Để phát huy được những yếu tố tích cực trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, khắc phụcđược các mâu thuẫn, bất cập, tạo sự đồng bộ và nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền
Trang 2Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày ,… tháng,….năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4TÓM TẮT
Để làm rõ nội dung mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xâydựng; Thấy được những điểm còn bất cập, chồng chéo, không hợp lý; Xác định được
những nội dung phù hợp, thống nhất cũng như những nội dung chưa phù hợp trong
việc lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện quy hoạch Từ đó đề xuất các giải pháp khắc
phục những hạn chế, những mâu thuẫn trong mối quan hệ hữu cơ giữa hai loại quy
hoạch này, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”.
Với việc thu thập, tổng hợp, xử lý các tài liệu, số liệu thứ cấp sẵn có tại các cơquan chức năng của tỉnh như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê và các phòng ban chuyên môn của thành phố Nha
Trang, đồng thời thông qua việc điều tra các thông tin bổ sung, khảo sát, đánh giá để
thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp, nhằm bổ trợ cho các tài liệu, số liệu thứ cấp, để từ đó
đánh giá chính xác mối quan hệ giữa công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng tại thành phố Nha Trang
Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trên địa bànthành phố Nha Trang biểu hiện cả những mặt phù hợp có tác động tích cực, hỗ trợ lẫn
nhau; đồng thời đồng thời biểu hiện cả những mâu thuẫn, bất cập trong quá trình lập,
điều chỉnh quy hoạch, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, nội dung lập quy hoạch, tổ
chức thực hiện quy hoạch Cụ thể:
- Trong việc lập quy hoạch về cơ bản chưa có sự thống nhất về không gian, thời gian giữa hai loại quy hoạch này
- Chưa có sự thống nhất về quy trình, nội dung, cách thức tiến hành cũng như thẩm quyềnđối với việc thẩm định, phê duyệt quy hoạch nên việc phối hợp giữa hai loại quy hoạch này gặp nhiều khókhăn
- Nội dung lập, điều chỉnh quy hoạch của quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ởthành phố Nha Trang chưa có sự thống nhất, hệ thống phân loại đất giữa hai loại quy hoạch rất khác nhau; cácchỉ tiêu về kinh tế, xã hội, sử dụng đất của cùng một giai đoạn quy hoạch được xác định trong hai loại quyhoạch không thống nhất, còn nhiều mâu thuẫn với nhau
- Trong quá trình tổ chức thực hiện, quản lý quy hoạch trên địa bàn thành phố, cũng thể hiện
sự bất cập qua cách thức quản lý, thực hiện quy hoạch của hai loại quy
Trang 5hoạch rất khác nhau Sự phối hợp giữa cơ quan Tài nguyên và Môi trường với cơ quan
Xây dựng các cấp ở thành phố chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên và chưa đạt hiệu quả
như mong muốn
Để giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng,phát huy được sự hỗ trợ, tác động tích cực giữa hai loại quy hoạch, đồng thời hạn chế
được những bất cập, mâu thuẫn, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cần thiết
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Các khái niệm 3
1.1.2 Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 4 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.2.1 Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta qua các thời kỳ 6
1.2.2 Đánh giá chung về tình hình quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta 11
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 14
1.3.1 Tổng quan về công tác quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thế giới 14
1.3.2 Một vài kinh nghiệm quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thế giới 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
Trang 72.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.3.1 Phương pháp điều tra cơ bản: 19
2.3.2 Phương pháp kế thừa và chọn lọc các tư liệu sẵn có: 19
2.3.3 Phương pháp so sánh: 20
2.3.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp: 20
2.3.5 Phương pháp phân tích thống kê, xử lý và tổng hợp số liệu 20
2.3.6 Phương pháp bản đồ 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ NHA TRANG 21
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 21
3.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế, xã hội 27
3.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, KTXH thành phố Nha Trang 35
3.2 TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT, QUY HOẠCH XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG 38
3.2.1 Công tác lập quy hoạch sử dụng đất 38
3.2.2 Công tác lập quy hoạch xây dựng 43
3.3 ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG 48
3.3.1 Phân tích, đánh giá về sự phù hợp và chưa phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở thành phố Nha Trang 48
3.3.2 Những bất cập giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở thành phố Nha Trang 75
3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI QUY HOẠCH XÂY DỰNG 78
3.4.1 Phương hướng đối với thành phố Nha Trang 78
3.4.2 Phương hướng sửa đổi nội dung, vai trò, nhiệm vụ, quy định của quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 80
KẾT KUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84
1 KẾT LUẬN 84
2 ĐỀ NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất năm 2010của thành
phố Nha Trang 41
Bảng 3.2 So sánh một số quy định về thời gian, không gian lập quy hoạch sử dụng đất
và quy hoạch xây dựng 48
Bảng 3.3 So sánh quy định về thẩm định và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng 51
Bảng 3.4 So sánh hệ thống phân loại đất được sử dụng trong quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng tại thành phố Nha Trang 52
Bảng 3.5 Nội dung quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 55
Bảng 3.6 Trình tự, nội dung lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu,
kì cuối cấp huyện. 56
Bảng 3.7 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng ở thành phố Nha Trang 59
Bảng 3.8 So sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất đai giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Nha Trang 60
Bảng 3.9 So sánh một số dự án điều chỉnh vị trí giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Nha Trang 63
Bảng 3.10 Mối quan hệ các nội dung trong quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng 68
Bảng 3.11 Các quy định chung về quản lý, tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch 71
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ địa bàn nghiên cứu 21
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất 62
Hình 3.3 Sơ đồ mối quan hệ về mục tiêu giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng 68
Trang 12MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, công tácquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã và đang góp phần quan trọng về quản lý và sử
dụng đất nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết Trên một địa bàn, lãnh
thổ theo đơn vị hành chính thường có nhiều loại quy hoạch, mà hầu hết các quy hoạch
đó đều gắn với việc quản lý và sử dụng đất Do đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ phát
triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau, nên việc lập quy hoạch của các ngành cũng
có nội dung khác nhau Việc khai thác, sử dụng đất trong các quy hoạch của mỗi
ngành đều tính đến việc bảo vệ môi trường sinh thái và các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội để đảm bảo được các mục tiêu phát triển của ngành đề ra Tuy nhiên, quy hoạch của cácngành thường chưa tính toán đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng đất thuộc chức năng quản lý,khai thác của mỗi ngành đến các loại đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của ngành khác Quy hoạch sửdụng đất và quy hoạch xây dựng là các quy hoạch thường được lập trên cùng một địa bàn lãnh thổ nào đó Vìvậy, cần nghiên cứu, xem xét giữa hai loại quy hoạch này có mối quan hệ với nhau như thế nào về mặt lý luậncũng như thực tiễn Cả hai loại quy hoạch này đều có vai trò, vị trí và tầm quan trọng trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phương Về nguyên tắc, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xâydựng phải có sự thống nhất cả về không gian và thời gian, phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau trong việcthực hiện chức năng của mỗi loại quy hoạch Việc nghiên cứu về nội dung và bản chất của mối quan hệ giữaquy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng để hiểu rõ sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa hailoại quy hoạch này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm sự thống nhất giữa hai loại quy hoạch Tuynhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạchxây dựng thường không được lập đồng bộ với nhau cả về thời gian và không gian, nhiều nội dung còn trùnglặp, mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau, gây khó khăn cho công tác lập, thực hiện, kiểm tra, đánh giá công tácquy hoạch Để phát huy được những yếu tố tích cực trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, khắc phụcđược các mâu thuẫn, bất cập, tạo sự đồng bộ và nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng đất cũngnhư quy hoạch xây dựng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần nghiên cứu để làm rõ nội dung và bảnchất mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, làm cơ sở cho việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong côngtác quản lý quy hoạch nói chung, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng nói riêng
Nha Trang là thành phố loại I, trực thuộc tỉnh Khánh Hòa, là một trong nhữngtrung tâm kinh tế - xã hội, du lịch có ý nghĩa quan trọng của khu vực Nam Trung Bộ
cũng như của cả nước Trong những năm gần đây, công tác quy hoạch sử dụng đất và
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 13quy hoạch xây dựng ở Nha Trang đều đạt những kết quả nhất định, đóng góp cho quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố cũng như của tỉnh Khánh Hòa Song
giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trên địa bàn Thành phố cũng còn
nhiều bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất và đồng bộ, hạn chế đến vai trò
của mỗi loại quy hoạch đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, gây
khó khăn cho công tác quản lý và điều hành
Hiện nay trên địa bàn thành phố Nha Trang đang triển khai rất nhiều dự án
phát triển đô thị quan trọng (Tây Nha Trang, Bắc Nha Trang, Tây Lê Hồng Phong, sân
bay Nha Trang,…) Tuy nhiên, do giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
có nhiều mâu thuẫn: sai khác về hệ tọa độ, vị trí công trình, sai khác về bố trí không
gian sử dụng đất, sai khác về thời gian thực hiện quy hoạch,… đã dẫn đến rất nhiều
khó khăn trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch
Xuất phát từ tình hình trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng tại thành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa”.
- Làm rõ nội dung mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, sựtác động qua lại của hai loại quy hoạch này; Làm rõ những điểm còn bất cập, còn chồng chéo, không hợp lýgiữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
- Xác định được những nội dung phù hợp, thống nhất cũng như những nội dung chưa phùhợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong việc lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện quyhoạch
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế, những mâu thuẫn giữa quy hoạch sửdụng đất và quy hoạch xây dựng trong mối quan hệ hữu cơ giữa hai loại quy hoạch
này, góp phần thúc đẩy tiến độ thực hiện các công trình dự án và đưa công tác quản lý
đất đai trên địa bàn ngày càng quy củ, nề nếp và khoa học hơn
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và phápchế của Nhà nước về tổ chức sử dụng, quản lý đất đai nói chung, đất đai nông thôn nói
riêng một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc tính
toán, phân bổ quỹ đất cho các ngành, cho các mục đích sử dụng, cho các tổ chức và cá
nhân sử dụng đất đai nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội và tạo điều kiện bảo vệ
đất đai, môi trường sinh thái
Như vậy, tổ chức sử dụng đất đai đầy đủ có nghĩa là các loại đất đều được đưavào sử dụng theo các mục đích nhất định; sử dụng hợp lý đất đai tức là các thuộc tính
tự nhiên, vị trí, diện tích đất đai được sử dụng phù hợp với yêu cầu và mục đích sử
dụng; sử dụng đất đai khoa học là việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ
trong quá trình sử dụng đất; hiệu quả sử dụng đất đai được thể hiện ở hiệu quả kinh
tế-xã hội và môi trường
Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế- xã hội cho nên phải đảmbảo tính kinh tế, tính kỹ thuật và tính pháp chế của Nhà nước Tính kinh tế thể hiện ở
hiệu quả của việc sử dụng đất đai Tính kỹ thuật thể hiện ở các công tác chuyên môn
kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu,,… Tính
pháp lý nghĩa là việc sử dụng và quản lý đất đai phải tuân theo các quy định pháp luật
của Nhà nước
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử xã hội, tính khốngchế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn,là bộ phận hợp thành quan
trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân
1.1.1.2 Quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian vùng,không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội,
tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ đó, đảm
bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường
Trang 151.1.2 Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
1.1.2.1 Tính tất yếu khách quan của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng
Về mặt lý luận, các loại quy hoạch, các cấp quy hoạch luôn có quan hệ mậtthiết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, là cơ sở và tiền đề của nhau, thống nhất với nhau, cùng
hướng tới các mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của mỗi vùng,
mỗi địa phương Trong đó, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là quy hoạch
có tính định hướng chung, là căn cứ để lập và thực hiện các loại quy hoạch khác Quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đều phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội và phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
-xã hội, đồng thời, có tác dụng hỗ trợ và bổ sung cho quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội
Mối quan hệ hữu cơ giữa các loại quy hoạch xuất phát từ yêu cầu khách quancủa quá trình phát triển Mục tiêu chung của các quy hoạch đều là mục tiêu phát triển,
xét đến cùng đều nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng đều căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội, đều nhằm đạt mục tiêu chung của sự phát triển, cùng có đối tượng chính là đất đai và bốtrí sử dụng đất Mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này hình thành một cách khách quan, một nhu cầu tấtyếu của quá trình phát triển Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ này cũng là một yêu cầu khách quan nhằmlàm cho các quy hoạch có sự thống nhất, đồng bộ, làm cơ sở cho việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nướctrong công tác quy hoạch thì mới có thể đem lại hiệu quả cao
1.1.2.2 Nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
- Về quá trình tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch: Thể hiện ở sự thích ứng, phù hợp lẫnnhau về quy trình, nội dung và cách thức tiến hành giám sát và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch; thể hiện ở
sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lập, tổ chức thực hiện, quản lýquy hoạch
Trang 161.1.2.3 Vấn đề về chất lượng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
Có thể nói, chất lượng của quy hoạch sử dụng đất cũng như quy hoạch xâydựng luôn gắn liền với việc giải quyết tốt hay không tốt mối quan hệ giữa hai loại quy
hoạch này Khi giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, làm cho hai
loại quy hoạch có sự thống nhất, đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau thì làm tăng tính khả thi,
tính hiệu quả của mỗi loại quy hoạch; vì vậy, chất lượng của quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng đều được tăng lên Mặt khác, khi chất lượng của cả quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng trên cùng một địa bàn được bảo đảm, có nghĩa là nội
dung của cả hai loại quy hoạch đều phù hợp với các điều kiện cụ thể của địa bàn quy
hoạch, đều đáp ứng được các mục tiêu phát triển thì khi đó mối quan hệ giữa hai loại
quy hoạch về cơ bản đã được giải quyết tốt, hai loại quy hoạch có sự thống nhất và
đồng bộ với nhau
Tất nhiên, chất lượng quy hoạch không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đếnviệc giải quyết mối quan hệ mà là một trong những yếu tố cơ bản; ngược lại, việc giải
quyết tốt mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch cũng không phải là yếu tố duy nhất để
bảo đảm chất lượng của mỗi loại quy hoạch mà là một trong những nhân tố quan
trọng, có tính quyết định
Như vậy, giữa hai yếu tố chất lượng quy hoạch và mối quan hệ giữa hai loạiquy hoạch luôn có quan hệ biện chứng với nhau, là tiền đề và kết quả của nhau Vì
vậy, để giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
thì trước hết cần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, bảo đảm được
một số yêu cầu sau:
- Công tác quy hoạch phải đảm bảo thể chế hoá đường lối chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của địa phương
- Bổ sung, hoàn thiện nội dung và phương pháp quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
- Đẩy mạnh công tác quy hoạch, khẩn trương hoàn thành các quy hoạch từ Trung ươngđến địa phương, từ tổng thể đến chi tiết; cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng phải có sự pháttriển tương ứng, hài hòa
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chứcthực hiện và quản lý quy hoạch Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quy hoạch; có sự phốihợp chặt chẽ, đồng bộ trong quá trình tổ chức thực hiện
Trang 171.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta qua các thời kỳ
1.2.1.1 Thời kỳ trước năm 1975
- Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960:
Quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ ở một số đô thị, các khu mỏkhai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su, cà phê,… theo nội
dung và phương pháp của người Pháp
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quy hoạch sử dụng đất của Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa cũng chưa có điều kiện hình thành và phát triển
Đối với quy hoạch xây dựng, có thể nói, quy hoạch xây dựng ở nước ta bắtđầu hình thành từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Ngành Quy hoạch
Đô thị - Nông thôn chính thức được thành lập cũng đã trên 50 năm Quy hoạch xây
dựng ở nước ta mới hình thành trong giai đoạn này nên còn khá khiêm tốn, thực sự
còn trong giai đoạn học hỏi, còn chắp vá, chưa có hệ thống, chưa định hình được
hướng phát triển rõ ràng
Như vậy trong giai đoạn này, quy hoạch sử dụng đất ở nước ta hầu như chưaxuất hiện, quy hoạch xây dựng mới hình thành nên chưa xuất hiện mối quan hệ giữa
quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
Công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay
từ những năm 1960 Các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh
về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn
nuôi, bến bãi, nhà xưởng,… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ
mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng
nông nghiệp, lâm nghiệp
Mặc dù chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tựthống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó nhưng với tư cách là một phần
nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng
đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản
xuất có lợi nhất
Đối với quy hoạch xây dựng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ các nướcXHCN trước đây như Liên Xô, Hungary, Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan,
Trung Quốc,…, một số đồ án quy hoạch cho cho các địa phương như thị xã Hồng Gai
(TP Hạ Long), Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Giang, Vinh,… đã được lập Các quy hoạch
Trang 18này ít có điều kiện trở thành hiện thực do hoàn cảnh còn chiến tranh, nước ta chưa
thống nhất, tiềm lực đất nước còn phải dành cho công cuộc chống Mỹ, thống nhất đất
nước Tuy nhiên, kết quả quy hoạch xây dựng cũng đóng góp đắc lực cho công cuộc
xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước sau khi đất nước thống nhất
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong giaiđoạn này chưa có biểu hiện rõ rệt và giữa hai loại quy hoạch chưa có tác động qua lại
một cách đáng kể do quy hoạch sử dụng đất vẫn chỉ là một phần nội dung của các
phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp có đối tượng chủ yếu là đất nông lâm
nghiệp, trong khi đó quy hoạch xây dựng tập trung nghiên cứu về phát triển các đô thị
1.2.1.2 Thời kỳ từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
a Đối với quy hoạch sử dụng đất
- Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra cơ bản trênphạm vi cả nước Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp,lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt Trong các tài liệu này đều đã đề cập đến quyhoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triểnngành
Thực hiện Chỉ thị số 100/TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 về cải tiến công táckhoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác
xã nông nghiệp, thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã” mà thực chất
công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là bố trí
sử dụng đất đai
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đãquyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển và
phân bố lực lượng sản xuất,…” Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng quy
hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví như 500
“pháo đài” Quy hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong các quy
hoạch hoạch tổng thể kinh tế - xã hội này tuy đã có bước phát triển nhưng vẫn chưa
phải là một quy hoạch riêng biệt nên vẫn còn nhiều hạn chế
Đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai trong hoạchtổng thể kinh tế - xã hội Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ
đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất trọng điểm của
lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao
thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị
Trang 19Khi Luật đất đai năm 1987 ra đời (có hiệu lực thi hành từ tháng 01 năm 1988),đánh dấu một bước mới về quy hoạch sử dụng đất đai Luật Đất đai 1988 quy định quy
hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý và là một trong những nội dung cơ bản của công
tác quản lý nhà nước về đất đai
Trong thời gian từ 1988 đến 1990, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã chỉ đạomột số địa phương lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã theo quy định của
Luật đất đai 1988 Số lượng các quy hoạch này trên phạm vi cả nước chưa nhiều
nhưng qua đó Tổng cục Quản lý Ruộng đất và các địa phương đã trao đổi, hội thảo và
rút ra những vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất, làm
cho quy hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc sử dụng đất đai mà trở
thành một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về đất
đai của các địa phương
Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ban hành văn bản hướng dẫn về quyhoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã (Thông tư số 106/TT-QHKH ngày 15
tháng 4 năm 1991) với những nội dung chính như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bịcho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch
sử dụng đất đai
b Đối với quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng nói chung, quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng ở nước
ta trong giai đoạn trước đổi mới (1986) vẫn còn khiêm tốn, chưa có hệ thống, chưa
định hình được hướng phát triển rõ ràng Mặc dù thành quả quy hoạch xây dựng trong
thời kỳ này còn hạn chế nhưng nó cũng đóng góp đắc lực cho công cuộc xây dựng ở
miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước sau khi đất nước thống nhất Đồng thời, nó
cũng đặt nền móng cho sự phát triển tiến bộ của công tác quy hoạch xây dựng giai
đoạn tiếp theo
Từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội toàn quốc lần thứ
VI năm 1986, đánh dấu quá trình chuyển mình tích cực nhất của quy hoạch xây dựng
đô thị Mặc dù còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quy hoạch, quản lý đô
thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị bước đầu đã có những đóng góp đáng kể cho
những thành công trong giai đoạn tiếp theo Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi
các phương pháp nghiên cứu của công tác quy hoạch đô thị Chuyển từ những nhận
thức sản phẩm của nền kinh tế kế hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều
Trang 20khó khăn của phần lớn đô thị nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng
đô thị hoàn toàn do Nhà nước cung cấp Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân
tự xây, các khách sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của
tư nhân
Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu củacông tác quy hoạch đô thị Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế kế
hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị nơi mà
mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà nước cung
cấp Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách sạn, văn phòng
hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tư nhân
Giai đoạn này có rất ít văn bản chính thức hướng dẫn lập quy hoạch đô thị củaViệt Nam Quyết định 322/BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn về quy trình từ giai
đoạn lập đến phê duyệt các đồ án Quy hoạch đô thị này đã phản ánh sự chuyển mình
của quy hoạch xây dựng để đáp ứng yêu cầu thực tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
đai, những thử nghiệm phương thức khai thác chuyển đổi để tạo nguồn lực tài chính
xây dựng đô thị
Hàng loạt các đô thị trên toàn quốc đã dần được lập quy hoạch chung để cónhững dự báo về quy mô dân số, xác định quy mô đất đai, bố trí trên tổng mặt bằng,
xác định những định hướng về phát triển không gian và hệ thống hạ tầng kĩ thuật cho
đô thị Nhiều đồ án quy hoạch đô thị sau khi lập và phê duyệt đã được các chính quyền
đô thị coi trọng và vận hành tương đối hiệu quả trong quản lý đầu tư cải tạo và xây
dựng đô thị
Quy hoạch đô thị đã có mối quan hệ chặt chẽ hơn về mặt quản lý nhà nước vớivấn đề quản lý quy hoạch và phát triển đô thị, quản lý đầu tư xây dựng, quản lý đất
đai, nhà ở và sử dụng các công trình đô thị Đặc biệt là sự hình thành các loại hình lập
quy hoạch khu công nghiệp tập trung và khu đô thị mới, là tiền đề cơ sở cho sự mở
rộng mạng lưới đô thị quốc gia trong giai đoạn tiếp theo
c Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời kỳnày dần hình thành rõ nét, nhất là trong giai đoạn sau đổi mới Mặc dù nội dung và
phương pháp của cả hai loại quy hoạch còn những nhược điểm, chưa tính toán đầy đủ
các điều kiện khách quan, quy hoạch ít chú trọng đến tổ chức không gian, thiên về lập
quy hoạch chia lô nhưng giữa hai loại quy hoạch đã có những tác động qua lại, hỗ trợ
lẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện những chồng chéo, mâu thuẫn với nhau Đối tượng
nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất thời kỳ này không chỉ là đất nông lâm nghiệp
mà bao gồm tất cả các loại đất (5 loại đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm
1987) Quy hoạch xây dựng đã có liên quan nhiều đến quản lý đất đai Bên cạnh
Trang 21những mặt thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau thì trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
xuất hiện những mâu thuẫn, chồng chéo mà một trong những nguyên nhân, đồng thời
là sự biểu hiện của nó là sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản
lý nhà nước về đất đai và về xây dựng
1.2.1.3 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến năm 2013
a Đối với quy hoạch sử dụng đất
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho công tác quyhoạch sử dụng đất đai đai Tổng cục Địa chính đã tổ chức các Hội nghị tập huấn, triển
khai công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và chỉ đạo thực hiện thí điểm ở 10
tỉnh, 20 huyện; ban hành quy trình, định mức và đơn giá điều tra quy hoạch sử dụng
đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bảnhơn ở cả 4 cấp là: cả nước, tỉnh, huyện, xã
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định của Chính phủ về thi hànhLuật Đất đai được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số
30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày
02/11/2009 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai, đồng thời Bộ đã ban hành Quy trình, Định mức, đơn giá lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai các cấp; Định mức sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp
b Đối với quy hoạch xây dựng
Từ năm 2003, sau khi Luật Xây dựng và Nghị định về Quy hoạch xây dựng rađời đã khẳng định các loại hình quy hoạch gồm quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch
xây dựng đô thị (bao gồm quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch chi tiết xây
dựng đô thị), quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn và đưa nội dung “Thiết kế
đô thị” vào công tác quy hoạch
Nổi bật trong giai đoạn hiện nay là công tác lập quy hoạch xây dựng vùng
Nhiều đồ án quy hoạch xây dựng Vùng đã được Chính phủ và Bộ Xây dựng chỉ đạo
thực hiện như Quy hoạch xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội, Quy hoạch xây dựng Vùng
Thành phố Hồ Chí Minh, các vùng biên giới, các vùng duyên hải,…
Đối với khu vực nông thôn: Cùng với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, quyhoạch điểm dân cư nông thôn đã bước đầu phát triển với các điểm đáng chú ý, từng
bước tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn nước ta thời kỳ đổi mới như: Ngói hoá và kiên
cố hoá nhà ở nông thôn; phát triển các công trình dịch vụ công cộng; bê tông hoá
đường làng ngõ xóm,…
Trang 221.2.1.4 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 2013 đến nay
a Đối với quy hoạch sử dụng đất
Một thay đổi quan trọng về quy hoạch sử dụng đất được quy định tại Luật Đấtđai năm 2013 so với Luật Đất đai năm 2003 là trong hệ thống quy hoạch không còn
quy hoạch sử dụng đất cấp vùng và quy hoạch sử dụng đất cấp xã, chỉ còn quy hoạch
sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng,
an ninh
Để cụ thể hóa Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã banhành Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 quy định chi tiết về lập, điều
chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/5/2015 vềcông tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất
kỳ cuối (2016 - 2020) cấp quốc gia; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số
187/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 21/01/2015 về việc điều chỉnh quy hoạch và lập kế
hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
b Đối với quy hoạch xây dựng
Năm 2014 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Xây dựng 2014 Theo đó, hệthống quy hoạch xây dựng gồm có:
Hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày06/5/2015 quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng
1.2.2 Đánh giá chung về tình hình quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng
và thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta
1.2.2.1 Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời kỳnày đã thể hiện rõ rệt cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực Giữa hai loại quy hoạch đã
có sự tác động, hỗ trợ tích cực lẫn nhau trong mỗi phạm vi quy hoạch; loại quy hoạch
này được lập đã căn cứ vào loại quy hoạch kia; trong việc lập cũng như tổ chức thực
hiện quy hoạch đã có sự phối hợp nhất định giữa các cơ quan chức năng Song giữa
hai loại quy hoạch cũng nảy sinh những vấn đề mâu thuẫn, bất cập, đòi hỏi phải được
nghiên cứu giải quyết, nhất là về nội dung quy hoạch
Trang 23a Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã có những bước tiến quan trọng quatừng thời kỳ phát triển, ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước Trong những năm gần đây công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã
được quan tâm chỉ đạo thực hiện; việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các
cấp từng bước đi vào nề nếp Kết quả đó đã góp phần quan trọng trong việc tăng
cường, thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai và sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
trong nông nghiệp, nông thôn; cơ bản đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, công tác quy hoạch, kế hoạch sử
- Quy hoạch sử dụng đất đai còn nặng về sắp xếp các loại đất cho mục tiêu quản lý hànhchính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế và môi trường trong sử dụng đất, hạn chế khả năng bảo vệ vàcải thiện môi trường sống, chưa đảm bảo phát huy cao nhất sức sản xuất của đất đai
- Việc tổ chức và quản lý thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai chưa được các địa phươngchú trọng, phân cấp trách nhiệm quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai chưa rõ ràng, còn chồng chéo;chưa bảo đảm kinh phí cho thực hiện quy hoạch,… nên kết quả thực hiện quy hoạch bị hạn chế
b Về quy hoạch xây dựng
Nội dung và phương pháp quy hoạch xây dựng phát triển và ngày càng hoànthiện qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Chất lượng quy hoạch xây dựng
không ngừng được nâng lên, số lượng quy hoạch ngày càng nhiều; các loại hình quy
hoạch xây dựng ngày càng đầy đủ, không chỉ giới hạn ở quy hoạch xây dựng đô thị Vì
vậy, công tác quy hoạch xây dựng đang ngày càng đáp ứng tốt hơn cho quá trình phát
triển của cả nước và ở từng địa phương Tuy nhiên, những hạn chế của quy hoạch xây
dựng trong những năm qua là không thể tránh khỏi, thể hiện ở một số điểm sau:
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 24- Các quy hoạch chưa đồng bộ, thiếu tính dự báo và ổn định dẫn đến việc khai thác sửdụng quy hoạch, quản lý xây dựng, giới thiệu địa điểm thu hút đầu tư còn bị động;
- Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và nông thôn còn thiếu và chưa hoàn chỉnh, đồng
bộ, nhất là thiếu nhiều quy hoạch chi tiết các khu dân cư, quy hoạch điểm dân cư nông thôn;
- Công tác quản lý hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị còn nhiều vấn đề bấtcập, việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa đáp ứng yêu cầu, chưa đồng bộ, chấtlượng chưa cao,… gây không ít lãng phí và làm ảnh hưởng đến cảnh quan kiến trúc đô thị;
- Các vấn đề về kiểm soát phát triển, hiệu quả sử dụng đất, sự xâm lấn đất nông nghiệp
và những vùng sinh thái tự nhiên,…
1.2.2.2 Thực trạng mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng ở nước ta
Trong thời gian trước thời kỳ đổi mới, đối tượng, phạm vi, mục tiêu và nộidung của hai loại quy hoạch này tương đối độc lập Quy hoạch sử dụng đất được thực
hiện chủ yếu đối với đất nông nghiệp; quy hoạch xây dựng chủ yếu là quy hoạch phát
triển các đô thị Vì vậy, mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này chưa thể hiện rõ rệt,
chưa có sự gắn kết, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau; giữa hai loại quy hoạch cũng chưa xuất
hiện nhiều sự mâu thuẫn, chồng chéo nên hầu như chưa đặt vấn đề phải giải quyết mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch này
Bước vào thời kỳ đổi mới, cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
ở nước ta đều có bước phát triển mới Phương pháp nghiên cứu, nội dung quy hoạch có nhiềuthay đổi, phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các loại hình quy hoạch,nhất là quy hoạch xây dựng ngày càng đa dạng và đầy đủ hơn Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất vàquy hoạch xây dựng ngày càng đa dạng, phức tạp; giữa hai loại quy hoạch ngày càng gắn bó hữu cơ, hỗ trợlẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện ngày càng nhiều những vướng mắc, chồng chéo
Ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được thì cảhai loại quy hoạch còn nặng về phương pháp hành chính, thiên về mặt quản lý của Nhà nước; quy hoạch sửdụng đất chủ yếu là sắp xếp các loại đất cho mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quảkinh tế, xã hội và môi trường, chưa thực sự coi đất đai là nguồn của cải, là loại tư liệu sản xuất đặc biệt; Quyhoạch xây dựng chưa chú trọng đến việc tổ chức không gian, nặng về lập quy hoạch chia lô nên đã để lạinhững hình ảnh kiến trúc các đô thị chất lượng thấp kém, manh mún, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng.Trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 25quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đã hình thành những gắn kết, phụ thuộc
lẫn nhau; đồng thời cũng xuất hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, nhất là trong việc
phân bố, bố trí sử dụng đất đai Các mâu thuẫn, chồng chéo này một mặt biểu hiện ở
sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
và xây dựng, mặt khác thể hiện cụ thể khi triển khai các phương án, đồ án quy hoạch
trên cùng một địa bàn, một lãnh thổ
Với điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, quá trình đôthị hoá đang diễn ra nhanh chóng thì trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng, các nội dung quy hoạch đang được quan tâm phối hợp để có sự
thống nhất, đồng bộ; giữa hai loại quy hoạch ngày càng có sự phụ thuộc lẫn nhau Tuy
nhiên do tính chất quy hoạch ngày càng đa dạng nên giữa hai loại quy hoạch cũng
đang nảy sinh ngày càng nhiều các mâu thuẫn, chồng chéo cần được quan tâm giải
quyết Thực trạng về việc lập và tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch, việc phối hợp
giữa ngành quản lý đất đai và ngành xây dựng còn những vấn đề nổi cộm cần nghiên
cứu giải quyết; chức năng, nhiệm vụ của hai loại quy hoạch cần được phân định rõ
ràng hơn Mặc dù cả hai loại quy hoạch đã có những tiến bộ và đạt được những kết quả
nhất định nhưng hiệu quả còn thấp mà một trong những nguyên nhân chính là chưa
giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, nội dung và phương pháp quy
hoạch còn những vấn đề bất cập chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của thực tiễn
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.3.1 Tổng quan về công tác quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Quy hoạch ở Cộng hoà Liên bang Đức
Quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ ở Đức là loại quyhoạch tổng hợp về sự phát triển giữa các vùng và các ngành của toàn bộ lãnh thổ
Trong đó, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng là bộ phận của quy hoạch
không gian Một trong những chức năng của quy hoạch không gian là điều phối các
loại hình quy hoạch, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ sự tranh chấp sử dụng
đất đai của vùng lãnh thổ Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng là một bộ
phận của quy hoạch không gian, do chính quyền địa phương thực hiện ở mức độ chi
tiết tương ứng với cấp quận
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
ở Đức thể hiện trong quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ
Nhiệm vụ chính của quy hoạch lãnh thổ là xây dựng những chương trình và kế hoạch
phát triển lãnh thổ, gồm:
Trang 26- Xây dựng bản phúc trình về trật tự không gian lãnh thổ: Xác định ranh giới giữa cácvùng đô thị, vùng nông thôn, vùng tụt hậu; phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa.
- Xây dựng bản đồ địa chính lãnh thổ: Thể hiện được tất cả hiện trạng, kế hoạch và biệnpháp cần thiết cho quy hoạch lãnh thổ Đó là các sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng sửdụng đất Tư liệu địa chính như vậy là nguồn thông tin quý giá cho các báo cáo, các chương trình và các kếhoạch Các dữ liệu được thu nạp trong máy vi tính và gắn liền với hệ thống thông tin địa lý (GIS);
- Chương trình phát triển lãnh thổ là quan trọng nhất, do Chính phủ trung ương xây dựng;
- Kế hoạch phát triển lãnh thổ là bước cuối cùng của công việc quy hoạch
lãnh thổ
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Cộng hòa Liênbang Đức không phải là các quy hoạch riêng rẽ mà là các quy hoạch ngành, quy hoạch
bộ phận trong hệ thống quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng Vì vậy, mối quan hệ
giữa hai loại quy hoạch này có sự thống nhất về không gian và thời gian quy hoạch; cơ
bản phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau về nội dung quy hoạch Những mâu thuẫn,
đối kháng lẫn nhau về mục tiêu và nội dung giữa hai loại quy hoạch được điều chỉnh,
được hạn chế nhằm đạt mục tiêu chung là phát triển mọi mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ
môi trường
1.3.1.2 Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ
Việc quản lý hành chính và quản lý đất đai ở Mỹ được thực hiện theo mô hìnhđịa lý - hành chính: - Liên bang;
- Các bang: 50 bang và một số lãnh thổ đặc biệt;
- Các quận (County): có khoảng 3.500 quận;
- Các thành phố, thị trấn, hoặc các đơn vị đô thị nhỏ hơn
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ là bộ phận của quyhoạch vùng Về mặt lý thuyết, quy hoạch vùng ở Mỹ hiện nay có hai xu hướng chính:
Thứ nhất, đặt trọng tâm vào hiệu quả kinh tế thuần tuý, thường dựa trên việc đưa ra
các mô hình toán và kinh tế định lượng rất phức tạp để phân tích hoạt động kinh tế
vùng và từ đó đề ra các hướng đầu tư hữu hiệu nhất; thứ hai, nghiên cứu quy hoạch
vùng mang tính chất phát triển kinh tế - xã hội hơn là nhấn mạnh hiệu quả kinh tế
thuần tuý; xu hướng quy hoạch này mang tính công bằng xã hội nhiều hơn tính hiệu
quả kinh tế, nên chú ý nhiều hơn đến yếu tố môi trường và phát triển bền vững nên
hay được áp dụng trong thực tế hơn
Trang 27Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ thựcchất thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ giữa quy hoạch xây dựng ngành của các tập đoàn
kinh tế với quy hoạch sử dụng đất của chính quyền các địa phương Mặc dù là một
nước phát triển, các quy hoạch này được thống nhất trong quy hoạch phát triển chung
là quy hoạch vùng nhưng giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ
trong thực tế thường vẫn có những mâu thuẫn nảy sinh cần giải quyết mà nguyên nhân
chính là do quyền lợi chính trị, kinh tế của các chủ thể thực hiện quy hoạch rất khác
nhau Thực tế ở Mỹ, mỗi địa phương có một hệ thống rất phức tạp các cơ quan quy
hoạch, đưa ra nhiều biện pháp quy hoạch chồng chéo trên địa bàn địa phương Chỉ có
các dự án ngành như giao thông, thủy lợi - thủy điện, truyền tải điện,,… hoặc các dự
án phát triển tổng hợp (bao gồm cả hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế,…) trong đó
Chính phủ Liên bang giúp đỡ tài chính cho các chính quyền địa phương nhằm mang lại
lợi ích cho tất cả các bên liên quan - mới có sức hấp dẫn và có thể hiện thực hoá tốt
1.3.1.3 Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc
Bên cạnh Luật đất đai, Trung Quốc đã ban hành Luật Quy hoạch nông thôn và
đô thị (có hiệu lực từ ngày 01/01/2008) Công tác quy hoạch ở Trung Quốc hiện nay
chịu sự điều chỉnh chủ yếu của hai Luật này Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng ở Trung Quốc là các quy hoạch độc lập nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,
tương đối thống nhất với nhau
Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc bao gồm các loại hình: Quy hoạch tổngthể (bắt buộc theo luật mang tính chiến lược, toàn diện, quy định chính sách); quy
hoạch chuyên ngành (mang tính chuyên đề, đặc thù); quy hoạch chi tiết (quy hoạch bố
trí trên thực địa)
Quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Quyhoạch nông thôn và đô thị Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách phát triển chăm
lo nhà ở cho nhân dân lao động là chính sách trung tâm Trong thời gian qua, Trung
Quốc đã đặc biệt chú trọng công tác cải tiến quản lý ngành xây dựng và nhà đất, quản
lý thị trường bất động sản
Giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của Trung Quốc có sựthống nhất cơ bản về mục tiêu, nội dung quy hoạch Quy mô sử dụng đất của quy
hoạch xây dựng phải phù hợp với quy mô được xác định trong quy hoạch sử dụng đất
đai Việc quản lý thực hiện quy hoạch ở Trung Quốc được quy định tương đối chặt
chẽ, thể hiện ở các khía cạnh: các quy hoạch phải xác định những nội dung có tính bắt
buộc; quy định chặt chẽ những trường hợp được phép thay đổi, điều chỉnh quy hoạch;
nguyên tắc bảo vệ đất nông nghiệp, bảo vệ nguồn tài nguyên, di sản văn hóa, bảo vệ
môi trường,…
Trang 28Các quy định về quy hoạch và quản lý quy hoạch ở Trung Quốc là một trongnhững nhân tố chính bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
1.3.2 Một vài kinh nghiệm quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng của một số nước trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quyhoạch xây dựng của các nước trên thế giới, đại diện là quy hoạch của các nước được
trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số nội dung cần được xem xét để áp dụng
nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Việt Nam
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (như Đức, Mỹ) vàđang phát triển (như Trung Quốc), có quy trình quy hoạch sử dụng đất đai mang tính
đặc thù riêng Trước hết họ chú trọng về quy hoạch tổng thể không gian (hay còn gọi
là định hướng phát triển tổng thể - Master Plan), trên cơ sở quy hoạch không gian
người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất, sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng
khu vực
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở các nước, nhất là ở các nướcphát triển thường là quy hoạch bộ phận của quy hoạch tổng thể không gian nên về cơ
bản có sự thống nhất, đồng bộ với nhau về không gian, thời gian, nội dung quy hoạch;
cả hai loại quy hoạch đều hướng tới mục tiêu chung là phát triển kinh tế, xã hội, văn
hóa, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường
Trong quy hoạch lãnh thổ cũng như quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng đất,các nước đều quan tâm giải quyết việc sắp xếp không gian, các biện pháp hạ tầng
không gian lớn, xác định những vùng ưu tiên, từ đó thực hiện các hoạt động của quy
hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng
Việc lập các quy hoạch thường do các cơ quan công quyền của Nhà nước thựchiện, có sự tham gia của các tập đoàn, tổ chức kinh tế ở mức độ khác nhau và thường
có sự tham gia rộng rãi của người dân Ở các nước phát triển, về cơ bản các cơ quan
nhà nước chỉ tham gia sâu vào quá trình duyệt quy hoạch tổng thể không gian và phân
vùng sử dụng đất Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng thông thường được đấu thầu
cho các cơ quan phát triển bất động sản tư nhân
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước mà mức độ chặt chẽ, thốngnhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
có khác nhau nhưng nhìn chung giữa hai loại quy hoạch này cơ bản có sự thống nhất,
hỗ trợ lẫn nhau theo nguyên tắc quy hoạch xây dựng là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa của
quy hoạch sử dụng đất
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là nội dung, bản chất của mối quan hệgiữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng nói chung và được thể hiện cụ thể
trên địa bàn thành phố Nha Trang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạchxây dựng, nhằm làm rõ sự phù hợp, chưa phù hợp, đồng thời xác định những bất cập, mâu thuẫn giữa haiphương án quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng về thời gian, không gian lập quy hoạch; về nội dunglập quy hoạch; về quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch,,… trên địa bàn thành phố Nha Trang
- Phạm vi về thời gian: Số liệu điều tra thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2015
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Các nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề nhằm đạt được cácmục tiêu đã xác định; cần tập trung vào các nội dung có liên quan trực tiếp đến mục
đích nghiên cứu, bao gồm bốn vấn đề chính như sau:
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Nha Trang2.2.2 Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng tại thànhphố Nha Trang
2.2.3 Đánh giá mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở thành phố Nha Trang
2.2.4 Đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài bao gồm:
Trang 302.3.1 Phương pháp điều tra cơ bản:
Phương pháp điều tra cơ bản được áp dụng trong quá trình điều tra, khảo sát,thu thập các tài liệu, số liệu về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; đánh
giá thực trạng công tác lập và thực hiện hai loại quy hoạch trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp điều tra cơ bản bao gồm:
- Điều tra, thu thập số liệu thứ cấp:
Việc thu thập các tài liệu, số liệu điều tra phục vụ nhu cầu nghiên cứu đề tài chủyếu sử dụng phương pháp điều tra, thu thập các số liệu thứ cấp: thu thập và xử lý các tài
liệu, số liệu sẵn có của địa bàn nghiên cứu tại các cơ quan chức năng của tỉnh Khánh Hòa
như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê
và các phòng ban chuyên môn của thành phố Nha Trang (Phòng Tài nguyên và Môi
trường, Phòng Quản lý đô thị,…) Các tài liệu, số liệu thu thập bao gồm:
+ Tài liệu, số liệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Nha Trang có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng;
+ Tài liệu, số liệu, bản đồ về thực trạng công tác lập, thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Nha Trang;
+ Các quy định của Nhà nước, của thành phố Nha Trang có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp:
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp được sử dụng để điều tra cácthông tin bổ sung, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, quy
hoạch xây dựng ở Nha Trang trên cơ sở các tài liệu, số liệu điều tra thứ cấp; nhằm bổ
trợ cho phương pháp điều tra, thu thập các số liệu thứ cấp
- Phương pháp xử lý các tài liệu, số liệu thống kê thu thập được phục vụ cho nghiên cứu
đề tài:
Các tài liệu, số liệu được tổng hợp, xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel
2.3.2 Phương pháp kế thừa và chọn lọc các tư liệu sẵn có:
Phương pháp kế thừa được sử dụng trong việc nghiên cứu tổng quan về côngtác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở trong nước và ngoài nước; đồng
thời trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, các tài liệu về công tác lập và thực
hiện quy hoạch và các lĩnh vực có liên quan để phân tích, đánh giá nhằm làm rõ các
nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 312.3.3 Phương pháp so sánh:
Là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình phân tích sự thốngnhất và chưa thống nhất trong các quy định về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng; sự phù hợp và chưa phù hợp về nội dung giữa hai loại quy hoạch; sự tác
động qua lại giữa hai loại quy hoạch nhằm phát hiện những bất cập, mâu thuẫn, chồng
chéo với nhau
2.3.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tư liệu, tài liệu có liên quan và thực trạngcông tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng cho phép đưa ra những nhận
xét, đánh giá về nội dung và bản chất của mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch; xác
định được những vấn đề còn bất cập, mâu thuẫn giữa hai loại quy hoạch để đề ra
phương hướng khắc phục Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu
các nội dung: Đánh giá tổng quan công tác quy hoạch trong và ngoài nước; Đánh giá
thực trạng công tác quy hoạch trên địa bàn nghiên cứu; Phân tích tác động qua lại và
phát hiện sự bất cập giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; Xác định vai
trò, vị trí và nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất và đề xuất sửa đổi các quy định hiện
hành có liên quan để nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ
với quy hoạch xây dựng
2.3.5 Phương pháp phân tích thống kê, xử lý và tổng hợp số liệu
- Số liệu thứ cấp sau khi thu thập về được tổng hợp, phản ánh thông qua các bảng, đồ thị,,
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ NHA TRANG
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Nha Trang là trung tâm hành chính - kinh tế - văn hoá - du lịch - dịch vụ của tỉnh Khánh Hoà Ranh giới Thành phố được xác định như sau:
- Phía Nam giáp huyện Cam Lâm và huyện Diên Khánh
Và có toạ độ địa lý từ 12o8’33” đến 12o25’18” vĩ độ Bắc và từ 109o07’16” đến
109o14’30” độ kinh Đông
Hình 3.1 Sơ đồ địa bàn nghiên cứu
Trang 33Nha Trang có một vị trí đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và anninh quốc phòng; có bờ biển dài là trung tâm du lịch của tỉnh và cả nước.
Nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước như Quốc lộ 1 và đườngsắt Bắc - Nam, nối liền Nha Trang với các tỉnh phía Bắc, phía Nam Đại lộ Nguyễn
Tất Thành nối liền Nha Trang với sân bay Cam Ranh, cảng Nha Trang có nhiệm vụ
đưa đón khách du lịch, vận chuyển hàng hóa,,… đã tạo nên một Nha Trang tương đối
hoàn chỉnh về lĩnh vực giao thông
Vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nha Trang phát triển sản xuấthàng hoá và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình Nha Trang khá phức tạp, có vùng đồng bằng là khu vực nội thành;
vùng đồi núi chủ yếu nằm ở hai đầu Bắc - Nam và phía Tây thành phố, vùng ngoài
biển phía Đông thành phố có nhiều đảo lớn nhỏ
Nha Trang có độ cao từ 0 m đến 900 m so với mặt nước biển, trong đó cónhững đỉnh núi cao như núi Hòn Thơm (Vĩnh Ngọc) có độ cao 224 m, núi Hòn Mặt
(Phước Đồng) có độ cao 566 m, Hòn Rớ (Phước Đồng) có độ cao 338 m, Hòn Xanh
(Phước Đồng) có độ cao 900m, Hòn Ngang (Vĩnh Hoà) có độ cao 320 m, Hòn Chùa
(Vĩnh Phương) có độ cao 663 m và Hòn Chỏng Gọng (Vĩnh Lương) có độ cao 637 m
- Vùng địa hình bằng thấp, độ dốc dưới 3o: Đây là vùng tập trung đông dân cư, cơ sở hạtầng xã hội và đất đai sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản,,… Vùng địa hình này phân bố ở khu vựctrung tâm thành phố và có diện tích 8.130,37 ha, chiếm 32,19 % tổng diện tích tự nhiên
- Vùng địa hình có độ dốc 3 -> 8o: Đây là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và đồinúi, có diện tích 2.322 ha, chiếm 9,19% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố Vùng địa hình này tập trungchủ yếu ở phía Tây và Đông Nam thành phố, là nơi sản xuất cây lâu năm, cây lâm nghiệp và khai thác đất, đáxây dựng
- Vùng địa hình có độ dốc 8 -> 15o: Loại địa hình này chủ yếu là đồi thấp, có diện tích6.791,43 ha, chiếm 26,89% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố và phân bố chủ yếu ở phía Tây thành phố.Hiện nay, trên dạng địa hình này người dân đã trồng cây nông nghiệp lâu năm và trồng rừng
- Vùng địa hình có độ dốc trên 15 -> 20o: Loại địa hình này chủ yếu là núi thấp, có diệntích 4.622 ha, chiếm 18,30% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố và phân bố chủ yếu ở phía Tây và ĐôngNam thành phố
- Vùng địa hình có độ dốc trên 20o: Loại địa hình này chủ yếu là núi cao, có diện tích3.393,80 ha, chiếm 13,43% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố và phân bố chủ yếu ở phía Tây và ĐôngNam thành phố
Trang 343.1.1.3 Khí hậu
Thành phố Nha Trang thuộc tiểu vùng khí hậu II.2.2 của tỉnh Khánh Hòa (tiểuvùng khí hậu Diên Khánh - Nha Trang) Đậy là tiểu vùng khí hậu có chế độ thời tiết ôn
hòa nhất trong vùng khí hậu đồng bằng và ven biển tỉnh Khánh Hòa Nha Trang chịu sự
chi phối chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu Đại dương
Những đặc trưng chủ yếu về khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ cao đều quanhnăm (250 C - 260 C), tổng tích ôn lớn (> 9.5000 C), mưa phân mùa khá rõ ràng (mùa
mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão So với các tỉnh Duyên hải Nam Trung
Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để phát triển du
lịch, nghỉ dưỡng
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 26,30C:
- Nắng: Ở Nha Trang, tổng số giờ nắng trung bình một năm là 2.570 giờ, trung bình một tháng có 214 giờ nắng
- Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 79% Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 10 với83%, độ ẩm thấp nhất trong năm là 33 %
- Lượng bốc hơi trung bình năm ở Nha Trang là 1.431 mm/năm
- Lượng mưa trung bình năm 1.356 mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vàotháng 12, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm) Khoảng 10 - 20 % số năm mùa mưa bắtđầu từ tháng 7, 8 hoặc kết thúc sớm vào tháng 11
3.1.1.4 Thuỷ văn
a Sông, suối
- Sông Cái Nha Trang (còn gọi là sông Thác Ngựa ở phần thượng lưu) là con
sông lớn nhất tỉnh Khánh Hoà với diện tích lưu vực 2.000 km2 Sông có chiều dài 75
km, với hệ số uốn khúc 1,4, hệ số hình dạng 0,3, độ dốc sông 3,7%o, mật độ lưới sông
0,8 km/km2 Đoạn hạ lưu thuộc địa phận TP Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km,
chảy qua các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, phường Ngọc Hiệp, Vạn Thắng,
Vạn Thạnh, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vĩnh Phước và đổ ra biển
+ Lưu lượng nước bình quân: Qo = 55,70 m3/s
+ Lưu lượng nước mùa kiệt: Qk = 7,32 m3/s
Sông Cái Nha Trang là nguồn cung cấp nước chủ yếu đối với nông nghiệp,lâm nghiệp (của các huyện Diên Khánh và Khánh Vĩnh), công nghiệp, du lịch, dịch
vụ, nuôi trồng thuỷ sản và sinh hoạt (của thành phố Nha Trang)
- Sông Quán Trường: Có chiều dài 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, VĩnhThái và Phước Đồng Sông được chia thành 2 nhánh, nhánh phía Đông có chiều dài 9 km (nhánh chính) vànhánh phía Tây (nhánh phụ) có chiều dài 6 km
Trang 35+ Lưu lượng nước bình quân: Qo = 20,40 m3/s.
+ Lưu lượng nước mùa kiệt: Qk = 2,90 m3/s
b Biển và thuỷ triều
- Thuỷ triều: thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ nhật triều trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m
- Độ mặn: Biến thiên theo mùa từ 1 - 3,6%
- Độ pH nước: vùng cửa sông và đầm có độ pH thay đổi từ 7,5 - 6,6
- Mức nước biển dâng trung bình 1,28 m
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Theo kết quả Điều tra, bổ sung bản đồ đất tỉnh Khánh Hoà (Viện Quy hoạch &
TKNN thực hiện năm 2005), TP Nha Trang có những nhóm đất sau:
- Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát ven biển: Diện tích 1.423 ha, chiếm 5,63% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở xã Vĩnh Lương và Phước Đồng
- Nhóm đất mặn: Diện tích 1.678 ha, chiếm 6,64% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở xã Vĩnh Lương, Vĩnh Thái, phường Phước Long, Phước Hải
- Nhóm đất phèn: diện tích có 578 ha, chiếm 2,29 % diện tích tự nhiên toàn thành phố
Đất phèn tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thái và Vĩnh Hiệp
- Nhóm đất phù sa: diện tích có 1.416 ha, chiếm 5,60 % diện tích tự nhiên toàn thành phố, trong đó:
+ Đất phù sa không được bồi, chua có diện tích 190 ha
+ Đất phù sa có tầng gley có diện tích 943 ha
+ Đất phù sa ngòi suối có diện tích 283 ha
Đất phù sa phân bố chủ yếu ven sông Cái Nha Trang và các sông suối khác, tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Trung, Vĩnh Phương
- Nhóm đất xám bạc màu có diện tích 1.518 ha, chiếm 6,0 % diện tích tự nhiên toàn thành phố và phân bố chủ yếu ở khu vực xã Phước Đồng
- Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 16.936,43 ha, chiếm 67,05 % diện tích tự nhiên toànthành phố Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, đất có tầng dày mỏng, độ dốc lớn, thảm thực vậtchủ yếu là cây bụi xen gỗ rải rác
- Nhóm đất thung lũng dốc tụ có diện tích 84 ha, chiếm 0,33 % diện tích tự nhiên toàn thành phố
Trang 36- Đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 708,26 ha, chiếm 2,80 % diện tích tự nhiên toàn thành phố.
- Các loại đất khác có diện tích 591,58 ha (đất sông suối và mặt nước chuyên dùng khôngđiều tra)
b Tài nguyên rừng
Nha Trang có 4.533,37 ha đất lâm nghiệp, trong đó phần lớn là rừng sản xuất4.230,04 ha, chiếm khoảng 93% diện tích đất lâm nghiệp; đất rừng phòng hộ 303,33 ha,
chiếm khoảng 7% Diện tích đất có rừng giàu, trữ lượng lớn hiện nay không còn mà chủ
yếu là rừng non, rừng nghèo kiệt; đất trống đồi núi trọc còn nhiều, cần tích cực trồng rừng
mới và khoanh nuôi tái sinh rừng để tăng độ che phủ rừng Ngoài ra còn có các khu
nhà-vườn ở khu vực ngoại thành tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái nông nghiệp, góp
phần cải thiện môi trường sinh thái và cảnh quan độc đáo của thành phố
c Tài nguyên khoáng sản
Theo Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản tỉnhKhánh Hòa, trên địa bàn TP Nha Trang hiện nay có một số loại khoáng sản sau:
- Nguyên liệu thạch anh quang áp: điểm thạch anh quang áp Hòn Sạn (N 0120)thuộc phường Vĩnh Hải, TP Nha Trang, phân bố trên bề mặt phong hóa đá xâm nhập
phức hệ Cà Ná (G/K2cn) Các tinh thể thạch anh đường kính 2 10 mm, dài 0,5 1 cm,
màu trắng đục, ám khói đến vàng nhạt, nguồn gốc pegmatit, chưa rõ triển vọng Ngoài
ra còn phát hiện được ở một số điểm khác như Hòn Tre
- Mỏ andesit Hòn Thị (N0156): thuộc xã Phước Đồng, TP.Nha Trang Mỏ nằm ở sườnđông núi Hòn Thị, có đỉnh cao nhất là 226 m, phân bố đá phun trào của hệ tầng Nha Trang Đá có màu xámđen, xám xanh, cứng chắc, cấu tạo khối, kiến trúc porphir Lớp vỏ phong hóa triệt để dày 1 5 m, trung bình3,5 m, trữ lượng cấp C1+C2 (tương đương cấp 122 + 333 mới)
- Mỏ đất san lấp Đắc Lộc (N0108): phân bố ven chân Tây Nam núi Đá Bạc, thuộc thônĐắc Lộc, một phần thuộc thôn Vĩnh Thành, xã Vĩnh Phương, thành phố Nha Trang Diện tích dải là 148,168
ha Mỏ Đắc Lộc nằm hoàn toàn trong thành tạo vỏ phong hóa phun trào hệ tầng Đèo Bảo Lộc Tài nguyên dựbáo đất san lấp của mỏ là
8.149.256 m3
Vị trí: thôn Đắc Lộc, xã Vĩnh Phương, thành phố Nha Trang Từ nhà máy sợiNha Trang theo Quốc lộ I đi về phía Cam Ranh khoảng 2 km, lỗ khoan nằm sát bên
trái đường, gần chân cầu Đắc Lộc
Tọa độ VN2000 (Khánh Hòa múi 30): X (m) = 1359778; Y (m) = 598145
Trang 37Dạng xuất lộ: nước khoáng xuất lộ thành 2 điểm nằm trong 2 gò bùn khoáng (còn gọi là Gò Ráng Trong và Gò Ráng Ngoài) trên cánh đồng thuộc xã Vĩnh Phương.
* Tại Gò Ráng Trong: nước khoáng xuất lộ giữa gò bùn khoáng cách cầu Đắc Lộc 700 m
về phía Nam, nhiệt độ nước đo được vào tháng 12/2003 là 500C
* Tại Gò Ráng Ngoài: nước khoáng xuất lộ ở rìa Đông Nam gò, cách cầu Đắc Lộc 500 m
về phía Đông Nam, cách Gò Ráng Trong 300 m về phía Đông Bắc; nhiệt độ nước đo được vào tháng 12/2003
là 400C
Vị trí: nằm ở sườn Đông Bắc núi Hòn Thị, phía Nam đập nước hồ Đồng Bòthuộc thôn Phước Trung, xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang, cách thành phố
khoảng 6 km về phía Tây Nam
Tọa độ VN2000 (Khánh Hòa múi 30): X (m) = 1347889; Y (m) = 598177
Trữ lượng khai thác cấp B = 125 m3/ng; cấp C1 = 311 m3/ng; cấp C2 = 154 m3/ng
d Tài nguyên biển
Vịnh Nha Trang là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới, có diện tíchkhoảng 507 km2 Chiều dài bờ biển từ Vĩnh Lương đến mũi Cù Hin khoảng 30 km
Vịnh Nha Trang là vùng biển hở tiếp giáp với đại dương, hệ thống động lực dòng chảy
tốt giúp cho nước luôn được trao đổi, tự làm sạch, ít bị ô nhiễm Tài nguyên biển Nha
Trang mang nhiều giá trị kinh tế cho phép phát triển tổng hợp kinh tế biển: có tiềm
năng to lớn về du lịch biển - đảo; công nghiệp gắn với biển, cảng biển; đánh bắt, nuôi
trồng thuỷ sản và bảo tồn sinh thái biển
- Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệthống vũng, vịnh trên thế giới, có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là
hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảobiển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ Đặc biệt vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao với 350 loài rạn san hô, có40% số loài san hô trên thế giới
- Bãi biển Nha Trang nằm ngay trung tâm thành phố có chiều dài trên 10 km Trong vịnhNha Trang có nhiều đảo lớn, nhỏ có tiềm năng phát triển du lịch vui chơi giải trí trên đảo, thám hiểm dướinước
- Bờ biển Nha Trang có nhiều điều kiện thuận lợi hình thành các cảng hàng hoá, du lịch
và quốc phòng
- Biển Nha Trang có tiềm năng lớn về đánh bắt thuỷ hải sản với nhiều loại thủy hải sảnquý như cá thu, cá mú, cá chẽm, tôm hùm, tôm sú, cua biển, cá ngựa, mực,… Trữ lượng hải sản vùng biểnNha Trang - Khánh Hoà ước khoảng trên 100
Trang 38nghìn tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi (70%) Khả năng khai thác cho phép hàng năm
khoảng 30 nghìn tấn
- Ngoài các loại hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Nha Trang còn là nơi trú ngụ của loài chim yến, cho phép khai thác yến sào đem lại giá trị kinh tế cao
e Tài nguyên nhân văn, du lịch
- Tài nguyên du lịch biển - đảo: Vịnh Nha Trang được công nhận là một trong nhữngvịnh đẹp nhất thế giới, có hệ sinh thái biển rất đa dạng, trong đó đặc biệt nổi trội là các rạn san hô Trong vịnhNha Trang có 19 hòn đảo lớn, nhỏ với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp và vùng bảo tồn sinh thái còn kháhoàn chỉnh và độc đáo của Việt Nam như đảo Hòn Mun là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất ViệtNam; đảo Hòn Miếu là nơi có nhiều sinh vật biển kỳ lạ; đảo Hòn Tằm là một điểm du lịch hấp dẫn; đảo HònTre có bãi tắm thiên nhiên đẹp vào bậc nhất Việt Nam, có quần thể các dự án du lịch cao cấp, tuyến cáp treoVinpearl vượt biển dài nhất khu vực; đảo Hòn Chồng, Hòn Một là những điểm hấp dẫn về du lịch,…
- Tài nguyên du lịch văn hóa - nhân văn: Bên cạnh tài nguyên du lịch biển-đảo, NhaTrang còn có tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, nhiều di sản văn hóa lịch sử quý giá Theo thống kê,thành phố Nha Trang hiện có 131 di tích, trong đó có 9 di tích danh lam thắng cảnh, 1 di tích khảo cổ học, 3 ditích lưu niệm danh nhân, 13 di tích lưu niệm sự kiện, còn lại là di tích kiến trúc nghệ thuật Nha Trang có một
số di sản văn hóa - lịch sử có giá trị như Tháp Bà Pônaga, Nhà thờ Núi (hay còn gọi Nhà thờ Chánh tòa KitôVua), Chùa Long Sơn, Chiến khu Đồng Bò, Dinh Bảo Đại, Viện Pasteur, Viện Hải dương học, Chợ Đầm,Suối Khoáng,… Ngoài ra, còn có một số văn hóa phi vật thể gần đây đã được khai thác như lễ hội Tháp Bà, lễhội Cầu Ngư, lễ hội xứ Trầm hương, Festival biển,… Trên địa bàn thành phố đã hình thành mạng lưới các cơ
sở dịch vụ văn hóa ẩm thực chất lượng cao, mang nét truyền thống, góp phần tạo nên bản sắc hấp dẫn của dulịch Nha Trang Tiềm năng du lịch Nha Trang cho phép phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mạnh, xâydựng được thương hiệu Nha Trang trên bản đồ du lịch thế giới
3.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế, xã hội
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2015
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 ước đạt 8%, trong đó: giá trị sản xuất ngành Côngnghiệp - xây dựng ước tăng 8,22%, ngành Nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 3-4%, ngành Dịch vụ tăng 15%
- GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 3.600 USD/người/năm
- Thu ngân sách nhà nước cả năm ước đạt 2.200 tỷ đồng
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.PDFWatermarkRemover.com to remove the waterm
Trang 393.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế năm 2015
a Khu vực kinh tế nông nghiệp
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2015 ước đạt 1.917 tỷ đồng, tăng 3,5 %/năm
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm dần Tổng diện tích gieotrồng cây hàng năm ước đạt 2.372 ha, tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt trên
8.500 tấn, năng suất đạt 60 tạ/ha/năm
Hàng năm chăm sóc và trồng mới 121.000 cây phân tán; đất lâm nghiệp năm
2015 có diện tích 4.533,37 ha, trong đó đất có rừng trên địa bàn thành phố đến năm
2015 là 2.802 ha, nâng độ che phủ rừng đạt 11,09%
Khai thác thuỷ sản thực năm 2015 ước đạt 50.000 tấn, tăng 6,8% so với năm
2014 Nuôi trồng thuỷ sản kết hợp hoạt động du lịch - dịch vụ trên biển, đảo đúng quy
hoạch, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái
Xây dựng nông thôn mới: Sau 4 năm triển khai thực hiện, bộ mặt 08 xã thuộcthành phố có sự thay đổi rõ rệt, cơ sở hạ tầng nông thôn thay đổi ngày càng khang
trang, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất đã có chuyển biến phù hợp, văn
hoá - xã hội nông thôn có nhiều tiến bộ đời sống nông dân ổn định Thành phố đã triển
khai đồng bộ các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn hỗ trợ
phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân Qua
đó đã có 34 dự án được hỗ trợ, với hơn 1.563 hộ tham gia, tổng số vốn đầu tư hơn 8 tỷ
đồng; tổ chức các chương trình đào tạo nghề, các lớp huấn luyện, hỗ trợ phát triển
nghề cho các hộ nghèo và các hộ mất đất sản xuất tại các xã nông nghiệp do quá trình
đô thị hoá nhằm chuyển đổi ngành nghề, tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân
vùng dự án
Năm 2014 đã có 2 xã Vĩnh Ngọc và Vĩnh Hiệp được công nhận đạt chuẩnnông thôn mới, hiện nay thành phố đang hỗ trợ, tạo điều kiện cho các xã còn lại, cuối
năm 2015 dự kiến có thêm 02 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới
b Khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng
Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2015 (giá 2010) ước đạt 20.857
tỷ đồng, tăng 8,22% so với năm 2014, chiếm 31,5% tổng GDP toàn thành phố
c Khu vực kinh tế dịch vụ
Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 12,6%/năm, cơ sở vật chất và chấtlượng dịch vụ du lịch đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách trong và ngoài
nước Tổng số khách lưu trú trên địa bàn năm 2015 ước đạt 4 triệu lượt người Doanh
thu dịch vụ, du lịch ước đạt 5.244 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so với năm 2011 (tăng bình
quân 25%/năm) Đã hình thành các khu thương mại - dịch vụ riêng biệt, nhiều siêu thị
Trang 40và trung tâm thương mại được đầu tư xây dựng với quy mô từ trung bình đến lớn với
hàng hoá phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã, đáp ứng nhu cầu mua sắm của
người dân và du khách Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đến năm 2015 đạt
25.488 tỷ đồng (tăng 82% so với năm 2011)
Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn luôn đảm bảo nhiệm vụ chi, trong đó cónăm vượt dự toán Năm 2015 ước đạt 2.200 tỷ đồng, tăng bình quân 8%/năm
3.1.2.3 Thực trạng phát triển các lĩnh vực xã hội
a Dân số - lao động
- Dân số trung bình của thành phố năm 2015: 415.408 người, mật độ dân số 1.598 người/km2, các phường nội thành có mặt độ dân số cao: Xương Huân, Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Vạn Thắng, VạnThạnh, Phương Sơn, Phương Sài, Phước Tân, Phước Hòa, Tân Lập, Phước Tiến,… các xã ngoại thành có mật
độ dân số thưa hơn các phường nội thành Tỷ lệ tăng dân số năm 2015 là 0,8%
- Nguồn lao động của thành phố năm 2015 có khoảng 220.000 người, chiếm 53% dân số
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%, trong đó đào tạo nghề đạt trên 45% Đây chính là một lợi thế quan trọnggóp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố
b Giáo dục - Đào tạo
Toàn thành phố có 109 trường công lập, 14 trường tư thục và trên 100 nhà,nhóm trẻ với trên 68.300 học sinh; huy động 71,1% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo ra
lớp; 99,7% trẻ trong độ tuổi từ 6-10 tuổi đến trường tiểu học; 93% trẻ trong độ tuổi từ
11-14 tuổi đến trường THCS
Đến nay, 100% giáo viên công lập ở các cấp học đều đạt trình độ chuẩn vàtrên chuẩn Xây dựng 27 trung tâm học tập cộng đồng đi vào hoạt động Duy trì 27/27
xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tuổi học đúng độ tuổi, phổ cập
giáo dục, phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi Có 100% trường, lớp được kiên cố hoá,
44/109 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 40,4%); 23/109 trường đạt kiểm định chất
lượng giáo dục mức độ 3
c Văn hóa - thể thao
Hàng năm có 98% gia đình đăng ký và có trên 90% đạt danh hiệu gia đình vănhoá, 74% đạt thôn, tổ dân phố văn hoá Công tác giữ gìn, tôn tạo, phát huy các giá trị
di sản văn hoá vật thể và phi vật thể được quan tâm chú trọng Hoạt động xuất bản, in
ấn phẩm, photo được quản lý, kiểm tra theo đúng quy định
Số người tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên chiếm 40% dânsố; số hộ gia đình thể thao đạt 47% Các giải thể thao phong trào, thể thao thành tích
cao được tổ chức và đạt nhiều giải cao cấp tỉnh, cấp quốc gia Công tác xã hội hoá thể
dục, thể thao có nhiều tiến bộ, nhiều cơ sở tập luyện thể thao được đầu tư bằng nguồn
vốn tư nhân