1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

89 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 853,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI (0)
    • 1.1 Khái quát về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (14)
    • 1.2 Khái quát về pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (26)
    • 1.3 Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh (33)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI (0)
    • 2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và quản lý nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh (42)
    • 2.2 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (44)
    • 2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (55)
  • CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI (0)
    • 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải . 58 (64)
    • 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (66)
    • 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh (72)

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI

Khái quát về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

1.1.1 Khái niệm và phân loại về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

1.1.1.1 Sơ lược về sự hình thành về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là một công cụ kinh tế quan trọng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Các nước phát triển như Phần Lan, Thụy Điển và Đức đã thực hiện phí này từ những năm 1960 đến 1980, mang lại hiệu quả tích cực trong quản lý ô nhiễm Ngược lại, các nước đang phát triển như Trung Quốc, Malaysia, Philippines và Thái Lan áp dụng muộn hơn, từ năm 1978 đến 2000 Tại Việt Nam, trước năm 2003, chưa có quy định cụ thể nào về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Mặc dù Pháp lệnh Phí và lệ phí năm 2002 đã đề cập đến loại phí này, nhưng chưa có văn bản quy định chi tiết, dẫn đến việc phí này chỉ được nhắc đến mà chưa được thực hiện.

Vào ngày 13/6/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 67/2003/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải, có hiệu lực từ 1/1/2004 Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định rõ ràng về phí BVMT đối với nước thải, tạo cơ sở cho việc quản lý và bảo vệ môi trường nước Sau đó, Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTN&MT, ban hành ngày 18/2/2003, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP, quy định rằng từ ngày 1/1/2004, các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt Khoản thu này sẽ được sử dụng để tái đầu tư cho các dự án và công trình bảo vệ môi trường tại địa phương.

Tiếp đó, ngày 8/1/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 04/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-

CP đã tiến hành sửa đổi một số nội dung quan trọng, bao gồm việc loại bỏ chất BOD khỏi danh sách chất gây ô nhiễm trong nước thải Đồng thời, các quy định về quản lý và sử dụng tiền phí thu được cũng được điều chỉnh, cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc công bố định mức chất gây ô nhiễm Ngoài ra, việc khảo sát và xác định các chất gây ô nhiễm có trong nước thải công nghiệp cũng được điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn.

Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTN&MT được ban hành nhằm hướng dẫn Nghị định số 04/2007/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTN&MT Nội dung chính của thông tư này tập trung vào việc sửa đổi các quy định về kê khai nộp phí, xác định trách nhiệm của đối tượng nộp phí và các cơ quan liên quan, cũng như quy định về quản lý và sử dụng số tiền phí thu được.

Ngày 22/3/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/2010/NĐ-CP, sửa đổi khoản 2 Điều 8 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP Theo nghị định này, 80% phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp sẽ được nộp 100% vào ngân sách địa phương, thay vì chi cho ngân sách như trước Số tiền này sẽ được sử dụng cho các hoạt động bảo vệ môi trường, đầu tư mới, nạo vét cống rãnh, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thoát nước tại địa phương, và bổ sung vốn hoạt động.

Quỹ BVMT địa phương chịu trách nhiệm trả nợ vay cho các dự án thoát nước từ ngân sách Để hoàn thiện chính sách về phí BVMT phù hợp với phát triển kinh tế, ngày 29/3/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải Cùng thời điểm, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTN&MT hướng dẫn thực hiện nghị định này Những văn bản này đã giải quyết nhiều vướng mắc trước đó, như xác định đối tượng nộp phí, tránh thu phí trùng lặp, xác định lưu lượng nước thải qua hệ thống cung cấp nước sạch, và cải cách thủ tục kê khai phí BVMT đối với nước thải công nghiệp.

Vào ngày 16/11/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải, có hiệu lực từ 01/01/2017 Nghị định này xác định rõ các đối tượng chịu phí BVMT bao gồm nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, đồng thời bổ sung quy định hộ gia đình là người nộp phí Trước đó, Nghị định số 25/2013/NĐ-CP đã quy định đối tượng chịu phí BVMT từ hộ gia đình nhưng chưa xác định hộ gia đình là người nộp phí Ngoài ra, hai đối tượng miễn phí BVMT mới được bổ sung là nước thải từ phương tiện đánh bắt thủy, hải sản của ngư dân và nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị quản lý hệ thống thoát nước xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Trong thời gian qua, Nhà nước đã nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải Các quy định pháp luật về loại phí này được ban hành kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tế xã hội, tạo khung pháp lý rõ ràng cho việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí BVMT, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường.

1.1.1.2 Cơ sở lý luận và pháp lý của phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Nước thải, bao gồm nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, là nguồn nước được thải ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại – dịch vụ và sinh hoạt hàng ngày của con người Trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay, hai loại nước thải này đang trở thành vấn đề đáng quan tâm.

Nước thải sinh hoạt là loại nước được thải ra sau khi sử dụng cho các hoạt động hàng ngày tại trường học, bệnh viện và cơ quan Loại nước này chứa ít chất thải rắn và dầu mỡ, nhưng lại có hàm lượng đáng kể các chất dinh dưỡng như nitơ và phốt pho, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn.

Nước thải công nghiệp là sản phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất từ các hoạt động sản xuất và hỗ trợ sản xuất Nước thải này thường được phân loại theo từng ngành công nghiệp, dẫn đến sự đa dạng về các loại nước thải công nghiệp được thải ra hàng ngày.

Để bảo vệ môi trường và giảm thiểu nước thải chưa qua xử lý xả thải ra môi trường, việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được xác định là phương pháp hiệu quả Điều này không chỉ hạn chế các nguồn xả thải mà còn tạo ra nguồn tài chính để đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường.

Thuế thải được coi là một công cụ kinh tế quan trọng, được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển Công cụ này đã chứng minh hiệu quả trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra, mang lại những kết quả tích cực trong bảo vệ môi trường.

Phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải không chỉ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà còn được xây dựng trên các cơ sở lý luận và chính trị, pháp lý vững chắc.

Khái quát về pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

1.2.1 Khái niệm pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Bảo vệ môi trường là một vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng, gắn liền với nhiệm vụ xã hội và cuộc chiến xóa đói, giảm nghèo Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước mà còn góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội toàn cầu.

Nhà nước cần chú trọng nguyên tắc quản lý xã hội bằng pháp luật để xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong đó việc thể chế hóa các chủ trương bảo vệ môi trường (BVMT) của Đảng thành quy định pháp luật là rất quan trọng Pháp luật về phí BVMT cần được xây dựng nhằm tác động đến nhận thức của các chủ thể trong khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường, giữ gìn và BVMT thiên nhiên, cũng như phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng pháp luật cần được coi trọng, đồng thời cần thiết lập cơ chế thi hành pháp luật mạnh mẽ, là yếu tố quan trọng để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống pháp luật về BVMT.

Pháp luật về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải quy định chi tiết các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý nhà nước đối với các chủ thể xả thải Luật cũng xác định rõ loại nước thải phải chịu phí, các chủ thể xả thải có nghĩa vụ nộp phí, cùng với cơ chế thu, nộp, quản lý và sử dụng phí này.

Tóm lại, nói một cách khái quát, tác giả có thể đưa ra định nghĩa pháp luật về phí BVMT đối với nước thải như sau:

Pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải bao gồm các quy định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc thu và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Pháp luật về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải nhằm điều chỉnh hành vi xả thải của các chủ thể, tạo nguồn ngân sách cho việc xử lý và khắc phục ô nhiễm Đây là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật BVMT, góp phần bảo vệ môi trường sống.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và địa phương không thể thiếu các yếu tố quan trọng Pháp luật về phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải có mối quan hệ chặt chẽ với các loại phí khác, vì đây là một loại phí có vai trò tạo lập và bổ sung nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN).

1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Mỗi quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) và thu phí BVMT, đặc biệt là đối với nước thải, cũng sẽ có sự khác biệt Dù ở quốc gia phát triển, đang phát triển hay chưa phát triển, khoản phí BVMT đối với nước thải đều có vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tác động đến hành vi của các chủ thể xả thải và cung cấp nguồn tài chính để khắc phục hậu quả từ lượng nước thải có thể gây hại cho môi trường.

Vì vậy, pháp luật về phí BVMT đối với nước thải thông thường sẽ bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải bao gồm những loại nước thải có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường Nhà nước sẽ xác định loại nước thải nào phải chịu phí dựa vào nguồn gốc, mức độ ô nhiễm và hậu quả của từng loại Thông thường, các quốc gia trên thế giới chỉ thu phí BVMT đối với hai loại nước thải chính: nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt.

Nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ các nguồn như cơ sở sản xuất và chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá, cũng như từ các cơ sở chăn nuôi.

Các cơ sở sản xuất và chế biến bao gồm giết mổ gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, sản xuất thủ công nghiệp, thuộc da, tái chế da, khai thác và chế biến khoáng sản, dệt, nhuộm, may mặc, sản xuất giấy, bột giấy, nhựa, cao su, phân bón, hóa chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng, cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng, sản xuất linh kiện, thiết bị điện và điện tử, sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu, nhà máy cấp nước sạch, và hệ thống xử lý nước thải tập trung trong khu công nghiệp.

Các quy định pháp luật hiện hành đã xác định rõ danh mục các cơ sở sản xuất, kinh doanh xả nước thải ra môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường (BVMT) Điều này giúp khắc phục tình trạng khó khăn trong việc xác định đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, do sự đa dạng và số lượng lớn các chủ thể Ngoài ra, quy định này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước trong việc quản lý và thu phí BVMT, đảm bảo hiệu quả và giảm thiểu việc bỏ sót đối tượng chịu phí.

Nước thải sinh hoạt là loại nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức không liên quan đến sản xuất, chế biến Nó bao gồm nước thải từ trụ sở điều hành, văn phòng chi nhánh, cơ sở rửa và sửa chữa ô tô, xe máy, cũng như từ bệnh viện, phòng khám, nhà hàng, khách sạn và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, kinh doanh dịch vụ khác.

Pháp luật đã quy định rõ ràng các nhóm đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải sinh hoạt, nhằm tránh nhầm lẫn với các đối tượng nộp phí cho nước thải công nghiệp Điều này giúp khắc phục tình trạng thu trùng phí, đặc biệt với những doanh nghiệp chỉ có văn phòng mà không hoạt động sản xuất, được xếp vào nhóm nộp phí BVMT cho nước thải sinh hoạt Trước đây, sự không rõ ràng trong phân định này đã gây khó khăn cho cả người nộp phí và cơ quan thu phí, nhưng hiện nay vấn đề đã được giải quyết.

Pháp luật quy định về đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường (BVMT) và cũng nêu rõ các trường hợp miễn thu phí đối với nước thải, cụ thể tại Điều 5.

Nước xả từ các nhà máy thủy điện và nước tuần hoàn trong các cơ sở sản xuất, chế biến cần được quản lý chặt chẽ để không thải ra môi trường dưới bất kỳ hình thức nào, bao gồm chất rắn, chất lỏng và chất khí.

(ii) Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra;

Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh

Hệ thống pháp luật về môi trường của mỗi quốc gia có sự khác biệt do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, chính trị, phong tục, tập quán, văn hóa, lịch sử và môi trường Phí bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với nước thải, là một trong những công cụ kinh tế quan trọng giúp hạn chế ô nhiễm Nhiều quốc gia, từ các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý đến các nước đang phát triển như Philippines, Thái Lan, Malaysia, đã thành công trong việc áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước thuộc nhóm OECD

Trong vài thập kỷ qua, các công cụ kinh tế, đặc biệt là các biện pháp thị trường, đã thu hút sự chú ý của các nước OECD nhờ vào những ưu điểm về tính linh hoạt và hiệu quả Sự chuyển biến này cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các công cụ kinh tế trong việc điều chỉnh và phát triển nền kinh tế.

28 quốc gia đang ngày càng chú trọng vào việc hoạch định và thực thi các chính sách kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường Những quốc gia này đều áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với nguồn gây ô nhiễm và nguồn sử dụng Theo báo cáo của OECD, mức phí này khác nhau tùy thuộc vào khối lượng và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải Hệ thống phí ô nhiễm ở Hàn Quốc, Bỉ và Cộng hòa liên bang Đức nhằm khuyến khích và thay đổi hành vi của các tác nhân gây ô nhiễm, trong khi ở một số quốc gia khác, mục tiêu chủ yếu là tạo ra nguồn thu.

Việc áp dụng các công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong quản lý nước thải, tại các quốc gia OECD đã cho thấy nhiều lợi ích đáng kể.

Việc áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường không chỉ mang lại tác động lâu dài mà còn trực tiếp thay đổi hành vi của các doanh nghiệp Đồng thời, nó cũng thúc đẩy nghiên cứu, triển khai và trao đổi công nghệ cũng như kỹ thuật sản xuất thân thiện với môi trường.

Quỹ BVMT cần tăng cường nguồn thu nhập để xây dựng cơ sở vật chất vững chắc phục vụ cho việc tái tạo môi trường, đồng thời đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước.

Ba là một công cụ tự động điều chỉnh hành vi môi trường, phù hợp với cơ chế thị trường và hiệu quả về chi phí, đồng thời duy trì mức phát thải nhất định.

Để đạt được sự phát triển bền vững trong tương lai, các công cụ kinh tế cần duy trì và chuyển giao hợp lý nguồn lực bằng cách đánh giá các nguồn tài nguyên môi trường, đồng thời tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực hiện tại.

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển

Hiện nay, hệ thống quản lý môi trường ở các nước đang phát triển chủ yếu dựa vào các công cụ CAC, nhưng gần đây, nhờ sự hỗ trợ từ các nước OECD, một số Chính phủ đã bắt đầu chú trọng đến các công cụ kinh tế Các công cụ này thường bao gồm phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm và phí đánh vào sản phẩm Tuy nhiên, khác với các nước OECD, các nước đang phát triển thường kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố pháp luật và các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.

Hệ thống tiêu chuẩn pháp luật tại các quốc gia đang phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả chính sách và thúc đẩy các biện pháp bảo vệ môi trường Sự kết hợp giữa biện pháp pháp lý và các công cụ kinh tế, như phí và thuế phát thải, giúp nâng cao hiệu quả thực thi các hoạt động bảo vệ chất lượng môi trường Mặc dù các quốc gia đã có hệ thống thuế sẵn có, việc áp dụng phí đối với nguồn gây ô nhiễm còn gặp nhiều thách thức Tại Philippines, phí nước thải được áp dụng cho các doanh nghiệp có mức thải BOD từ 4 tấn trở lên, và từ năm 1998, hệ thống này đã mở rộng ra toàn bộ các doanh nghiệp trong khu vực hồ Laguna.

30 số 26 của Ban quản lý hồ Laguna ở Philippines bao gồm hai phần là phí cố định và phí biến đổi

Phí cố định hàng năm được thu nhằm trang trải chi phí quản lý của Ban quản lý hồ Laguna, và được xác định dựa trên lượng nước thải bình quân/ngày của cơ sở sản xuất Cụ thể, nếu lượng nước thải dưới 30m³/ngày, mức phí là 5.000 Peso/năm; từ 30 đến 150m³/ngày, mức phí là 10.000 Peso/năm; và nếu lượng nước thải trên 150m³/ngày, mức phí cố định là 15.000 Peso/năm.

Phí biến đổi là khoản phí tính theo tổng lượng ô nhiễm trong một quý của cơ sở sản xuất, được áp dụng cho mỗi đơn vị ô nhiễm Tại Trung Quốc, phí nước thải được quy định từ Luật bảo vệ môi trường năm 1979 và từ năm 2003, việc tính phí dựa trên tải lượng ô nhiễm thay vì chỉ nồng độ Phí áp dụng cho tất cả các đơn vị ô nhiễm, bao gồm cả những đơn vị vượt mức cho phép, với hơn 100 thông số ô nhiễm được quy định Các tiêu chuẩn và mức phí có thể thay đổi tùy theo ngành công nghiệp và loại chất gây ô nhiễm, trong khi các địa phương có thể áp dụng tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn và mức phí cao hơn so với quy định của Bộ Môi trường Mức phí cũng thay đổi theo số lượng, nồng độ và loại chất gây ô nhiễm thải ra, với phí ô nhiễm được tính dựa trên nồng độ vượt quá tiêu chuẩn.

Tại Thái Lan, sự phát triển kinh tế nhanh chóng đã dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, trong đó ô nhiễm môi trường là một trong những mối quan tâm hàng đầu Chất lượng nước và không khí tại các đô thị lớn và khu công nghiệp đang bị ảnh hưởng nặng nề, gây ra những thách thức cấp bách cho sức khỏe cộng đồng và môi trường.

Chính phủ Băng Cốc đã áp dụng chế độ phí đối với nước thải do tình trạng nhiễm trầm trọng, bao gồm hai loại phí: một cho các xí nghiệp lớn và một cho hộ gia đình cùng xí nghiệp công nghiệp nhỏ Đối với xí nghiệp lớn, phí được tính dựa trên khối lượng nước tiêu thụ và mức độ tích tụ chất thải BOD trong nước thải Phí BOD chỉ được áp dụng cho phần chất thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm.

Đối với hộ gia đình và xí nghiệp nhỏ, phí ô nhiễm được tính dựa trên hóa đơn tiền nước hàng tháng theo đồng hồ đo Việc thu phí ô nhiễm từ các cơ sở lớn và đưa vào hóa đơn tiền nước giúp đơn giản hóa quy trình thu phí, đồng thời dễ dàng theo dõi việc tuân thủ các tiêu chuẩn đã được quy định.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI

Ngày đăng: 04/07/2021, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Chính (2013), Thông tư số 186/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí, ban hành ngày 05/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 186/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2013
2. Bộ Tài Chính (2017), Công văn 13842/BTC-CST về việc phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, ban hành ngày 16/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 13842/BTC-CST về việc phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2017
3. Chi cục Bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh (2019), “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm và các nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2019” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm và các nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2019
Tác giả: Chi cục Bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
4. Chính phủ (2002), Nghị định số 57/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí, ban hành ngày 03/06/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 57/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
5. Chính phủ (2003), Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, ban hành ngày 13/06/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
6. Chính phủ (2007), Nghị định số 04/2007/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, ban hành ngày 08/01/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 04/2007/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 35/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường, ban hành ngày 07/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 35/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, ban hành 29/03/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Chính phủ (2014), Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải, ban hành ngày 06/08/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Chính phủ (2016), Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, ban hành ngày 18/11/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
11. Chính phủ (2016), Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ban hành ngày 18/11/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
12. Hội Đồng Nhân Dân TP.HCM (2018), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND về điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, ban hành ngày 16/03/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND về điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hội Đồng Nhân Dân TP.HCM
Năm: 2018
13. Quốc hội (2008), Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, ban hành ngày 13/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cán bộ, công chức
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2008
15. Quốc hội (2014), Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, ban hành ngày 23/06/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ môi trường
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
16. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13, ban hành ngày 25/06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách nhà nước
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
17. Quốc hội (2015), Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ban hành ngày 25/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phí và lệ phí
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
19. Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Quyết định số 2129/QĐ- UBND về việc điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành ngày 18/05/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2129/QĐ-UBND về việc điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
20. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2001), Pháp lệnh số 38/2001/P1-UBTVQH, ban hành ngày 28/8/2001 về phí và lệ phí* Tài liệu trong nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh số 38/2001/P1-UBTVQH
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2001
21. Bộ môn Luật môi trường – Khoa Pháp luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội (2005), “Kinh nghiệm của nước ngoài trong việc sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường”, Tài liệu hội thảo, Viện Khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh nghiệm của nước ngoài trong việc sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường”
Tác giả: Bộ môn Luật môi trường – Khoa Pháp luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2005
22. Nguyễn Ngọc Anh Đào (2014), “Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh Đào
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm