Hồi là 80%đất tầng A (đất thịt) + 20% phân chuồng hoai Thành phần ruột bầu gieo ươmTrám Trắng là 90% đất tầng A + 9% phân chuồng hoai và 1% Supe lân (tínhtheo trọng lượng bầu) Hỗn hợp ruột bầu để gieo ươm cây Bằng Lăng là 94%đất +
5% phân chuồng + 1% Supe lân Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là 85%đất + 10% phân chuồng + 4% đất hun + 1% Supe lân Khi nghiên cứu gieoươm cây gỗ, một mặt các nhà nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tốsinh thái có ảnh hưởngquyết định đến sinh trưởng của cây con Những nhân tốđược quan tâm nhiều là ánh sáng, chế độ nước (Nguyễn Thị Nhung vàcộng sự,
2009)
Như vậy, quan điểm của các tác giả đã cho thấy đối với cây con trong vườn ươm cần thiết phải bón phân, tuy nhiên mỗi loài cây có đặc điểm sinh vật học sinh thái học khác nhau nên việc tìm ra thành phần và phối trộn các thành phần phân bó là rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn đối với cây cón
ở vườn ươm.
1.2.4 Những nghiên cứu về ánh sáng
Ánh sáng ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng của cây con, vì vậy khinghiên cứu gieo ươm cây gỗ trong vườn ươm ngoài việc nghiên cứu chế độphân bón, chế độ nước thì ánh sáng không những còn kìm hãm hay thúc đẩysinh trưởng của cây cũng như hạn chế sâu bệnh mà còn ảnh hưởng đến tỷ lệxây con xuất vườn Có thể điểm qua một số công trình như sau:
Nguyễn Thị Mừng, (1999) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che bóng
đến sinh trưởng của cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensisPierre) trong giai đoạn
vườn ươm, kết quả nghiên cứu đã cho thấy ở giai đoạn từ 1-4 tháng tuổi, mức
độ che bóng 50-100% (tốt nhất 75%) đảm bảo cho cây sinh trưởng chiều caođều lớn hơn so với đối chứng (không che bóng) Nhưng đến tháng thứ 6, cácchỉ tiêu trên lại đạt cao nhất ở tỷ lệ che bóng 50%
Trang 28Khi nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre), Nguyễn Tuấn Bình (2002) nhận thấy độ tàn che 25-50% là thích hợp
cho sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi
Khi nghiên cứu về cây Huỷnh liên (Tecoma stans (L.) H B K) trong
giai đoạn 6 tháng tuổi, Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) nhận thấy độ che sángthích hợp là 60%
Vũ Thị Lan và Nguyễn Văn Thêm (2006) khi nghiên cứu về ảnh hưởng
của độ tàn che đến sinh trưởng của Gõ đỏ (Afzelia xylocarpaCraib) nhận thấy
rằng độ tàn che thay đổi có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính,chiều cao và sinh khối của cây con gỗ đỏ Sau 6 tháng, đường kính của gõ đỏdưới các độ tàn che khác nhau có sự phân hóa thành 4 nhóm; trong đó thấpnhất ở độ tàn che
100%, cao nhất ở độ tàn che 25% Chiều cao thân cây gõ đỏ 6 tháng tuổi phânhóa thành 3 nhóm; Trong đó thấp nhất ở thí nghiệm thức đối chứng, kế đến ở
độ tàn che 25-75%, cao nhất ở độ tàn che 100% Giá trị lớn nhất về sinh khốicủa Gõ đỏ 6 tháng tuổi chỉ đạt được dưới độ tàn che 25%, thấp nhất ở độtàn che 100% Ngoài ra, sự suy giảm sinh khối của cây con gỗ đỏ sẽ xảy rakhi chúng không được che sáng hoặc được che bóng từ 50 - 100%
Đoàn Đình Tam (2012) khi nghiên cứu về độ tàn che và chế độ tưới
nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Vối Thuốc (Schima wallichii Chois)
nhận thấy rằng, chế độ che bóng thích hợp cho cây con Vối Thuốc giai đoạn 3đến 6 tháng tuổi là 50%, giai đoạn từ 9 đến 12 tháng tuổi là 25%
Như vậy, căn cứ vào đặc điểm sinh thái và tuổi cây mà có thể lựa chọn
độ tàn che khác nhau, qua đó điều tiết ánh sáng nhằm xác định được chế độ che sáng phù hợp cho từng loài với từng giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau Đây sẽ là cơ sở để ứng dụng cho nghiên cứu về chế độ che sáng cho cây Đinh thối trong vườn ươm.
1.2.5 Những nghiên cứu về họ Bignoniaceae
Trang 29Theo trung tâm dữ liệu Thực vật Việt Nam, Đinh thối có tên Khoa học
là Fernandoa brilletii (Dop) Steen hoặc có tên gọi khác là Hexaneurocarpon brilletii Dop, thuộc Họ Bignoniaceae ( h t tp: // www b ot a n y vn c o m )
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về họ Bignoniaceae được bắtđầu từ rất sớm bởi các nhà thực vật người Pháp Đầu tiên phải kể đến Loureiro(1790) trong công trình “Flora Cochinchinensis” tác giả đã thống kê và mô tảnhiều loài mới cho hệ thực vật Việt Nam trong đó có họ Quao (Bignoniaceae).Năm 1927, Lecomte chủ biên một công trình đồ sộ “Flore Générale deL’Indochine” với công bố về họ Quao của Paul Dop thì các taxon thuộc họthực vật này ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng mới được mô tảchi tiết Tác giả sử dụng hệ thống của Bentham & Hooker để sắp xếp cáctaxon và thống kê họ Quao (Bignoniaceae) ở Việt Nam có 35 loài thuộc 17chi, trong đó có nhiều loài là cây nhập nội
Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương (1960), trong công trình “Cây
cỏ miền Nam Việt Nam” đã mô tả ngắn gọn với hình vẽ đơn giản 11 loàithuộc 11 chi của họ Quao (Bignoniaceae) Trong lần tái bản năm 1972 PhạmHoàng Hộ mô tả 17 loài thuộc 14 chi Như vậy, tác giả đã bổ sung 6 loài và 3chi so với công bố trước đó Trong đó có 8 loài là cây nhập nội để trồng làmcảnh và lấy bóng mát Cả 2 công trình này tác giả đều mô tả ngắn gọn, hình vẽđơn giản và còn nhiều sai sót về danh pháp
Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) trong công trình “Phân loại họcthực vật bậc cao” thì cho rằng họ Quao trên thế giới có khoảng hơn 800 loàithuộc 120 chi, riêng ở Việt Nam có khoảng 35 loài thuộc 18 chi, trong đó cónhiều loài là cây nhập nội Cây mọc chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt ở nam
Mỹ, vùng nhiệt đới châu Phi, ở Madagasca và ở châu Á, trong đó có nhiều loàicho gỗ tốt và nhiều loài được trồng làm cảnh
Phạm Hoàng Hộ (1993), trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” và được táibản năm 2000 đã mô tả 36 loài thuộc 17 chi của họ Quao (Bignoniaceae) baogồm: chi Pyrostegia có 1 loài, chi Pachyptera có 1 loài, chi Jacaranda có 2
loài, chi Crescentia có 2 loài, chi Kigelia có 1 loài, chi Campsis có 2 loài, chi Tecoma
Trang 30có 1 loài, chi Millingtonia có 1 loài, chi Oroxylon có 1 loài, chi Tabebuia có 1 loài, chi Stereospermum có 4 loài, chi Radermachera có 7 loài, chi Fernandoa
có 5 loài, chi Pauldopia có 1 loài, chi Spathodea có 1 loài, chi Dolichandrone
có 3 loài và chi Markhamia có 2 thứ Nhìn chung, trong cả 2 công trình của
Phạm Hoàng Hộ, tác giả đã thống kê và mô tả lại toàn bộ các loài thuộc họQuao hiện có ở Việt Nam kể cả các loài nhập nội (12 loài thuộc 9 chi), tuynhiên những mô tả này còn sơ sài, thiếu tài liệu trích dẫn và mẫu vật nghiêncứu
Trần Đình Lý và cộng sự (1993) đã thống kê họ Quao (Bignoniaceae) ởViệt Nam có 40 loài (kể cả các loài nhập nội) thuộc 25 chi, trong đó tác giảnêu ngắn gọn giá trị sử dụng và nguồn gốc của 14 loài thuộc 7 chi
Nguyễn Tiến Bân (1997) đã thống kê họ Quao (Bignoniaceae) ở Việt có
40 loài (kể cả các loài nhập nội) của khoảng từ 17-18 chi
Trần Hợp (2002) đã mô tả, nêu đặc điểm sinh thái, phân bố, giá trị sửdụng kèm theo hình vẽ của 21 loài (kể cả các loài nhập nội) thuộc 14 chi của
họ Quao ở Việt Nam
Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) đã mô tả đặc điểm nhận dạng họQuao và thống kê họ Quao (Bignoniaceae) ở Việt Nam có 8 loài (kể cả loàinhập nội) thuộc 5 chi có giá trị sử dụng
Vũ Xuân Phương (2005) đã thống kê họ Quao ở Việt Nam có khoảng 37loài (kể cả loài nhập nội) thuộc 17 chi
Đặng Văn Sơn (2012) khi nghiên cứu phân loại Họ Quao (Bignoniaceae)
ở Việt Nam dựa trên cách tiếp cận hình thái và phân tử đã đưa ra kết quảnghiên cứu hình thái và phân tử, tác giả đã xác định được họ Quao(Bignoniaceae) ở Việt Nam có 2 tông, 10 chi, 27 loài và 3 thứ là cây tự nhiên
và 12 chi, 17 loài là cây nhập nội cho mục đích trồng làm cảnh và lấy bóngmát Trong đó, có 1 loài và 1 thứ mới cho khoa học (Stereospermumbinhchauensis V.S Dang, Markhamia stipulata var canaense V.S Dang), bổsung 1 chi (Heterophragma DC.) và 3 loài (Nyctocalos brunfelsiiflorumTeijsm & Binn., Radermachera
Trang 31microcalyx C.Y Wu & W.C Yin, Heterophragma sulfureum Kurz) và giámđịnh bổ sung 5 loài nhập nội cho hệ thực vật Việt Nam.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu kể trên chỉ mang tính chất giới thiệu ngắn gọn đặc điểm nhận dạng, hay cung cấp những dẫn liệu về giá trị sử dụng của một số loài thuộc họ Quao (Bignoniaceae) ở Việt Nam Vì vậy, việc điều tra, nghiên cứu phân loại họ Quao dựa trên cách tiếp cận hình thái cho
họ thực vật này là điều cần thiết làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài trong tương lai.
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
- Phía Tây - Tây bắc giáp tỉnh Tuyên Quang;
- Phóa Bắc - Đông bắc giáp tỉnh Bắc Cạn,
- Phía Nam - Đông nam giáp huyện Đại Từ, Phú Lương
b.) Địa hình
Địa hình huyện Định Hoá khá phức tạp và tương đối hiểm trở, ở dạngnúi thấp, đồi cao Xen giữa các dãy núi đá vôi và đồi, núi đất là những cánhđồng hẹp Hướng địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, phân làm haivùng Vùng núi bao gồm các xã ở phía bắc huyện Vùng này có các dãy núicao từ 200-400m so với mặt biển, thuộc phần cuối của dãy núi đá vôi cánhcung Sông Gâm, chạy theo Hướng tây bắc - đông nam, từ phía bắc qua trungtâm huyện đến xã Trung Hội, tạo nên bức tường thành ở phía đông thị trấnChợ Chu và những thung lũng nhỏ hẹp Nhiều hang động trong các dãy núi đánày có những nhũ đá hình thù kỳ thú, đẹp mắt
Vùng núi thấp bao gồm thị trấn Chợ Chu và các xã ở phía nam Đây làvùng núi đất, có độ cao từ 50 đến dưới 200m, độ thoải lớn; có nhiều rừng già
và những cánh đồng tương đối rộng, phì nhiêu
Trang 32c.) Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu: Định Hoá có khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa Mùa nóng
từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Tháng nóng nhất là tháng 8, nhiệt độ trungbình lên tới 280C Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau.Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình xuống tới 150C Mùa nóng cónhững ngày nhiệt độ lên trên 41 0C, mùa lạnh có lúc nhiệt độ xuống tới 10C
Là huyện có độ ẩm khá cao, trừ tháng 1, các tháng còn lại độ ẩm đều trên
80% Những tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 3 tháng 4 và tháng 8, nhữngtháng có mưa phùn, mưa ngâu, độ ẩm thường từ 85% trở lên
Định Hoá có hai loại gió chính thổi theo mùa: gió mùa đông bắc, thờigian ảnh hưởng trùng với mùa lạnh Mỗi khi có những đợt gió mùa đông bắctràn về nhiệt độ thường hạ xuống đột ngột, làm cho thời tiết rất lạnh, đôi khixuất hiện sương muối, rất có hại cho sức khoẻ con người và sự phát triển củacây trồng Gió mùa đông nam, thời gian ảnh hưởng trùng với mùa nóng,mưang theo hơi nước từ biển Đông vào gây ra mưa lớn Lượng mưa trungbình hàng năm khoảng 1.655mm Mùa mưa trùng với mùa nóng chiếm 85%đến 90% Lượng mưa cả năm Mùa khô trùng với mùa lạnh, Lượng mưa ít,chỉ chiếm
10% đến 15% Lượng mưa cả năm Những tháng đầu mùa khô thời tiết thườnghanh khô, có khi cả tháng không mưa gây nên tình trạng hạn hán
* Thủy văn: Định Hoá có 3 hệ thống dòng chảy chính:
Sông Chợ Chu: là sông lớn nhất, hợp lưu bởi nhiều khe suối nhỏ bắtnguồn từ sờn núi các xã phía tây, phía bắc huyện, với 3 nhánh chính là suốiChao, suối Múc, suối Tao; đoạn chảy qua xã Tân Dương là đoạn lớn nhất Sau
đó sông chảy qua xã Yên Ninh (huyện Phú Lương) và hợp lưu với Sông Cầu ởChợ Mới Sông Chợ Chu có lưu vực rộng 437 km2, lưu Lượng nước bình quântrong năm 3,06 m3/s
Sông Công có hai nhánh Nhánh thứ nhất bắt nguồn từ xã Thanh Định,chảy qua xã Bình Yên, Sơn Phú Nhánh thứ hai bắt nguồn từ dãy núi KhuônTát xã Phú Đình chảy qua xã Phú Đình, hợp lưu với nhánh thứ nhất ở xã Bình
Trang 33Thành rồi chảy sang xã Minh Tiến (huyện Đại Từ) Tổng diện tích lưu vực trên địa bàn huyện là 128km2, lưu lượng mức bình quân 3,06m3/s.
Sông Đu (Phần chảy trên địa bàn huyện thuộc thượng nguồn) bắt nguồn
từ xã Yên Trạch (huyện Phú Lương), đoạn chảy qua xã Phú Tiến (Định Hoá)dài khoảng 3,5km Sau đó sông chảy dọc phía tây huyện Phú Lương, hoà vàosông Cầu ở xã Sơn Cẩm Sông Đu có tổng diện tích lưu vực 70 km2, lưu lượngnước bình quân 1,68m3/s
d.) Đất đai
Định Hoá có 520.75km2 ha đất tự nhiên, trong đó: 99.29 km2 đất nôngnghiệp, 221.7km2 ha đất lâm nghiệp, 8.46km2 đất chuyên dùng, 7.33km2 đấtở,
183.98km2 đất cha sử dụng Thành phần của đất được chia ra làm 5 loại chính:
- Đất thuộc loại hình Mác ma chua, chủ yếu là Grnid, có diện tích19.97km2, tầng dầy trung bình chiếm ưu thế, tập trung chủ yếu ở các xã vùng3
- Đất Zera lid nâu đỏ phát triển trên đá gabvô, có diện tích khoảng2.8km2, tầng dầy trung bình chiếm u thế, tỷ lệ xét hoá học biến đổi từ 52 đến73% trong tổng số cấp hạt loại đất, phân bổ rải rác trong huyện
- Đất dốc tụ, có tổng diện tích khoảng 27.68km2, phân bố rộng khắptrong huyện, có địa hình phức tạp
- Đất phù sa suối, có khoảng 17.73km2, phân bố tập trung hai bên cácsông, suối trong huyện, tạo thành những cánh đồng vừa và nhỏ
- Đất dốc tụ có ảnh hưởng CaCo3, diện tích khoảng 1.82km2, phân bổtập trung xung quanh khu vực có những dãy núi đá vôi Đất có phản ứng trungtính hoặc hơi kiềm
Căn cứ vào độ dốc có thể phân ra: Đất có độ dốc trên 250 có 116.18km2,đất có độ dốc dưới 25 0 có 145.96km2, đất núi 152.67km2
e.) Thảm thực vật
Thảm thực vật của Định Hoá rất phong phú, chứa đựng nhiều tiềm năngkinh tế, với các loại lâm sản quý như gỗ nghiến, lim, lát, sến và các loại tre,
Trang 34nứa, vầu, trám…Đặc biệt, vùng đất các xã phía nam có nhiều cây cọ, lá để lợpnhà, cuộng để làm mành, thân làm kèo, xà nhà rất bền.
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là cây Đinh thối mọc tự nhiên trong các thảmthực vật rừng thứ sinh tại xã Phú Đình và Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh TháiNguyên
- Phạm vi nghiên cứu: Đối với nội dung nghiên cứu về đặc điểm cấutrúc và tái sinh tự nhiên cây Đinh thối và lâm phần đề tài tập trung nghiên cứutại xã Phú Đình và Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Đối với nộidung nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống cây Đinh thối từ hạt được thực hiêntại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ, tầng thứ tầng cây gỗ có loài Đinhphân bố
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ, tầng cây tái sinh
- Ảnh hưởng của ruột bầu và che sáng đến sinh trưởng của cây conĐinh thối
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cách tiếp cận: Để nghiên cứu đặc điểm lâm học và sinh thái loài Đinh,
cách tiếp cận của đề tài là tổng hợp, đa ngành và kế thừa các kết quả nghiêncứu đã có
- Thu thập thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xãhội của các địa bàn nghiên cứu từ các báo cáo, số liệu thống kê, những vănbản liên quan của các địa phương và các ban ngành có liên quan
- Tiếp cận cơ quan, cán bộ ngành, người dân trong các khu vực nghiêncứu; nghiên cứu về thực trạng phân bố, đặc điểm hình thái của đối tượngnghiên cứu được xác định thông qua việc điều tra thu thập thông tin từ SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục lâm nghiệp của tỉnh Tại xãtrọng điểm đã điều tra thu thập thông tin từ Uỷ ban nhân dân xã, địa chính xã,hợp tác xã, hội nông dân, hộ gia đình, kết hợp tổ chức các cuộc thảo luận tạimỗi điểm nghiên cứu
Trang 36- Thu thập các tài liệu nghiên cứu liên quan tới nghiên cứu về đối tượngnghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước qua thư viện, thư viện điện tử
và cơ quan nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung
- Sử dụng phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có
về cây Đinh ở trong và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, điều kiện lập địa,khả năng sinh trưởng, chọn giống, các biện pháp kỹ thuật gieo ươm, kỹ thuậtgây trồng và chăm sóc rừng…)
- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa: Khảo sát theocác tuyến điều tra, lập các ÔTC điển hình tạm thời và điều tra chi tiết trongÔTC, lấy mẫu, xác định đặc điểm cấu trúc quần xã có loài Đinh phân bố…nhằm thu thập các thông tin về một số đặc điểm sinh thái, đặc điểm lâm học,sinh trưởng cây
- Bố trí các thí nghiệm xử lý hạt giống, gieo ươm, nhân giống và gâytrồng theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, ít nhất 3 lần lặp và đủ dung lượng mẫutheo tiêu chuẩn công nhận giống 04-TCN-147-2006 của Bộ Nông nghiệp vàPTNT
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm lâm học của cây Đinh thối
* Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành, tầng thứ và mật độ: Ở nội dung này chúng tôi đã tiến hành khảo sát, xác định vị trí có cây
Đinh thối để lập OTC tạm thời, mỗi OTC có diện tích 1.000m2 (25x40m).Tổng số OTC là 12 Trong OTC tiến hành điều tra tầng cây cao có D1,3 ≥ 6cmnhư: xác định tên, đo đường kính, chiều cao và phân cấp phẩm chất cây từ
đó xác định nhóm loài cây ưu thế trong quần xã và ảnh hưởng của tầng câycao đến sự phát triển của loài nghiên cứu Tổ thành loài cây được tính bằngcông thức của Curtis, J T (1959)
* Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên:Trong các ô
tiêu chuẩn điều tra tầng cây gỗ lớn, lập 5 ô dạng bản có diện tích 25m2 (5x5m)
để điều tra tái sinh hoặc điều tra bằng phương pháp quan sát xung quanhnhững cây Đinh
Trang 37trưởng thành phân tán Trong mỗi ô dạng bản, điều tra đo đếm cây tái sinh có
D1,3<
6 cm và có chiều cao từ 0,3-2,0m xác định phẩm chất cây (tốt, trung bình,xấu), nguồn gốc tái sinh (chồi, hạt) Thống kê số cây/ha theo các cấp chiềucao Xác định tỷ lệ cây triển vọng Mô tả cây bụi thảm tươi
Nội dung 2: Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Đinh thối
2.1 Thí nghiệm về thành phần hỗn hợp ruột bầu
* Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu
- Cây con, túi bầu, đất tầng A, sàng đất;
- Thước dây, thước kép;
- Bảng biểu giấy, bút;
- Phân bón: Phân lân.
* Bước 2: Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại,
30 cây/công thức/lặp Tổng số 540 cây Theo dõi định kỳ và đo đếm các chỉtiêu sinh trưởng của cây con
- CT1: 1% phân vi sinh + 9% phân chuồng hoai + 90% đất tầng A
- CT2: 2% phân vi sinh + 8% phân chuồng hoai + 90% đất tầng A
- CT3: 3% phân vi sinh + 7% phân chuồng hoai + 90% đất tầng A
- CT4: 4% phân vi sinh + 6% phân chuồng hoai + 90% đất tầng A
- CT5: 5% phân vi sinh + 5% phân chuồng hoai + 90% đất tầng A
Trang 38Trong thời gian thí nghiệm (7 tháng), các biện pháp chăm sóc áp dụngđồng nhất cho các công thức thí nghiệm như làm cỏ và tưới nước hàng ngày,đảo bầu 1 lần/tháng áp dụng đồng nhất cho các công thức thí nghiệm.
* Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Theo dõi định kỳ 1 lần/tháng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của câycon, các chỉ tiêu theo dõi như:
- Đo đường kính cổ rễ (D00): dùng thước Panmer đo ở vị trí cổ rễ
- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính sác củathước là ± 0,1cm, đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây Sau đó số liệu đượcnghi ở mẫu biểu 3.2
Mẫu Bảng 2.2 Chỉ tiêu sinh trưởngD 00, H vn và chất lượng cây Đinh thối
* Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu
- Cây con, túi bầu, đất tầng A, sàng đất
- Thước dây, thước kép
- Bảng biểu giấy, bút phớt
- Phân bón: Phân lân.
* Bước 2: Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại,
30 cây/công thức/lặp Tổng số 360 cây.Theo dõi định kỳ và đo đếm các chỉ tiêu
sinh trưởng của cây con
+ CT1: không che sáng
+ CT2: che 25% ánh sáng trực xạ
+ CT3: che 50% ánh sáng trực xạ
Trang 39+ CT4: che 75% ánh sáng trực xạ.
Giàn che là lưới Nilon đen cao khoảng 1m so với mặt luống và rộng hơn mép luống là 40cm Mức che sáng (CS%) của gian che được xác định theo công
thức của Nguyễn Hữu Thước (1964)
Trang 40Mẫu Bảng 2.3 - Sơ đồ bố trí thí nghiệm che sáng
Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm
Trong thời gian thí nghiệm (7 tháng), các biện pháp chăm sóc áp dụngđồng nhất cho các công thức thí nghiệm như làm cỏ và tưới nước hàng ngày,đảo bầu 1 lần/tháng, bón bằng phân đạm ((NH2)2CO) với nồng độ 0,01% ởdạng dung dịch định kỳ 2 tuần/lần bắt đầu từ tháng thứ 3
* Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Theo dõi định kỳ 1 lần/tháng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của câycon, các chỉ tiêu theo dõi như:
- Đo đường kính cổ rễ (D00): dùng thước Panmer đo ở vị trí cổ rễ
- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính sác củathước là ± 0,1cm, đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây Sau đó số liệu đượcnghi ở mẫu biểu 3.4