1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Chế định biện pháp tư pháp trong luật hình sự việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

203 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Định Biện Pháp Tư Pháp Trong Luật Hình Sự Việt Nam – Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Hà Lệ Thủy
Người hướng dẫn TS. Phạm Mạnh Hùng, TS. Hoàng Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (10)
    • 1. Lý do chọn đề tài (0)
    • 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án (13)
      • 2.1. Mục tiêu của luận án (13)
      • 2.2. Nhiệm vụ của luận án (13)
    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
      • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (14)
      • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu (0)
    • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án (0)
    • 6. Kết cấu của luận án (0)
    • 1. Tình hình nghiên cứu tro ƣớc (17)
      • 1.1. Các công trình nghiên cứu về các biện pháp tư pháp nói chung (0)
      • 1.2. Các công trình nghiên cứu về từng biện pháp tư pháp cụ thể (0)
    • 2. Tình hình nghiên cứu ở ƣớc ngoài (0)
      • 2.1. Các công trình nghiên cứu về các biện pháp tư pháp nói chung (0)
      • 2.2. Các công trình nghiên cứu về từng biện pháp tư pháp cụ thể (0)
      • 3.1. Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa và tiếp tục phát triển (0)
      • 3.2. Những vấn đề liên quan đến luận án chưa được giải quyết ho c tiếp tục nghiên cứu (0)
      • 3.3. Giả thuyết nghiên cứu (0)
      • 3.4. Câu hỏi nghiên cứu (35)
      • 3.5. Hướng tiếp cận của luận án (0)
  • CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP (37)
    • 1.1. Những vấ ề lý luận về biện pháp tƣ p p (37)
      • 1.1.1. Khái niệm, đ c điểm của biện pháp tư pháp (0)
      • 1.1.2. Vai trò của biện pháp tư pháp (51)
      • 1.1.3. Phân loại biện pháp tư pháp (55)
      • 1.1.4. Phân biệt biện pháp tư pháp với hình phạt (58)
      • 1.2.1. Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 (66)
      • 1.2.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 (68)
      • 1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến trước khi (70)
      • 1.2.4. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 cho đến trước khi (73)
    • 1.3. Khái quát pháp luật hình sự một số ƣớc về các biệ p p tƣ p p (0)
      • 1.3.1. Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Thụy Điển (78)
      • 1.3.2. Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự cộng h a Pháp (79)
      • 1.3.3. Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Đức (81)
      • 1.3.4. Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Liên bang Nga (83)
      • 1.3.5. Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Trung Quốc (86)
  • CHƯƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP THE UY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG (93)
    • 2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việ ệ ề biệ p áp ư p áp (0)
      • 2.1.1. Quy định về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (94)
      • 2.1.2. Quy định về biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa ho c bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi (100)
      • 2.1.3. Quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh (105)
      • 2.1.4. Quy định về biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (110)
      • 2.1.5. Quy định về biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (114)
    • 2.2. Thực tiễn áp dụ quy ịnh của pháp luật về biệ p p tƣ p p ở Việt Nam từ ăm 2008 ăm 2017 (0)
      • 2.2.1. Tình hình áp dụng các biện pháp tư pháp ở Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2017 (122)
      • 2.2.2. Những vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp (141)
      • 2.2.3. Nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp (156)
    • 3.1. Các y u tố ảm bảo áp dụ ú quy ịnh về các về biệ p p tƣ p p (165)
    • 3.2. Hoàn thiệ quy ịnh pháp luật về các biệ p p tƣ p p (167)
      • 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp (167)
      • 3.2.2. Hoàn thiện các quy định hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự liên quan đến các biện pháp tư pháp (0)
    • 3.5. Hoàn thiện tổ chứ ơ qu t i ói u v ơ qu t i các biệ p p tƣ p p ói ri (182)
    • 3.6. Ti p tụ ầu tƣ â ấp hệ thố ơ sở vật chất, hạ tầ p ứng việc (183)
    • 3.7. Một số giải pháp khác (184)
    • D. KẾT LUẬN (187)
  • ảng 6.2: Tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp từ năm 2008 đến năm 2017 (0)
  • ảng 7.2: Các tội danh do người dưới 18 tuổi thực hiện có áp dụng biện pháp tư pháp (0)

Nội dung

Luận án tiến sĩ Chế định biện pháp tư pháp trong luật hình sự việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn Luận án tiến sĩ Chế định biện pháp tư pháp trong luật hình sự việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

Những vấ ề lý luận về biện pháp tƣ p p

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tư pháp

1 hái niệm biện pháp tư pháp

BPTP, hay biện pháp đảm bảo an toàn, có nguồn gốc từ thế kỷ XIX, khi ranh giới giữa hình phạt và các biện pháp hình sự khác chưa rõ ràng Các nhà lập pháp nhận thấy cần phải ngăn chặn những đối tượng nguy hiểm trước khi họ phạm tội bằng cách hạn chế một số quyền, như tước vũ khí hay tịch thu tài sản Đến đầu thế kỷ XX, các biện pháp này được quy định trong Bộ luật hình sự (PLHS) và đã được mở rộng để bao gồm cả điều trị, cải huấn và bảo vệ quyền lợi cá nhân Tuy nhiên, ở một số quốc gia, các biện pháp cưỡng chế hình sự không được quy định trong PLHS mà được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác, phản ánh sự khác biệt trong kỹ thuật pháp lý hơn là nội dung áp dụng.

Trong khi hầu hết các quốc gia đều có cách gọi thống nhất cho hình phạt, thì các biện pháp cưỡng chế ngoài hình phạt lại được đặt tên khác nhau Khoa học luật hình sự quốc tế sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau cho các biện pháp này Một số quốc gia như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ý và Colombia gọi chúng là "các biện pháp an ninh" Trong khi đó, luật hình sự Đức lại sử dụng thuật ngữ "các biện pháp xử lý cải thiện và đảm bảo an toàn", nhấn mạnh vào việc cải thiện tình trạng của người phạm tội nhằm bảo vệ xã hội và ngăn ngừa tái phạm.

Trong lĩnh vực pháp luật, có nhiều tài liệu đề cập đến các biện pháp an ninh và bảo vệ phạm, thường được gọi là biện pháp trừng trị tội phạm Các thuật ngữ này phản ánh các phương thức nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ xã hội khỏi hành vi phạm tội.

Uy gọi là biện pháp trừng trị khác, nhấn mạnh tính chất trừng trị của các biện pháp này LHS của Thổ Nhĩ Kỳ gọi là "phòng ngừa an ninh", trong khi LHS Nga sử dụng thuật ngữ "biện pháp pháp luật hình sự khác" để phân biệt với hình phạt, là biện pháp xử lý chính thức được quy định trong LHS và áp dụng cho mọi đối tượng phạm tội.

Trong khoa học luật hình sự nước ngoài, thuật ngữ "các biện pháp ngoài hình phạt" hay "các biện pháp phi hình phạt" được sử dụng để phân biệt với hình phạt, như đã nêu trong hướng dẫn của Tòa án nhân quyền Châu Âu về Điều 7 của Công ước châu Âu về nhân quyền Hướng dẫn này không chỉ định nghĩa hình phạt mà còn liệt kê các loại hình phạt, đồng thời nhấn mạnh bản chất và mục đích của hình phạt, cũng như các thủ tục liên quan Bên cạnh hình phạt, một số biện pháp phòng ngừa cũng có thể tác động đáng kể đến đối tượng, chẳng hạn như các biện pháp an ninh, giam giữ, cấm lãnh thổ, và giám sát cảnh sát Các biện pháp này không chỉ được quy định trong luật hình sự mà còn trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, hành chính và dân sự Tên gọi "các biện pháp an ninh" phản ánh tính chất cưỡng chế và mục đích bảo vệ xã hội, áp dụng không chỉ cho người đã phạm tội mà còn cho những đối tượng có nguy cơ gây nguy hiểm cho an toàn xã hội, như người bị bệnh tâm thần hay người nghiện ma túy.

Trong các tài liệu pháp luật hiện nay, hầu hết đều thống nhất gọi các biện pháp cưỡng chế ngoài hình phạt là "biện pháp tư pháp" Bản chất của các biện pháp này là cưỡng chế hình sự, tuy nhiên, một số nhà khoa học lại gọi chúng là biện pháp phi hình phạt Các biện pháp phi hình phạt không chỉ bao gồm các biện pháp cưỡng chế hình sự ngoài hình phạt mà còn bao gồm giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tha miễn, án treo, và cả các biện pháp hành chính hoặc dân sự Do đó, các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành có thể được hiểu là biện pháp phi hình phạt, nhưng không nên đồng nhất giữa thuật ngữ "biện pháp phi hình phạt" với "biện pháp tư pháp".

Các biện pháp tư pháp được gọi là các biện pháp không phải là hình phạt, tuy nhiên, việc định danh này đã rõ ràng mà không cần bổ sung thêm cụm từ “không phải là hình phạt” Điều này giúp hiểu rằng các biện pháp này khác biệt với hình phạt Cả hình phạt và các biện pháp tư pháp đều là những biện pháp cưỡng chế hình sự, nhưng chúng có sự khác nhau về tính chất, nội dung, vai trò và đặc điểm, do đó cần phân biệt giữa hai loại biện pháp này.

Việc gọi tên các biện pháp khác ngoài hình phạt trong luật hình sự không thống nhất giữa các quốc gia, trong khi hình phạt lại có sự đồng nhất trong cách gọi Điều này phản ánh sự khác biệt trong mục đích sử dụng các biện pháp này, phụ thuộc vào chính sách hình sự, kinh tế, chính trị và văn hóa của mỗi nước Tại Việt Nam, một số biện pháp vừa mang tính hành chính, dân sự, vừa là biện pháp xử lý hình sự, mặc dù tên gọi và nội dung có thể giống nhau nhưng bản chất lại khác nhau Các biện pháp xử lý hình sự được thiết kế để hỗ trợ hình phạt, tăng cường khả năng xử lý tội phạm và bảo vệ quyền lợi của bên bị thiệt hại Chúng được áp dụng đồng thời hoặc sau hình phạt, với một số biện pháp đặc biệt có thể áp dụng độc lập Các biện pháp này do các cơ quan tư pháp, chủ yếu là Tòa án, thực hiện và tuyên bố nhân danh nhà nước Do đó, việc gọi tên "biện pháp tư pháp" giúp phân biệt với các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Để đảm bảo tính khoa học trong việc nghiên cứu chế định BPTP trong luật hình sự Việt Nam, việc sử dụng thuật ngữ "biện pháp tư pháp" là cần thiết nhằm làm rõ nội hàm và tính chất của các biện pháp này.

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các quan niệm về các biện pháp tư pháp hình sự (PTP) đã được đề cập khác nhau Cuốn "Danh từ pháp luật lược giải" của Thẩm phán Trần Thúc Linh đã chỉ ra rằng hiện nay không có quy chế rõ ràng về các biện pháp này, mà chỉ có những giải pháp riêng lẻ chia thành hai loại: biện pháp đối vật và biện pháp đối nhân Biện pháp đối vật bao gồm việc tịch thu đặc biệt, công bố bản án và đóng cửa tiệm buôn hay xí nghiệp, trong khi biện pháp đối nhân liên quan đến việc an trí những người mắc bệnh loạn óc, giam giữ những người hành khất và những kẻ vô gia cư Tội biệt x và trục xuất ngoại kiều cũng là những biện pháp an ninh, trong đó biệt x thực chất là hình phạt hơn là biện pháp an ninh Khái niệm PTP cũng được đề cập trong cuốn sách "Hình luật", nhấn mạnh rằng đây là những biện pháp cá nhân có tính chất bắt buộc, không mang tính trừng phạt mà nhằm ngăn ngừa tội trạng từ những cá nhân nguy hiểm cho xã hội Biện pháp an ninh không có tính chất hình phạt, áp dụng cho những người vô trách nhiệm như trẻ vị thành niên và người tâm thần, và có thể được xem xét lại bất cứ lúc nào.

Khái niệm PTP đã được làm rõ bởi nhiều nhà khoa học trong các từ điển chuyên ngành Theo "Từ điển Luật học" của Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp, PTP là biện pháp cưỡng chế nhà nước quy định trong luật hình sự, do tòa án áp dụng nhằm thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt Tương tự, "Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp-Việt" định nghĩa PTP là các biện pháp hình sự do Bộ luật hình sự quy định, áp dụng đối với những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, với tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt Một nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng PTP là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nhằm ngăn ngừa tội phạm và giáo dục công dân thành những người có ích cho xã hội Những quan niệm này mở rộng đối tượng áp dụng, bao gồm cả người phạm tội và người có hành vi nguy hiểm, đồng thời xác định rõ mục đích của các PTP.

Gần đây, nhiều công trình khoa học luật hình sự, bao gồm sách chuyên khảo và giáo trình đại học, đã đưa ra khái niệm về biện pháp tư pháp (BPTP) Các tác giả ghi nhận nội dung của các PTP, xác định rõ thẩm quyền và đối tượng áp dụng, cũng như mục đích của việc áp dụng BPTP.

Các biện pháp tư pháp là những hình thức cưỡng chế mà Nhà nước áp dụng thông qua Viện kiểm sát hoặc Tòa án đối với những người phạm tội hoặc những cá nhân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong trường hợp họ mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh lý khác làm suy giảm khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân.

Biện pháp tư pháp là hình thức cưỡng chế của Nhà nước, nhẹ hơn so với hình phạt hình sự theo quy định pháp luật Các biện pháp này do cơ quan tư pháp có thẩm quyền thực hiện trong giai đoạn tố tụng hình sự, nhằm hạn chế quyền và tự do của người phạm tội, đồng thời hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt.

- “ iện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định trong

Bộ luật hình sự được áp dụng nhằm xử lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội, góp phần bảo vệ trật tự xã hội và ngăn ngừa các tội phạm có thể xảy ra trong tương lai Điều này cũng liên quan đến tình trạng tâm lý của những người thực hiện hành vi phạm tội.

Dựa trên cơ sở các khái niệm về BPTP trong khoa học luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay, có thể nhận xét như sau:

Các quan niệm về PTP có sự khác biệt rõ rệt, đặc biệt trước và sau khi có LHS đầu tiên Những quan niệm này chỉ ra rằng PTP là biện pháp cưỡng chế hình sự, do các cơ quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng, được quy định trong luật hình sự, áp dụng cho người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về tên gọi và tính chất của PTP, cũng như chưa làm rõ tác dụng và mục đích của chúng trong hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự Các khái niệm về PTP của các tác giả Việt Nam chủ yếu dựa vào luật thực định và tư duy của nhà làm luật trong BLHS, do đó chưa mang tính khái quát và khoa học cao.

Khái quát pháp luật hình sự một số ƣớc về các biệ p p tƣ p p

Điều 8 Chương 1 BLHS Thụy Điển qui định: “Ngoài h nh phạt, luật pháp còn qui định các biện pháp đ c biệt khác áp dụng cho tội phạm như tịch thu tài sản, phạt tiền doanh nghiệp, b i thường thiệt hại và các biện pháp pháp lý khác theo qui định của pháp luật (Luật 986: 8)”[112] Các biện pháp nêu trên được qui định tại chương 36 với tên gọi là Các biệ p p c biệt khác M c dù không đưa ra khái niệm các biện pháp đ c biệt khác, tuy nhiên, BLHS Thụy Điển cũng đã xác định rằng các biện pháp pháp l đ c biệt này có thể được áp dụng đồng thời cùng với hình phạt: “Các qui định của luật pháp liên quan đến biện pháp xử lý đ c biệt phát sinh từ việc một người bị kết án cũng được áp dụng khi hình phạt khác qui định tại điều 3 chương được áp dụng” (Điều 11- Chương 36) ho c áp dụng độc lập với hình phạt: “…nếu chế tài đối với tội phạm đ bị hủy bỏ thì tòa án có th c n c vào hoàn cảnh cụ th mà quyết định sẽ áp dụng các biện pháp pháp lý n i trên”

Theo quy định tại Điều 1, 2 và 3 của chương 36, tài sản bị tịch thu bao gồm tài sản có được từ hành vi phạm tội, vật nhận được từ việc thanh toán chi phí liên quan đến tội phạm, và tài sản được sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm Ngoài ra, tài sản có thể bị tịch thu nếu việc đó cần thiết để ngăn chặn tội phạm hoặc vì lý do đặc biệt khác Việc tịch thu cũng có thể áp dụng đối với vật dụng có khả năng được sử dụng để phạm tội, như vũ khí trong các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, hoặc tài sản.

Biện pháp bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Hình sự Thụy Điển được thực hiện bởi Nhà nước, không phải cá nhân người phạm tội Cụ thể, nếu tài sản bị tịch thu tương đương với thiệt hại gây ra cho một cá nhân, Nhà nước sẽ bồi thường cho bên bị hại một khoản tương đương giá trị tài sản đã tịch thu Khoản bồi thường này sẽ được thực hiện theo quyết định tịch thu tài sản, và bên bị tịch thu sẽ được trừ các khoản bồi thường nếu có chứng minh hợp lệ.

BLHS Thụy Điển quy định biện pháp đưa vào cơ sở chăm sóc đặc biệt tại Điều 1, chương 31, áp dụng cho người phạm tội mắc bệnh tâm thần, bao gồm cả người chưa thành niên Biện pháp này dựa trên quy định của Luật về dịch vụ xã hội và Luật đặc biệt về chăm sóc thanh, thiếu niên của Thụy Điển Tòa án có quyền xem xét tình trạng tâm thần và hoàn cảnh cá nhân để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị tâm thần, cùng với việc hạn chế tự do và các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội do rối loạn tâm thần nghiêm trọng Đặc biệt, người mắc bệnh tâm thần ở mức độ cao sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, Tòa án cần tiến hành điều tra kỹ lưỡng để tránh việc truy cứu một người vì lý do tâm thần.

BLHS Thụy Điển quy định rằng doanh nghiệp có thể bị phạt tiền khi chủ doanh nghiệp không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nghĩa vụ kinh doanh (Điều 7), nhằm hỗ trợ cho hình phạt Nếu người phạm tội qua đời hoặc không thể bị xử lý vì lý do khác, biện pháp phạt tiền vẫn có thể được áp dụng (Điều 17) Ngoài ra, BLHS Thụy Điển cũng đề cập đến các biện pháp cưỡng chế hình sự khác, mặc dù không mô tả chi tiết, nhưng khẳng định rằng các quy định pháp lý liên quan đến biện pháp phát sinh từ việc một người bị kết án cũng sẽ được áp dụng khi có hình phạt khác theo điều 3 chương.

1.3.2 Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự ng h háp

PLHS Pháp đã thiết lập một hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự, được gọi là các biện pháp an ninh, nhằm bảo vệ xã hội và phục hồi chức năng cho người phạm tội Các biện pháp này không khắc nghiệt mà được phân thành nhiều nhóm, bao gồm cải tạo trẻ vị thành niên, chữa bệnh cho người phạm tội tình dục, và các biện pháp ngăn chặn như cấm lưu trú hoặc cấm hành nghề Ngoài ra, người phạm tội phải tuân thủ chế độ giám sát đặc biệt, bao gồm việc báo cáo di chuyển và trả lời triệu tập từ thẩm phán Các biện pháp an ninh còn được chia thành hai nhóm chính: các biện pháp trung hòa như trục xuất đối với người nước ngoài và các biện pháp giám sát liên quan đến lệnh cấm lưu trú, tập trung vào việc trung hòa hơn là phục hồi Các biện pháp này cũng bao gồm đình chỉ hoặc hủy bỏ giấy phép lái xe đối với những tài xế gây nguy hiểm cho công chúng.

Các biện pháp phục hồi chức năng tại Pháp tập trung vào việc cải thiện sức khỏe, thể chất và nhân cách của người phạm tội, thay vì chỉ chú trọng vào mục đích trừng phạt Hệ thống hình phạt của luật hình sự Pháp đa dạng và chặt chẽ, đảm bảo mục tiêu trừng phạt, cải tạo và giáo dục Nội dung hình phạt được cân nhắc kỹ lưỡng, giúp phân hóa trách nhiệm hình sự và răn đe người phạm tội về hành vi và hậu quả của họ Đặc biệt, các biện pháp cưỡng chế hình sự không chỉ được quy định trong luật hình sự mà còn trong các văn bản pháp luật khác, tạo nên một hệ thống xử lý hình sự toàn diện cho các đối tượng vi phạm.

Trong hệ thống hình phạt, các biện pháp an ninh áp dụng cho người phạm tội, đặc biệt là người dưới 18 tuổi và người từ 18 tuổi trở lên, bao gồm quản chế, đưa vào cơ sở, trục xuất và cấm lưu trú tại Pháp Mặc dù các biện pháp này mang tính hai mặt, bao gồm hình phạt và an ninh, nhưng các nhà lập pháp lại gộp chúng vào một khái niệm chung, chỉ phân loại theo mục đích mà không phân biệt bản chất Theo tác giả Jenny Frinchaboy, vị trí của các biện pháp an ninh trong pháp luật Pháp không rõ ràng, dẫn đến việc chúng không luôn được công nhận, ảnh hưởng đến tính chất của luật pháp.

PLHS của một số nước quy định rằng tổ chức có thể chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) dù không có tư cách pháp nhân, bao gồm cả pháp nhân có mục đích sinh lời và không có mục đích sinh lời BLHS Pháp đã quy định TNHS cho pháp nhân, trong đó có các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với pháp nhân phạm tội Tuy nhiên, ngoài TNHS, pháp nhân còn phải chịu trách nhiệm dân sự và có thể bị xử phạt hành chính từ cơ quan chính phủ, với hình thức phổ biến là phạt tiền trong các thủ tục tố tụng dân sự và hành chính.

1.3.3 Quy định về biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Đức

Theo LHS Đức, các biện pháp xử lý ngoài hình phạt được quy định tại chương ba, mục 6, bao gồm lưu trú bắt buộc trong bệnh viện tâm thần, trại cai nghiện, trại bảo đảm an toàn, quản chế, thu hồi giấy phép lái xe và cấm hành nghề Những biện pháp này không thuộc hệ thống hình phạt mà là một hệ thống xử lý hình sự riêng biệt nhằm cải thiện tình trạng của người bị áp dụng và đảm bảo an toàn cho xã hội Tòa án quyết định các biện pháp này dựa vào nghĩa của hành vi đã thực hiện và dự liệu, cũng như mức độ nguy hiểm từ phía người phạm tội.

Hậu quả phát sinh từ hình phạt bao gồm việc mất khả năng đảm nhiệm chức trách, quyền bầu cử và quyền biểu quyết, cũng như việc công khai bản án Những hậu quả này được áp dụng nếu không tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội và mức độ nguy hiểm của người thực hiện tội phạm.

LHS Đức quy định việc tịch thu tài sản liên quan đến tội phạm, bao gồm cả việc thu hồi và tịch thu các đồ vật do hành vi phạm tội tạo ra hoặc được sử dụng trong quá trình thực hiện tội phạm (Điều 74) Tài sản thu được từ hành vi phạm tội hoặc từ đồng phạm sẽ bị tịch thu, bao gồm cả lợi tức từ tài sản đó Ngoài ra, tài sản của người khác cũng có thể bị tịch thu nếu họ có lỗi cố ý hoặc vô ý cho phép người phạm tội sử dụng tài sản một cách trái pháp luật Tài sản bị tịch thu có thể là toàn bộ hoặc một phần tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội, với xem xét đến điều kiện sống của họ sau này.

LHS Đức quy định việc bồi thường thiệt hại liên quan đến tài sản bị tịch thu, trong đó chủ thể bồi thường không phải là người phạm tội Bồi thường này được thực hiện bằng tiền từ ngân khố quốc gia, tức là do nhà nước đảm nhận Quy định này áp dụng cho những người thứ ba là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản bị tịch thu hoặc mất khả năng sử dụng, miễn là họ không có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản đó.

Biện pháp lưu trú bắt buộc trong bệnh viện tâm thần theo LHS Đức áp dụng cho những người thực hiện hành vi trái pháp luật, nhằm bảo vệ xã hội khỏi những nguy cơ do họ gây ra Điều 63 BLHS Đức quy định rằng tòa án có thể ra lệnh lưu trú bắt buộc nếu người phạm tội không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc năng lực này bị hạn chế, và hành vi của họ có thể gây nguy hiểm cho cộng đồng Mục tiêu của biện pháp này là ngăn chặn khả năng tái phạm và đảm bảo an toàn cho xã hội Tòa án không chỉ xem xét hành vi đã thực hiện mà còn phải đánh giá các hành vi có thể xảy ra và mức độ nguy hiểm của người phạm tội.

LHS Đức quy định rằng người phạm tội sau khi hoàn thành hình phạt có thể bị áp dụng biện pháp lưu trú bắt buộc trong trại an toàn với thời hạn 2 năm Điều kiện áp dụng biện pháp này bao gồm hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị phạt tù từ 2 năm trở lên, hoặc đã từng bị kết án 2 năm tù, hoặc đã được xử lý cải thiện nhưng vẫn tái phạm Ngoài ra, nếu nạn nhân bị thiệt hại nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần, hoặc phạm 3 tội với lỗi cố ý, mỗi tội bị phạt tù từ 1 năm trở lên, cũng có thể bị áp dụng biện pháp này Điều 67a quy định rằng nếu trong thời gian chấp hành biện pháp lưu trú, có thể xét thấy việc xử lý ngoài cộng đồng phù hợp hơn, tòa án có thể chỉ định biện pháp xử lý khác Điều này cho thấy LHS Đức rất linh hoạt trong việc áp dụng các biện pháp xử lý cải thiện và đảm bảo an toàn.

CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP THE UY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Ngày đăng: 04/07/2021, 18:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến , định hướng đến 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến , định hướng đến 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng t m c ng tác tư pháp thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng t m c ng tác tư pháp thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến n m , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến n m
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Quốc hội (2016), Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
5. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1985
6. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
7. Quốc hội, (2010), Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam n m 999 được sửa đổi, bổ sung n m 9, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam n m 999 được sửa đổi, bổ sung n m 9
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
8. Quốc hội, (2016), Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam n m 5, sửa đổi, bổ sung năm 2017, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam n m 5
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
9. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
10. Quốc hội (2016), Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
11. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước CH HCN iệt Nam n m 3,NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước CH HCN iệt Nam n m 3
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
12. Quốc hội (2017), uật sửa đổi, bổ sung một số điều của ộ luật h nh sự số 100/2015/QH13, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: uật sửa đổi, bổ sung một số điều của ộ luật h nh sự số 100/2015/QH13
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2017
13. Quốc hội (2020), Luật Thi hành án h nh sự n m 9, NXB Chính trị Quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thi hành án h nh sự n m 9
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2020
14. Quốc hội (2002), Luật xử lý vi phạm hành chính n m , NXB Chính trị Quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính n m
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
15. Dương Thanh An (2011), rách nhiệm h nh sự đối với các tội phạm về m i trường”, Luận án tiến sĩ, học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: rách nhiệm h nh sự đối với các tội phạm về m i trường”
Tác giả: Dương Thanh An
Năm: 2011
16. Trần Văn An, Xử lý vật ch ng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước: cần sự phối hợp ch t chẽ giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan tài chính, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2010, tr.55-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý vật ch ng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước: cần sự phối hợp ch t chẽ giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan tài chính
17. Vũ Hải Anh (2012), rách nhiệm h nh sự của pháp nh n theo quy định của một số nước trên thế giới, tạp chí nghề Luật, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: rách nhiệm h nh sự của pháp nh n theo quy định của một số nước trên thế giới
Tác giả: Vũ Hải Anh
Năm: 2012
18. Nguyễn Hòa Bình, Về việc xác định trách nhiệm b i thường thiệt hại do người chưa thành niên phạm tội gây ra, Tạp chí kiểm sát, số 6/2002, tr.29, 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc xác định trách nhiệm b i thường thiệt hại do người chưa thành niên phạm tội gây ra
19. Nguyễn Mai Bộ, Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2001, tr.20- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999
20. Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp l (2001), nh luận khoa học ộ luật h nh sự phần chung), NX Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh luận khoa học ộ luật h nh sự phần chung)
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp l
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w