LÊ THỊ CHÂU DƯƠNGLOẠI HÌNH TRUYỆN VÀ LOẠI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM... ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜ
Trang 1LÊ THỊ CHÂU DƯƠNG
LOẠI HÌNH TRUYỆN VÀ LOẠI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LÊ THỊ CHÂU DƯƠNG
LOẠI HÌNH TRUYỆN VÀ LOẠI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ BẮC KẠN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn Loại hình truyện và loại hình nhân vật trong truyện kể dân gian các dân tộc thiểu sô Bắc Kạn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàntrung thực, chưa hề được sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nghiêncứu nào khác
Thái Nguyên, ngày tháng năm 20
Tác giả luận văn
Lê Thị Châu Dương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đãnhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô giáo, của giađình, bạn bè và đồng nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, Phòngđào tạo, khoa Báo chí truyền thông và Văn học, trường Đại học Khoa học -Đại học Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt quátrình học tập
Đặc biệt, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Huế,người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ, đã thắp lên ngọn lửa nhiệthuyết trong em để em có thể hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã đồng
hành, động viên, cổ vũ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 20
Tác giả luận văn
Lê Thị Châu Dương
MỤC LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp mới của đề tài 9
7 Bố cục 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10
1.1 Khái quát về vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa tỉnh Bắc Kạn 10
1.1.1 Lịch sử hình thành 10
1.1.2 Địa lý, dân cư 11
1.1.3 Kinh tế - xã hội 17
1.1.4 Văn hóa 17
1.2 Khái quát văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn 19
1.2.1 Diện mạo văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn 19
1.2.2 Các thể loại của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn 19
1.3 Vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 29
1.3.1 Lý thuyết loại hình 29
1.3.2 Các khái niệm liên quan 30
Chương 2: LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ BẮC KẠN 33
2.1 Khảo sát và phân loại thần thoại các dân tộc thiểu số Bắc Kạn 33
2.1.1 Khảo sát thần thoại các dân tộc Bắc Kạn 33
2.1.2 Phân loại thần thoại Bắc Kạn 35
2.2 Khảo sát và phân loại truyền thuyết các dân tộc Bắc Kạn 47
Trang 72.2.1 Khảo sát truyền thuyết các dân tộc thiểu số Bắc Kạn 48
2.2.2 Phân loại truyền thuyết Bắc Kạn 49
2.3 Khảo sát và phân loại truyện cổ tích các dân tộc Bắc Kạn 59
2.3.1 Khảo sát truyện cổ tích Bắc Kạn 59
2.3.2 Phân loại truyện cổ tích Bắc Kạn 61
2.4 Khảo sát và phân loại truyện truyện cười, ngụ ngôn Bắc Kạn 75
2.4.1 Khảo sát truyện cười, truyện ngụ ngôn Bắc Kạn 75
2.4.2 Phân loại truyện truyện cười, ngụ ngôn 75
Chương 3: LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ BẮC KẠN 79
3.1 Từ nhân vật khởi thủy đến nhân vật sáng tạo văn hóa trong thần thoại các DTTS Bắc Kạn 79
3.2 Từ nhân vật lịch sử đến nhân vật được phụng thờ trong truyền thuyết các DTTS Bắc Kạn 84
3.3 Từ nhân vật thấp hèn, đến nhân vật thông minh tài trí trong truyện cổ tích các DTTS Bắc Kạn 88
3.4 Từ nhân vật đời thường đến nhân vật phản kháng, phê phán xã hội trong truyện cười, truyện ngụ ngôn các DTTS Bắc Kạn 103
PHẦN KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Trang 8Bảng 2.1: Bảng khảo sát thần thoại 33
Bảng 2.2: Bảng khảo sát truyền thuyết 48
Bảng 2.3: Bảng khảo sát các truyện cổ tích 59
Bảng 2.4: Bảng khảo sát truyện truyện cười, ngụ ngôn 75
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn chương là sự biểu thị văn hóa tinh thần của một dân tộc cao
hay thấp Do vậy, muốn hiểu rõ trình độ, bản lĩnh của một dân tộc, ta phảinhìn vào nền văn học của dân tộc ấy Cũng như bao quốc gia trên thế giới,Việt Nam có nền văn học riêng, chính những sáng tác văn học là minh chứng
rõ ràng nhất về sự tồn sinh của người Việt trải qua một chặng đường dài lịch
sử, từ thuở khai thiên lập quốc cho đến ngày nay
Nhắc đến Văn học Việt Nam, không thể không kể đến bộ phận văn họcdân gian Đó là những “viên gạch” đầu tiên cho nền móng của văn học dântộc, là thành quả của lao động trí tuệ của những nghệ sĩ dân gian - tầng lớpngười bình dân trong xã hội cũ Hội tụ từ khắp nơi trên dải đất hình chữ S,văn học dân gian được hình thành, nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển cho đếnngày nay.Nền văn học dân gian là cơ sở để văn học viết hình thành và pháttriển, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại
Bên cạnh những sáng tác văn học dân gian của dân tộc Kinh, ta khôngthể phủ nhận những sáng tác văn học dân gian của các dân tộc thiểu số trên đấtnước Việt Nam Tìm hiểu văn học dân gian mỗi vùng, mỗi miền, ta thấy inđậm trong các sáng tác những dấu ấn về tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa đặc biệt là dấu ấn về con người Do vậy, văn học dân gian Việt Nam (nóiriêng) và văn học dân gian các dân tộc thiểu số (nói chung) luôn là đối tượngnghiên cứu của các nhà khoa học, xã hội học, tâm lí học, phê bình, nghiên cứuvăn học…Trong đó, nền văn học dân gian các dân tộc thiểu số một số địaphương miền núi phía Bắc cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận
1.2 Tìm hiểu văn học dân gian các dân tộc thiểu số, các nhà nghiên cứu
đã có nhiều công trình ở các cấp độ từ khái quát, tổng thể đến nghiên cứu theothể loại,…Qua mỗi cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã chỉ ra một số đặcđiểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật, những nét đặc sắc riêng biệt của từng thể
Trang 10loại, đặc biệt đã khẳng định được một số nét đặc trưng mang đậm bản sắc dântộc và miền núi của bộ phận văn học này.
1.3 Cũng giống như các tỉnh khác trong khu vực miền núi phía Bắc,
Bắc Kạn là địa phương có nhiều dân tộc cùng sinh sống từ lâu đời Kho tàngvăn học dân gian của cư dân nơi đây rất phong phú và đa dạng, với đủ các thểloại, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần, những truyền thống văn hóa tốtđẹp của các dân tộc nơi đây Văn học dân gian Bắc Kạn từ trước đến nay đãđược nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu có tâm huyết của địa phương cũng nhưtrung ương quan tâm, giới thiệu, như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, NôngViết Toại, Doãn Thanh, … Trong đó bộ phận truyện kể dân gian của các dântộc Tày, Nùng, Dao, Thái, Mường, H’mông, … của Bắc Kạn đã xuất hiệntrong nhiều công trình của các nhà văn hóa nói trên, tạo nên những bộ sưu tậptruyện kể dân gian các dân tộc miền núi phía Bắc có giá trị đặc sắc Điều này
đã hấp dẫn chúng tôi khi muốn hướng sự chọn lựa của mình vào việc nghiêncứu truyện kể dân gian và truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số, trong đó cóBắc Kạn
1.4 Hiện nay, trong các nhà trường phổ thông (từ cấp tiểu học đến
THCS, THPT), văn học dân gian vẫn được đưa vào giảng dạy trong chươngtrình.Tuy nhiên, có một thực tế là nhiều học sinh không hứng thú với văn họcdân gian (trong đó có văn học dân gian các dân tộc thiểu số).Thậm chí, nhiềuhọc sinh là dân tộc thiểu số nhưng không biết nói tiếng dân tộc mình, khôngnhớ, không biết, cá biệt có học sinh biết rất ít về văn học dân tộc mình
Là một giáo viên đang dạy chương trình trung học phổ thông, tôi nhậnthấy, văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã được đưa vào chương trìnhgiảng dạy nhưng chưa được chú trọng Số lượng bài ít, thời gian dành cho tiếtdạy văn học dân gian không nhiều Do vậy, đại đa số học sinh có ấn tượng mờnhạt với văn học dân gian các dân tộc thiểu số (trong đó có văn học dân giancác dân tộc thiểu số của địa phương mình).Chưa kể đến hiện tượng học sinhkhông phân biệt được kiểu, loại văn học dân gian Các em chỉ nhớ một cáchmáy móc những tác phẩm mà thầy cô dạy mà thiếu đi dấu ấn riêng trong đặctrưng mỗi kiểu văn
Trang 11bản, do vậy sự cảm nhận của từng học sinh cũng mang tính cứng nhắc…Những hiện tượng trên là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ mai một nền văn học dântộc, bản sắc dân tộc.
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Loại hình truyện và loại hình nhân vật trong truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn làm
luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam của mình vớimong muốn đóng góp khiêm tốn vào việc nghiên cứu về văn học dân gianViệt Nam (nói chung) và văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn (nóiriêng) để ứng dụng trong nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian trong nhàtrường
Thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi không chỉ tiếp cận về phươngdiện văn học đối với truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn mà cònhướng tới việc tiếp cận về phương diện văn hóa, văn hóa tộc người và đặttrong các điều kiện bối cảnh sinh thái, bối cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội,v.v Nhằm mục đích thấy được tiến trình phát sinh cũng như phát triển, nhữngđặc điểm riêng cùng tính chất vùng miền trong tương quan so sánh truyện kểdân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn với truyện kể và văn học dân gian cácdân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung
đẩy mạnh việc “xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộctrong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” (Nghị quyết TW
Đảng khóa VIII) Văn học các dân tộc thiểu số đã trở thành một đối tượngnghiên cứu của giới nghiên cứu, phê bình văn học nói riêng, của những ngườiyêu mến và trân trọng mảng văn học các dân tộc thiểu số nói chung Đã có
Trang 12nhiều công trình tiếp cận văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam ở nhiều cấp độkhác nhau.
Nằm trong khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là một vùng đất có từlâu đời, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như Kinh, Tày, Nùng, Dao, SánDìu, Sán Chay, Hoa…do vậy, đây cũng là nơi hội tụ nhiều nét văn hóa đadạng và phong phú.Đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn học dân giancác dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, trong đó có các công trình sưu tầmgiới thiệu và ngiên cứu về văn học dân gian và truyện cổ dân gian các dân tộcnơi đây
Về ưu điểm: Các công trình này đã sưu tầm được khá phong phú cácloại truyện kể của các dân tộc thiểu số, nhiều truyện có dung lượng dài, cốttruyện khá hấp dẫn, li kì… phản ánh đời sống tâm hồn vô cùng phong phúccủa đồng bào các dân tộc thiểu số xưa kia
Hạn chế: Tuy nhiên, các công trình sưu tầm này chưa thật khoa học Vìmỗi tập truyện chỉ kể riêng của từng dân tộc, chưa đặt trong sự so sánh vớitruyện của các dân tộc khác Đại đa số các truyện kể chưa có nguồn gốc bản
kể (chưa ghi cụ thể tên, địa chỉ người kể)
* Về nghiên cứu
- Công trình nghiên cứu chung về văn học dân gian các dân tộc thiểu số
Việt Nam như: Hợp tuyển văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (Nông Quốc Chấn chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1976), Văn học các dân tộc thiểu số Việt nam (trước cách mạng tháng Tám), (Phan Đăng Nhật), Nxb Văn hóa, 1981,Văn hóa dân gian Tày (Hoàng Ngọc La chủ biên, Hoàng Hoa Toàn, Vũ
Anh Tuấn
Trang 13- Sở Văn hóa thông tin Thái Nguyên), Văn hóa truyền thống dân tộc Tày, Nùng (Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa dân tộc, 1996) Các công trình này cơ bản
đã chỉ ra những đặc trưng nổi bật trong đời sống văn hóa, phong tục chi phốiđời sống văn học của mỗi dân tộc Tuy nhiên cũng chỉ riêng từng dân tộc màchưa có sự so sánh nổi bật
- Các công trình Địa chí như: Địa chí Lạng Sơn (1997), Địa chí Cao Bằng, Địa chí Hòa Bình, Địa chí Thái Nguyên (2007), … là những công trình
mang tính bách khoa, khái quát tổng hợp giới thiệu về các tỉnh thuộc vùng núiphía Bắc với các điều kiện Địa lý, Lịch sử, Kinh tế, Dân cư, dân tộc, Văn hóa-
xã hội.Trongđó, đáng lưu ý có một phần nội dung giới thiệu về văn học dângian các dân tộc của các địa phương này Tuy nhiên, vì công trình nghiên cứumang tính chất khái quát, tổng thể các vấn đề nên chưa thể đi sâu phân tíchđặc trưng riêng trong lĩnh vực văn học dân gian
* Về các luận án, luận văn
Ngoài công trình nghiên cứu trên, còn một số luận án, luận văn Thạc sĩnghiên cứu về văn học dân gian, truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc và Bắc Kạn:
Luận văn Thạc sĩ: Hình tượng “người khổng lồ”trong loại hình tự sự dân gian các dân tộc thiểu số miền Đông Bắc, Tây Bắc Việt Nam… (Nguyễn Hằng Phương, ĐHSP Hà Nội, 1987), Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày vùng Đông Bắc (Hà Xân Hương, ĐHKHXH & NV, Hà Nội, 2011), Hệ thống những công trình nghiên cứu về loại hình nhân vật trong trong truyện cổ tích thần kì của người Việt (Trịnh Thị Thu Hà, ĐHSP Thái Nguyên, 2015), Nhân vật thông minh trong Truyện cổ tích Đức và Việt Nam (Lăng Thị Thảo, ĐHSP Thái Nguyên, 2018), Hình tượng thần thoại trong các dân tộc thiểu số Việt Nam (Luận văn Th.s Nguyễn Văn Huấn, ĐHSP Thái Nguyên,2012), Hệ thống biểu tượng trong Then Tày (Hoàng Thu Trang, ĐHSP Thái Nguyên, 2017), …
Trang 14Luận án Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số tip truyện kể dân gia Tày
ở vùng Đông Bắc Việt Nam (Vũ Anh Tuấn, ĐH Tổng hợp Hà Nội (ĐHKHXH&NV,1991), Truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (Nguyễn Thị Minh Thu, Học viện KHXH - 2014), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và lễ hội về các anh hùng (Lê Văn Kỳ,
Công trình nghiên cứu về văn hóa, học dân gian Bắc Thái (cũ), Bắc
Kạn, như: “Một số làn điệu dân ca của các dân tộc Thái Nguyên” trong sách
“Sưu tầm,nghiên cứu dân ca các dân tộc ở Bắc Thái”,Sở VHTT Thái Nguyên,1998), bài viết “Đôi nét về thành ngữ, tục ngữ Tày vùng Na Rì”, trong cuốn Sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc huyện Na Rì, Bắc Cạn (Triệu Cao Thiêm và các cộng sự,1999), Các dân tộc ở Bắc Kạn (Tỉnh ủy và UBND tỉnh Bắc Cạn, Nxb Thế giới, 2003), Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn (nhiều tác giả, NXB Văn hóa dân tộc, 2004), Tục ngữ, ca dao Tày vùng hồ Ba Bể (Nguyễn Thị Yên chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc,2007), Di tích, danh thắng tỉnh Bắc Kạn (Nhiều tác giả, Nxb Văn hóa dân tộc, 2004)…
* Về các luận án, luận văn
Luận văn Thơ Lẩu của người Tày ở Hà Vi, Bạch Thông, Bắc Kạn (Lê Thương Huyền, ĐHSP Thái Nguyên, 2011), Hát Lượn Slương của người Tày qua khảo sát ở xã Yên Cư, Chợ Mới, Bắc Kạn (Lê Thị Phương Thảo, ĐHSP
Trang 15Thái Nguyên, 2011), Hát quan làng ở Phương Viên, Chợ Đồn, Bắc Kạn tiếp cận từ góc độ văn hóa dân gian (Ngọc Hải Anh, ĐHSP Thái Nguyên, 2009), Văn học Bắc Kạn từ 1945 đến nay (Hoàng Thị Dung, ĐHSPThái Nguyên, 2009), Đặc điểm thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày Bắc Kạn, Luận văn Th.s,
Đinh
Thị Tuyến, ĐHSP Thái Nguyên, 2018)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các thể loại truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
- Loại hình các nhân vật trong truyện kể dân gian Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi địa lý: Vùng các dân tộc thiểu số Bắc Kạn sinh sống
- Phạm vi tư liệu:
+ Bộ ba tập Truyện cổ Bắc Kạn (Bàn Tuấn Năng, Lâm Xuân Đính, Vũ
Anh Tuấn), Sở văn hóa thông tin thể thao Bắc Kạn xuất bản, 2002 - 2003 Bộsưu tập được biên soạn công phu, có phân chia các thể loại, có địa chỉ vàngười cung cấp, … Đây là nguồn tư liệu chính, tin cậy để giúp chúng tôi khảosát, thống kê, phân tích và triển khai đề tài
+ Một số tác phẩm sưu tầm truyện kể dân gian các dân tộc miền núiphía Bắc đã công bố trước nay (Truyện cổ Tày Nùng, Truyện cổ Mèo, Truyện
cổ Dao, Truyện cổ Cao Lan, )
+ Trong điều kiện cho phép, có thể sưu tầm, bổ sung mới một số truyện
kể dân gian tại địa phương Bắc Kạn
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Có cái nhìn toàn diện, hệ thống về các thể loại truyện kể dân gian cácdân tộc thiểu số Bắc Kạn
Trang 16-Phân loại loại hình các nhân vật của truyện kể dân gian các dân tộcthiểu số Bắc Kạn đặt trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên, xã hội,lịch sử thời kì hình thành cho đến ngày nay.
- Chỉ ra được giá trị phản ánh, giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng cùng vaitrò, ảnh hưởng của các hình tượng nhân vật, truyện kể dân gian, văn học dângian đối với đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Bắc Kạn xưa nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về địa bàn cư trú, văn hóa vật chất, tinh thần, phong tục, tậpquán, tín ngưỡng, tôn giáo … của các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
- Khảo sát, điền dã, sưu tầm tư liệu, thống kê, phân loại các tác phẩmtruyện kể dân gian các dân tộc Bắc Kạn
- Tìm ra được các loại hình nhân vật, với các đặc điểm chung và riêngtrong truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn trong mối quan hệ vớiđời sống lịch sử, xã hội,văn hóa các dân tộc
- Trong điều kiện có thể, chúng tôi xin phép được đề xuất một số giảipháp nhằm bảo tồn, lưu giữ các tác phẩm văn học dân gian các dân tộc thiểu
số của Bắc Kạn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp nhằm thống kê và
phân loại các loại hình tác phẩm và loại hình nhân vật trong văn học dân gian
và truyện kể dân gian của các dân tộc thiểu số Bắc Kạn, để rút ra nhận xét về
bộ phận văn học này
5.2 Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp giúp làm nổi bật tính
loại hình trong các kiểu tác phẩm cũng như tính loại hình trong hệ thống nhânvật của các thể loại truyện kể trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số BắcKạn So sánh đặc điểm chung và riêng biệt của văn học dân gian các dân tộcthiểu số Bắc Kạn với văn học dân gian các dân tộc thiểu số các vùng, miềnkhác của văn học Việt Nam
Trang 175.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp giúp trong quá
trình nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn học – văn hóa – lịch sử
-xã hội để có cơ sở nhìn nhận, đánh giá khách quan nhiều mặt giá trị của truyện
kể dân gian các dân tộc thiểu số trong dòng chảy văn học dân tộc
5.4 Phương pháp điền dã: Phương pháp này nhằm mục đích khảo sát
thực tế về sự tồn tại của các truyện cổ tại một số địa phương thuộc tỉnh BắcKạn, trên cơ sở đó có cách nhìn nhận và đánh giá chính xác nhiều mặt giá trịcủa truyện cổ Bắc Kạn đặt trong mối quan hệ với lịch sử hình thành, xã hội,văn hóa… Bắc Kạn
Những phương pháp trên sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linhhoạt trong quá trình nghiên cứu
6 Đóng góp mới của đề tài
- Trên cơ sở tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích một cách có hệthống, luận văn sẽ nhận diện loại hình các nhân vật trong truyện kể dân giancác dân tộc Bắc Kạn
- Đưa ra những đánh giá, nhận xét làm rõ các đặc điểm chung và riêngcủa các loại hình truyện và loại hình nhân vật trong truyện kể của văn học dângian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
7 Bố cục
Ngoài phấn Mở đầu, kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về các vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 2: Loại hình truyện kể dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn Chương 3: Loại hình nhân vật trong truyện kể dân gian các dân tộc
thiểu số Bắc Kạn
Trang 18PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa tỉnh Bắc Kạn
1.1.1 Lịch sử hình thành
Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, vào thời đại Hùng Vương dựng
nước, với hai vương quốc cổ là Văn Lang rồi Âu Lạc (thế kỷ VII-II TCN),vùng đất Cao Bằng – Bắc Kạn ngày nay thuộc bộ Vũ Định (một trong 15 bộhợp thành nước Văn Lang) Dưới thời thuộc Đường nơi đây là đất châu VõNga Từ thời Lý, khi ông cha ta bắt đầu đầu xây dựng và phát triển nhà nướcphong kiến Trung ương tập quyền, Bắc Kạn thuộc châu Thái Nguyên đờiTrần Trong buổi đầu thời Lê, đây là vùng đất thuộc Bắc đạo Năm QuangThuận thứ 7 (1466) đất Bắc Kạn thuộc Thái Nguyên Thừa tuyên, rồi Ninh SócThừa tuyên năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Năm Hồng Đức thứ 21 (1490)phủ Thông Hóa (gồm huyện Cảm Hóa và châu Bạch Thông) thuộc xứ TháiNguyên đất Bắc Kạn
Dưới thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), trấn Thái Nguyênđổi thành tỉnh, Bắc Kạn cơ bản vẫn là đất phủ Thông Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Sau khi đánh chiếm và áp đặt bộ máy cai trị trên địa phận Thái Nguyên,thực dân Pháp đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính Theo Nghị định ngày20/8/1891 và Nghị định ngày 9/9/1891 của Toàn quyền Đông Dương, địa bànBắc Kạn thuộc hai đạo quan binh: Phần phía Đông và Nam thuộc Tiểu quânkhu Thái Nguyên, Đạo quan binh 1 và phần phía Bắc thuộc Tiểu quân khuLạng Sơn, Đạo quan binh 2
Ngày 11/4/1900, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định lấy phần đấtthuộc phủ Thông Hóa thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm các châu Bạch Thông, Chợ
Rã, Thông Hóa (sau đổi thành Na Rỳ), Cảm Hóa (sau đổi thành Ngân Sơn).Tiếp theo đó, ngày 25/6/1901, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định tách
Trang 19tổng Yên Đĩnh thuộc huyện Phú Lương (Thái Nguyên) nhập vào châu BạchThông (Bắc Kạn) Năm 1916, theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ, một tổngcủa châu Bạch Thông, Chợ Rã và tổng An Biện Thượng thuộc Định Hóa (TháiNguyên) tách ra lập thành châu Chợ Đồn Thời gian đó, Bắc Kạn có 5 châu(Bạch Thông, Na Rỳ, Ngân Sơn, Chợ Rã và Chợ Đồn) với 20 tổng và 103 xã.
Ngày 21/4/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủCộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Quyết định số 103-NQ-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Thái Nguyên vàBắc Kạn Ngày 14/4/1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 50-CP đặtthị xã Bắc Kạn thành thị trấn Bắc Kạn trực thuộc huyện Bạch Thông Tiếptheo đó, 29/12/1978, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam đã quyết nghị phân định địa giới giữa Bắc Thái và CaoBằng, tách 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã thuộc tỉnh Bắc Thái nhập vào tỉnhCao Bằng
Ngày 6/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa IX, kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc chia tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh TháiNguyên và Bắc Kạn Tỉnh Bắc Kạn được tái lập Các huyện Ngân Sơn, Ba Bể(Chợ Rã) được tái nhập lại tỉnh Bắc Kạn Tháng 8/1998, thành lập thêm huyệnChợ Mới Năm 1999, chia huyện Bạch Thông thành 2 huyện: B ạ c hT
h ô n g v à h ợ MC ớ i Năm 2003, chia huyện Ba Bể thành 2 huyện: Bể Ba v àPác N ặ m Năm 2015, chuyển thị xã Bắc Kạn thành thành phố Bắc K ạ n
1.1.2 Địa lý, dân cư
* Vị trí địa lý:
Tỉnh Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố
và 7 huyện, được phân chia thành 122 đơn vị hành chính cấp xã gồm có 6phường, 6 thị trấn và 110 xã Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 4.859 km²
Nhìn toàn cảnh, lãnh thổ Bắc Kạn nằm ở trung tâm nội địa vùng ĐôngBắc Bắc Bộ Việt Nam, khu vực hai cánh cung sông Gâm ở phía Tây và cánhcung Ngân Sơn ở phía Đông, có địa giới tiếp giáp với 4 tỉnh trong khu vực, cụ
Trang 20Bằng;
Trang 21Phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; Phía Tâygiáp các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Phía Namgiáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Nổi bật lên trên địa hình đồi núi Bắc Kạn phía Tây là cánh cung sôngGâm với hệ thống núi đá, núi đất xen kẽ nhau khá phức tạp Trong đó phải kểđến hai dãy núi Phja Dạ và Phja Bjoóc Phja Dạ thuộc huyện Pắc Nặm, cao1.640m, trên đỉnh quanh năm mây mù bao phủ Lưng chừng chân núi có cácnguồn nước tuôn trào trắng xóa Cùng với hoa rừng, cây trái thiên nhiên, Phja
Dạ đã tạo nên một cảnh quan tuyệt đẹp, trở thành nguồn cảm hứng của thơ cacổ:
Phja Dạ mây trắng phủ đẹp như cảnh tiên Hoa phặc phiền nở thắm đỏ trên vách đá
Còn dãy Phja Bjoóc cao 1.527m, nằm giữa ba xã Mỹ Phương (ChợĐồn), Vi Hương, Đồng Phúc (Ba Bể) Trên đỉnh núi có Ao Tiên gắn liền với
sự tích về các nàng tiên: nàng Bjoóc, nàng Ngò, nàng Ve thấy dân dưới hạgiới vất vả vì thiên tai, địch họa nên đáp từ trên trời xuống giúp dân tạo dựng
và bảo vệ cuộc sống, chống ngoại xâm nên từ đó dãy núi này có tên là PhjaBjoóc
Địa hình phía Đông là cánh cung Ngân Sơn với hệ thống dãy núi caotrung bình gần 1.000m với cấu tạo địa chất cũng khá phức tạp Nơi đây, cònrất giàu về tài nguyên rừng, động thưc vật quý hiếm Đặc biệt ở khu vực rừngquốc gia Ba Bể Đó không chỉ là nguồn sống, nguồn vật liệu, dược liệu quýcủa người dân mà cũng trở thành “nhân vật” để nhân dân gửi gắm những bàihọc đạo đức, kinh nghiệm sống, những tri thức khoa học qua các truyện kể,thơ ca, tục ngữ dân gian về các loài Từ thực vật như: Mạy Tươi và MạyNghẻn (cây gỗ nghiến và cây trò nước), Mạy Lầy và Mạy Túm (cây si và câysổ), dây Chiềm Toong Hây, lá dong mặt đỏ ở dưới, Pịa tông hao (loài măng ởvùng Đồng Phúc), loài nấm … đến các loài động vật như: hổ, voi, gấu, trâu,
bò, khỉ, đười ươi, cua, rùa, ếch, nhái, thỏ, chó, mèo, chuột, các loài chim, cá…
Sự phong phú của thế giới động vật, thực vật nơi đây đã trở thành nguồn đềtài cho hàng trăm truyện cổ
Trang 22để người dân tộc thiểu số giải thích mọi đặc điểm địa lý tự nhiên, địa hình…ởkhu vực định cư của mình.
- Khí hậu:
Bắc Kạn nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa, tuầnhoàn theo bốn mùa rõ rệt, nhưng nổi bật nhất là mùa hạ nóng nực, nắng lắmmưa nhiều và mùa đông khô hanh lạnh lẽo bởi gió mùa Đông Bắc Mùa Xuân
và mùa Thu nói chung ngắn Do ảnh hưởng của yếu tố khí hậu á nhiệt đới vàgió mùa Đông Bắc, nên mùa xuân tuy không dài nhưng ấm áp, núi non phơiphới một màu xanh huyền diệu Lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn Ởcác ngọn núi cao, các sườn núi hướng Đông Nam lượng mưa thường lớn hơn,
độ ẩm cao như ở dãy Phja Dạ và Phja Bjoóc Vì thế, ca dao cổ người Tày đã
- Sông hồ
Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn của vùng Đông Bắc là sông
Lô, sông Gâm, sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Cầu Mạng lưới sông ngòiBắc Kạn tương đối phong phú nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn với đặcđiểm chung là ngắn, dốc, thủy chế thất thường, mùa mưa gây lũ lụt lớn.Người Bắc Kạn xưa vẫn còn lưu lại các câu chuyện kể về “nạn hồng thủy”
qua nhiều thần thoại, truyền thuyết như Sự tích hồ Ba Bể, Quả bầu tiên, Nước ngập trời, Hay trong câu ca của người dân Bắc Kạn đã có câu: “Núi Phja Bjoóc bị ngập chỉ bằng con ngựa, Núi Phja Dạ chỉ bằng con lợn, Núi Bó Lù bằng con gà” Những dãy núi Phja Bjoóc, Phja Dạ, Bó Lù cao hơn cả nghìn
mét mà ngập hết chứng tỏ những trận hồng thủy xưa lớn mức nào! Qua đó,nhân dân muốn nhắc
Trang 23nhở cho con cháu những bài học về tinh thần cảnh giác trước thiên tai, lũ lụt.Tuy vậy, sông ngòi ở Bắc Kạn vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất vàđời sống của nhân dân địa phương.
Bên cạnh hệ thống sông ngòi, Bắc Kạn có hệ thống các hồ, thác, vực
khá phong phú Trong đó, hồ Ba Bể được Hội nghị hồ nước ngọt thế giới tại
Mỹ năm 1995 xếp vào một trong 20 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới Hồ Ba Bểkhông chỉ có giá trị cảnh quan địa chất độc đáo, giá trị nổi bật về địa chất địamạo, giá trị to lớn về đa dạng sinh học mà còn trở thành đề tài của nhiềutruyện kể, truyền thuyết, thơ ca dân gian Bắc Kạn:
Bắc Kạn có suối đãi vàng
Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh
Tóm lại, Bắc Kạn có một thiên nhiên giàu sức sống, đủ tiềm năng cầnthiết để nuôi dưỡng, che chở con người Người Bắc Kạn cũng đã khơi dậy,vun đắp và bảo vệ, tôn vinh vẻ đẹp của thế giới tự nhiên Do đó ta thấy, thiênnhiên và con người có sự hòa quyện, gắn bó thân thiết Thiên nhiên thấm đậmtâm hồn, tình người Vẻ đẹp rực rỡ, tươi thắm của thiên nhiên còn là biểutượng cho vẻ đẹp của tâm hồn trong sáng, ước mơ cao đẹp của người dân cácdân tộc thiểu số Bắc Kạn
* Dân cư:
Bắc Kạn là mảnh đất nuôi dưỡng các dân tộc hai miền xuôi, ngượctrong nhiều chặng đường lịch sử Tính đến năm 2019 dân số Bắc Kạn là313.905 người, gồm 7 dân tộc (T à y , N ùn g , Kin h , D a o , M ôn g , H o a v à SánC
h a y ) sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80% (Tày chiếm 57%,Dao 16,8%, Kinh chiếm 14%) Các dân tộc ít người khác chiếm tỉ lệ nhỏ làngười Nùng, Mông, Hoa, Sán Chay Phân bố ở khu vực thành thị chiếm20,7%, khu vực nông thôn là 79,2% Mật độ dân số trung bình 63,45người/km2 Đây cũng là tỉnh ít dân nhất Việt Nam với hơn 300.000 dân
Trang 24Từ thời nguyên thủy, chủ yếu là nơi “người Tày gốc đất hạt cỏ” (ngườiTày bản địa) sinh sống Khoảng thế kỷ XV, có người Tày gốc Kinh ở miềnxuôi lên, họ sống xen kẽ trong xã hội người Tày và chuyển hóa thành dân tộcTày, còn gọi là “Kinh già hóa Thổ” Cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỳ XIX,dưới ách nhà Thanh (Trung Quốc) hà khắc, phong trào nông dân Thái BìnhThiên Quốc bị đàn áp nặng nề, nhiều người dân Trung Quốc đã rời bỏ quêhương sang Việt Nam để sinh cơ lập nghiệp Họ đã sớm hòa nhập vào khốiTày bản địa, coi Việt Nam như quê cha đất tổ của mình Các bộ phận Tày BắcKạn đã có ý thức hòa hợp, cố kết lại với nhau thành một khối Tày thống nhất
vì sứ mệnh và lợi ích chung
Người Tày định cư từ lâu đời, tạo nên những làng bản nơi chân núi,sườn đồi, bên cánh đồng, sông suối Do ở vùng rừng núi rậm rạp, nhiều thú
dữ, côn trùng … tạo cho người Tày và một số dân tộc khác (Nùng, Sán Chay)
có thói quen ở nhà sàn Mỗi bản thường có một dân tộc, một hoặc hai dòng họ
có quan hệ thân thiết Xung quanh bản, quanh nhà, đồng bào thường rào giậu,làm vườn rau, cây ăn quả…
Kinh tế truyền thống của người Tày là nông nghiệp Từ xa xưa, họ đãcần cù lao động, khai phá đất đai tạo nên những thửa ruộng bậc thang, nhữngkhe suối, những công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất Dấu ấn của nền kinh
tế nông nghiệp ngày nay vẫn còn khắp các địa phương ở Bắc Kạn: Những conmương dài, những phai gỗ, đá được kết cấu chắc chắn để ngăn lũ lụt, nhữngmáng tre dẫn nước…Vì vậy, ruộng đồng màu mỡ Người dân từng có câu ca:
Ruộng tốt không đâu hơn Đông Viên Cành đồng bằng phẳng không đâu hơn Hà Vị
Mỗi kỳ công sáng tạo của đồng bào còn được ghi dấu trong nhiều
truyện kể, thơ ca dân gian của người Tày như : Sự tích phai nước Phiêng Liềng, Mỏ nước Bó Khiếu, Sự tích vực Rùa, Sự tích con mương bản Loàn và thằng Tâm Đỏn, Sự tích con mương Tà Loòng Làm nên những ruộng, đồng,
mương, vực,
Trang 25thác, hồ … ta thấy in dấu trong đó bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, sự hi sinhthầm lặng của nhân dân.
Đứng thứ hai sau dân tộc Tày là người Dao Về nguồn gốc, người Daokhông phải cư dân bản địa mà di cư từ Trung Quốc sang Gốc tích của dân tộcnày (trong đó có người Dao ở Bắc Kạn) cũng được gắn với truyền thuyếthuyền thoại dân gian kể về nhân vật Bàn Hồ Vốn là thủ lĩnh đội lốt chó, Bàn
Hồ giỏi nghề sông nước, thừa lệnh vua nước Sở đi đánh và giết vua nước Cao,giữ yên bờ cõi đất nước Trở về, Bàn Hồ được kết duyên cùng công chúa convua , họ sinh được 6 con trai, 6 con gái Sau khi Bàn Hồ chết, con cháu đôngnên phải phân tán khắp các vùng sinh cơ lập nghiệp Vua Sở vì cảm ân xưacấp cho con cháu Bàn Hồ “Quá sơn bảng văn” Các con trai, con rể Bàn Hồđều được mang một họ: họ Bàn, họ Thẩm, họ Bao, họ Lý, họ Triệu, họHoàng… Câu chuyện có phần hoang đường song lại có một số yếu tố thực tếnhư các họ của người Dao hiện nay vẫn còn, truyền thuyết cũng đã ghi nhậnxuất xứ của người Dao là vùng sông hoặc biển và khu vực trồng lúa nước
Kinh tế truyền thống của người Dao cũng chủ yếu là nông nghiệp, chănnuôi và thu hái lâm thổ sản Về cơ bản, địa bàn canh tác của các nhóm Dao làsườn đồi hoặc núi đất có độ dốc lớn Lao động sản xuất đòi hỏi phải có sứckéo nên các hộ gia đình đều nuôi trâu, bò, ngựa Các vật nuôi khác như lơn,
dê, gà, vịt… cũng được chú trọng để phục vụ làm thức ăn hay có việc dùngđến
Các dân tộc Nùng, Mông, Hoa, Sán Chay… cũng có nguồn gốc từTrung Quốc di cư sang Người Nùng sống xen kẽ với người Tày và sớm hòanhập trong cộng đồng dân tộc Làng bản của người Nùng thường dựa vàosườn núi hoặc dựa trên những đồi thấp cạnh sông, suối, thung lũng NgườiMông di cư vào Việt Nam muộn hơn, có tâm lý, tập quán không muốn sốngxen canh xen
cư với các tộc khác nên đồng bào Mông quen sống ở vùng cao, xa xôi, hẻolánh Người Hoa lại sống tập trung ở các khu vực có điểu kiện buôn bán nhỏ ởcác thị trấn, họ vừa làm ruộng, vừa buôn bán Sán Chay (Sán Chí và Cao Lan)
là dân tộc có ít dân nhất ở Bắc Kạn
Trang 26Về kinh tế, các dân tộc đều lấy nông nghiệp làm căn bản Nhưng do tậpquán canh tác nên mỗi vùng lại có nét riêng Người Tày làm ruộng nước ở đồng bằng Người Mông canh nương rẫy trên núi cao Người Hoa chọn khu trung tâm để kết hợp làm ruộng và buôn bán…Cùng với trồng lúa, ngô,
khoai…đồng bào các dân tộc còn biết săn bắn, đánh bắt thủy, chăn nuôi gia súc gia cầm, làm các nghề thủ công để phục vụ trực tiếp cho đời sống Dấu ấn
về đời sống nông nghiệp được nhân dân lưu lại rất nhiều trong các câu tục ngữ, ca dao trở thành “nông lịch” trong sản xuất, gieo trồng Người Mông có
câu: Tháng ba chặt cây lanh/Tháng bảy chặt cây gai, đây là hai loại cây dùng
để lấy sợi Còn người Tày thì nhắc nhở con cháu: Tháng ba ngày nào cũng gieo mạ/Tháng năm ngày nào cũng cấy lúa…
1.1.3 Kinh tế - xã hội
Là một tỉnh có vị trí khá thuận lợi cho việc giao thương và phát triểnkinh tế, tuy nhiên Bắc Kạn vẫn còn nằm trong số các tỉnh nghèo về kinh tế.Các ngành kinh tế chủ yếu của Bắc Kạn vẫn là nông nghiệp, lâm nghiệp, côngnghiệp khai khoáng, dịch vụ và du lịch
Bắc Kạn có 8 khu đô thị chính gồm Thị xã Bắc Kạn và 7 thị trấn là cáctrung tâm hành chính, kinh tế của các huyện Các khu đô thị này có hạ tầng cơ
sở khá tốt Các công trình xây dựng như đường xá, cầu cống hiện đại chủ yếutập trung tại các trung tâm này Đây cũng là nơi tập trung đông dân cư với cáchoạt động buôn bán, kinh doanh, (trong đó có kinh doanh du lịch) …
1.1.4 Văn hóa
Bắc Kạn là địa phương có lịch sử - văn hóa lâu đời, trong đó, nền vănhóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Bắc Kạn có nhiều dân tộc anh emcùng chung sống từ lâu đời Trong đó dân tộc Tày chiếm số đông, tiếp đến làcác dân tộc Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Mông, Cao Lan, Sán Chí… Đồng bàoTày, Nùng, Kinh, Hoa thường sống tập trung thành làng, bản ở những vùngđồi thấp, ven trục đường chính và các huyện lỵ, tỉnh lỵ Đồng bào Dao, Mông,Cao Lan, Sán Chí… thường sống phân tán ở những vùng núi cao Miền đấtnày là nơi tinh
Trang 27hoa văn hóa nhiều dân tộc cùng tụ hội, làm nên bản sắc văn hóa đậm đà, riêngbiệt của một tỉnh miền núi vùng cao.
Trước hết là văn hóa vật chất Nơi ở của mỗi dân tộc in đậm bản sắc tộcngười Đồng bào Tày, Nùng ở nhà đất, nhà sàn Đồng bào Mông, Dao ở lưngchừng núi hoặc trên núi cao, đồng bào Hoa ở nhà ống… Mỗi dân tộc có trangphục riêng giúp ta nhận ra một cách rõ ràng Về văn hóa tinh thần, các lễ hội,phong tục ngày nay vẫn còn là minh chứng về đời sống tinh thần của nhân dân
vô cùng sinh động, hấp dẫn Từ các lễ hội mùa trong năm cho đến các lễ cúngviệc trọng đại (đám cưới, đám ma), đến lễ dựng nhà dựng cửa, lễ chào đời củamột con người… đều được mỗi dân tộc thực hiện rất công phu, tỉ mỉ Nét nổibật phải kể đến trong nền văn hóa của Bắc Kạn là nghệ thuật Hát then, đàntính Theo quan niệm dân gian, Then có nghĩa là Thiên, Thiên tức là “Trời”,
vì vậy then được coi là điệu hát của thần tiên truyền lại Trong đời sống củangười Tày cổ, then được dùng trong những sự kiện trọng đại lễ cầu an, cầumùa, cấp sắc thông qua làn điệu then lời cầu nguyện của người dân đượcchuyển đến nhà trời
Trong tâm thức của đồng bào các dân tộc thiểu số, bên cạnh cuộc sốngcủa họ còn có các vị thần linh Thần hộ mệnh, đem lại bình an, giúp mùamàng bội thu … cho nên nhân dân vô cùng kính trọng Trước mỗi dịp trọngđại, họ đều làm lễ tế thần, xin phép hoặc nhờ thần mách đường chỉ lối…Dấutích về sự có mặt của các vị thần trong đời sống nhân dân Bắc Kạn cũng inđậm qua các câu chuyện kể xa xưa như: Thần Bếp, Thần Nước, Thần Núi,Thần Sông (Thuồng Luồng) … Mặc dù, cách giải thích của đồng bào có vẻ ấutrĩ, nhưng điều này thật dễ hiểu vì người dân tộc thiểu số Bắc Kạn chưa cóđiều kiện giao thương với mọi miền xuôi ngược, trình độ dân trí của đồng bàocác dân tộc còn nhiều hạn chế Cho nên, các hoạt động văn hóa cộng đồng chủyếu diễn ra trong phạm vi hẹp và còn giữ được nhiều nét bản sắc của các dântộc ít người
Trang 281.2 Khái quát văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
1.2.1 Diện mạo văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
- Bắc Kạn vốn là trung tâm văn hóa Tày – Thái đã có sự giao thoa vàtiếp biến mạnh mẽ với văn hóa Việt – Nùng trong suốt thời kỳ trung đại
- Trong mạch nguồn văn hóa cổ xưa, văn học dân gian Bắc Kạn tồn tạinhư một di sản hết sức phong phú về thể loại, nội dung tư tưởng…Thể hiệnquan niệm nhân sinh, quan niệm vũ trụ hết sức độc đáo, in đậm dấu ấn vùngvăn hóa, nơi sinh tồn của cộng đồng cư dân Bắc Kạn thời cổ đại Bao gồm:Văn học dân gian Tày, Nùng, Dao, Mông…trong đó sản phẩm văn học dângian của dân tộc Tày chiếm số lượng nhiều nhất
1.2.2 Các thể loại của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
- Loại hình tự sự dân gian: Truyện kể
Thần thoại
Theo Mác, thần thoại là vẻ đẹp “một đi không có trở lại” của loài người
khi xã hội nguyên thủy kết thúc
E.M.Mêlêtinxkin đã định nghĩa thần thoại như sau: “Thần thoại có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa đen là truyền thuyết, huyền thoại Người ta thường hiểu đó là những truyện về các vị thần, các nhân vật được sùng bái hoặc có quan hệ nguồn gốc với các vị thần, về các thế hệ xuất hiện trong thời gian ban đầu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo lập thế giới cũng như vào việc tạo lập nên những nhân tố của nó – thiên nhiên và văn hóa”.
Theo Đinh Gia Khánh, ở Việt Nam “Thần thoại đã nảy sinh từ cuộcsống của người nguyên thủy và phát triển theo yêu cầu của xã hội Lạc Việt”,
có nghĩa là thần thoại có từ thời trước công nguyên, trước thời Bắc thuộc
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Huế, thần thoại ra đời khi “con người ở thời
kỳ nguyên thủy trong khi tiếp xúc với các hiện tượng vũ trụ kì bí, họ đã muốn
cố gắng tìm hiểu, xuyên qua cái bề ngoài để nhận thức thế giới, nhận thức tự
Trang 29nhiên Sự nhận thức thế giới của con người lúc đó là hoang đường và ấu trĩ.Con người tưởng tượng ra và đặt niềm tin vào sự tưởng tượng ấy, rằng thếgiới do các vị thần linh tạo ra Thế giới đó luôn bí ẩn và to lớn, nó chế ngự conngười và luôn đe dọa đời sống của họ Trong quá trình lao động, sản xuất, conngười nguyên thủy đã vận dụng lí trí non nớt, sự nhận biết thô sơ của mình vềthiên nhiên, vũ trụ để tìm câu trả lời cho những gì xảy ra xung quanh như: Tạisao lai có ngày? Tại sao lại có đêm? Tại sao lại có bầu trời? Tại sao có mặtđất? …Tại sao có mưa, gió, bão lụt, hạn hán…Chính vì thế, họ đã làm ra thầnthoại [10.Tr
18]
Thần thoại các dân tộc thiểu sô Bắc Kạn có nhiều điểm tương đồng vàkhác biệt với thần thoại dân tộc Việt Điểm tương đồng đó là: Dù thần thoại ởvùng, miền nào cũng đều là câu chuyện về các vị thần – có công sáng tạo, táitạo thế giới, muôn vật, muôn loài Các vị thần đều có sức mạnh tối cao, có khảnăng chế ngự mọi sức mạnh của tự nhiên Sự xuất hiện của các vị thần đềunhằm mục đích lí giải sự xuất hiện và tồn tại của các hiện tượng của tự nhiên
và đời sống con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức thế giới của conngười Nhưng ở mỗi dân tộc thiểu số, các vị thần của họ gắn liền với khônggian – địa lý, thời gian - lịch sử và văn hóa, quan niệm nhân sinh của của dântộc đó
Thần thoại của các dân tộc thiểu số Bắc Kạn nằm chung trong nhómthần thoại các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Đây là khu vực mang dấu
ấn của con người từ thời nguyên thủy cho đến buổi đầu dựng nước Cho nên,thần thoại ra đời nhằm giải thích sự hình thành trời - đất, nguồn gốc loàingười, nguồn gốc dân tộc, phong tục, tập quán gắn với công lao của các vịthần Tiêu biểu nhất phải kể đến thần thoại của người Tày, Dao, Mường,Mông với nội dung hết sức đa dạng
Trước hết, về quan niệm về vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên, đồng bàocác dân tộc thiểu số cho rằng, công kiến tạo vũ trụ và thế giới tự nhiên là docác vị thần khổng lồ (Pựt, Pựt Luông) Đây là kiểu truyện thần thoại có ítnhiều
Trang 30mang màu sắc sử thi Ngoài ra, còn một số mẫu kể về người khổng lồ TàiNgào còn được lưu truyền rải rác ở các vùng Chợ Đồn, Chợ Mới, BạchThông, Chợ Rã
Trong nhóm thần thoại kể về nguồn gốc loài người và các dân tộc, đáng
chú ý là có một số lượng lớn các bản kể thuộc type Huyền thoại về lụt (Nạn hồng thủy) mang đầy đủ đặc trưng tương đồng với Huyền thoại về lụt của các dân tộc Đông Nam Á với những motif đặc trưng như: Quả bầu – thuyền, cặp anh – chị em sống sót, cuộc hôn nhân bất thường sinh ra những vật bất thường (một bọc thịt) để tái tạo loài người và các dân tộc…
Ở nhóm thần thoại kể về nguồn gốc các loài (động vật, thực vật), ta thấy
có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tín ngưỡng, nghi lễ…Cho nên, ở nhiều dântộc thiểu số ở Bắc Kạn, nhiều địa phương, ta thấy có tín ngưỡng thờ các convật: Con rùa, con rắn, thờ lúa …
Truyền thuyết
Nếu thần thoại ra đời từ buổi sơ khai của loài người thì truyền thuyếtnảy sinh trên nền của nền văn minh nông nghiệp lúa nước Truyền thuyết củacác dân tộc thiểu số ở Bắc Kạn mang đậm dấu ấn địa phương Đó là dấu ấn vềlịch sử, văn hóa, phong tục của một vùng đất; về con người với vẻ đẹp tâm,hồn tính cách đến những địa danh, làng bản…
Nhóm truyền thuyết địa danh: Đó là hàng loạt các huyền thoại kể về sự
hình thành các vùng đất: Hồ Ba Bể, Vực Rùa, Con mương Bản Loàn, Tà Loòng, Phai nước Phiêng Liềng, Mỏ nước Bó Khiếu …Trong đó, nhân dân
ghi nhận công lao của những người dân bình dị mà nhân hậu đã có công “đắpđập, be bờ” để từ đó làm nên bản làng, lập kế sinh nhai, tạo nên các danhthắng cho vùng đất tồn tại đến ngày nay
Nhóm truyền thuyết phong tục tiếp tục in dấu ấn người dân tộc thiểu sốBắc Kạn Vượt qua giai đoạn tư duy ấu trĩ, quá trình lao động, giao tiếp đểsinh tồn buộc con người không ngừng tư duy, biết lựa chọn cái tốt, cái đẹplưu giữ thành truyền thống, biết tạo ra cái riêng để làm nên bản sắc cho mỗivùng, miền,
Trang 31mỗi dân tộc Tất cả điều đó đã tạo nên vẻ đẹp đa dạng, phong phú trong bảnsắc các tộc người Người Dao có truyền thuyết về nguồn gốc hình thành dòng
họ, tục xem sách so tuổi hợp số mệnh để có cuộc sống hạnh phúc, bình an.Người Tày cũng có rất nhiều nét riêng trong phong tục ma chay (tục chônngười chết, “nhị thập tứ hiếu”, tục con gái trùm khăn tang khi bố/mẹ mất, tụcthổi kèn, tục đốt hương)…Ở góc nhìn khoa học, rất có thể, cách lí giải vềphong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số Bắc Kạn chưa thật hợp
lí, nhưng về mặt nghệ thuật, cách lí giải trên thật thuyết phục, nó cho thấytrình độ tư duy của con người ở thời kì xã hội đã bước qua giai đoạn ấu trĩ, nócho thấy lập trường tư tưởng, ý thức xây dựng và bảo tồn những giá trị vănhóa lâu đời của đồng bào dân tộc xưa
Cuối cùng là nhóm truyền thuyết lịch sử Ở Bắc Kạn, nhân dân còn lưutruyền một số truyền thuyết này Cùng với các minh chứng về các di chỉ khảo
cổ, về sự xuất hiện con người thời kỳ đồ đá ở Bắc Kạn, các truyền thuyết nàyđánh dấu sự xuất hiện của người Tày cổ và lịch sử hình thành của vùng đấtBắc Kạn từ thời xa xưa Dấu tích về các sự kiện lịch sử và các anh hùng nay
vẫn còn được lưu truyền ở địa phương như: Đền thờ ông Chẩu ở Chợ Đồn, đền thờ cô Thắm (Nữ Tướng) ở Chợ Mới, miếu thờ bốn anh em Nà To ở Na
Ở tiểu loại truyện cổ tích loài vật vùng Bắc Kạn, truyện kể về loài vật
và cỏ cây có tính rất đặc thù Trong truyện, hình tượng con vật và cây cỏ quenthuộc của miền núi xuất hiện phổ biến, như: Hổ, rết, ốc sên, tắc kè, con ngựa,
châu chấu, kiến; cây trò chỉ, cây si, cây sổ, gỗ nghiến, lá dong,… (Sự tích trâu
Trang 32húc cây chuối, Sự tích con mèo tam thể, sự tích Chèo bẻo, Quạ đen và Quạ khoang …)
Ở tiểu loại cổ tích thần kì, phổ biến là các típ truyện về người mồ côi,người con riêng, chàng trai vùng núi kì tài, dũng sĩ diệt yêu tinh gắn với tênlàng bản…
Ở tiểu loại cổ tích sinh hoạt mang dấu ấn của đời sống xã hội thời kỳ đã
có sự phân chia giai cấp, nhiều áp bức, bất công xảy ra…
Truyện cười và truyện ngụ ngôn
Truyện cười và truyện ngụ ngôn có số lượng ít nhất trong các thể loạitruyện cổ của Bắc Kạn Mặc dù vậy, một số truyện cười đã thể hiện tư duy phêphán nhẹ nhàng các hiện tượng xấu trong xã hội (chàng rể tham ăn, chàng rểnói phét, người chồng tham ăn…) Còn truyện ngụ ngôn, yếu tố ngụ ngôn ít
Nếu so sánh với một số tryện ngụ ngôn của dân tộc Kinh như Thầy bói xem voi, ta thấy tư duy của người dân các tộc thiểu số Bắc Kạn còn rất mộc mạc,
chất phác
- Loại hình trữ tình dân gian: Dân ca các dân tộc thiểu số Bắc Kạn
Bên cạnh truyện kể, dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số Bắc Kạn làmột loại hình với nhiều thể loại cũng hết sức phong phú với nhiều nội dung vàhình thức thể hiện:
Dân ca
Hát đồng dao, hát ru
Ta thấy trong dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số Bắc Kạn có riêngmột phần dành cho trẻ nhỏ Những bài hát ru đi theo đứa trẻ khi trong nôi, khitrên lưng mẹ, lưng bà, lưng chị lên nương rẫy…Cùng với việc truyền hơi ấm,lời hát ru như những lời nhắn nhủ, vỗ về, dịu dàng, thiết tha đưa trẻ yên lòng
mà thiu thiu vào giấc ngủ Lời hát ru ở mỗi vùng có thêm thắt, nhưng cơ bản
nội dung như sau: Ngủ ngon thêm ngủ ngon/Ngủ đợi chi đi nương lấy dưa… dưa/Ngủ đợi cô ra đồng lấy muỗm …muỗm/Con muỗm được hai
Trang 33ống/Chim sẻ được hai con/Một con đi giặt tã/Một con đi nhuộm tơ/Một con đi
đu võng; Người lớn còn sáng tác và dạy trẻ những bài đồng dao Đó là những
câu, lời văn vần, phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ, dễ hiểu, dễ nhớ Trẻ có thể tự hát,
có thể hát tập thể Qua những bài đồng dao, trẻ em hiểu hơn về mọi vật xungquanh, đặc biệt được tăng thêm vốn từ Có bài đồng dao gọi nắng, gọi mưa,
gọi trăng, gọi gió, gọi ve, gọi kiến, chơi trốn tìm, dạy học tiếng Kinh…(Trăng hỡi trăng/Rơi xuống đây cho em/Em còn nhỏ, còn bé/Em tranh lấy không được/Em còn bú tí mẹ); (Mác ché: quả cà/ Tua ma: con chó/Nghé mó: cái nồi/ Tua hoi: con ốc/ Tua nộc: con chim/ Tua lình: con khỉ/Mác mị:quả mít…)
Cành hoa bung trên lùm dây ngả xuống Anh say nói, càng nói càng say
Nói, mười lời nói đi nhưng ngồi lại
Sợ anh đánh bùa chú đầu tháng Cho em mê không biết đường về Xuống đây mà cùng nhau ngồi khóc
Trang 34Lượn cọi phổ biến ở các vùng Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Bạch Thông …Lượn slương phổ biến ở các vùng phía Đông Nam huyện Na Rì, Chợ Mới,phía Nam huyện Ngân Sơn Lượn cọi và lượn slương thường được hát vàomùa xuân, dịp lễ hội lồng tồng, chủ yếu để trai gái bày tỏ tình cảm, bên cạnh
đó ca ngợi vẻ đẹp con người, thiên nhiên, cảnh vật, cuộc sống Một số bàilượn mượn cốt truyện của một số cổ tích, thần thoại; Nhóm nghi lễ gồm: hátquan làng, hát vào nhà mới, hát loàn, các bài hát then, pụt …Hát quan làng làloại dân ca nghi lễ của đám cưới, chủ yếu là phù rể (đại diện cho nhà trai),phù dâu (đại diện cho nhà gái) hát đối đáp Hát then, pụt đều có chức năng cầucúng cho gia đình gia chủ Hát loàn thường kết hợp với hội lồng tồng, chủ yếu
để cầu chúc mùa màng bội thu, làng bản được bình yên
Dân ca dân tộc Nùng có điệu “cò lẩu” dùng bắt buộc trong nghi lễ đámcưới Sau này được sử dụng rộng rãi hơn trong các dịp lễ hội Bên cạnh “còlẩu” là điệu Sli, phổ biến trong nhóm Nùng Phản Sình, dùng để hát giao duyêntrong các dịp đám cưới, hội hè, phiên chợ Chẳng hạn:
Nam:
Trang 35Mùi hương bay tỏa khắp mình tôi Phù dung thanh quý nào ai biết Muốn chào nhưng e thẹn với người
Đi chợ đôi ta đến núi này Tiếng chim ríu rít giữa ban ngày Phù dung hoa nở ai chăm sóc Muốn chào nhưng e thẹn với người
Đặc biệt ngày hội chợ Xuân Dương (Na Rì), 25/3 âm lịch hàng năm,cácchàng trai, cô gái đến hội chợ với mục đích giao lưu văn hóa, giao lưu tìnhcảm thông qua tiếng hát giao duyên Chợ kết thúc, từng đôi nam nữ có thể gặpnhau bên sườn đồi để trò chuyện Sau cùng, họ trao nhau tặng phẩm (thường
là khăn mặt, khăn tay, vòng cổ, đồng hồ…) và hẹn gặp nhau ở các phiên chợkhác
Trang 36Trong dân ca truyền thống của dân tộc Sán Chay cũng có một số lượnglớn các bài hát giao duyên Thường được hát vào cuối đông đầu xuân, lúccông việc đồng áng đã xong, đặc biệt trong dịp tết nguyên đán Nam nữ thanhniên mỗi khi gặp hoặc hẹn hò nhau hát, qua đó tỏ tình, hẹn ước lứa đôi NgườiSán Chay lưu truyền câu chuyện về sự ra đời của điệu hát Lưu Tam Ngàyxửa, ngày xưa, có nàng Làu Slam mồ côi, xinh đẹp, đã xuất khẩu thành thơnhững bài hát đối đáp này Người đời sau thấy hay nên ghi chép lại, càng hátcàng hay, hát mãi không thấy chán Sau đây là mấy câu giao duyên:
Nam hát:
Ăn cơm nhớ em dành nửa bát Uống rượu nhớ em dành nửa chén Đêm nằm nhớ em dành nửa chiếu Tỉnh giấc xoay người đâu thấy em
Nữ đối đáp:
Cùng hát nơi đây rồi sẽ chia lìa
Có phúc ngày gặp nhau ba lần Không có phúc dần dần xa nhau Được yêu anh- không ai hơn nữa
Dân ca dân tộc Mông ở Bắc Kạn có 2 loại chủ yếu là hát giao duyên vàhát nghi lễ Hát giao duyên của người Mông là thể loại phổ biến nhất Khôngchỉ có các nam nữ thanh niên mà cả lớp người cao tuổi cũng yêu thích Họkhông chỉ hát trong các dịp lễ mà còn hát khi đi làm nương, đi chợ, đi thămbạn bè Hát nghi lễ thường dùng trong lễ cưới xin và ma chay Nếu trong lễcưới, lời hát thay cho lời nói thông thường để tăng thêm ý nghĩa và sự vui vẻ,long trọng cho ngày cưới thì trong lễ cúng ma, lời hát dùng để gọi hồn, kểcông ơn cha mẹ - người chết
- Loại hình luận lý: Tục ngữ, Câu đố
Tục ngữ
Trang 37Bên cạnh những lời ca, câu hát dân gian thể hiện sinh động vẻ đẹp tâmhồn nhân dân, ta còn thấy vẻ đẹp trí tuệ sâu sắc của người dân tộc thiểu số BắcKạn qua các câu tục ngữ, thành ngữ, câu đố.
Giống như người Kinh, đồng bào các dân tộc thiểu số Bắc Kạn cũng cómột “kho” tục ngữ đúc kết các kinh nghiệm về dự đoán thời tiết và những kinhnghiệm trong sản xuất, gieo trồng Phong phú nhất phải kể đến tục ngữ của
người Tày: Sấm tháng một, bẩy người chung củ khoai/ Sấm tháng chạp, được gánh gồng/Sấm tháng giêng, nước ngập tràn mọi nơi/Sấm tháng hai, đi đào bới củ/ Sấm tháng hai, em đến chị về không); Cày ruộng từ tháng chạp/Gánh lúa gãy đòn gánh; Cấy lúa sau ve sầu kêu/Lúa không đủ ăn qua bữa tết; Gừng
sợ thuồng luồng (trồng nông)/Khoai sợ hổ (trồng sâu; Người Mông cũng có nhiều câu ca dao về thời vụ - sản xuất: “Tháng ba chặt cây lanh/Tháng 7 chặt cây gai; Tháng 7 trồng củ kiệu/Tháng 8 trồng củ tỏi/Kiệu lên nương,lúa về nhà/Lúa về nhà/Kiệu lên nương”, nhiều câu dạy con người tinh thần biết đoàn kết: “Một chân đứng không vững/Một tay vỗ không vang”
Bên cạnh những kinh nghiệm trong lao động, xản xuất, đồng bào cácdân tộc thiểu số Bắc Kạn cũng rất chú trọng việc nuôi dạy con cháu Rất nhiều
câu tục ngữ mang nội dung giáo dục đạo đức, gia đình, xã hội, (Ấm không gì hơn đống lửa/Thân thương không gì hơn bố mẹ); (Cưỡi ngựa leo đèo/Mới biết công lao cha mẹ); (Nghe lời cha mẹ làm được ăn/Nghe lời ve sầu (nghe lời thiên hạ) thì chết đói); (Vợ chồng hòa thuận/No ấm suốt đời); (Vợ chửi, chồng không nói một lời/Chồng chửi, vợ nín lời làm ăn)…Ta nghe thấy những lời răn dạy thật quen thuộc như những câu tục ngữ của người Kinh: (Công cha như núi Thái sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra); (Cá không ăn muối cá ươn/Con
cưỡng cha mẹ trăm đường con hư); (Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng
Trang 38bàn chín lần chết); biết sống khôn khéo, sao cho vừa lòng mọi người: (Gà ba lần vỗ cánh mới gáy/Người ba lần ướm lời mới nói ra); Phải biết coi trọng phẩm giá con người hơn tiền bạc, của cải (Tiền bạc như rau cỏ/ Danh giá đáng ngàn vàng); Luôn biết khiêm tốn học hỏi, học không ngừng (Học chữ học đến chết/Chữ có nhiều/ Học khôn học đến già/Cát có ít); Phải biết đoàn kết để tạo nên sức mạnh (Nhiều người nuôi nhiều người mới sống/Một mình nuôi một mình mới chết) …
Tục ngữ các dân tộc Bắc Kạn còn phê phán các thói hư tật xấu, khuyêncon người phải biết chăm chỉ làm ăn, sống lương thiện, biết tự lực cánh sinh:
(Tiền bạc ở sâu ba trượng/Ai chăm chỉ chịu khó là được); (Ngay thẳng ăn không hết/Ngoắt ngoéo ăn không đủ); (Của cải mình làm ra như nước nguồn/Của cải cha mẹ cho như nước lũ)…
Quá trình lao động, sản xuất, đấu tranh, con người đã đúc kết đượcnhiều kinh nghiệm quý báu, được gói gọn trong những câu nói dân gian (tụcngữ, thành ngữ), trở thành triết lý sống chung cho tất cả mọi người Phổ biếnnhất là tục ngữ của dân tộc Tày ở Bắc Kạn (nói chung) và người Tày ở vùng
hồ Ba Bể (nói riêng) với nội dung hết sức phong phú, bao gồm: Tục ngữ vềquê hương, đất nước, về tự nhiên và lao động, về đời sống vật chất, về cácquan hệ gia đình
– xã hội, về các quan niệm nhân sinh Chẳng hạn: Ếch nhái kêu trời mưa/ Diều hâu lượn cao trời nắng; Trời có mây hình vẩy cá thì mưa/ Trời có mây hình vẩy beo thì nắng; Sấm mưa về tháng 11 không làm cũng dược ăn/ Sấm mưa về tháng 12 làm ăn bấp bênh… Có cả tục ngữ của đồng bào Mông đúc kết kinh nghiệm gieo trồng: “Tháng ba chặt cây lanh/Tháng 7 chặt cây gai”…
Câu đố
Trong đời sống hàng ngày, có nhiều hiện tượng thú vị, bí ẩn đòi hỏi conngười không ngừng phải tư duy đề nâng cao hiểu biết Những câu đố dân gian
ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu trí tuệ của nhân dân Người dân tộc thiểu số có
rất nhiều câu đố thú vị Người Mông có nhiều câu đố với nhiều đề tài: Bốn anh em khiêng một tấm ván (cái bàn), Ba chị em cuốn chung một chiếc khăn
(Cái
Trang 39kiềng), Ăn sống được/Ăn chín được/Trồng không nên (Hạt muối)…Người Sán
Chay cũng có rất nhiều câu đố liên quan đến các sự vật xung quanh cuộc sống:
Cắt cổ không máu/Mổ người không vết thương ở da (Con kiến), Bên kia núi/Bên này núi/ Tối đến hai núi chập vào nhau (mi mắt), Bé thì đầu trơn/Lớn thì đầu xù ra (cây tre)…
So với loại hình luận lý của văn học dân gian dân tộc Kinh, tục ngữ,thành ngữ, câu đố của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Bắc Kạn chưađược sưu tầm, giới thiệu nhiều, song nó cho thấy đời sống văn hóa tinh thầnđặc sắc, thể hiện trình độ tư duy, trí tuệ của người dân tộc thiểu số vùng miềnnúi phía Bắc Họ vốn là người dân tộc chất phác, thật thà, giản dị, sống chủyếu trong môi trường tự nhiên thiên nhiên hài hòa, có tính tự cấp, tự túc chonên họ ít phải tư duy đấu tranh để tồn tại Nhưng không vì thế, họ thôi khaokhát tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh mình
1.3 Vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.3.1 Lý thuyết loại hình
- Khái niệm loại hình: Theo Từ điển tiếng Việt, loại hình là tập hợp các
sự vật, hiện tượng có cùng chung những đặc trưng cơ bản nào đó
- Lý thuyết loại hình và các công trình ứng dụng lý thuyết loại hìnhtrong nghiên cứu truyện kể dân gian
+ Công trình lý luận Mỹ học của Hêgel là “cẩm nang” quan trọng để
hình
thành tư duy loại hình khi giải quyết vấn đề loại hình thơ mới
+ Công trình Hình thái học truyện cổ tích của V.Ia.Propp Ông tập
trung nghiên cứ hình thức, hình dạng của truyện cổ tích Trong đó, theo Propp,chức năng hoạt động của nhân vật là yếu tố bất biến, nó chi phối sự hìnhthành, vận động của truyện cổ tích thần kỳ
+ Công trình Những vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu văn học của M.B Khravchenco cũng đã đặt ra vấn đề phương pháp nghiên cứu
loại hình và phương pháp so sánh, tình tương đồng loại hình và những sự lặplại mang
Trang 40tính bắt chước … Ông cũng đưa ra quan điểm của mình về phương pháp loạihình: đó là phương pháp cho phép chúng ta nói tới tính “cộng đồng thẩm mĩ”của một nhóm đối tượng dựa trên những tiêu chí nhất định.
1.3.2 Các khái niệm liên quan
* Type: Là “kiểu”, “loại”, “loại hình”
Nhà folklore Stith Thompson trong Standard Dictionnary of Folklore
định nghĩa: “Type là những cốt kể có thể tồn tại độc lập trong kho truyềnmiệng Dù đơn giản hay phức tạp, truyện nào cũng được kể như cốt kể độc lậpđều được xem là một tipe Có những cốt kể dài chứa đựng hàng tá mô típ, lại
có những truyện kể ngắn như những mẫu kể trong các chùm truyện về súc vật,
có thể chỉ có một mô típ đơn lẻ Trường hợp đó, type và motif đồng nhất.”
Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc trong công trình Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif (Nxb Khoa học xã hội, H, 2001) cũng đã chỉ ra “type và motif
chính là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bềnvững của truyện kể dân gian”
Trong ngôn ngữ thông thường, type chỉ một lớp những vật thể có những
đặc điểm chung Nó được dịch là kiểu, kiểu mẫu, đại diện điển hình Dựa trênnghĩa chung đó, khoa học dân gian đã dung thuật ngữ tipe để chỉ tập hợpnhững mẫu truyện mà không chỉ từng truyện kể riêng lẻ, những mẫu truyện đó
phải có chung một cốt kể Như vậy, type là một cốt kể với tất cả những dị bản
của nó và trở thành một kiểu truyện tức là một đơn vị truyện độc lập phân biệtvới những đơn vị truyện khác
- Motip: Là chủ đề, đơn vị cốt truyện Trong mỗi kiểu truyện (tip truyện)
có nhiều mô típ
Thuật ngữ “Môtip” phiên âm tiếng Pháp là motif, tiếng Đức là motive đều bắt nguồn từ tiếng La Tinh: moveo - chủ động; học thuật Trung Hoa dịch
là mẫu đề, có nguồn gốc gắn với văn hóa âm nhạc,lần đầu tiên được ghi trong
từ điển âm nhạc của Brosane, được Goethe ghi trong từ điển văn học về thi ca