1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đô thị hóa tỉnh bình dương và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nguyễn thị hoài phương ; người hướng dẫn khoa học phạm thị xuân thọ, nguyễn viết thịnh

229 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 8,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT (34)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (34)
      • 1.1.1. Đô thị hóa (34)
        • 1.1.1.1. Đô thị (34)
        • 1.1.1.2. Đô thị hóa (35)
        • 1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa (38)
        • 1.1.1.4. Các tiêu chí đánh giá quá trình đô thị hóa (41)
      • 1.1.2. Cơ cấu sử dụng đất (46)
        • 1.1.2.1. Sử dụng đất (46)
        • 1.1.2.2. Cơ cấu sử dụng đất (46)
      • 1.1.3. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (47)
      • 1.1.4. Các tiêu chí đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (49)
        • 1.1.4.1. Quy mô và biến động diện tích đất đô thị (49)
        • 1.1.4.2. Chuyển dịch cơ cấu đất đô thị (50)
        • 1.1.4.3. Sự thay đổi mục đích sử dụng đất đô thị (51)
        • 1.1.4.4. Gia tăng giá trị đất đô thị (52)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn về đô thị hóa và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (53)
      • 1.2.1. Trung Quốc (53)
      • 1.2.2. Việt Nam (55)
      • 1.2.3. Đông Nam Bộ (58)
      • 1.2.4. Thành phố Hồ Chí Minh (60)
      • 1.2.5. Tỉnh Bắc Ninh (61)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA TỈNH BÌNH DƯƠNG (67)
    • 2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hóa tỉnh Bình Dương (67)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ (67)
      • 2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (68)
        • 2.1.2.1. Tài nguyên đất (68)
        • 2.1.2.2. Khí hậu (68)
        • 2.1.2.3. Tài nguyên nước (69)
      • 2.1.3. Điều kiện kinh tế, xã hội (69)
        • 2.1.3.1. Dân cư và lao động (69)
        • 2.1.3.2. Trình độ phát triển kinh tế, xã hội (72)
        • 2.1.3.3. Cơ sở hạ tầng (76)
        • 2.1.3.4. Đường lối và chính sách phát triển kinh tế (76)
        • 2.1.3.5. Toàn cầu hoá và các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (78)
      • 2.1.4. Đánh giá những thuận lợi và hạn chế các nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hoá tỉnh Bình Dương (80)
        • 2.1.4.1. Thuận lợi (80)
        • 2.1.4.2. Hạn chế (81)
    • 2.2. Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Dương (83)
      • 2.2.1. Khái quát chung lịch sử đô thị hóa tỉnh Bình Dương (83)
      • 2.2.2. Quy mô dân số đô thị, tỷ lệ dân số đô thị (84)
      • 2.2.3. Mật độ dân số đô thị (87)
      • 2.2.4. Trình độ kinh tế, xã hội đô thị (89)
        • 2.2.4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (89)
        • 2.2.4.2. Tăng trưởng kinh tế (90)
        • 2.2.4.3. Thu nhập bình quân đầu người (91)
        • 2.2.4.4. Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp (92)
      • 2.2.5. Cấu trúc không gian đô thị tỉnh Bình Dương (93)
        • 2.2.5.1. Mạng lưới đô thị (93)
        • 2.2.5.2. Cơ sở hạ tầng đô thị (96)
        • 2.2.5.3. Không gian đô thị (99)
    • 2.3. Đánh giá chung về thực trạng đô thị hoá (107)
      • 2.3.1. Thành tựu (107)
      • 2.3.2. Hạn chế (108)
  • Chương 3. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH BÌNH DƯƠNG (111)
    • 3.1. Biến động diện tích và cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình Dương (111)
    • 3.2. Chuyển dịch cơ cấu đất đô thị theo không gian (115)
      • 3.2.1. Thành phố Thủ Dầu Một (118)
        • 3.2.1.1. Quá trình đô thị hoá Thành phố Thủ Dầu Một (118)
        • 3.2.1.2. Ảnh hưởng của đô thị hoá đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đến Thành phố Thủ Dầu Một (120)
      • 3.2.2. Thị xã Dĩ An (123)
        • 3.2.2.1. Quá trình đô thị hoá thị xã Dĩ An (123)
        • 3.2.1.2. Ảnh hưởng của đô thị hoá đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất thị xã Dĩ An (126)
      • 3.2.3. Thị xã Thuận An (128)
        • 3.2.3.1. Quá trình đô thị hoá thị xã Thuận An (128)
        • 3.2.3.2. Ảnh hưởng của đô thị hoá đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đến thị xã Thuận An (130)
      • 3.2.4. Thị xã Bến Cát và thị xã Tân Uyên (132)
        • 3.2.4.1. Thị xã Bến Cát (132)
        • 3.2.4.2. Thị xã Tân Uyên (136)
    • 3.3. Đô thị hóa và mục đích sử dụng đất đô thị ở khu vực đang diễn ra đô thị hoá nhanh (140)
      • 3.3.1.1. Thời gian và mục đích thu hồi đất ở các hộ khảo sát (140)
      • 3.3.1.2. Giá đất đền bù và mức độ hài lòng của các hộ (141)
      • 3.3.1.3. Biến động sinh kế và thu nhập trước và sau khi thu hồi đất (141)
      • 3.3.1.4. Thay đổi về nghề nghiệp (143)
      • 3.3.2. Đánh giá chung ảnh hưởng của đô thị hoá đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (144)
        • 3.3.2.1. Tích cực (144)
        • 3.3.2.2. Tiêu cực (147)
    • 3.4. Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đến đô thị hoá (149)
  • Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2030 (154)
    • 4.1. Những căn cứ đề xuất giải pháp (154)
      • 4.1.1. Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 (154)
      • 4.1.2. Quy hoạch đô thị Vùng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (155)
      • 4.1.3. Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2030 (158)
        • 4.1.3.1. Thực trạng đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình Dương (158)
        • 4.1.3.2. Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương đến năm (161)
        • 4.1.3.3. Quy hoạch xây dựng đô thị tỉnh Bình Dương đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (163)
    • 4.2. Định hướng đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình Dương đến năm 2030 (164)
      • 4.2.1. Định hướng về đô thị hóa (164)
        • 4.2.1.1. Đề án phát triển đô thị thông minh Bình Dương (165)
        • 4.2.1.2. Định hướng cấu trúc không gian và chức năng đô thị (166)
      • 4.2.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (167)
    • 4.3. Một số giải pháp về đô thị hóa và sử dụng đất tỉnh Bình Dương (172)
      • 4.3.1. Giải pháp quy hoạch tổng thể và quản lý đô thị (172)
      • 4.3.2. Giải pháp về quy hoạch sử dụng đất (173)
      • 4.3.3. Giải pháp về phát triển công nghiệp, dịch vụ (176)
      • 4.3.4. Giải pháp về cơ sở hạ tầng (178)
      • 4.3.5. Giải pháp đẩy mạnh liên kết vùng đô thị (179)
      • 4.3.6. Giải pháp về xây dựng chính quyền đô thị (182)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT

Cơ sở lý luận

Đô thị được định nghĩa khác nhau trên thế giới, với các tiêu chuẩn riêng biệt cho từng quốc gia Theo các nhà nghiên cứu David Kaplan và Wheeler Holloway, đô thị là khu vực có mật độ dân cư cao, nơi người dân chủ yếu làm việc trong các ngành nghề không liên quan đến nông nghiệp Đây cũng là những trung tâm chính trị, kinh tế và xã hội, nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh tế phi nông nghiệp (David Kaplan, Wheeler Holloway, 2009).

Chức năng đô thị, theo Theo G Chabot, được xác định bởi các hoạt động chính tạo nên sự tồn tại và phát triển của đô thị, đồng thời mang lại lợi ích cho cộng đồng Mỗi đô thị có những chức năng riêng biệt, thường được phân chia thành ba nhóm chính: chức năng kinh tế, bao gồm thương mại, công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, và tài chính-ngân hàng; chức năng chính trị-hành chính; và chức năng văn hóa, bao gồm tôn giáo và các hoạt động văn hóa.

Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 của Việt Nam, đô thị được định nghĩa là khu vực có mật độ dân cư cao, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp và giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Đô thị Việt Nam được phân thành 6 loại: đô thị loại đặc biệt, loại I, II, III, IV, và V, mỗi loại có vai trò và chức năng riêng Việc phân loại đô thị dựa trên các tiêu chuẩn như chức năng đô thị, quy mô, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống hạ tầng và kiến trúc cảnh quan.

Nghiên cứu cho thấy, để một khu vực trở thành đô thị, cần tuân thủ các tiêu chuẩn quy định Tại Việt Nam, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, Chính phủ đã thiết lập quy định riêng cho từng vùng như vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo Ở những khu vực này, quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, trong khi các tiêu chuẩn khác cần đạt tối thiểu 70% Đối với các đô thị đặc thù, tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, đồng thời các tiêu chuẩn khác phải phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.

Đô thị là khu vực đông dân cư với mật độ cao, nơi tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (PNN) chiếm ưu thế trong cơ cấu lao động Hệ thống cơ sở hạ tầng ở đô thị tương đối phát triển, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ cụ thể.

+ Khái niệm về đô thị hoá

Quan niệm về đô thị hóa của Ildefonso Cerdà trong “Lý luận chung về đô thị hóa” nhấn mạnh rằng đô thị hóa không chỉ đơn thuần là sự gia tăng quy mô dân số và diện tích đô thị, mà còn bao gồm quy hoạch và xây dựng đô thị, thể hiện tính đa dạng về kinh tế, xã hội và môi trường Michael Pacione cũng bổ sung rằng đô thị hóa liên quan đến sự thay đổi trong quy mô và cơ cấu dân số, lối sống của cư dân, nhu cầu đất đai gia tăng và khoảng cách giàu nghèo trong các đô thị.

Đô thị hóa (ĐTH) là quá trình phát triển hệ thống thành phố, góp phần nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển xã hội và thay đổi phân bố lực lượng sản xuất (Nguyễn Minh Tuệ, 2005) Theo Michael Pacione (2009), đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố quan trọng thúc đẩy ĐTH tại các nước thế giới thứ ba, dẫn đến tăng trưởng đô thị dựa trên thâm dụng lao động và gia công sản phẩm xuất khẩu ĐTH còn thể hiện qua việc mở rộng ranh giới đô thị, tăng dân số đô thị và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng (Võ Kim Cương, 2013) Bên cạnh đó, ĐTH cũng dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng khu vực II và III, giảm khu vực I, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đô thị (Michael Spence & others, 2010) và là hiện tượng di cư từ nông thôn đến đô thị (Trương Quang Thao, 2004) Quá trình này còn bao gồm việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, làm tăng diện tích đất đô thị và thay đổi cơ cấu sử dụng đất (Michael Spence & others, 2010).

Quá trình đô thị hóa (ĐTH) là một hiện tượng phức tạp, nhưng chủ yếu được nghiên cứu từ khía cạnh gia tăng dân số đô thị so với tổng dân số của một khu vực, quốc gia hoặc địa phương ĐTH cũng được định nghĩa qua hiện tượng nhập cư vào đô thị, dẫn đến sự gia tăng về số lượng và mở rộng không gian đô thị.

Tóm lại, ĐTH là một khái niệm phức tạp và đa chiều, thể hiện qua các đặc điểm như gia tăng quy mô và tỷ lệ dân số đô thị, tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, gia tăng số lượng đô thị, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, và cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân.

+ Đặc điểm đô thị hoá

Đô thị hóa là một quá trình lịch sử, phản ánh sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với sự tiến bộ của loài người và sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội Quá trình này phát triển dựa trên các ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, với mỗi giai đoạn đô thị tương ứng với các phương thức sản xuất khác nhau (Võ Kim Cương, 2004; 2013).

Đô thị hóa đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ toàn cầu hóa, đặc biệt là tại các nước đang phát triển với các đô thị lớn Nền kinh tế thị trường thường bị chi phối bởi quy luật của nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến việc các chính sách trong nước phải thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, điều này cũng gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường và hạ tầng giao thông kém, như đã chỉ ra bởi Võ Kim Cương (2013).

Đô thị hóa thường diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa (CNH) khi nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường và hội nhập toàn cầu Nhiều địa phương, đặc biệt là các đô thị, đã thúc đẩy chính sách phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài, dẫn đến hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành phố Đồng thời, CNH cũng ảnh hưởng đến nông thôn, nâng cao năng suất lao động, khiến cho nguồn lao động dư thừa ở nông thôn di cư lên thành phố để tìm kiếm cơ hội việc làm.

+ Các giai đoạn đô thị hoá

Trong lịch sử phát triển nhân loại, quá trình chuyển đổi từ nền nông nghiệp sang nền công nghiệp đã diễn ra liên tục, dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc và tính chất lao động xã hội.

Đổi mới và khoa học - công nghệ đã tạo ra những biến chuyển lớn từ lao động chân tay đến lao động trí óc, dẫn đến sự thay đổi trong phân công lao động xã hội và phân bố lực lượng sản xuất Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn đến văn hóa tinh thần và môi trường sống Quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới Theo B Flierl (dẫn theo Trương Quang Thao, 2005), quá trình đô thị hóa thường được chia thành ba giai đoạn.

Giai đoạn 1 (thời kỳ tiền công nghiệp) của đô thị Việt Nam có đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp với sự phân bố phân tán, quy mô nhỏ và cơ cấu đơn giản Chức năng chủ yếu của đô thị trong giai đoạn này là hành chính, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Quá trình gia tăng dân số và số lượng đô thị diễn ra chậm, trong khi dân cư vẫn gắn bó chặt chẽ với hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Cơ sở thực tiễn về đô thị hóa và ảnh hưởng của nó đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

Chúng tôi chọn Trung Quốc lục địa làm mô hình học tập cho Việt Nam do có nền văn hóa và xã hội tương đồng, cùng với quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường diễn ra trước Việt Nam không lâu Trung Quốc có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế lạc hậu với phần lớn dân số sống nhờ nông nghiệp Tuy nhiên, từ những năm 1970, kinh tế Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng, hình thành nhiều siêu đô thị và đô thị lớn Đất đai ở Trung Quốc chủ yếu có giá trị cho sản xuất nông nghiệp nằm ở phía Đông, dẫn đến việc thay đổi mục đích sử dụng đất trong bối cảnh đô thị hóa Kinh nghiệm từ quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở Trung Quốc có thể áp dụng cho các đô thị tại Việt Nam dưới tác động của đô thị hóa.

Trung Quốc hiện nay là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới Từ năm 1949, khi chỉ có 136 thành phố và khoảng 54 triệu người đô thị, tỷ lệ dân số đô thị đã tăng lên 57,5% vào năm 2017 Điều đặc biệt là thời gian để tỷ lệ đô thị hóa từ 20% lên 40% chỉ mất 22 năm, trong khi Hoa Kỳ và Nhật Bản lần lượt mất 80 và 30 năm để đạt được mức tương tự.

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ dân số đô thị của Trung Quốc, 1980 - 2017

(Nguồn: https://www.worldometers.info)

Giai đoạn đầu, sự phát triển đô thị hóa (ĐTH) của Trung Quốc chủ yếu theo chiều rộng, dẫn đến tỷ suất vốn đầu tư cho 1000 m² đất xây dựng vào năm 2010 chỉ bằng 50% của Hoa Kỳ, 16,67% của Đức và 10% của Anh và Nhật, gây ra lãng phí và kém hiệu quả trong sử dụng đất Tuy nhiên, với tỷ lệ dân số đô thị tăng nhanh, Trung Quốc đã phát triển đô thị theo mạng lưới và chuyển sang mô hình đô thị nén Ước tính, diện tích đất xây dựng trong đô thị tăng 78,5% trong khi dân số đô thị chỉ tăng 46% trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI; diện tích đất nông nghiệp tăng 6,9% và diện tích đất đô thị tăng 28,3% trong giai đoạn 2000-2017, cho thấy sự gia tăng gấp đôi của cả hai loại đất này.

Biểu đồ 1.2 Tỷ trọng đất CN và đất đô thị của Trung Quốc (%)

Đô thị hóa tại Trung Quốc đã bùng nổ từ những năm 1990, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp Hiện tượng di cư từ nông thôn đến các thành phố lớn như Bắc Kinh và Thâm Quyến để tìm kiếm việc làm đã tạo ra áp lực lớn lên dân số, nhà ở và cơ sở hạ tầng Điều này dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong diện tích đô thị và không gian dành cho ngành công nghiệp.

Diện tích đất xây dựng đô thị đã tăng 58% từ năm 2001 đến 2015, chủ yếu lấy từ đất canh tác Tốc độ mở rộng không gian đô thị đạt trung bình 3,1% mỗi năm, gần bằng với tốc độ tăng dân số đô thị là 3,3% mỗi năm Điều này dẫn đến mật độ dân số đô thị tương đối ổn định trong giai đoạn này.

Việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp theo cơ chế thị trường đã biến đất đai thành công cụ chính sách quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Từ năm 2013, ngành dịch vụ đã đóng góp 47% GDP của Trung Quốc mà không yêu cầu nhiều đất, dẫn đến việc chính phủ phải tối ưu hóa đất trong phát triển công nghiệp Đô thị hóa Trung Quốc không chỉ diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh chóng mà còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chính phủ thông qua việc xây dựng nhiều đô thị mới Mặc dù dân số đô thị tăng hơn 130 triệu người từ 2000 đến 2010, mật độ đô thị gần như không thay đổi, điều này trái ngược với xu hướng gia tăng mật độ ở các nước Đông Á khác Tuy nhiên, nhiều khu đô thị mới lại rơi vào tình trạng "bỏ hoang" hoặc thiếu dân cư, như khu Lan Châu ở tỉnh Cam Túc và quận Kangbashi ở khu tự trị Nội Mông, dẫn đến lãng phí tài nguyên đất.

Quá trình đô thị hóa (ĐTH) là một quá trình kinh tế - xã hội phức tạp, chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị, từ nước nông nghiệp thành nước công nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt tại các đô thị và gia tăng số lượng đô thị Tại Việt Nam, quá trình chuyển dịch dân số giữa nông thôn và thành thị diễn ra chậm hơn so với mức trung bình toàn cầu, với tỷ lệ 54,4% vào năm 2017 ĐTH kết hợp với công nghiệp hóa (CNH) đã dẫn đến sự giảm lao động nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ gia tăng Sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), cùng với các dự án xây dựng khu dân cư và chỉnh trang đô thị, đã làm tăng diện tích đất ở, đất chuyên dùng và đất công cộng, chủ yếu thông qua việc chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất (CCSDĐ).

Biểu đồ 1.3 Quy mô và tỷ lệ DSĐT của Việt Nam, 2000 - 2017

Giai đoạn 2000 - 2017, tỷ trọng đất nông nghiệp (NN) tăng từ 63,6% lên 82,3%, trong khi tỷ trọng đất phi nông nghiệp (PNN) cũng tăng từ 5,9% lên 11,3% Đặc biệt, tỷ trọng đất chưa sử dụng giảm mạnh từ 30,5% xuống còn 6,4%, cho thấy quỹ đất chưa sử dụng đã chuyển dịch đáng kể sang nhóm đất NN và PNN.

Biểu đồ 1.4 Cơ cấu sử dụng đất của Việt Nam năm 2000 và 2017 (%)

Từ năm 2000 đến năm 2017, tỷ trọng đất PNN đã tăng gần gấp đôi, cho thấy sự chuyển dịch các loại đất phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của từng địa phương Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh chỉ ra rằng việc thu hồi đất diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào điều kiện kinh tế cụ thể.

NN chuyển sang mục đích sử dụng khác đang diễn ra mạnh (Nguyễn Thị Hồng

DS đô thị Tỷ lệ ĐTH

Từ năm 2000 đến 2017, tỷ trọng phân bố đất nông nghiệp (NN) vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất và có xu hướng tăng lên, chủ yếu do khai thác từ đất chưa sử dụng Mặc dù diện tích đất NN tăng 1,3 lần, nhưng mức tăng này thấp hơn so với đất phi nông nghiệp (PNN), với tỷ lệ tăng 1,9 lần trong cùng giai đoạn.

Năm 2000, MĐDS đô thị nước ta là 570 người/km 2 với diện tích đất đô thị là 2.200km 2 (https://bizlive.vn), chiếm 13,2% diện tích đất tự nhiên toàn quốc; năm

Năm 2017, mật độ dân số đô thị ở Việt Nam đạt khoảng 1.880 người/km², với tổng diện tích đất đô thị là 43.792 km², trong đó diện tích khu vực nội thị chiếm 18.766 km² Tổng diện tích đất đô thị chiếm 13,2% diện tích đất tự nhiên của cả nước.

Tỷ lệ đô thị hóa (ĐTH) ở Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng Năm 2000, Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước với tỷ lệ ĐTH gấp 2,3 lần mức trung bình toàn quốc, trong khi Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đứng thứ hai, chỉ đạt mức gần bằng cả nước Đến năm 2017, Đông Nam Bộ vẫn duy trì vị trí cao nhất với tỷ lệ ĐTH gấp 1,79 lần so với cả nước Tuy nhiên, ĐBSH ghi nhận mức tăng trưởng ĐTH cao nhất với 16,5%, tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung với 9,3%, Đồng bằng sông Cửu Long với 8%, và Đông Nam Bộ với 7,7% Khu vực có tỷ lệ đô thị hóa thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc, chỉ đạt 18,5%.

Bảng 1.3 Tỷ lệ DS đô thị tỷ trọng đất PNN các vùng nước ta năm 2000, 2017

STT Vùng Tỷ lệ ĐTH (%) Tỷ trọng đất PNN (%)

1 Trung du miền núi phía Bắc

Tại Việt Nam, những khu vực có tỷ lệ dân số đô thị gia tăng mạnh mẽ như Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đông Nam Bộ chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể về tỷ lệ đất phi nông nghiệp (PNN), lần lượt đạt 6,28% và 8,47% Trong khi đó, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tăng 10,39%, cho thấy sự phát triển nhanh chóng của đô thị hóa Ngược lại, các vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ đất PNN tăng chậm hơn Đặc biệt, Đông Nam Bộ và ĐBSH sở hữu tỷ lệ dân số đô thị cao nhất nhờ sự hiện diện của hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM, với dân số đô thị lần lượt là hơn 3,9 triệu và 6,7 triệu, thu hút một lượng lớn dân nhập cư.

Từ năm 2000 đến 2017, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (PNN) tại Việt Nam đã tăng từ 32% lên 59,8%, theo số liệu của Tổng cục Thống kê Mặc dù tỷ lệ lao động trong nhóm ngành PNN tăng nhưng vẫn diễn ra chậm, trong khi đó nhóm ngành nông nghiệp (NN) giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao, với 40,2% vào năm 2017 Sự chuyển dịch này cho thấy khi nền kinh tế ngày càng số hóa, tỷ lệ lao động trong NN giảm dần ở cả đô thị lẫn nông thôn, trong khi lao động PNN lại tăng nhanh chóng tại các khu vực đô thị.

THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA TỈNH BÌNH DƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH BÌNH DƯƠNG

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2030

Ngày đăng: 04/07/2021, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w