1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

83 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 915,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: - Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh, hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; làm

Trang 1

…,, năm

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN TRƯỜNG

KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN TRƯỜNG

KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn đề tài “Kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của

bản thân tôi Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều đã được trích dẫn

rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, đảm bảo tính chính xác và tin cậy, nếu sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Học viên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH

VỤ AN NINH TRẬT TỰ 8

1.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự 8 1.2 Khái niệm và nội dung của pháp luật về điều kiện kinh doanh 13 1.3 Điều kiện kinh doanh và điều kiện kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự 25

Tiểu kết chương 1 36 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ TỪ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 37

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật kinh doanh dịch vụ an ninh trật

tự tại Việt Nam 37

2.2 Các quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự 38 2.3 Thực tiễn áp dụng quy định về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự tại Thành phố Hồ Chí Minh 53

Tiểu kết chương 2 59 CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 61

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự 61 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự 63

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ

an ninh trật tự 70

Tiểu kết chương 3 71

Trang 5

KẾT LUẬN 72

Tài liệu tham khảo 73

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, quan điểm về kinh tế thị trường đã xuất hiện từ Đại hội VI, nhưng phải đến Đại hội IX (Tháng 4 năm 2011) thì khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới được chính thức sử dụng trong các văn kiện của Đảng Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của cả nước nói chung, của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, các cơ sở đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, nhất là vũ trường, quán karaoke, dịch vụ massage, dịch vụ cầm đồ, cho thuê lưu trú,… khá phát triển Bên cạnh những mặt tích cực về lợi ích kinh tế mang lại, các lĩnh vực này cũng phát sinh và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về an ninh trật tự, cụ thể nhu: thuê khách sạn, nhà nghỉ để hoạt động mại dâm, sử dụng trái phép chất ma túy, tổ chức đánh bạc; sử dụng các quán bar, vũ trường, quán karaoke để làm nơi ăn chơi thác loạn; lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ để tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có, tình trạng cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê,… diễn ra khá phổ biến, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội

Để giải quyết vấn đề này, Đảng và Nhà nước đã xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, cấp bách và lâu dài, đòi hỏi phải có sự tham gia, phối hợp triển khai mạnh mẽ giữa các cơ quan chức năng có thẩm quyền

Ở nước ta hiện nay, pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh đã được xây dựng và hoàn thiện dần theo thời gian, nó tác động trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh của công dân và quyền quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nói riêng, đối với chủ thể kinh doanh khác nói chung

Điều kiện kinh doanh là những yêu cầu mà nhà nước đã đặt ra để buộc các chủ thể kinh doanh phải thực hiện khi kinh doanh trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện Điều kiện kinh doanh được coi là một trong những công cụ quản lý nền kinh tế Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh để quản lý nền kinh tế của quốc gia mình Việc tìm hiểu pháp

Trang 7

luật về điều kiện kinh doanh của các quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành

Điều kiện kinh doanh được nhà nước sử dụng để điều tiết, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hướng đến bảo vệ quyền, lợi ích chung của cộng đồng và xã hội Căn cứ pháp lý của điều kiện kinh doanh đã được hình thành và chính thức ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, đến nay, đã có nhiều thay đổi, góp phần hình thành và phát triển kinh tế thị trường, đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện

Với kết quả khả quan đạt được, pháp luật về điều kiện kinh doanh nói chung,

và pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực an ninh trật tự nói riêng, cũng bộc lộ không ít hạn chế trong thực tiễn áp dụng phát luật Cụ thể là: những quy định pháp luật kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự còn nằm rải rác tại nhiều văn bản khác nhau, cơ chế kiểm soát việc ban hành, thực thi các điều kiện kinh doanh chưa được thực hiện thường xuyên Với những hạn chế kể trên đã làm giảm đi phần nào

ý nghĩa của quy định về điều kiện kinh doanh trong quan lý nhà nước Bên cạnh

đó, hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân và trong nhiều trường hợp gây khó khăn cho doanh nghiệp trên cả nước nói chung và địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Hiện nay, Việt Nam đã tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã và đang tạo ra sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt, vấn đề về mở cửa thị trường, nếu không có sự chuẩn bị tốt, các doanh nghiệp Việt sẽ gặp không ít khó khăn, bất lợi trong thời gian sắp tới

Xuất phát từ thực trạng của pháp luật về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự hiện nay cũng như vai trò, ý nghĩa của nó, việc nghiên cứu, đánh giá nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự là cần

thiết, ý nghĩa Tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh” làm đề

tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu, tác giả được biết, pháp luật kinh doanh dịch vụ an ninh trật

tự đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu luật học, cũng như những người làm công tác thực tiễn áp dụng pháp luật Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm lớn như sau:

Nhóm các khóa luận, luận văn: Các công trình nghiên cứu khoa học trong nhóm này gồm có:

- Vũ Thị Hiền (2014), Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt

Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

- Nguyễn Trọng Hạnh (2016), Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh

trật tự và thực tiễn thi hành tại Tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại

học Luật Hà Nội

- Chu Thị Huyền Trang (2017), Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh rượu

ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Các công trình nghiên cứu khoa học trong nhóm này gồm có:

- Tiến sỹ Trần Huỳnh Thanh Nghị, “Thực trạng pháp luật về giấy phép kinh doanh”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 04/2013 Công trình

nghiên cứu này được phát triển trên cơ sở công trình “Cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam trong chặng đường 10 năm hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Luật học – Đại học Luật Hà Nội, số 08/2011 của chính tác giả Đây là công trình tiếp cận các quy định hiện hành về giấy phép kinh doanh với tư cách là một trong những điều kiện kinh doanh quan trọng áp dụng sau thủ tục đăng kí thành lập doanh nghiệp

- Nguyễn Thị Yến, Tiến sỹ Trần Bảo Ánh, Pháp luật về ngành nghề kinh

doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật

Hà Nội, số 04/2013 Trong phạm vi bài tạp chí, các tác giả nghiên cứu đã một cách

Trang 9

tổng quan, tuy không đi sâu vào phân tích từng loại điều kiện kinh doanh, nhưng đã nhấn mạnh một số các điều kiện kinh doanh tiêu biểu nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện của mình

Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Các công trình nghiên cứu khoa học trong nhóm này gồm có:

- Tiến sỹ Nguyễn Thị Dung, “Chế độ pháp lý về giấy phép kinh doanh”,

chương 8, Giáo Trình Luật Thương Mại tập 1, 2008 Tác giả đã trình bày một cách khoa học những vấn đề lý luận chung về giấy phép kinh doanh với tư cách là một công cụ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại Với công trình nghiên cứu này của tác giả chỉ giải quyết một vấn đề nhỏ trong hệ thống điều kiện kinh doanh,

đó là giấy phép kinh doanh

Một điểm chung của các nhóm công trình nghiên cứu kể trên là phần lớn chỉ

đề cập một cách khái quát về điều kiện kinh doanh nói chung Một số công trình nghiên cứu khoa học cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành Có thể nói, hiện nay, gần như chưa có một công trình nghiên cứu khoa học

về những vấn đề pháp lý và thực tiễn trong kinh doanh dịch vụ về an ninh trật tự Trong khi đó, đây là một quy định còn nhiều điểm chưa cụ thể, khiến cho quy định pháp luật này khó áp dụng trong thực tiễn

Xuất phát từ tình hình trên, tác giả mong muốn phân tích gắn với thực tiễn

áp dụng để tìm hiểu những điểm chưa phù hợp của quy định pháp luật hiện hành

Từ đó, tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ về an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu về những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự Bên cạnh đó, cũng phân tích thêm về vai trò quan trọng của các điều kiện an ninh, trật tự đối với ngành nghề

Trang 10

kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự và chỉ ra những thành tựu đã đạt được cùng những khó khăn trong việc áp dụng, thực hiện để từ đó đề xuất những giải pháp về mặt pháp

lý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh, hoạt

động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; làm rõ các quy định của pháp luật

về các điều kiện an ninh trật tự áp dụng với các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện

- Thứ hai, phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động

kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực an ninh trật tự; và chỉ rõ những điều kiện kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự Từ đó, đánh giá tình hình áp dụng các quy định pháp luật trong lĩnh vực này của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện trên địa bàn thành phố và phân tích được những thành tựu, những hạn chế, tồn tại trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Thứ ba, xây dựng định hướng và đưa ra giải pháp kiến nghị hoàn thiện các

quy định pháp luật hiện hành

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tác giả tập trung tìm hiểu và nghiên cứu

các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về pháp luật kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự, phân tích thực tiễn áp dụng quy định pháp luật trong cuộc sống Sau đó, phân tích nguyên nhân dẫn đến những điểm bất hợp lý của pháp luật hiện hành, đưa ra giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động

kinh doanh về an ninh trật tự cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí

Trang 11

Minh nói riêng trong những năm vừa qua Vì đây là một lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nên bên cạnh những quy định về kinh doanh nói chung, mảng những quy định về các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực an ninh trật tự sẽ là những nội dung độc đáo của Đề tài Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn, đề tài có quan tâm

và khai thác nhiều đến khía cạnh điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực an ninh trật

tự

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tác giả thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác –

Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh doanh nói chung và pháp luật doanh nghiệp nói riêng

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

(i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin;

(ii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh

Cụ thể:

Phương pháp phân tích: đây là một phương pháp phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý Được sử dụng để giải thích, phân tích, đánh giá nội dung của các quy phạm pháp luật Vì đề tài này là phân tích pháp luật, đánh giá thực trạng, từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật nên phương pháp này là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong toàn luận văn

Phương pháp so sánh: tác giả sử dụng phương pháp này để so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành với các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về pháp luật kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự Phương pháp này được sử dụng tập trung trong chương 1 của đề tài

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Việc thực hiện đề tài luận văn này, tác giả mong muốn hệ thống hoá, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học về cơ sở lý luận của pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Thông qua đề tài, tác giả đã đưa ra những kết quả tích cực đạt được, những mặt còn hạn chế trong quá trình thực hiện và chỉ ra những bất cập trong các quy định hiện hành về pháp luật kinh doanh dịch vụ an ninh Bên cạnh đó, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Từ đó, đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh dịch vụ an ninh trật

tự và pháp luật về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự

Chương 2: Thực trạng về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự từ Thành phố

Hồ Chí Minh

Chương 3: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ

AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH

DỊCH VỤ AN NINH TRẬT TỰ

1.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự

1.1.1 Khái niệm về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện

Trước khi tìm hiểu về hoạt động kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự, có thể

thấy “kinh doanh” là một thuật ngữ khá phổ biến được sử dụng trong đời sống kinh

tế Khái niệm “kinh doanh” đã được pháp luật Việt Nam đề cập, sử dụng từ năm

1990 trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Đến năm 1999, khái niệm

“kinh doanh” được quy định cụ thể tại Điều 3 Khoản 2 Luật Doanh nghiệp năm

1999, cụ thể: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn

của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” – căn cứ theo Điều 4 Khoản

16 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Dưới góc độ pháp lý, hoạt động đầu tư có thể có tính chất thương mại hoặc phi thương mại – các dự án đầu tư công, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước Căn cứ theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa tại

Điều 3 Khoản 5, cụ thể như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu

tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu

tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”

Như vậy, đối với việc thành lập doanh nghiệp mới, có thể hiểu một cách đơn giản, đầu tư kinh doanh là giai đoạn phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, bao trùm lên hoạt động thành lập doanh nghiệp Thành lập doanh nghiệp chỉ là một trong những cách thức thực hiện hoạt động đầu tư, là bước cụ thể hóa ý định đầu

Trang 14

tư Tuy nhiên, thành lập doanh nghiệp chỉ là một hình thức đầu tư trong các hình thức đầu tư mà Luật Đầu tư năm 2014 quy định

Bản chất của nền kinh tế thị trường là phải tự do kinh doanh Tuy nhiên, quyền tự do của một người thường luôn bị hạn chế bởi quyền tự do của một hay nhiều người khác, vậy nên, trong một số trường hợp cụ thể, quyền tự do bị giám sát bởi quyền lực nhà nước Không có hoạt động đầu tư kinh doanh nào là không có điều kiện Tuy nhiên, mỗi loại hoạt động cần những điều kiện khác nhau và mức độ can thiệp của nhà nước thông qua pháp luật vào hoạt động đó cũng khác nhau

Theo nghĩa rộng, điều kiện kinh doanh có thể hiểu là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào quyền tự do kinh doanh của người dân, thường được

cụ thể hóa bằng hành vi của nhân viên hành chính, có quyền chấp nhận, hạn chế, khước từ việc đăng ký kinh doanh, hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể

Theo nghĩa hẹp, điều kiện kinh doanh được hiểu là những tiêu chuẩn phải duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, được áp dụng cho một ngành hàng hoặc lĩnh vực kinh doanh cụ thể, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo cơ chế hậu kiểm

Việc ban hành Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, khái niệm điều kiện kinh doanh đã được thống nhất, đây là căn cứ để các bộ, ngành phải thực hiện soạn thảo các nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với một số ngành, nghề chưa có văn bản quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh, phải sửa đổi các quy định về điều kiện về đầu tư kinh doanh được ban hành không đúng thẩm quyền của Luật Đầu tư

Theo quy định tại Điều 7 Khoản 1 Luật Đầu tư năm 2014, khái niệm về

ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, được quy định cụ thể: “Ngành, nghề đầu tư

kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”

Trang 15

Với khái niệm trên, có thể nói, điều kiện để đầu tư, kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là những điều kiện mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh một ngành, nghề cụ thể

Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư đã có những quy định tách bạch giữa việc yêu cầu thành lập doanh nghiệp và yêu cầu về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Như vậy điều kiện kinh doanh có thể hiểu là điều kiện mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu

về vốn pháp định hoặc một số yêu cầu khác Đối với những ngành, nghề mà pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được thành lập và hoạt động khi có đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật

Căn cứ quy định tại Điều 2 Khoản 7 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

năm 2014 thì “Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải

đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”

Theo quy định tại Điều 9 Khoản 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP thì các điều kiện đầu tư kinh doanh được áp dụng theo các hình thức sau:

Trang 16

- Các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật ngoài các hình thức điều kiện trên;

- Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản

Như vậy, Luật Doanh nghiệp tiếp cận điều kiện đầu tư, kinh doanh, dưới góc

độ là những yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp khi kinh doanh ngành, nghề trong mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện

1.1.2 Khái niệm về kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự

Hiện nay, các quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, các văn bản, Nghị định, Thông tư… chưa có khái niệm cụ thể về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự

Kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự là thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định

Vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng

Theo đó các danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định

cụ thể tại Phụ lục 4 của Luật Đầu tư 2014

Điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề được quy định tại các luật, pháp lệnh hay nghị định Được quy định trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Theo đó bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh

Điều kiện đầu tư kinh doanh phải phù hợp với mục tiêu của quy định và phải công khai, minh bạch, khách quan

Điều kiện kinh doanh chính là các yêu cầu từ phía cơ quan quyền lực nhà nước buộc các doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện đều được thể hiện cụ thể

Trang 17

trên giấy phép kinh doanh, giấy chức nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác

Một số định nghĩa về dịch vụ:

Adam Smith định nghĩa như sau: “Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ Opera, vũ công… Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra” Từ định nghĩa trên, có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thu đồng thời.1

Ngày nay, vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được

nhận thức rõ ràng hơn C.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản

xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con

Từ định nghĩa này, C.Mác chỉ ra được nguồn gốc và sự phát triển của dịch

vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Khoản 1 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư

kinh doanh có điều kiện, thuật ngữ “an ninh trật tự” được quy định như sau: “An

ninh, trật tự là cách viết gọn của cụm từ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”

Qua nghiên cứu các tài liệu khác nhau, danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật, có thể khái quát khái niệm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự như sau: Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự là những ngành, nghề đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện về an ninh, trật tự trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Đây là những ngành, nghề khá phức tạp, vừa chịu sự quản lý về

Trang 18

hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, vừa chịu sự quản lý của lực lượng công an về an ninh, trật tự nhằm đảm bảo yêu cầu hoạt động kinh doanh của các cơ sở, vừa chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Theo quy định trong Nghị định số 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định

về điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì: Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự là những ngành, nghề quy định tại Điều 3 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ, trong quá trình hoạt động kinh doanh có yếu tố phức tạp liên quan đến an ninh, trật

tự dễ bị lợi dụng để hoạt động phạm tội và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác

1.2 Khái niệm và nội dung của pháp luật về điều kiện kinh doanh

1.2.1 Khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh

Thực hiện công cuộc đổi mới, trên phương tiện kinh tế của Việt Nam 30 năm trước đây (từ Đại hội VI, năm 1986) về bản chất đã từng bước dỡ bỏ các rào cản kinh doanh Từ đó, mọi quyền sản xuất kinh doanh đều tập trung vào nhà nước – dưới các hình thức quốc doanh, hợp tác xã,…, được thay thế bằng việc tư nhân được quyền tự tổ chức sản xuất, kinh doanh Người dân, từ chỗ không có quyền làm ăn kinh doanh, từng bước thay đổi, đã được làm những gì nhà nước cho phép, tiến tới “được tự do kinh doanh trong những ngành nghề không bị cấm” Từ thời điểm này, pháp luật về đầu tư, kinh doanh mới được xây dựng và hoàn thiện qua từng giai đoạn

Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 đều đề cập đến những điều kiện đầu tư, kinh doanh cơ bản Các văn bản quy phạm pháp luật này chủ yếu tập trung quy định về điều kiện để thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty Theo đó, nhà đầu tư phải đáp ứng được yêu cầu về vốn pháp định; yêu cầu

về chuyên môn, nghiệp vụ đối với người quản lý hoặc người được thuê quản lý,

Trang 19

điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty; chủ thể kinh doanh phải xin giấy phép thành lập ở Ủy ban Nhân dân cấp có thẩm quyền; đối với một số ngành, nghề, chủ thể kinh doanh phải được sự cho phép của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, cụ thể như: sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc đọc, hóa chất độc; khai thác các loại khoáng sản quý; sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn; sản xuất các phương tiện phát sóng truyền tin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản; vận tải viễn dương và vận tải hàng không; chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; Du lịch quốc tế

Nhìn chung, trong thời kì này, các quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh vẫn còn sơ sài và chỉ hướng đến việc thành lập doanh nghiệp, chưa chú trọng đến việc thanh tra, kiểm soát các hoạt động của nhà đầu tư sau đăng ký đầu tư, kinh doanh

Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành ngày 12/06/1999 đã tạo ra bước ngoặt lớn trong việc cải cách khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó bao gồm các quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh Tại

Điều 17 Khoản 2 Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định: “Doanh nghiệp có quyền

hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh các ngành, nghề đó kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh hoặc có đủ điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định”,

Nghị định số 03/2000/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã khẳng định rõ điều kiện đầu tư, kinh doanh được thể hiện dưới

02 hình thức sau: giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp;

và các điều kiện đầu tư, kinh doanh không cần giấy phép: các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh Nhìn chung, xu hướng của pháp luật là đơn giản hóa điều kiện thành lập doanh nghiệp, tăng cường việc kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp sau khi thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh Tuy vậy, trên thực tế cho thấy,

Trang 20

quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong giai đoạn này vẫn tồn tại một số bất cập nhất định, chưa đưa được ra cách hiểu thống nhất về điều kiện đầu tư, kinh doanh, chỉ đưa ra quy định chung do vậy tạo đà cho hàng loạt các vấn nạn sách nhiễu, gây phiền hà từ phía cơ quan công quyền đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm

1999, vẫn tiếp tục duy trì những nội dung cơ bản về điều kiện đầu tư, kinh doanh Bên cạnh đó, điều kiện đầu tư, kinh doanh không chỉ bó hẹp trong phạm vi “cho phép” và “không cần giấy phép” mà đã được mở rộng ra thành các “chấp thuận” và

“không cần sự chấp thuận” của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Tập hợp, thống kê từ dữ liệu pháp luật Việt Nam, tính đến hết tháng 7 năm

2008 đã có 43 Luật và Pháp lệnh, 108 Nghị định, hơn 350 Thông tư và Quyết định của các bộ có nội dung quy định về kinh doanh có điều kiện Trong đó, bao gồm khoảng 400 hoạt động kinh doanh có điều kiện, với hơn 300 giấy phép các loại3

Để ngăn chặn tình trạng ban hành giấy phép tràn lan bất hợp lý, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định cụ thể tại Điều 7 Khoản 4 Luật Doanh nghiệp năm

2005 như sau: “Chính phủ định kì rà soát, đánh giá lại toàn bộ hoặc một phần các điều kiện kinh doanh; bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; sửa đổi hoặc kiến nghị sửa đổi các điều kiện bất hợp lý; ban hành hoặc kiến nghị ban hành điều kiện kinh doanh mới theo yêu cầu quản lý nhà nước” Với quy định này sẽ tạo được khung pháp lý, giao nhiệm vụ cho Chính phủ phải thường xuyên giám sát và thay đổi kịp thời theo yêu cầu quản lý nhà nước trong lộ trình hội nhập, phát triển

Tuy nhiên, 10 năm kể từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014, là một khoảng thời gian quá dài, chính vì lẽ đó, điều kiện kinh doanh do các bộ, ngành và chính quyền địa phương ban hành trái luật tăng vọt với con số lên đến khoảng 4.000 điều kiện kinh

Trang 21

doanh trái luật Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành, đối đầu trực diện với thực tế nêu trên

Tóm lại, có thể hiểu, pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, hoạt động kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện của các chủ thể kinh doanh

Căn cứ quy định tại Luật Đầu tư thì ngày 01/7/2016 là thời điểm hết hiệu lực của quy định về điều kiện kinh doanh do các bộ ban hành và 267 là con số cô định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 Tuy nhiên, tại thời điểm này, đã có luật sửa đổi Phụ lục 4 về 267 ngành, nghề nêu trên Hiện nay, chỉ còn 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh

Với tư cách là một bộ phận của pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư kinh doanh, pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh có nhiệm vụ là điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Nội dung của pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tính chất và sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển nền kinh tế… Vì vậy, mỗi giai đoạn khác nhau, pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh sẽ có những thay đổi phù hợp

Nhìn chung, pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam có những nội dung cơ bản sau:

- Định nghĩa về điều kiện đầu tư, kinh doanh và các hình thức của điều kiện đầu tư, kinh doanh

- Quy định về các ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện

Trang 22

- Quy định cụ thể cách thức đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh, thời điểm phải đáp ứng điều kiện đầu tư, kinh doanh

- Quy định về quản lý nhà nước đối với điều kiện đầu tư, kinh doanh Cụ thể

sẽ xác định thẩm quyền đặt ra các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh; thẩm quyền, trách nhiệm cấp, hoặc xác nhận các điều kiện đầu tư, kinh doanh; thẩm quyền xem xét, kiểm tra và xử lý các vi phạm điều kiện đầu tư kinh doanh

1.2.3 Pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh của một số quốc gia trên thế giới

1.2.3.1 Pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh ở Mỹ

Mỹ là một quốc gia cộng hòa lập hiến liên bang, bao gồm 50 bang và một đặc khu liên bang Hệ thống pháp luật của Mỹ bao gồm hệ thống pháp luật liên bang và hệ thống pháp luật bang Do đó, khi thực hiện các hoạt động kinh doanh tại quốc gia này, doanh nghiệp phải tuân thủ một loạt các quy định của địa phương, tiểu bang và của liên bang Pháp luật doanh nghiệp Mỹ cũng có những quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh gắn với từng loại hình doanh nghiệp hoặc một số loại ngành, nghề nhất định

Đa số các nhà nghiên cứu đều đánh giá rằng, việc bắt đầu một doanh nghiệp

ở Mỹ khá dễ dàng, bởi vì họ quy định rất đơn giản, tinh gọn các thủ tục về đăng kí kinh doanh Bên cạnh đó, hệ thống đăng kí kinh doanh, quốc gia này đã thiết lập cơ chế xin giấy phép và chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền rất rõ ràng và cụ thể để kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư, doanh nghiệp

Tại Mỹ, có hai hệ thống cấp phép, cụ thể là: Giấy phép và sự chấp thuận của tiểu bang (State Licenses & Permits) và Giấy phép và sự chấp thuận của Liên bang (Federal Licenses & Permits) Hai hệ thống này tồn tại song song với nhau và chi phối đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đầu tiên, doanh nghiệp đó phải đáp ứng được các yêu cầu để xin phép kinh doanh tại địa phương, tiểu bang – nơi mà doanh nghiệp có trụ sở Trường hợp doanh nghiệp đó kinh doanh lĩnh vực, ngành nghề có sự kiểm soát của liên bang,

Trang 23

thì doanh nghiệp chỉ dược thực hiện hoạt động kinh doanh đó khi được chính quyền liên bang chấp thuận hoặc cấp giấy phép kinh doanh Có thể kể đến một số ngành, nghề cơ bản tại Mỹ mà doanh nghiệp phải xin giấy phép của liên bang như:

+ Các doanh nghiệp sản xuất, thỏa thuận và nhập khẩu vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ phải tuân thủ các yêu cầu cấp phép của Đạo Luật kiểm soát vũ khí Đạo luật được quản lý bởi Cục quản lý Rượu, thuốc lá, súng và chất nổ (ATF)…

+ Nếu doanh nghiệp nhập hoặc vận chuyển động vận, sản phẩm động vận, sinh học, công nghệ sinh học hoặc có nhà máy trên khắp các bang, doanh nghiệp sẽ cần phải xin giấy phép từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)

+ Doanh nghiệp sản xuất năng lượng hạt nhân cũng như các doanh nghiệp tham gia vào việc phân phối và xử lý vật liệu hạt nhân phải xin giấy phép từ Ủy ban điều tiết hạt nhân Mỹ

+ Doanh nghiệp liên quan đến hoạt động của tàu bay; việc vận chuyển hàng hóa, người qua đường hàng không sẽ cần phải áp dụng cho một hoặc nhiều giấy phép từ Cục Hàng không Liên bang

+ Trường hợp doanh nghiệp tham gia vào bất kì hoạt động liên quan đến động vật hoang dã, gồm cả việc xuất nhập khẩu động vật hoang dã và các sản phẩm phái sinh, phải có được một giấy phép thích hợp từ cơ quan quản lý Động vật hoang dã Hoa Kỳ

Bên cạnh đó, còn nhiều ngành, nghề khác mà khi tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp bắt buộc phải xin phép cơ quan quản lý chuyên ngành liên bang như: khai thác thủy sản, phát thanh truyền hình, khai thác mỏ, kinh doanh vận tải hàng hải, giao thông vận tải và hậu cần… Đây đều là những ngành, nghề mà sức ảnh hưởng từ bản chất của hoạt động kinh doanh hay quy mô của doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một bang mà cần phải có sự kiểm soát của liên bang để đảm bảo an toàn và an ninh cho nền kinh tế

Bên cạnh đó, từng địa phương, tiểu bang lại có quy định khác nhau về việc cấp giấy phép và cho phép kinh doanh đối với doanh nghiệp, tùy thuộc vào điều

Trang 24

kiện kinh tế xã hội và chính sách của các nhà cầm quyền Một số nơi đòi hỏi doanh nghiệp phải có giấy phép chung, có nơi quy định giấy phép theo ngành, nghề kinh doanh, lại có những nơi quy định giấy phép theo loại hình doanh nghiệp Cụ thể: Ở Columbia: Hầu hết các cá nhân và các công ty kinh doanh tại Quận Columbia phải

có giấy phép kinh doanh cơ bản của DCRA (viết tắt của The Department of Consumer and Regulatory Affairs) cơ quan quản lý chung của Quận Columbia, bảo đảm phúc lợi sức khỏe, an toàn và kinh tế của người dân thông qua chương trình cấp phép, kiểm tra, tuân thủ và thực thi pháp luật Bên cạnh đó, Sở Y tế (DHO) phát hành giấy phép chuyên ngành nhất định, Bộ Giao thông vận tải Quận (DDOT) quy định không gian công cộng và Văn phòng Phân vùng (DCOZ) kiểm soát sử dụng đất

Ngoài ra, giấy phép kinh doanh cấp cho doanh nghiệp, ở quốc gia này cũng tồn tại cơ chế cấp phép cho cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến năng lực, chuyên môn của cá nhân này nhằm bảo đảm lợi ích công cộng Ở Mỹ, có rất nhiều ngành, nghề chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý Sự kiểm soát này được thể hiện ở 03 hình thức:

+ Cấp phép: Đây là cơ chế bắt buộc đối với một số ngành, nghề (cụ thể như: bác sĩ, luật sư, y tá) chỉ khi có được giấy phép hành nghề này, thì cá nhân mới được phép hoạt động trên thực tế Trường hợp không có mà vẫn thực hiện hoạt động nghề nghiệp này, đồng nghĩa với việc họ đã vi phạm pháp luật Để có được giấy phép hành nghề này, cá nhân đó phải đáp ứng những quy định, tiêu chuẩn của các

cơ quan có thẩm quyền

+ Cấp giấy chứng nhận: Việc cấp giấy chứng nhận được đặt ra khi hoạt động

đó không có trong giới hạn của ngành, nghề được cấp giấy phép, chủ thể kinh doanh thực hiện có thể tự nguyện xin xác nhận là có chuyên môn liên quan đến lĩnh vực này từ các cơ quan chức năng có thẩm quyền mà nhà nước chỉ định Cụ thể như: chứng nhận là nhà phân tích tài chính, chứng nhận bác sĩ có chuyên khoa hô hấp…

Trang 25

+ Đăng ký: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lập một danh sách, cung cấp những điều kiện nhất định để được có tên trong danh sách này, sau đó, các chủ thể có nhu cầu đăng ký tên và địa chỉ, trình độ với các cơ quan quản lý Chỉ cần có khiếu nại của khách hàng (người tiêu dùng), hoặc việc thực hiện niêm yết công khai thông tin chưa đúng thì chủ thể đó có thể bị loại ra khỏi danh sách này Điều

đó đồng nghĩa với việc tiếp tục thực hiện kinh doanh sẽ là trái với quy định pháp luật

Ngoài những điều kiện đầu tư, kinh doanh này, ở mỗi một bang, tùy từng giai đoạn khác nhau, doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các điều kiện khác nhau do cơ quan quản lý đưa ra, cụ thể như: chứng minh vốn pháp định (tại Bang Delaware, Bang New York,…); chứng minh khoản nợ của doanh nghiệp (ở Columbia)…

1.2.3.2 Pháp luật về điều kiệu đầu tư, kinh doanh ở Singapore

Singapore là một đảo quốc tại Đông Nam Á Singapore là một trung tâm thương mại, trung tâm tài chính lớn của thế giới Pháp luật doanh nghiệp của Singapore chịu ảnh hưởng nhiều của hệ thống pháp luật Anh (trừ những nội dung mang tính địa phương) cũng được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ đem lại hiệu quả điều chỉnh cao đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, việc thành lập doanh nghiệp, bắt đầu kinh doanh tại Singapore khá thuận tiện và dễ dàng hơn so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á Chủ thể kinh doanh khi muốn thành lập doanh nghiệp thì nộp hồ sơ thông báo đến cơ quan có thẩm quyền về đăng kí kinh doanh,

đó là cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp của Singapore (ACRA) Thủ tục này

có thể được thực hiện hoàn toàn qua hệ thống đăng kí trực tuyến của ACRA Giống như nhiều nước trên thế giới, để thực hiện việc đảm bảo về lợi ích của nền kinh tế

và yêu cầu của quá trình quản lý nhà nước, bên cạnh cơ chế đăng kí thành lập, Singapore cũng đặt ra quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong một số những ngành nghề nhất định Chẳng hạn như: dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giao thông vận tải và lưu trữ, xuất nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh khách sạn, nhà trọ, hoạt động trong ngành giải trí… Theo quy định của pháp luật Singapore, để có thể đăng kí

Trang 26

kinh doanh hoặc thực hiện kinh doanh trong một số ngành, nghề cụ thể, doanh nghiệp phải được cấp giấy phép hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền Có ba loại giấy phép phổ biến ở Singapore, là:

- Giấy phép bắt buộc (Compulsory Licences)

Đây là loại giấy phép cấp cho doanh nghiệp kinh doanh Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp mà chỉ một số doanh nghiệp nhất định đòi hỏi phải có giấy phép đặc biệt này trước khi họ có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh Ví dụ: Trường tư thục, các công ty sản xuất video, công ty du lịch, các nhà phân phối rượu, người cho vay, các ngân hàng và các trung tâm chăm sóc trẻ em… Với những trường hợp này, chủ thể kinh doanh sẽ cần phải có giấy phép này khi đăng

kí kinh doanh với ACRA Hay nói cách khá, doanh nghiệp phải có giấy phép này thì mới được đăng kí kinh doanh Trong trường hợp này, có thể mất từ 14 ngày đến

02 tháng để có được tất cả các giấy phép cần thiết, sự cho phép và phê duyệt để tạo thành doanh nghiệp Điều đặc biệt, pháp luật Singapore tạo điều kiện tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho các chủ thể kinh doanh bằng cách cho phép họ có thể đăng kí kinh doanh và nộp đơn xin giấy phép bắt buộc phải cùng một lúc bằng cách sử dụng dịch vụ cấp giấy phép kinh doanh trực tuyến

- Giấy phép nghề nghiệp (Occipational Licences)

Trường hợp một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp (dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ pháp lý,…) thì cần phải có giấy phép nghề nghiệp Loại giấy phép này không cấp cho doanh nghiệp mà cấp cho cá nhân, là những người quản lý doanh nghiệp hoặc các nhân viên của doanh nghiệp

đó Những ngành, nghề phổ biến phải có giấy phép nghề nghiệp ở Singapore đó là: bác sĩ, luật sự, kiến trúc sư, kế toán,… Giấy phép này sẽ được cấp bởi các tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý tương ứng

- Giấy phép hoạt động kinh doanh (Business Activity Licences)

Sau khi được thành lập, đi vào hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: cải tạo, dựng biển quảng cáo trên cơ sở của doanh

Trang 27

nghiệp, thuê lao động nước ngoài, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, buôn bán những hàng hóa bị kiểm soát như rượu, thuốc lá,… Chủ thể kinh doanh chỉ được thực hiện hoạt động đó khi được cấp giấy phép hoặc được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Cụ thể như sau: Trường hợp doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, bắt buộc phải xin giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu qua – trang thông tin quản

lý của Hải quan Singapore Họ sẽ phải kích hoạt tài khoản hải quan của mình trước khi xuất, nhập khẩu hàng hóa Khi đăng kí kinh doanh, doanh nghiệp sẽ được cấp một trị số UEN, đối với doanh nghiệp UEN chính là số đăng kí kinh doanh cấp cho doanh nghiệp Chỉ khi có UEN, chủ thể kinh doanh đó mới kích hoạt được tài khoản hải quan để xin phép nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa Hoặc khi doanh nghiệp muốn thực hiện hoạt động quảng cáo, nếu như là quảng cáo ngoài trời thì cần phải xin giấy phép xây dựng của cơ quan quản lý xây dựng BCA; trường hợp là quảng cáo các sản phẩm y tế thì cần phải xin giấy phép của cơ quan khoa học y tế HAS…

Đặc biệt, các điều kiện đầu tư, kinh doanh đều được Chính phủ Singapore công khai trên các trang thông tin điện tử chính thức, các doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ cấp phép EnterpriseOne kinh doanh trực tuyến (OBLS), để thực hiện việc xin những giấy phép cần thiết để thành lập và hoạt động Điều này rất hữu ích, các doanh nghiệp không phải mất thời gian để đến trực tiếp liên hệ các cơ quan chức năng có thẩm quyền

1.2.3.3 Pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh của Trung Quốc

Chính phủ Trung Quốc và người dân vẫn đang nỗ lực trong công cuộc xây dựng và hoàn thiệt hệ thống pháp luật, nỗ lực xây dựng một xã hội pháp trị hiện đại hóa Tại Trung Quốc, pháp luật kinh doanh rất được chú trọng, các quy định về điều kiện kinh doanh được nhà nước này đặc biệt quan tâm, đưa ra nhiều quy định phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong các đạo luật có hiệu lực cao như: Luật Công ty năm 2005, Luật cấp phép kinh doanh năm 2004 và một số đạo luật chuyên ngành khác Nhìn chung, các điều kiện đầu tư, kinh doanh tại Trung Quốc được thể

Trang 28

hiện ở hình thức văn bản chấp thuận hay điều kiện đầu tư, kinh doanh không cần văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các doanh nghiệp tại Trung Quốc phải đáp ứng những điều kiện đầu tư, kinh doanh ngay trước khi đăng

kí thành lập doanh nghiệp và cả sau khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động Khi tiến hành thực hiện đăng kí thành lập doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh phải xin chấp thuận của cơ quan chức năng về:

- Tên của doanh nghiệp: theo quy định của pháp luật Trung Quốc, bước đầu tiên để bắt đầu một doanh nghiệp ở nước này, là việc chọn tên cho doanh nghiệp Chủ thể kinh doanh phải nộp đơn xin chấp thuận của Cục quản lý Công nghiệp và Thương mại địa phương (AIC) về tên doanh nghiệp Chỉ khi được cơ quan này có văn bản chấp nhận tên doanh nghiệp thì chủ thể kinh doanh đó mới được tiến hành các hành vi đăng kí kinh doanh tiếp theo

- Về vốn pháp định: Tại Trung Quốc, pháp luật quốc gia này yêu cầu, doanh nghiệp muốn được khai sinh và công nhận sự ra đời một cách hợp pháp thì phải đáp ứng yêu cầu về vốn tối thiểu theo từng loại hình công ty Theo Luật Công ty năm 2005 của Trung Quốc, quy định như sau: để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, doanh nghiệp phải có ít nhất 100.000 yuan; để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, doanh nghiệp phải có ít nhất 30.000 yuan và để thành lập công ty cổ phần doanh nghiệp phải có ít nhất 5.000.000 yuan Căn cứ quy định này, doanh nghiệp sau khi được sự chấp thuận của AIC về tên doanh nghiệp,

sẽ chủ động mở tài khoản ngân hàng, nộp tiền góp vốn ban đầu vào tài khoản đó và yêu cầu ngân hàng xác nhận Nếu việc góp vốn ban đầu không bằng tiền mặt, mà bằng tài sản thì chủ thể góp vốn phải thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty và giá trị tài sản phải được thẩm định một cách hợp pháp Trong một số trường hợp doanh nghiệp phảu có báo cáo thẩm tra vốn từ cơ quan kiểm toán Đây được xem như tài liệu không thể thiếu trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp Vốn pháp định ở Trung Quốc không nhất thiết phải góp đủ ở thời điểm đăng kí doanh nghiệp

mà có thời gian tối đa để thực hiện việc góp vốn này

Trang 29

Khi thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp trong một số trường hợp nhất định phải xin phép hoạt động với cơ quan chuyên ngành quản lý lĩnh vực mà doanh nghiệp đó kinh doanh Đầu tiên phải kể đến hệ thống cấp phép, bao gồm:

- Giấy phép kinh doanh tạm thời (The temporary Business License): đây là giấy phép do cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp trong thời gian doanh nghiệp chờ đợi góp đầy đủ vốn pháp định Khi vốn pháp định được góp đầy đủ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, khi doanh nghiệp đã góp đủ vốn pháp định, thời gian ở giấy phép kinh doanh sẽ được điều chỉnh theo thời gian hoạt động thực tế của doanh nghiệp

- Giấy phép kinh doanh bắt buộc: là yêu cầu bắt buộc phải có ở Trung Quốc gắn liền với một số ngành, nghề cụ thể như là: xuất nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh thuốc, khám chữa bệnh… Thông thường mục đích của việc cấp giấy phép kinh doanh là để chứng nhận doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, quy định thời gian được phép kinh doanh, phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp Theo đánh các của các nhà nghiên cứu, việc cấp giấy phép kinh doanh ở Trung Quốc rất phức tạp, cần đáp ứng rất nhiều yêu cầu và đối với các nhà đầu tư nước ngoài việc cấp giấy phép kinh doanh sẽ khó khăn hơn nhà đầu tư trong nước Ngoài ra, khi thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp ở Trung Quốc còn phải thông qua nhiều sự chấp thuận khác của các cơ quan chức năng có thẩm quyền

1.2.3.4 Bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam về điều kiện đầu tư, kinh doanh

Về thủ tục hành chính,

Việc quy định thủ tục hành chính điểu chỉnh những điều kiện đầu tư, kinh doanh cũng phải rõ ràng, thuận tiện, nhanh chóng cho nhà đầu tư Từ kinh nghiệm của các nước cho thấy, thủ tục hành chính càng khó khăn, phức tạp, kéo dài sẽ dẫn tới việc các nhà đầu tư, kinh doanh thực hiện những “giao dịch ngầm” trái quy định của pháp luật nhưng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp hơn là tuân thủ đúng quy định pháp luật

Trang 30

Về pháp luật,

Cần xây dựng hệ thống pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh một cách minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tra cứu, áp dụng khi tiến hành các hoạt động kinh doanh Qua nghiên cứu các quốc gia đều thực hiện khá tốt yêu cầu minh bạch này, tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống quy định này còn khá rắc rối, gây ra không ít trở ngại cho các nhà đầu tư

Về cơ sở hạ tầng,

Phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố cần thiết và tạo điều kiện thông thoáng cho việc đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, thực hiện theo đúng phương châm: Chính phủ kiến tạo, liêm chính và phục vụ

1.3 Điều kiện kinh doanh và điều kiện kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự

1.3.1 Điều kiện kinh doanh

Căn cứ quy định tại Điều 2 Khoản 7 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

năm 2014 thì “Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải

đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” Như vậy, điều kiện đầu tư có thể được hiểu là điều kiện mà

pháp luật quy định chủ thể kinh doanh phải đáp ứng khi kinh doanh trong một số ngành, nghề nhất định

Điều kiện kinh doanh được thực hiện dưới 02 hình thức sau:

1) Giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp;

2) Các điều kiện quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về phòng cháy chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là điều kiện kinh doanh không cần giấy phép)

Trang 31

Những quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được ban hành bởi

cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ Các văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành hoặc chính quyền địa phương ban hành mà không căn cứ trên quy định của Luật, Pháp lệnh, Nghị định quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh các ngành, nghề đó đều không có hiệu lực thi hành

Đặc biệt, đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì chủ thể chỉ có quyền kinh doanh ngành, nghề đó kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật

Điều kiện đầu tư có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

(1) Chủ thể ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh

Căn cứ theo Điều 33 Hiến pháp năm 2013 thì “Mọi người có quyền tự do

kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”

Nhằm mục đích bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân, Điều 7

Khoản 3 Luật đầu tư năm 2014 có quy định: “Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với

ngành, nghề quy định tại Khoản 2 điều này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh” Với quy định này, thì Bộ, các cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân các cấp không được ban hành các loại giấy phép hoặc các điều kiện đầu tư, kinh doanh

Theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2015 thì Quốc hội có thẩm quyền ban hành Hiến pháp, Bộ Luật, Luật và Nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền ban hành Pháp lệnh và Nghị quyết Nghĩa là, Luật Đầu tư năm 2014 đã loại trừ khả năng ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh được quy định tại Nghị quyết của Quốc

Trang 32

hội và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việc này phù hợp với bản chất của điều kiện kinh doanh

Việc đặt ra những quy định về điều kiện kinh doanh, không chỉ tác động trực tiếp đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó còn liên quan đến sự tăng trưởng của cả nền kinh tế Vì vậy, cần thiết phải có những quy định thống nhất, mang tính bao quát, bảo đảm hài hòa lợi ích chung và lợi ích riêng, tránh hướng tới lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ Ngoài ra, quy định như vậy cũng tạo ra nhận thức xã hội tốt hơn về quyền tự do kinh doanh của người dân và khơi gợi tư duy hạn chế quyền lực nhà nước, nhất là hạn chế thẩm quyền của địa phương và của các

bộ trong việc ban hành điều kiện đầu tư, kinh doanh bằng những văn bản chính thức có hiệu lực pháp lý thấp hơn

(2) Về phạm vi và đối tượng áp dụng của điều kiện kinh doanh

Về lý thuyết, điều kiện kinh doanh phải luôn gắn với ngành, nghề kinh doanh

cụ thể Nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, có rất nhiều ngành, nghề kinh doanh thuộc các lĩnh vực khác nhau Tuy vậy, điều kiện kinh doanh chỉ được áp dụng đối với những ngành, nghề có tính chất đặc biệt – khoa học pháp lý gọi đây là những ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện Về cơ bản, những ngành, nghề này tồn tại, phát triển sẽ có tác động đến môi trường, con người, an ninh trật tự, trật

tự an toàn xã hội… Mặc dù, pháp luật không cấm, nhưng cần thiết phải có sự kiểm soát một cách chặt chẽ, nhằm bảo đảm tối đa lợi ích công cộng trong những vấn đề này

Hiện nay, danh mục các ngành, nghề được quy định trong Phụ lục 4 Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2014 Tùy từng thời kì, tùy từng giai đoạn phát triển kinh tế cụ thể mà Quốc hội sẽ đưa ra danh sách những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sao cho phù hợp với chính sách của Nhà nước và yêu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế

Trang 33

Chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, và hộ gia đình có đăng ký kinh doanh, khi hoạt động trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định trong pháp luật hiện hành thì sẽ là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh Trường hợp chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần, công ty hợp danh), thì có những điều kiện kinh doanh chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp (cụ thể như: giấy phép kinh doanh, xác nhận vốn pháp định,…) Ngoài ra, cũng có những điều kiện đầu tư kinh doanh áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân là chủ đầu tư thành lập, tham gia thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp

đó (chứng chỉ hành nghề)

(3) Về hình thức của điều kiện kinh doanh

Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP v/v hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2014, thì hình thức của điều kiện kinh doanh, bao gồm:

Mỗi hình thức trên có giá trị pháp lý khác nhau, được áp dụng tùy từng trường hợp cụ thể Có điều kiện phải được áp dụng trước khi thực hiện thủ tục đăng

Trang 34

ký kinh doanh, có điều kiện phải đáp ứng sau khi đã đăng kí kinh doanh Ngoài ra, cũng có những điều kiện phải đáp ứng cả trước và sau khi đã đăng kí kinh doanh

Mỗi hình thức trên có giá trị pháp lý khác nhau, được áp dụng tùy từng trường hợp cụ thể Có điều kiện phải được áp dụng trước khi thực hiện thủ tục đăng

ký kinh doanh, có điều kiện phải đáp ứng sau khi đã đăng kí kinh doanh Ngoài ra, cũng có những điều kiện phải đáp ứng cả trước và sau khi đã đăng kí kinh doanh

(4) Về mục đích của điều kiện kinh doanh

Việc quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh đối với một số lĩnh vực kinh doanh là cần thiết, nó quy định phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, chứ không chỉ riêng có ở Việt Nam Với mục đích cơ bản của quy định về điều kiện kinh doanh là nhằm đảm bảo chủ thể kinh doanh ngành, nghề đó sẽ không gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến những lợi ích mà nhà nước bảo vệ, đó là an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng, đạo đức xã hội,… Ngoài ra, điều kiện đầu tư, kinh doanh giống như một công cụ pháp lý để nhà nước kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, nhằm định hướng sự phát triển của nền kinh tế theo quan điểm chủ trương, chính sách của mỗi một quốc gia khác nhau

Điều kiện kinh doanh có một vai trò nhất định trong việc quản lý nền kinh tế: Hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong bất kì thời kì nào, việc quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế là luôn luôn cần thiết Nhà nước cần phải giám sát, can thiệp vào các hoạt động của thị trường dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những mức độ khác nhau nhằm làm cho thị trường vận hành trơn tru, hiệu quả hơn Điều đặc biệt quan trọng là, phải tạo ra một môi trường pháp lý nhất định, trong đó, các quy tắc ứng xử phù hợp với các nguyên tắc thị trường được thiết lập

Một trong những công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện sự quản lý nền kinh tế là quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh

Vai trò quan trọng của điều kiện đầu tư, kinh doanh là giúp cho nhà nước thực hiện việc điều tiết thị trường Từ đó, khi bước vào nền kinh tế thị trường, với

xu hướng hội nhập phát triển, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến xa so với

Trang 35

thời kinh tế tập trung, bao cấp Biểu hiện cụ thể nhất chính là sự mở rộng ngành, nghề kinh doanh Trong từng lĩnh vực đều tồn tại những ngành, nghề kinh doanh phong phú và đa dạng Trong đó, những ngành, nghề kinh doanh khi thực hiện sẽ

có tác động trực tiếp đến các vấn đề an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục,… nhưng sự có mặt của các ngành, nghề này trên thị trường vẫn rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu nhất định của xã hội, nên nhà nước không thể cấm các hoạt động kinh doanh đối với các ngành, nghề này Vì vậy nên, điều kiện kinh doanh được đặt ra, có vai trò dung để điều tiết số lượng ngành, nghề đó, không để nó phát triển một cách tràn lan

Ngoài ra, xét về phía các doanh nghiệp tham gia vào thị trường, mục tiêu quan trọng hàng đầu của doanh nghiệp luôn luôn là lợi nhuận Chính vì vậy, đôi khi

vì lợi nhuận mà họ sẵn sang bỏ qua lợi ích công cộng, lợi ích của các cá nhân, các

tổ chức trong xã hội Điều này đặc biệt nguy hiểm hơn khi họ tham gia kinh doanh những ngành, nghề đặc biệt đã nói ở trên Lúc này, quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh sẽ có vai trò định hướng và thanh lọc doanh nghiệp muốn kinh doanh trên thị trường Để được thành lập, để được kinh doanh những ngành, nghề mà nhà nước hạn chế, thì bản thân doanh nghiệp đó phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định Đây là những điều kiện quan trọng, nhằm mục đích chủ thể kinh doanh

có thể thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình, như yêu cầu về vốn, yêu cầu

về chuyên môn nghiệp vụ, từ đó, giảm thiểu được rủi ro cho chính doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh nói riêng, mà còn giảm thiểu rủi ro cho cả nền kinh tế nói chung

Bên cạnh đó, trong nội dung của quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh, không chỉ đề cập đến vấn đề thành lập, vấn đề hoạt động về mặt pháp lý mà còn liên quan đến quá trình, nội dung thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, là những quy định như: tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa, dịch vụ, điều kiện về nhân lực, yêu cầu về vệ sinh, an ninh trật tự, yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, phòng ngừa ô nhiễm môi trường… Những vấn đề này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với chất lượng

Trang 36

hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất nói riêng và sự an toàn của nền kinh tế

xã hội nói chung Từ đó, quyền lợi của người tiêu dung sẽ được đảm bảo, vấn đề bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng cộng cũng như những lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác

Điều kiện kinh doanh là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý doanh nghiệp, tạo ra sự ổn định của nền kinh tế

Việc quản lý các doanh nghiệp không phải được thực hiện dựa trên ý chí của từng cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phải dựa trên các cơ sở pháp lý nhất định Và trong đó, có các quy định về điều kiện kinh doanh Căn cứ vào nội dung các điều kiện đầu tư, kinh doanh được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật,

cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ:

- Hướng dẫn doanh nghiệp phải chấp hành hoặc cam kết thực hiện đúng và đầy đủ các điều kiện kinh doanh đó;

- Tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh

Việc làm này sẽ đưa hoạt động của doanh nghiệp vào khuôn khổ, và nền kinh tế nước ta cũng vì vậy mà ổn định hơn

Điều kiện đầu tư, kinh doanh thể hiện quan điểm của nhà quản lý, góp phần quyết định đến cơ cấu ngành, nghề kinh doanh

Điều kiện đầu tư, kinh doanh là những điều kiện do nhà nước quy định nhằm điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh cần sự kiểm soát Vì vậy nên, nội dung của điều kiện đầu, kinh doanh cũng sẽ thay đổi tùy theo từng thời kì, tùy thuộc vào quan điểm, tư duy quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trường hợp muốn hạn chế số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động trong nền kinh tế, nhà nước chỉ cần tang “độ khó” của điều kiện đầu tư, kinh doanh Ngược lại, nếu muốn thu hút nhiều nhà đầu tư, kinh doanh vào tham gia hoạt động kinh doanh thì rõ ràng, cần quy định theo hướng tạo sự thông thoáng về điều kiện kinh doanh Việc nhà nước đặt ra những điều kiện đầu tư thống nhất, áp dụng

Trang 37

chung cho mọi nhà đầu tư, hay là có những quy định khác biệt đối với mỗi loại nhà đầu tư, cụ thể như, đối với nhà đầu tư trong nước phải đáp ứng một hệ thống điều kiện kinh doanh này, trong khi đối với nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh khác, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư trong nước

1.3.2 Điều kiện kinh doanh dịch vụ an ninh trật tự

Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự là một trong những ngành, nghề khá phổ biến, phức tạp và có những điều kiện, phương tiện các đối tượng có thể thực hiện hành vi phạm tội và hành vi phạm pháp khác Ngoài việc chịu sự quản lý về hoạt động kinh doanh, sản xuất của cơ quan chức năng có thẩm quyền trong quá trình hoạt động kinh doanh còn chịu sự quản lý của về an ninh, trật

tự của lực lượng công an, để đảm bảo yêu cầu hoạt động kinh doanh của các cơ sở, vừa chủ động quản lý, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Đồng thời, đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục số 4 Luật Đầu tư Tuy nhiên, căn cứ theo Luật Đầu tư năm 2014, có tất cả 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, nhưng đến Tờ trình sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư đã bãi bỏ 27 ngành, nghề không cần thiết phải quy định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Bởi vì, không đáp ứng được các tiêu chí và mục đích quy định tại Điều 7 Khoản 1 Luật Đầu tư năm 2014 hoặc do thiếu tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn hoạt động đầu tư kinh doanh, cũng như yêu cầu quản

lý của nhà nước Đồng thời, bổ sung thêm 15 ngành, nghề đã được quy định tại các Luật hiện hành hoặc ngành, nghề mới phát sinh cần áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh phù hợp với các tiêu chí, mục đích quy định tại Điều 7 Khoản 1 Luật Đầu tư

2014

Hiện nay, căn cứ vào Phụ lục 4 Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều

6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2014, có tất cả là 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Trang 38

thuộc các lĩnh vực: an ninh, quốc phòng, tư pháp, công thương, lao động, thương binh và xã hội, giao thông vận tải, thông tin và truyền thông, giáo dục và đào tạo, nông nghiệp và phát triển nông thôn, kế hoạch và đầu tư, y tế khoa học và công nghệ,… trong đó có các ngành, nghề đầu tư kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán, kinh doanh xăng dầu, kinh doanh bảo hiểm, dịch vụ giám định thương mại, phân bón chất hữu cơ, hành nghề công chứng…

Đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, căn cứ cơ sở pháp lý tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/7/2016 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

1.3.2.1 Điều kiện về giấy phép kinh doanh

Giấy phép kinh doanh đôi khi còn được gọi là “Giấy phép con” Được hiểu

là loại giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép các doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh trong một số lĩnh vực

Giấy phép kinh doanh là loại giấy tờ có tính chất thông hành mà có nó thì các cá nhân, các tổ chức kinh doanh được hoạt động một cách hợp pháp Doanh nghiệp buộc phải có các giấy phép này khi hoạt động những lĩnh vực thuộc “Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” theo quy định của Luật Đầu tư

Giấy phép kinh doanh còn được sử dụng như một hình thức hạn chế kinh doanh đối với những ngành, nghề, lĩnh vực nhất định…

Các lĩnh vực quản lý nhà nước quy định nhiều loại Giấy phép là: Công thương, Giao thông vận tải, Nông nghiệp, Thông tin và Truyền thông

1.3.2.2 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Thông thường, đây là các điều kiện liên quan đến cơ sở vật chất hoặc con người của cơ sở đó Khi chủ thể kinh doanh đã đáp ứng được những điều kiện đó

Trang 39

thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp cho họ Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Sau khi được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chủ thể kinh doanh mới được phép kinh doanh trong ngành nghề, lĩnh vực đó

Những loại giấy chứng nhận phổ biến hiện nay có thể kể đến như giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự…

1.3.2.3 Điều kiện về chứng chỉ hành nghề

Chứng chỉ hành nghề là văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được nhà nước ủy quyền cấp cho cá nhân có

đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm về một ngành, nghề nhất định

Đối với những ngành nghề có điều kiện này, doanh nghiệp phải có người hoạt động trong ngành nghề đó có chứng chỉ hành nghề

Tùy vào từng ngành nghề, lĩnh vực khác nhau được quy định trong pháp luật chuyên ngành mà yêu cầu số lượng cá nhân có giấy chứng nhận hành nghề và vị trí của người có giấy chứng nhận hành nghề trong doanh nghiệp cũng khác nhau

Chẳng hạn như:

– Yêu cầu Giám đốc doanh nghiệp hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề: Giám đốc của doanh nghiệp Hoặc người đứng đầu

cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề

– Yêu cầu giám đốc và người khác phải có chứng chỉ hành nghề: Giám đốc của doanh nghiệp Và ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành trong doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề

– Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật không yêu cầu Giám đốc hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề Ít nhất một cán bộ chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành trong doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề

Trang 40

Mục đích của yêu cầu về mức vốn tối thiểu này nhằm xác định năng lực hoạt động trong ngành, lĩnh vực đó của doanh nghiệp Và góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có giao dịch với doanh nghiệp đó

1.3.2.5 Một số điều kiện khác

– Văn bản xác nhận kinh nghiệm làm việc;

– Phải lập dự án và được phê duyệt chủ trương đầu tư, thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập công ty để bắt đầu kinh doanh;

– Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản quy định

Ngày đăng: 04/07/2021, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. BMRC – Ban nghiên cứu của Chính Phủ, Giấy phép và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam – Thực trạng và con đường phía trước, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấy phép và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam – Thực trạng và con đường phía trước
6. Bộ Công thương. Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện trạng và dự báo, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện trạng và dự báo
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo đánh giá tình hình thi hành luật Doanh nghiệp, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình thi hành luật Doanh nghiệp
8. PGS.TS Trần Thị Minh Châu, Chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
9. CIEM, Ngành nghề kinh doanh có điều kiện: Một số kết quả rà soát ban đầu, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành nghề kinh doanh có điều kiện: Một số kết quả rà soát ban đầu
10. TS. Bùi Ngọc Cường, Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
11. TS. Nguyễn Thị Dung, Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, Chương VIII, Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam tập 1, Nxb CAND, Hà Nội 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại
Nhà XB: Nxb CAND
12. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đầu tư, Nxb CAND, Hà Nội, 2010 13. TS. Bùi Xuân Hải, Tự do kinh doanh – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 05/2011, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đầu tư", Nxb CAND, Hà Nội, 2010 13. TS. Bùi Xuân Hải, "Tự do kinh doanh – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb CAND
14. Trần Hữu Huỳnh, Cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO, Tạp chí khoa học pháp lý số 2 (39)/2007, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO
15. Mutrap, Hội nhập kinh tế và sự phát triển ở Việt Nam: Báo cáo 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế và sự phát triển ở Việt Nam: Báo cáo 2014
16. ThS. Trần Huỳnh Thanh Nghị, Quy định về vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam dưới góc nhìn so sánh, Tạp chí Luật học số 10/2015, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam dưới góc nhìn so sánh
17. Ths. Trần Huỳnh Thanh Nghị, Quy định về vốn pháp định trong thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về vốn pháp định trong thành lập và hoạt động của doanh nghiệp
18. ThS. Trần Huỳnh Thanh Nghị, Thực trạng pháp luật về giấy phép kinh doanh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 04, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật về giấy phép kinh doanh
19. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Giấc mơ về nửa triệu Doanh nghiệp và một đạo luật chung: Luật DN từ một góc nhìn so sánh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7 (219), Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giấc mơ về nửa triệu Doanh nghiệp và một đạo luật chung: Luật DN từ một góc nhìn so sánh
20. TS. Vũ Thị Hoài Phương, Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính trong đầu tư, Tạp chí Tổ chức Nhà Nước số 03/2010, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính trong đầu tư
21. Vũ Xuân Tiền, Cần hiểu đúng về chứng chỉ hành nghề, Thời báo kinh tế Sài Gòn số 37/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần hiểu đúng về chứng chỉ hành nghề
22. TS. Trang Thị Tuyết, Một số giải pháp hoàn thiện quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012C. TÀI LIỆU INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp hoàn thiện quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
23. BusinessUsa, Start a business in usa, http://business.usa.gov/start-a-business Link
24. Measuring Besiness Regulations, Doing business in China, http://www.doingbusiness.org/law-library/china Link
25. Serving Singapore’s Business Community, starting your business, http://www.enterpriseone.gov.sg/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm