Với những thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nhận xét kết quả sàng lọc trước sinh hội chứng Down, Patau, Edwards của xét nghiệm NIPT tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019” vớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN THỊ MAI ANH
NHẬN XÉT KẾT QUẢ SÀNG LỌC TRƯỚC SINH HỘI CHỨNG DOWN, PATAU, EDWARDS CỦA XÉT NGHIỆM
NIPT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH Y ĐA KHOA
HÀ NỘI 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NHẬN XÉT KẾT QUẢ SÀNG LỌC TRƯỚC SINH HỘI CHỨNG DOWN, PATAU, EDWARDS CỦA XÉT NGHIỆM NIPT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm đề tài khóa luận này, em có cơ hội được làm nghiên cứu, được học hỏi thêm nhiều điều về lĩnh vực mà tôi đam mê Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu từ phía các thầy cô, bạn bè và những người thân trong gia đình của em
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ThS.BS Trương Quang Vinh – Bộ môn sản phụ khoa- Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia
Hà Nội và thầy ThS Mạc Đăng Tuấn – Bộ môn Y Dược cộng đồng và Y học dự phòng- Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội là nhữngngười trực tiếp hướng dẫn cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận
Em xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm Khoa Y Dược, Ban giám đốc bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cùng toàn thể các thầy cô bộ môn Sản phụ khoa, các
y bác sĩ và các anh (chị) kỹ thuật viên tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh và sàng lọc sơ sinh- bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Cuối cùng em xin được bày tỏ lòng biết ơn và yêu thương đến những gia đình và bạn bè, những người đã luôn ở bên cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài khóa luận này
Hà Nội,ngày tháng năm2020
Sinh viên
NGUYỄN THỊ MAI ANH
Trang 4BẢNG KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFP(α FP) Alfa feto – protein
βhCG Beta - human chorionicgonadotropin
T13, T18, T21 trisomy 13, trisomy 18, trisomy 21
uE3 -Unconjugate Estriol: estriol
không kết hợp estriol không kết hợp
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊ TẬT BẨM SINH VÀ RỐI LOẠN NHIỄM SẮC THỂ 3
1.1.1 Dị tật bẩm sinh 3
1.1.2 Rối loạn di truyền 7
1.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ SÀNG LỌC TRƯỚC SINH 8
1.2.1 Triple Test (AFP + βhCG + uE3) 9
1.2.2 Double Test (PAPP-A + βhCG) 9
1.2.3 Siêu âm 10
1.2.4 Các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh 10
1.2.5 Phương pháp sàng lọc không xâm lấn (Non-Invasive Prenatal genetic Testing – NIPT) 11
1.3 TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG DOWN, EDWARDS VÀ PATAU 12
1.3.1 Tổng quan về Hội chứng Down 12
1.3.2 Tổng quan về hội chứng Edwards 14
1.3.3 Tổng quan về hội chứng Patau 15
1.4 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG DOWN, EDWARDS VÀ PATAU 16
1.4.1 Các nghiên cứu về bất thường nhiễm sắc thể 13, 18, 21 16
1.4.2 Tình hình dị tật bẩm sinh và các nghiên cứu chẩn đoán trisomy 13, trisomy 18, trisomy 21 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
Trang 62.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 20
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 20
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu 21
2.2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THAI PHỤ ĐÃ LÀM SÀNG LỌC 22
3.1.2 Tuổi thai ở thời điểm sàng lọc bằng kỹ thuật NIPT 24
3.1.3 Một số đặc điểm về tiền sử của các thai phụ sàng lọc bằng NIPT 25
3.1.4 Tỷ lệ sử dụng kỹ thuật sàng lọc trước sinh của thai phụ trước khi thực hiện NIPT 26
3.2.KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM NIPT 26
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ 31
4.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THAI PHỤ LÀM SÀNG LỌC TRƯỚC SINH BẰNG KỸ THUẬT NIPT 31
4.1.1 Một số thông tin chung 31
4.1.2 Đặc điểm về tiền sử của các thai phụ làm sàng lọc NIPT 35
4.2 TỶ LỆ HỘI CHỨNG DOWN, PATAU, EDWARDS TRONG CÁC SẢN PHỤ CÓ NGUY CƠ CAO TẠI BỆNH VIỆN PHỤSẢN HÀ NỘI 37
4.2.1 Tỷ lệ thai nhi mang nguy cơ cao DTBS qua phương pháp sàng lọc bằng NIPT 37
4.2.2 Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung và nguy cơ cao DTBS ở thai nhi 38
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Hình ảnh đặc điểm hội chứng Down 13 Hình 1.2: Hình thái bên ngoài và đặc điểm bàn tay, bàn chân của bệnh nhân thể
ba nhiễm 18 14 Hình 1.3: Hình thái bên ngoài của bệnh nhân thể ba nhiễm 13 15
21 bằng NIPT (n=437) 26 Bảng3.6: Nguy cơ DTBS trên thai theo xét nghiệm NIPT so với tuổi của mẹ (n=437) 27 Bảng 3.7: Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT ở thai phụ theo một số đặc điểm dịch tễ(n=437) 28 Bảng 3.8: Nguy cơ mang thai dị tật theo kết quả NIPT ở thai phụ theo tuổi thai (n=437) 29 Bảng3.9: Nguy cơ mang thai dị tật theo xét nghiệm NIPT ở thai phụ theo một số đặc điểm tiền sử(n=437) 30
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của xã hội các bệnh lý di truyền ngày càng tăng Trong các bệnh lý di truyền thì dị tật bẩm sinh (DTBS) là những bất thường để lại hậu quả nghiêm trọng Trên thế giới, hiện nay có khoảng 600 triệu người tàn tật, trong đó Việt Nam có gần 5 triệu người tàn tật Nguyên nhân tàn tật chủ yếu
là do dị tật bẩm sinh chiếm 34,15%[19]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tần suất dị tật bẩm sinh chiếm 3 – 4,0% tổng số trẻ được sinh ra bao gồm cả trẻ sống và chết lúc sinh Theo kết quả một nghiên cứu của Bệnh viện Từ Dũ năm 2002, ở Việt Nam có 3,0% thai nhi bị dị tật bẩm sinh Theo báo cáo năm 2010 của Bệnh viện Từ Dũ, thành phố
Hồ Chí Minh, trong 5.652 trường hợp sàng lọc trước sinh phát hiện 728 trường hợp thai nhi có bất thường, chiếm 13,0% Theo thống kê năm 2000 - 2001, số trẻ
bị các dị tật bẩm sinh vào Viện Nhi quốc gia chiếm 12,4% số trẻ nhập viện và chiếm 10,5% số trẻ bị chết [4,12] Những đứa trẻ sinh ra không có não, thoát vị não, não úng thuỷ, bại não, dị tật cơ xương chết ngay khi chào đời không phải hiếm, còn những đứa trẻ bị sứt môi, hở hàm ếch, dị tật tứ chi, dị tật bộ phận sinh dục dù sống được nhưng nỗi khổ vẫn đeo đẳng bản thân đứa trẻ, gia đình và xã hội suốt đời
Những sơ sinh mang nhiếm sắc thể (NST) rối loạn có những biểu hiện bệnh lý, tùy mức độ bệnh nặng hay nhẹ mà có thể tiếp tục bị chết sau khi sinh, sống được một thời gian hay có thể sống đến giai đoạn trưởng thành được Các bất thường NST hay gặp là bất thường của NST số 21,18 và 13
Để nâng cao chất lượng cuộc sống thì việc làm giảm DTBS nói chung, hạn chế việc ra đời các trẻ có bất thường nhiễm sắc thể nói riêng là một việc rất quan trọng Ngày nay người ta có các phương thức sàng lọc, chẩn đoán trước sinh mà nhiệm vụ chủ yếu là sàng lọc, phát hiện sớm các bất thường NST qua đó tư vấn
di truyền để hạn chế việc xuất hiện các trẻ DTBS
Hiện nay có nhiều phương pháp sàng lọc trước sinh (SLTS) được sử dụng với mục đích phát hiện những bất thường thai nhi ngay từ những giai đoạn đầu
Trang 9của bào thai, trong đó phổ biến nhất là các test sàng lọc trước sinh và siêu âm thai định kỳ Cả hai phương pháp này đều có những ưu điểm như dễ thực hiện,
an toàn cho cả thai phụ và thai nhi, giá rẻ có thể áp dụng rộng rãi Trong các xét
nghiệm SLTS từ máu mẹ thì triple test (AFP, hCG, uE3) và double test
(PAPP-A, fb-hCG) là hai test được sử dụng rộng rãi nhất, có vai trò nhất định trong việc chẩn đoán nguy cơ trẻ mắc DTBS Tuy nhiên phương pháp này có độ chính xác không cao do gián tiếp thông qua định lượng một số chất trong máu mẹ; dẫn đến các chỉ định chọc dò dịch ối tràn lan và mang lại những lo lắng quá mức cho thai phụ trong suốt quá trình mang thai [23]
Không dừng lại ở đó, cùng với sự phát triển của công nghệ phân tích gen, các nhà khoa học trên thế giới đã phát triển phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) Đây là phương pháp có độ chính xác cao, và tuyệt đối an toàn cho thai phụ, giúp khắc phục tối đa các hạn chế của các phương pháp sàng lọc trước sinh phổ biến hiện nay Tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, trong năm
2019, mỗi ngày có rất nhiều bà mẹ đến để được tư vấn và làm sàng lọc trước sinh, tuy nhiên hiện chưa có một báo cáo thống kê nào đánh giá tình trạng nguy
cơ thai mắc DTBS một cách cụ thể
Với những thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nhận xét kết quả
sàng lọc trước sinh hội chứng Down, Patau, Edwards của xét nghiệm NIPT tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm chung của thai phụ có nguy cơ cao hội chứng Down, Patau, Edwardstại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019
2 Xác định tỷ lệ hội chứng Down, Patau, Edwards qua sàng lọc bằng NIPT trong các sản phụ có nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2019
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1.ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊ TẬT BẨM SINH VÀ RỐI LOẠN NHIỄM
SẮC THỂ
1.1.1.Dị tật bẩm sinh
a) Khái niệm
Tổ chức Y tế thế giới năm 1996 đã định nghĩa:“Dị tật bẩm sinh là tất cả
những bất thường về cấu trúc, chức năng hoặc chuyển hóa có nguyên nhân từ trước sinh cho dù các dị tật này có được phát hiện ở thời điểm đó hay không”
Tuy có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về DTBS với những nội dung khác nhau nhưng đều thống nhất ở một số diểm chung sau:
- Là sự bất thường về: cấu trúc, chức năng hoặc chuyển hóa
- Thể hiện ở nhiều mức độ
- Những bất thường này thể hiện ngay sau khi mới sinh hay ở những giai đoạn muộn hơn
- Để lại hậu quả về thể chất, tinh thần, sinh lý hoặc chết
b) Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ phát sinh dị tật bẩm sinh
Cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân của nhiều trường hợp DTBS Các nhóm nguyên nhân chính hay gặp [5]:
- Do di truyền
+ Bất thường cấu trúc NST
• Đột biến số lượng NST: ở người bình thường, bộ NST được quy định là 2n= 46 Đột biến có thể ở dạng đa bội (3n,4n…), lệch bội (2n+1, 2n+2, 2n-1…) hoặc thể khảm(trong cùng một tế bào chứa hai hay ba dòng tế bào khác nhau)
• Đột biến cấu trúc NST: bao gồm mất đoạn, chuyển đoạn, đảo đoạn
+ Rối loạn gen
Trang 11Do biến đổi trong cấu trúc gen, cụ thể là ở nucleotid (các dạng thêm, bớt, đảo, thay thế nucleotid) Di truyền đơn gen có kiểu di truyền trội, di truyền lặn và di truyền liên kết giới tính Tuỳ từng kiểu di truyền mà các đột biến gen có biểu hiện khác nhau, đôi khi không phát hiện được ngay do bệnh chưa biểu hiện [14,15,16]
- Do yếu tố môi trường
Tác động gây dị dạng của các yếu tố môi trường phụ thuộc vào bản chất của yếu tố đó, liều lượng và thời điểm mà nó tác động Các tác nhân gây ra DTBS có thể là thuốc và hoá chất, các tác nhân gây viêm nhiễm, các tác nhân vật
• Các thuốc kháng acid folic: là các thuốc gây ức chế chuyển hóa thường được sử dụng trong điều trị ung thư, có thể gây ra quái thai nếu người mẹ sử dụng chúng trong vòng 3 tháng đầu thai kì [4,14]
• Các thuốc an thần chống co giật: Các thuốc phenolbacbital, trimetadion, paramethadion chủ yếu gây dị tật tim, dị tật khe mặt, dị tật não nhỏ Diazepam và Benzodizepines dùng trong 3 tháng đầu gây khe hở môi và khe hở vòm miệng
• Các thuốc nội tiết: việc điều trị progesteron tổng hợp (để tránh sảy thai) có thể gây nam hóa bộ phận sinh dục ngoài, bao gồm phì đại
âm vật và sự sát nhập của các gờ sinh dục [2]
Trang 12• Những dược phẩm khác: kháng sinh nhóm aminoglycosids gây điếc bẩm sinh, kali iodua gây bướu cổ và chậm phát triển trí tuệ, tetracyclin ức chế phát triển …[4,14]
• Thủy ngân: gây quái thai, teo tiểu não, cứng cơ và thiểu năng trí tuệ
• Chì: là kim loại nặng gây nhiễm độc ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ thai phụ và gây ra dị tật bẩm sinh về cơ xương, khe hở miệng và các bất thường ở hệ tim mạch ở thai nhi
• Thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc làm trụi lá: đây là loại hóa chất gây nhiều hậu quả nặng nề như sảy thai, thai chết lưu, chửa trứng, quái thai và các dị tật bẩm sinh…
+ Các tác nhân vật lý
• Phóng xạ: Nhiều nghiên cứu quan sát trên người và thực nghiệm
trên động vật cho thấy các chất phóng xạ là nguyên nhân gây đột biến dẫn tới các dị dạng bẩm sinh [4,16]
• Tia Rơngen (tia X): nếu chiếu liều cao vào khung chậu người mẹ
trong thời gian kéo dài có thể gây sảy thai, dị tật ống thần kinh, sự chậm phát triển thai
• Các tia tử ngoại với cường độ lớn: cũng gây ra các bất thường bẩm
sinh
+ Yếu tố gây viêm nhiễm trong quá trình mang thai
• Virus Coxsakie B nhiễm trong 3 tháng đầu gây tật lỗ đái ở lưng dương vật, tinh hoàn lạc chỗ, viêm cơ tim và loạn nhịp tim
• Rubella: Nếu mẹ nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu tỷ lệ dị tật bẩm sinh tăng cao như các dị dạng mắt nhỏ, đục thuỷ tinh thể bẩm sinh, điếc bẩm sinh, các dị tật tim, dị tật não, mạch máu
Trang 13• Các virus cúm, zona và quai bị cũng nghi ngờ gây dị tật nhưng chưa
Theo một báo cáo khoa học của TS Phan Thị Hoan (Bộ môn Y sinh học-
di truyền, Đại học Y Hà Nội), trong số 18834 trẻ sơ sinh tại bệnh viện Phụ Sản
Hà Nội, tỷ số giới tính (nam/nữ) là 1,09; trong số 64 trẻ DTBS có tỷ số giới tính
là 1,06 Trong 36.978 người được điều tra tại các vùng dân cư đồng bằng sông Hồng, tỷ số giới tính là 0,98 nghĩa là số nam và nữ gần như tương đương nhau Trong khi đó, số người DTBS có tỷ số giới tính cao hơn (1,21) Đặc biệt ở nhóm người DTBS loại đa dị tật có tỷ lệ giới cao hơn rất nhiều (1,54)
+ Tuổi mẹ
Tuổi của mẹ là một trong những yếu tố nguy cơ cao trong sinh con bị DTBS Trong nghiên cứu về một số khía cạnh di truyền liên quan đến chất lượng dân số của GS, TS Nguyễn Đình Hối (2001), tuổi trung bình của những bà mẹ sinh con DTBS cao hơn 2,4 tuổi so với những bà mẹ sinh con bình thường Tuổi trung bình của các bà mẹ sinh con bị hội chứng Down cao hơn 8,3 tuổi so với những bà mẹ sinh con bình thường Tương tự, kết quả nghiên cứu "một số yếu tố nguy cơ sinh con DTBS ở một số nhóm dân cư miền Bắc Việt Nam" cho thấy tuổi mẹ sinh con hội chứng Down cao hơn tuổi trung bình của mẹ sinh con bình thường Nhưng nhóm mẹ sinh con DTBS loại khe hở môi, vòm miệng và dị tật hậu môn lại có tuổi trung bình thấp hơn so với tuổi trung bình của những bà mẹ sinh con bình thường Như vậy, tuổi bà mẹ lúc mang thai và sinh con có liên quan nhất định đến sự phát triển bình thường và bất thường của phôi thai Tuổi
Trang 14mẹ càng lớn thì nguy cơ sinh con dị dạng, đặc biệt là con có hội chứng Down
càng cao[5]
+ Một số yếu tố về đặc trưng xã hội
DTBS không chỉ phụ thuộc vào đặc trưng nhân khẩu của con và bố mẹ mà còn phụ thuộc vào những đặc trưng xã hội của họ như nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, quy mô gia đình và mức sống
Liên quan ảnh hưởng đến dị tật bẩm sinh còn có một số yếu tố khác như gia đình có con và có người bị DTBS, người mẹ mắc bệnh mãn tính, hút thuốc
và rối loạn di truyền liên kết giới tính
Trisomy là một rối loạn về số lượng nhiễm sắc thể trong đó một tế bào sinh dưỡng có 3 nhiễm sắc thể tương đồng chứ không phải hai nhiễm sắc thể tương đồng như tế bào bình thường Trisomy phổ biến nhất là sự thêm một nhiễm sắc thể số 21 (bệnh Down) Những trisomies phổ biến khác là sự thêm nhiễm sắc thể số 13 (hội chứng Patau) và thêm nhiễm sắc thể số 18 (triệu chứng Edwards)
b) Rối loạn di truyền trong các giai đoạn hình thành và phát triển thai nhi
- Thời kỳ tạo giao tử
Giai đoạn tạo giao tử là một giai đoạn ngắn trong trong quá trình phát triển cá thể, tuy nhiên tỉ lệ các giao tử bất thường lại khá cao cho nên đây có thể là giai đoạn các tế bào dễ mẫn cảm với các tác nhân gây đột biến Tinh trùng người bình thường có tỷ lệ hình thái bình thường ≥ 30 %, như vậy, tỷ lệ
Trang 15tinh trùng có hình thái bất thường lên đến 70 % Tuy nhiên, các giao tử bất thường thì không có hoặc ít có khả năng tham gia thụ tinh được, vì vậy, tỷ lệ bất thường bẩm sinh của phôi thai do giao tử bất thường không cao [2]
- Thời kì tiền phôi
+ Giai đoạn hợp tử: Hợp tử được hình thành và tồn tại trong một giai đoạn
rất ngắn nên các đột biến xuất hiện lúc hình thành hợp tử rất ít Người ta coi việc đánh giá hợp tử là đánh giá gián tiếp bất thường giao tử Hợp tử chết sớm thường do noãn hoặc tinh trùng bất thường gây nên Ở người, hợp tử chết trong tuần đầu tiên được coi là hợp tử chết sớm, người phụ nữ chỉ thấy chậm kinh vài ngày, rồi ra máu nên đôi khi người phụ nữ không
để ý [4,14]
+ Giai đoạn phân chia: ở giai đoạn này, các tế bào phôi còn chưa hoặc ít
biệt hóa, các tác nhân độc hại gây ra các tác động theo 3 khả năng:gây chết phôi hay sẩy thai, tạo nên một cơ thể mang DTBS hoặc số ít tạo ra một cơ thể bình thường không chút dị tật[20]
Trang 161.2.1 Triple Test (AFP + βhCG + uE3)
- Alfa feto - protein (AFP):
Được túi noãn hoàng và sau đó là gan của thai nhi bài tiết ra, được Berg Stranol và Cazar tìm ra năm 1956 [35] Nồng độ AFP trong máu mẹ chỉ bằng 1/50.000 nồng độ AFP trong máu thai nhi và bằng 1/150 trong nước ối Nồng độ AFP bình thường được xác định ở ngưỡng 2.0 MoM ≤ AFP < 0,7 MoM Các bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng Down, hội chứng Các nghiên cứu đã xác định trong Turner, hội chứng Edward, nồng độ AFP trong máu mẹ giảm < 0,7 MoM [17, 27]
- uE3: estriol không kết hợp (unconjugated estriol)
uE3 do hoàng thể thai nghén tiết ra, từ tháng thứ 4 trở đi, do hợp bào của gai rau tiết ra Nồng độ uE3 tăng dần trong máu mẹ cao nhất vào tháng thứ 9 và giảm xuống khi gần đến chuyển dạ đẻ Nồng độ bình thường là 1 MoM Một số tác giả xác định nồng độ uE3 giảm (uE3 < 0,5 MoM) trong hội chứng Down và hội chứng Edward [26]
- Β-hCG (beta - human chorionic gonadotropin)
Β-hCG là một glucoprotein do tế bào Langhans của lá nuôi tiết ra, βhCG
đó có thể phát hiện thấy trong nước tiểu, máu của người mẹ Người ta có thể định lượng β-hCG toàn phần hoặc tự do Các tác giả đều thống nhất rằng βhCG tăng cao > 1,7 MoM trong máu mẹ ở các trường hợp thai nhi bị hội chứng Down, thấp < 0,7 MoM trong hội chứng Edward [29]
1.2.2.Double Test (PAPP-A + βhCG)
Ngoài ra còn có một số chất có thể định lượng để phát hiện nguy cơ thai mắc DTBS thông qua sự thay đổi bất thường của các chất đó trong máu mẹ như PAPP-A (giảm trong 3 tháng đầu thai kì có liên quan đến HC Down và một số bất thường khác),Inhibin A, SP1, CA125
Trang 17- Ở 3 tháng đầu của thai kỳ ( Thường từ tuần 11 đến tuần 14) người ta sử dụng test bộ 2 bao gồm PAPP- A, hCG (Doule test) và kết hợp với siêu âm thai
sẽ không phát hiện được
1.2.4.Các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh
- Chọc hút dịch ối(AC)
Chỉ địnhchủ yếu phát hiện các bất thường về cấu trúc NST thai, bệnh về chuyển hóa, xác định giới tính thai (đối với những bệnh lý liên quan đến NST giới tính như Hemophilia), định lượng AFP trong chẩn đoán các bất thường ống thần kinh, xác định mức độ trưởng thành phổi của thai nhi (trong trường hợp cần chấm dứt thai kì sớm) Tai biến thường gặp là sẩy thai, nhiễm trùng ối tỉ lệ này khoảng 0,5 - 1%.Chọc ối thực hiện ở tuần thứ 15 - 18 là tiêu chuẩn vàng áp dụng cho chẩn đoán di truyền tế bào trước sinh với độ chính xác cao (99,4% - 99,8%)
và có tỷ lệ sẩy thai 0,5 - 1% [6]
- Sinh thiết gai rau(CVS)
Là thủ thuật lấy mẫu mẫu tế bào gai nhau nằm ở phần màng đệm bao quanh phôi thai để tiến hành xét nghiệm và chẩn đoán sự bất thường về thai nhi Sinh thiết tua rau thai, có thể tiến hành sớm ở tuần 12, tỉ lệ sẩy thai thường gặp là
Trang 181,0– 2,0% Các tế bào có nguồn gốc từ thai được dùng để xét nghiệm di truyền
có thể ở mức độ tế bào (phân tích NST, hay mức độ phân tử (phân tích ADN), hay mức độ giữa phân tử và tế bào như kỹ thuật FISH… tùy theo mục đích xét nghiệm Kết quả sau 5-7 ngày [6,13]
- Thu mẫu máu qua dây rốn (PUBS)
Thường chỉ sử dụng cho thai đơn và nguy cơ ảnh hưởng tới thai nhi là khoảng 2,0%,đặc biệt là nhiễm trùng và rỉ máu qua dây rốn [22]
1.2.5.Phương pháp sàng lọc không xâm lấn (Non-Invasive Prenatal
genetic Testing – NIPT)
a) Sự tồn tại của cff-DNA trong máu thai phụ
cfDNA (cell-free DNA) có mặt trong huyết tương nguồn gốc từ quá trình
tự chết (apoptosis) hoặc hoại tử của tế bào và có kích thước khoảng từ 200bp Việc phát hiện DNA thai nhi lưu hành tự do trong máu mẹ hay cffDNA (cell-free fetal DNA) có nguồn gốc từ lá nuôi phôi (trophoplasts), các nghiên cứu chỉ ra rằng cffDNA có thể khảo sát lần đầu sớm nhất là ở tuần thứ 7 và một số là tuần thứ 5 Lượng cffDNA tăng theo thai kỳ, giảm nhanh sau sinh và hầu như không thể phát hiện được khoảng 2 giờ sau sinh Người ta ước tính rằng cffDNA chiếm khoảng 2-20% DNA tự do tổng số trong máu mẹ (cell-free DNA hay cfDNA).Theo một số bài nghiên cứu, kích thước trung bình của cffDNA<300pb nhỏ hơn rất nhiều so với các mảnh DNA tự do trong máu mẹ [28]
180-b) Cơ chế hoạt động
NIPT hoặt động dựa trên việc phân tích cff-DNA được lấy từ huyết thanh của người mẹ và sử dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS – new generation sequencing) để phân tích và các thuật toán phân tích sinh học phân tử nâng cao tùy theo phương pháp tiếp cận
c) So sánh phương pháp sàng lọc không xâm lấn NIPT với các phương pháp sàng lọc trước sinh khác
- Ưu điểm
Trang 19• Chẩn đoán các bất thường NST thể lệch bội với độ chính xác cao hơn rất nhiều so với các phương pháp khác, lên đến 99,3% đối với
trisomy 21, với độ đặc hiệu 99,8%[19,29]
• Phân tích trực tiếp DNA thu được mà không cần thông qua nuôi
• Đòi hỏi nồng độ cffDNA trong máu mẹ phải đạt một ngưỡng nhất
định, gọi là “Fetal fraction” để xét nghiệm có thể thực hiện, đối
với các xét nghiệm hiện nay tỷ lệ cffDNA đòi hỏi ≥ 4,0% trên tổng
số DNA có mặt trong huyết thanh người mẹ [18,31]
• Vẫn có tỉ lệ dương tính giả và âm tính giả, đặc biệt trong một số trường hợp như bất thường thể khảm, song thai trong đó 1 thai mất,
mẹ bất thường NST… [7,18,25]
• Giá thành cao
• Hiện nay chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Y Tế về
việc sử dụng NIPT trong chẩn đoán trước sinh
1.3.TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG DOWN, EDWARDS VÀ
Trang 20Down có thể do rối loạn số lượng, cấu trúc NST 21 dạng thuần hay dạng khảm Theo Zoltán Papp thì 95,0% Down là trisomy 21; 4,0% do chuyển đoạn; 1,0% là thể khảm [11]
a) Biểu hiện lâm sàng
Hình 1.1: Hình ảnh đặc điểm hội chứng Down
Trẻ mắc bệnh Down sẽ có những dấu hiệu thể chất điển hình dễ dàng nhận thấy:
- Biểu hiện trên gương mặt: mắt xếch; mặt dẹt; mũi nhỏ và tẹt; hình dáng tai bất thường; miệng trề ra, luôn luôn há, lưỡi dày thè ra ngoài
- Đầu ngắn, bé; gáy rộng, phẳng; cổ ngắn và vai tròn
- Chân, tay ngắn, to bè
- Cơ quan sinh dục không phát triển, vô sinh
- Cơ và dây chằng yếu
- Thiểu năng trí tuệ
- Ngoài ra, trẻ mắc hội chứng thường có những vấn đề sức khỏe liên quan như: bệnh lý tim mạch,vấn đề đường ruột, vấn đề thính giác và thị giác, gia tăng nguy cơ bệnh bạch cầu và bệnh tuyến giáp, nhạy cảm với những
Trang 21tác nhân gây các bệnh nhiễm khuẩn như cảm lạnh, nhiễm trùng tai và viêm phế quản…
1.3.2.Tổng quan về hội chứng Edwards
Hình1.2:Hình thái bên ngoài và đặc điểm bàn tay, bàn chân của bệnh
nhân thể ba nhiễm 18
Khi trẻ ra đời: trẻ bị mắc trisomy 18 thường có trán bé, chỏm nhô, khe mắt hẹp, tai ở vị trí thấp, ít quăn và trông nhọn như tai chồn Miệng bé, hàm nhỏ và thụt về phía sau Da cổ lỏng lẻo Cẳng tay gập vào cánh tay Sự sắp sếp các ngón
Trang 22của bàn tay rất đặc biệt: ngón cái gặp vào lòng bàn tay, ngón trỏ úp lên ngón giữa, ngón nhẫn phủ lên ngón trỏ, ngón út phủ lên ngón nhẫn Bàn chân vẹo, gót chân và lòng bàn chân lồi Tâm thần và vận động kém phát triển Luôn có dị dạng tim mạch Dị dạng niệu sinh dục cũng thường gặp, có thể có thoát vị rốn
Nếp văn da: người mắc trisomy 18 thường có nhiều vân cung ở đầu ngón tay (7- 10 ngón) Hay thiếu các nếp gấp xa của các ngón tay, có thể có nếp ngang đơn độc và có vị trí t” ở bàn tay
1.3.3.Tổng quan về hội chứng Patau
a) Tần suất
Hội chứng thể ba nhiễm 13 được Patau và cộng sự mô tả lần đầu năm
1960 Sau này người ta gọi hội chứng này là hội chứng Patau
Tần số chung của thể ba nhiễm 13 là: 1/5000 - 1/10000 trẻ sinh Nữ mắc
bệnh nhiều hơn nam
Hình1.3:Hình thái bên ngoài của bệnh nhân thể ba nhiễm 13
b) Triệu chứng lâm sàng
Trẻ mắc hội chứng 3 NST 13 (Hội chứng Patau) có biểu hiện: đầu nhỏ, nhãn cầu nhỏ hay không có nhãn cầu Tai thấp và biến dạng, trẻ thường điếc Thường có sứt môi 2 bên, có thể có kèm theo nứt khẩu cái Đôi khi có bàn chân vẹo, có 6 ngón chân hoặc 6 ngón tay, các ngón tay gấp quá mức Da đầu thường
Trang 23bị loét, có u mạch máu ở vùng đầu và chẩm Luôn có các dị tật ở tim mạch, ống tiêu hoá và cơ quan sinh dục Trẻ bị kém phát triển cả tâm thần và vận động [20]
Nếp vân da: người mắc hội chứng 3 NST 13 thường có nếp ngang đơn độc, ngã ba trục ở vị trí t” ở bàn tay
Dị tật kèm theo: thường có dị tật ở tim, ở ống tiêu hóa
1.4.CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG DOWN, EDWARDS VÀ
PATAU
1.4.1.Các nghiên cứu về bất thường nhiễm sắc thể 13, 18, 21
Tại Anh và xứ Wales, từ năm 1989, sàng lọc trước sinh được mở rộng và kết thúc thai nghén các trường hợp được chẩn đoán Down, tuy nhiên tuổi lập gia đình có xu hướng cao hơn Xu hướng này cho thấy rằng, ngay cả với những cải thiện trong việc sàng lọc, một lượng lớn số trẻ được sinh ra với hội chứng Down vẫn còn có khả năng gia tăng, và giám sát trẻ em sinh ra bị hội chứng Down là điều cần thiết [35]
Hu H.và cs (2016) [29] tổng kết kết quả xét nghiệm NIPT cho các thai phụ
có tuổi thai trung bình là 17,79 tuần (từ 9-36 tuần) và tuổi 31,12 (từ 18-46) Có tổng cộng 1.543 trường hợp dương tính (0,8%), trong đó 1050 cho nguy cơ cao trisomy 21, 316 có nguy cơ cao mắc trisomy 18 và 177 nguy cơ cao trisomy 13
Độ nhạy và độ đặc hiệu chung đối với phát hiện trisomy 21, 18 và 13 kết hợp lần lượt là 99,6% và 99,9% và giá trị tiên đoán dương tính và giá trị tiên đoán âm tính (PPV và NPV) lần lượt là 89,7% và 99,9%
Fujii Y và cs (2016) [28] nghiên cứu bất thường hình thái và sự phát triển
ở giai đoạn thai của các sơ sinh bị trisomy 13, trisomy 18 cho thấy: 3 dấu hiệu lâm sàng hàng đầu ở bệnh nhân T13 / 18 là bệnh tim bẩm sinh (chiếm đến 100%), tai gắn thấp (80,0%) và thai chậm phát triển (thai bé) (73.3%) Sự kết hợp của hai dấu hiệu lâm sàng không đặc hiệu hàng đầu này là dị tật tim với tai gắn thấp 2 dấu hiệu này có giá trị gợi ý trẻ mắc trisomy 13 và trisomy 18.2 dấu hiện này có giá trị chẩn đoán với độ nhạy 80,0% và giá trị tiên đoán âm là 92,5% Dị tật tim và tai gắn thấp không phải là dấu hiệu lâm sàng đặc trưng riêng
Trang 24cho trisomy 13 và trisomy 18, một số nghiên cứu khác cũng cho thấy 2 bất thường này thường gặp ở các trẻ có bất thường nhiễm sắc thể thường Sự kết hợp của dị tật tim với thai phát triển kém (thai bé) cũng cho thấy gợi ý chẩn đoán trisomy 13, trisomy 18 với độ nhạy 73,3%
1.4.2.Tình hình dị tật bẩm sinh và các nghiên cứu chẩn đoán trisomy 13,
trisomy 18, trisomy 21
a) Trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hội chứng Down đứng hàng đầu, chiếm gần một nửa các bất thường nhiễm sắc thể Hàng năm tỉ lệ sinh trẻ có hội chứng Down từ 120-160/100.000 trẻ đẻ sống (WHO)[5,6]
Một nghiên cứu khác của Springett và cộng sự (2014) tại Anh và Wales cho thấy tỉ lệ chẩn đoán hội chứng Edwards và Patau được ghi nhận là 7,0 và 2,8 trên 10.000 ca sinh tương ứng Tỉ lệ sàng lọc trước sinh phát hiện trước 15 tuần
đã tăng từ 50,0% năm 2005 lên 53,0% vào năm 2012 cho hội chứng Edwards, và
từ 41,0% năm 2005 lên 63,0% vào năm 2012 cho hội chứng Patau [32]
Hiện nay với sự phát triển của phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn, có rất nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá giá trị của xét nghiệm NIPT đối với chẩn đoán các dị tật bẩm sinh
Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả của xét nghiệm trước sinh trên 35 trung tâm tại 6 quốc gia (Mỹ và Châu Âu), thực hiện bởi Mary E.Norton và cộng sự (2015) , kết quả phân tích ban đầu từ 15,841 thai phụ cho thấy tần suất T21 trên dân số nói chung là khoảng 38/15,841 (1 trên 417) Trong đó, xét nghiệm NIPT
có ưu thế về mặt thống kê so với các phương pháp tầm soát quý I FTS, với tỷ lệ phát hiện là 100%, tỷ lệ dương tính giả 1/1756, tỷ lệ tiên đoán dương 81,0% [30]
Một nghiên cứu khác của tác giả Honggyun Zhang và cộng sự (2015) thực hiện trên 146,958 thai phụ đã đưa ra nhận xét “Hiệu suất của NIPT trong phát hiện T21,T18 và T13 duy trì ở mức độ cao, có thể so sánh với các nghiên cứu xác nhận quy mô nhỏ trước đây Di truyền của người mẹ và thể khảm của
Trang 25thai/nhau có vai trò quan trọng đối với kết quả NIPT FP và FN, trong khi mức độ fetal fraction thấp không gây ảnh hưởng đáng kể Trong nhóm thai phụ nguy cơ thấp, xét nghiệm NIPTcho thấy không có sự khác biệt đáng kể so với thống kê từ nhóm nguy cơ cao Từ kết quả này cho thấy sự phù hợp trong việc cung cấp NIPT như một xét nghiệm sàng lọc thường quy cho thai nhi T21, T18 và T13
trong cộng đồng”
b) Tại Việt Nam
Theo Lê Anh Tuấn (2008) trên 615 thai phụ có chỉ định chọc ối thì tỉ lệ bất thường NST là 9,4%, trong đó cao nhất là hội chứng Down với 39,9%, hội chứng Edward và Turner chiếm 15,5% [10]
Nghiên cứu của tác giả Hà Thị Mỹ Dung về tình hình sàng lọc dị tật trước sinh, thực hiện trên 250 sản phụ khám và quản lý thai nghén ở Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2014-2015 báo cáo 6 ca có DTBS, chiếm tỉ lệ 2,4% [6]
Báo cáo về” Ứng dụng NIPT tại Việt Nam- Triển vọng và thách thức” của tác giả Quách Thị Hoàng Oanh tại Hội nghị Sản phụ khoa Việt-Pháp-Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 16, cho thấy NIPT có ưu thế vượt trội trong phát hiện
HC Down với độ nhạy 99,3% và tỉ lệ dương tính giả 0,05%, trong khi Combine test quý I có độ phát hiện 90,0%, tỉ lệ dương tính giả 5,0%, đối với Triple Test quý II thì tỉ lệ phát hiện là 70,0% - 5,0%dương tính giả [18]
Nghiên cứu “Đánh giá kết quả sàng lọc trước sinh phát hiện Hội chứng Down từ DNA tự do trong huyết tương mẹ” của PGS.TS Nguyễn Duy Ánh, Ths.Bs Hoàng Hải Yến và cộng sự (báo cáo tại Hội nghị Sản Phụ khoa Việt Pháp 2018) , kết quả cho thấy tỷ lệ thai nguy cơ cao mắc HC Down thông qua xét nghiệm NIPT là 8/463 (1,7%), với tuổi mẹ phân bố trong giới hạn từ 19-46 tuổi [18]
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Các hồ sơ được chẩn đoán có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh T13, T18, T21 qua sàng lọc bằng NIPT được ghi chép đầy đủ về các nội dung cần thiết cho nghiên cứu Đó là các thai đơn ≥ 10 tuần có 1 hay nhiều tiêu chuẩn sau:
• Tuổi mẹ ≥ 35 tuổi
• Tiền sử thai nghén bất thường: đẻ con có DTBS, thai chết lưu, sảy thai nhiều lần, mẹ mắc các bệnh chuyển hóa hoặc bệnh mạn tính, mắc bệnh truyền nhiễm khi mang thai,…
- Tiêu chuẩn loại trừ
• Thai < 10 tuần, đa thai hoặc thai tiêu biến
• Thai phụ được truyền máu trong vòng 30 ngày
• Thai phụ đã thực hiện phẫu thuật cấy ghép hoặc trị liệu sử dụng tế bào gốc
2.1.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Chẩn đoán trước sinh và Sàng lọc sơ sinh- bệnh viện Phụ sản Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2019-12/2019
2.2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng số liệu hồi cứu
Trang 272.2.2.Cỡ mẫu nghiên cứu
Dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, trong thời gian từ tháng 1/2019 – 12/2019, chúng em thu thập được 437 hồ sơ thông tin bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn tham gia nghiên cứu
2.2.3.Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập dựa trên mẫu bệnh án nghiên cứu được thiết kế sẵn
2.2.4.Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
1 Tuổi mẹ Tính theo năm, chia thành các nhóm Hồ sơ
nghiệp Nghề nghiệp của sản phụ Hồ sơ
3 Nơi sống Hà Nội và các tỉnh khác Hồ sơ
4 Tiền sử Tiền sử sản khoa/ nội ngoại khoa/tiền
sử sinh con dị tật/tiền sử gia đình Hồ sơ
5 Tuổi thai Tuổi thai tính theo tuần Hồ sơ
Trang 282.2.5.Xử lý và phân tích số liệu
Các thông tin được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
- Mã hóa và nhập số liệu theo các bảng
- Xử lý số liệu theo các mục tiêu theo các thuật toán thống kê y học
2.2.6.Đạo đức trong nghiên cứu
- Đây là một nghiên cứu mô tả, chỉ sử dụng số liệu trên hồ sơ kết quả sàng lọc của bệnh nhân, không can thiệp trực tiếp vào đối tượng vì vậy không
ảnh hưởng đến sức khoẻ bệnh nhân, không vi phạm y đức
- Các hoạt động tiến hành trong nghiên cứu này đều tuân thủ các qui định
và nguyên tắc chuẩn mực về đạo đức nghiên cứu y sinh học của Việt Nam
và quốc tế
- Tất cả các thông tin về người bệnh đều được mã hoá và giữ bí mật và chỉ
phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi đã được sự đồng ý cho phép nghiên cứu của Trung tâm Chẩn đoán trước sinh và Sàng lọc sơ sinh, ban Giám
đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Trang 29CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THAI PHỤ ĐÃ LÀM SÀNG LỌC
3.1.1 Một số đặc điểm dịch tễ của các thai phụ đã làm sàng lọc
Bảng3.1: Đặc điểm phân bổ tuổi của các thai phụ(n=437)
(n)
Tỷ lệ (%)
- Nhóm thai phụ >35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,1%
- Đứng thứ hai là nhóm tuổi 26-30 tuổi chiếm 28,8%
- Đứng thứ ba là nhóm tuổi 31-35 tuổi chiếm 25,1%
- Thấp hơn là nhóm tuổi 21-25 tuổi chiếm 8,2% và thấp nhất là nhóm tuổi 17-20 tuổi chiếm 0,5%
Trang 30Biểu đồ 3.1: Phân bố nghề nghiệp các thai phụ (n=437)
Biểu đồ 3.2: Phân bố nơi ở các thai phụ (n=437) Nhận xét:
- Về nghề nghiệp của các thai phụ: đa số là các công việc văn phòng hành chính và nội trợ: trong đó nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,7%; thấp hơn không đáng kể là công việc nội trợ với 36,8%; nhóm
Trang 31công việc khác ( buôn bán nhỏ, tiếp thị, sinh viên,…) chiếm 23,1% và thấp nhất là nhóm công việc công nhân, nông dân với tỷ lệ 5,0%
- Nơi ở của các thai phụ: chủ yếu là đến từ khu vực Hà Nội chiếm tỷ lệ cao
đến 56,8% trong khi các tỉnh khác tổng chỉ chiếm 43,2%
3.1.2.Tuổi thai ở thời điểm sàng lọc bằng kỹ thuật NIPT
Bảng 3.2: Đặc điểm phân bổ tuổi của thai nhi (n=437)
(n)
Tỷ lệ (%)
- Chiếm đa số đối tượng tham gia ngiên cứu là tuổi thai 11-14 tuần (56,7%)
- Chiếm tỷ lệ cao thứ 2 là nhóm tuổi thai 14-20 tuần (33,2%)
- Chiếm tỷ lệ cao thứ ba là nhóm tuổi thai 10-11 tuần (7,1%) và thấp nhất là nhóm tuổi thai >20 tuần (3,0%)
Trang 323.1.3.Một số đặc điểm về tiền sử của các thai phụ sàng lọc bằng NIPT
Bảng 3.3:Một số đặc điểm về tiền sử của các thai phụ (n=437)
Mẹ mắc bệnh truyền nhiễm trong
Mẹ sử dụng các thuốc, hóa chất
Hút thuốc, tiếp xúc nhiều với
Nhận xét:
Tiền sử hay gặp nhất ở các thai phụ nghiên cứu là tiền sử đình chỉ thai bất thường/ sảy thai/thai lưu chiếm tỷ lệ 35,2%, đứng thứ hai là tiền sử tiếp xúc với khói thuốc hoặc hút thuốc chiếm 9,2%, đứng thứ 3 là tiền sử sinh con mắc dị tật bẩm sinh chiếm 7,1%, sau đó là tiền sử dùng thuốc/ hóa chất bất thường (chiếm 2,5%) , thấp hơn là tiền sử mẹ mắc bệnh mạn tính (chiếm 1,1%) và mẹ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nhiễm trùng trong thời gian mang thai (chiếm 0,9%), chiếm tỷ
lệ thấp nhất là tiền sử về gia đình có người bị DTBS/Down (chỉ chiếm 0,5%)
Trang 333.1.4.Tỷ lệ sử dụng kỹ thuật sàng lọc trước sinh của thai phụ trước khi thực
3.2.Kết quả xét nghiệm NIPT
Bảng 3.5: Kết quả xét nghiệm phát hiện di tật trisomy 13, trisomy 18 và