Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý, sử dụng và di dời đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý, đảm bảo cảnh quan đô thị và phát triển bền vững môi trường.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VIỆT HÀ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ
SỬ DỤNG ĐẤTNGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VIỆT HÀ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ
SỬ DỤNG ĐẤTNGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS HỒ KIỆT
HUẾ - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công
bố, các website
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Huế, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Việt Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế và Khoa Tài nguyên đất & Môi trường nông nghiệp; Phòng Đào tạo Sau đại học đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và viết Luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Hồ Kiệt, người hướng dẫn khoa học nhiệt tình, chu đáo đã giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành Luận văn này
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai, cán bộ địa chính các phường, xã và nhân dân trên địa bàn nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình, bạn bè cùng toàn thể các học viên lớp QLĐĐK22G đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Huế, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Việt Hà
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa
trang, nghĩa địa tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai,
từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý, sử dụng và di dời đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý, đảm bảo cảnh quan đô thị và phát triển bền vững môi trường
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp; Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp;
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, xử lý số liệu; Phương pháp sử dụng bản đồ
Đề tài nghiên cứu 04 nội dung chính sau:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Quy hoạch và định hướng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, sử dụng và di dời đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý
Kết quả nghiên cứu cho thấy UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định phê duyệt địa điểm quy hoạch nghĩa trang tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, định hướng đến năm 2050, trong đó có quy định mức sử dụng đất đối với một phần mộ Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, phổ biến và việc triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố Biên Hòa chưa được quan tâm nên kết quả đạt được chưa cao; tại một số phường, xã còn chưa coi trọng việc quản lý quỹ đất dành cho nghĩa trang, nghĩa địa dẫn đến tình trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa không đúng kế hoạch sử dụng đất được duyệt; Các nghĩa trang nhân dân chủ yếu hình thành tự phát, không có quy hoạch chi tiết, không có tường bao quanh bảo
vệ, không có nhà quản trang, tuyết thoát nước, không có quy định tối thiểu về diện tích đất của mỗi phần mộ nên còn tình trạng gây lãng phí đất; Các nghĩa trang giáo dân đều được quy hoạch trên diện tích đất của tôn giáo và có người quản lý, có quy định về hướng mộ, kích thước các mộ Tuy nhiên, các nghĩa trang này thường nằm gần các khu dân cư và gây ô nhiễm môi trường khu vực;
Trang 6Tình hình quản lý các nghĩa trang tại các phường, xã trên địa bàn thành phố còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt trong việc di dời những nghĩa trang nằm sát khu dân cư gây ô nhiễm môi trường khu vực Nguyên nhân của tình trạng này là do tập quán chôn cất 01 lần không cải táng của người dân địa phương Thêm vào
đó, trên địa bàn các phường, xã còn khá nhiều các nghĩa trang của các giáo dân,
họ có quy định và phần đất riêng nên cũng mang lại khó khăn trong việc di dời
và các nghĩa trang chung có quy hoạch
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý và sử
dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” Tác
giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng tường công tác quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- UBND thành phố Biên Hòa cần tập trung lập kế hoạch, xây dựng phương án xử lý và di dời hệ thống nghĩa trang nhỏ lẻ đã dừng sử dụng tại các phường, xã trên địa bàn thành phố dựa trên lộ trình và định hướng đã được phê duyệt tại quy hoạch địa điểm nghĩa trang của tỉnh Đồng Nai đã được UBND tỉnh phê duyệt
- Cần bổ sung các quy hoạch chi tiết, kế hoạch cụ thể về việc di dời, giải tỏa mồ mả trên địa bàn thành phố để việc di dời đảm bảo hiệu quả Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất NTD
- Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công tác quản lý, sử dụng, quy hoạch nghĩa trang trên địa bàn các phường và kiểm tra tiến độ thực hiện, chất lượng của các dự án quy hoạch về nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố
- Triển khai thực hiện nghiêm các chế tài xử lý đối với các trường hợp tự
ý chôn cất trái phép trên địa bàn Thực hiện tốt việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và cắm biển cấm chôn cất tại các khu vực có quy hoạch các
dự án khác để người dân biết, nghiêm túc chấp hành
- Thống kê, kiểm kê xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố, tiến tới xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa tập trung và liên vùng giữa các phường, xã trên địa bàn thành phố
Đồng thời, kiến nghị các nhà quản lý tiếp tục nghiên cứu và bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế của thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để đảm bảo cho việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa được hiệu quả trong thời gian tới
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Khái quát về đất đai và quản lý đất đai 4
1.1.2 Các loại hình nghĩa trang đô thị đang sử dụng ở Việt Nam 6
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.2.1 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang đô thị tại Việt Nam 8
1.2.2 Một số tiêu chí quy định cụ thể trong quản lý và quy hoạch nghĩa trang đô thị 11
1.2.3 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa tại đô thị Việt Nam 19
1.2.4 Tổng quan về hệ thống nghĩa trang trên toàn tỉnh 22
Trang 81.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 28
2.3.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, xử lý số liệu 28
2.3.3 Phương pháp sử dụng bản đồ 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ÐỒNG NAI 30
3.1.1 Vị trí địa lý 30
3.1.2 Địa hình, địa mạo 31
3.1.3 Khí hậu 32
3.1.4 Thủy văn 32
3.1.5 Thực trạng môi trường 32
3.1.6 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 33
3.1.7 Tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 38
3.1.8 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Biên Hòa 50
3.2 ÐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ÐỒNG NAI 52
3.2.1 Hiện trạng đất nghĩa trang, nghĩa địa của thành phố Biên Hòa 52
Trang 93.2.2 Đánh giá tình hình quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành
phố Biên Hòa 57
3.3 QUY HOẠCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ÐỒNG NAI 62 3.3.1 Nguyên tắc quy hoạch 62
3.3.2 Tiêu chí lựa chọn địa điểm 64
3.3.3 Quy hoạch địa điểm nghĩa trang của thành phố Biên Hòa đến năm 2020, định hướng đến năm 2050 67
3.4 ÐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ DI DỜI ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA MỘT CÁCH HỢP LÝ 68
3.4.1 Dự án ưu tiên đầu tư 68
3.4.2 Lộ trình cải tạo, đóng cửa, di dời các nghĩa trang, nghĩa địa hiện hữu 70
3.4.3 Các giải pháp thực hiện 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 81
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BXD Bộ xây dựng BYT Bộ Y tế
CP Chính phủ HĐND Hội đồng nhân dân
LĐ, TB & XH Lao động, Thương binh và xã hội NTD Đất nghĩa trang, nghĩa địa
NQ Nghị quyết
QĐ Quyết định QLĐĐ Quản lý đất đai TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam TCXD Tiêu chuẩn xây dựng
Tp Thành phố TNMT Tài nguyên Môi trường UBND Ủy ban nhân dân
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân cấp nghĩa trang theo qui mô đất đai và loại đô thị 11
Bảng 1.2 Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn nghĩa trang đô thị 12
Bảng 1.3 Chỉ tiêu sử dụng đất mộ phần trong nghĩa trang đô thị 14
Bảng 1.4 Chỉ tiêu sử dụng đất cho nghĩa trang đô thị 17
Bảng 3.1 Tăng trưởngtổng sản phẩm (GDP) giai đoạn 2011 - 2016 34
Bảng 3.2 Dân số, lao động và việc làm giai đoạn 2011 - 2016 35
Bảng 3.3 Thống kê biến động diện tích các loại đất giai đoạn 2010 - 2015 41
Bảng 3.4 Thống kê nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa 53
Bảng 3.5 Một số nghĩa trang tiêu biểu tại thành phố Biên Hòa 55
Bảng 3.6 Tổng hợp ý kiến của cán bộ địa chính phường về một số nội dung quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa 58
Bảng 3.7 Điều tra, phỏng vấn một số thực trạng đang tồn tại trong quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa tại các phường, xã 59
Bảng 3.8 Quy định khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường nghĩa trang 65
Trang 12DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Biên Hòa 31 Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) giai đoạn 2011 - 2016 35 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu diện tích các loại đất giai đoạn 2010 - 2015 43 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ kiến của cán bộ địa chính phường về một số nội dung quản lý đất nghĩa trang 58
Trang 14MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì có thể thay đổi được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi
tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất, sinh vật sống trên bề mặt trái đất, thậm chí cả sinh vật sống trong lòng đất Đồng thời, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử dụng một cách
có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững
Địa táng là một trong những phong tục lâu đời của dân tộc ta Từ xưa, việc tổ chức tang lễ và chôn cất người chết là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc xây dựng lăng mộ cho người chết tại các địa phương trong tỉnh diễn ra ồ ạt với quy
mô ngày một lớn gây nên sự lãng phí về của cải vật chất, diện tích đất sử dụng
và ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân tại địa phương có nghĩa địa
Đất nghĩa trang, nghĩa địa đang trở thành vấn đề lớn, cần quan tâm của đô thị Việt Nam Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu của người dân tăng cao thì vấn
đề lễ nghĩa càng được xem trọng
Tỉnh Đồng Nai là một trong những vùng có lịch sử phát triển lâu đời về tôn giáo, giữ gìn truyền thống, đặc biệt là trong vấn đề xây cất lăng mộ và lựa chọn hình thức mai táng Xuất phát từ tình hình thực tế trên thì việc đánh giá thực trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa là rất cần thiết trong công tác quy hoạch tổng thể của tỉnh Đồng Nai Đặc biệt, thăm dò và đánh giá tính khả thi của việc xây dựng nhà hỏa táng vấn đề rất đáng lưu tâm
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn và nhận thức được tầm quan trọng
của vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý và
sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”
Trang 152 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý, sử dụng và di dời đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý, đảm bảo cảnh quan đô thị và phát triển bền vững môi trường
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về vấn đề quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa Đồng thời, cung cấp nguồn thông tin đáng tin cậy làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa cũng như các vấn đề môi trường liên quan đối với loại hình sử dụng đất này
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xây dựng các luận cứ cho các chương trình, dự án quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của các ngành, địa phương
- Cung cấp các thông tin cơ bản về hiện trạng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 16- Là cơ sở cho việc định hướng cho việc thực hiện các phương án quy hoạch, quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý trên địa bàn thành phố Biên Hòa nói riêng và toàn tỉnh Đồng Nai nói chung
- Là cơ sở để cung cấp các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ, hợp lý và đảm bảo vệ sinh môi trường Sử dụng quỹ đất tiết kiệm cho toàn đô thị, tránh lãng phí trong việc tổ chức tang lễ và xây dựng mộ Tạo sự hoàn thiện phát triển bền vững cho môi trường sống đô thị Tạo quỹ đất sạch cho đô thị
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái quát về đất đai và quản lý đất đai
1.1.1.1 Khái quát về đất đai
Theo quan điểm của C.Mac: đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện bản để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông - lâm nghiệp.Theo quan điểm của FAO thì đất đai được nhìn nhận như một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả những thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Như vậy, đất được hiểu là tổng thể nhiều yếu tố: khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người
Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về đất, theo phương diện nhìn nhận của mỗi lĩnh vực mà người ta đưa ra khái niệm về đất đai để phục vụ cho mục đích nghiên cứu chuyên môn Tuy nhiên, hiện nay người ta thường dùng hai khái niệm là đất (soil) và đất (land) Đất (soil) là lớp đất mặt của vỏ Trái đất gọi là thổ nhưỡng Khái niệm đất (land) được hiểu là đất đai theo quy mô không gian, vị trí địa lý, cộng đồng lãnh thổ, môi trường… Trong quản lý nhà nước về đất đai, người ta thường đề cập đến đất đai theo khái niệm đất (land)
1.1.1.2 Khái quát về quản lý đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của đất đai nhằm nắm chắc về chất lượng, số lượng từng loại đất ở từng vùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất quy hoạch, kế hoạch, sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong
cả nước từ Trung ương đến cơ sở thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc bỏ hoang, làm cho đất xấu đi
Trang 18Quản lý nhà nước về đất đai thống nhất trong cả nước là thống nhất về đường lối, chính sách đất đai của Đảng và Chính phủ, thể hiện cụ thể ở luật đất đai, những văn bản dưới luật phải được triển khai đồng bộ và thống nhất từ Trung ương đến địa phương, làm cho người sử dụng đất hiểu được pháp luật và thực hiện đúng pháp luật về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai nhằm cung cấp các hồ sơ, tài liệu, số liệu liên quan đến đất đai trong cả nước, giúp cho Chính phủ và các ngành, địa phương
có kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, là cơ sở để lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất hợp lý
Tóm lại, thực chất quản lý đất đai là quản lý con người sử dụng đối với mỗi loại đất ở mỗi vùng khác nhau được nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các chủ sử dụng với mục đích được pháp luật quy định Quản lý nhà
nước về đất đai được xây dựng trên nền tảng học thuyết Mác - Lênin: “Đất đai
là đối tượng lao động và tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được”
* Nội dung quản lý nhà nước về đất đai:
Luật đất đai 2013 bao gồm 15 nội dung pháp luật quy định nội dung quản
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
7 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
8 Thống kê, kiểm kê đất đai
Trang 199 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
14 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai
15 Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
Từ khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực đến nay, các nội dung quản lý nhà nước về đất đai đã được cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn chuyên ngành
và được áp dụng trên khắp cả nước
1.1.2 Các loại hình nghĩa trang đô thị đang sử dụng ở Việt Nam
Các loại hình nghĩa trang đang tồn tại ở các đô thị Việt Nam hiện nay phong phú, đa dạng Chúng được phân loại phụ thuộc theo công nghệ táng, phương cách quản lý, tín ngưỡng, tôn giáo Các loại hình nghĩa trang đô thị ở Việt Nam có thể phân loại theo các tiêu chí sau:
1.1.2.1 Phân loại theo công nghệ táng dân tộc
Nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế nằm phổ biến ở hầu hết các dân tộc Việt Nam
Nhà mồ phổ biến ở một số dân tộc ít người miền núi cao Trung Trung Bộ
và Tây Nguyên, nhà mồ là nơi lưu giữ hài cốt trên mặt đất sau khi bốc mộ
Nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế ngồi của đồng bào Chăm
1.1.2.2 Phân loại theo phương cách quản lý
Loại hình nghĩa trang công cộng do chính quyền quản lý như: nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang đô thị, nghĩa trang liệt sỹ
Loại hình nghĩa trang tôn giáo do các tổ chức tôn giáo thành lập và quản lý như: nghĩa trang của các chức sắc tôn giáo, nghĩa trang giành riêng cho các tín ngưỡng tôn giáo
Trang 20Loại hình nghĩa trang hội đoàn do các tổ chức hội đoàn nghề nghiệp, hội đoàn đồng hương và các bang hội người Hoa thành lập và quản lý như: nghĩa trang chùa nghệ sỹ (Tp Hồ Chí Minh), nghĩa trang của các bang hội người Hoa (bang Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông…)
Loại hình nghĩa trang thuộc sở hữu tư nhân do người dân tự thành lập và quản lý trên phần đất được giao quyền sử dụng như: các nghĩa trang gia đình, nghĩa trang dòng họ…
1.1.2.3 Phân loại theo công nghệ táng
Nghĩa trang địa táng: nghĩa trang Yên Kỳ (Hà Tây), nghĩa trang Thanh Tước (Vĩnh Phúc),… Trong địa táng, lại được chia thành:
- Nghĩa trang hung táng (nơi diễn ra quá trình phân hủy các tổ chức phần mềm cơ thể, xương cốt sau đó được bốc đi nơi khác) như: nghĩa trang Hưng Lộc (Vinh), nghĩa trang Cầu Họ (Nam Định),…
- Nghĩa trang chôn cất một lần (nghĩa trang hung táng nhưng không cải táng bốc xương cốt) như: nghĩa trang Đa Phước (Tp Hồ Chí Minh), …
- Nghĩa trang cát táng (chỉ chôn cất xương cốt) như: nghĩa trang Yên Kỳ (Hà Nội), nghĩa trang Nghi Phú (Vinh),…
- Nghĩa trang hung táng và chôn cất một lần, nghĩa trang hung táng và cát táng… như : nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội), nghĩa trang Truông Bồng Bông (Thủ Dầu Một),…
- Nghĩa trang địa táng và kết hợp hỏa táng: nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội), nghĩa trang Bình Hưng Hòa (Tp Hồ Chí Minh),…
1.1.2.4 Phân theo vùng địa lý và theo phong tục tập quán truyền thống
- Từ vĩ tuyến 17 trở ra: nghĩa trang hung táng và nghĩa trang cát táng phân
bố chủ yếu ở các khu vực người Kinh sinh sống
- Từ vĩ tuyến 17 trở vào: phổ biến là nghĩa trang chôn cất một lần
Trong các loại nghĩa trang trên, nghĩa trang hung táng là nghĩa trang tiềm
ẩn khả năng tác động đến môi trường đất, nước ngầm lớn nhất, tiếp sau đến là nghĩa trang chôn một lần và cuối cùng là nghĩa trang cát táng
Trang 211.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang đô thị tại Việt Nam
1.2.1.1 Khái quát tình hình sử dụng đất nghĩa trang đô thị tại Việt Nam
Về thực trạng tổ chức không gian và hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng đang gặp phải nhiều chuyện bất cập Cụ thể, trong số 15 đô thị đã được tiến hành khảo sát thực tế, có tới 4 đô thị có các nghĩa trang nhân dân nằm xen kẽ các điểm dân cư (Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Krông Pắc) Đặc biệt, trong tất cả các nghĩa trang đô thị đã được khảo sát đều không có hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thug om và xử lý nước thấm Nhiều nghĩa trang hệ thống các tuyến giao thông nội bộ này hầu như không có, thậm chí còn thiếu cả các công trình phụ trợ như tường rào, nhà quản trang, bãi đỗ xe, hệ thống cấp nước
Theo thống kê của Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội, Hà Nội hiện có 2.362 nghĩa trang với quy mô 2.740ha, trong đó có 6 nghĩa trang tập trung (gồm Yên Kỳ, Vĩnh Hằng, Thanh Tước, Mai Dịch, Văn Điển, Sài Đồng, không bao gồm nghĩa trang liệt sỹ Nhổn, Ngọc Hồi), 3 nghĩa trang tập trung huyện (Hà Đông, Sơn Tây và Xuân Đỉnh) và 2.353 nghĩa trang thôn, xã.Hà Nội hiện có 21 nhà tang lễ, xây dựng từ năm 1959 đến nay, quy mô nhỏ hẹp, không đảm bảo khoảng cách cách ly vệ sinh môi trường, cự ly di chuyển đến nghĩa trang tập trung lớn, cơ sở vật chất phục vụ tang lễ trong các bệnh viện rất thiếu thốn.Việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km2 Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 1.000 người/km2 Theo sở LĐ, TB &XH Hà Nội, trên toàn địa bàn thủ đô chỉ có 7 nghĩa trang do thành phố quản lý, trong đó có 2 nghĩa trang liệt sỹ là nghĩa trang Ngọc Hồi và nghĩa trang Sài Đồng Tất cả nghĩa trang đều đang rất xập xệ và quá tải Phần đất dành để an táng cho người đã khuất của các nghĩa trang trên địa bàn Thủ Đô đang cạn kiệt qua từng ngày Việc triển khai xây dựng thêm các nghĩa trang phục vụ nhu cầu mai táng cho người dân là chủ trương rất đúng đắn và cấp thiết
Theo Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội sẽ đóng cửa các nghĩa trang Vạn phúc, Xuân Đinh, Mai Dịch 1, Yên Kỳ 1 từ năm 2013 Nghĩa trang Văn Điển chỉ để duy trì hỏa táng, đồng thời đóng cửa các nghĩa trang phân tán trong khu vực nội
đô, trồng cầy xanh cách ly
Trang 22Tại Đà Nẵng, vấn đề đất nghĩa trang càng cấp bách hơn khi tất cả các nghĩa trang lớn của thành phố đều đã trở nên quá tải Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 3 nghĩa trang là Hòa Khương, Hòa Sơn và Hòa Ninh, nghĩa trang ở Hòa Khương hết chỗ, nghĩa trang ở Ḥa Sơn còn 1 ha đất dự phòng Còn nghĩa trang Hòa Ninh đang phải mở rộng do áp lực di dời giải tỏa mồ mã từ các vùng
dự án quá lớn Theo ban quản lý nghĩa trang thành phố Đà Nẵng, trung bình mỗi tháng có khoảng 60 trường hợp xin đất an táng Năm 2014, số mộ phải cải táng
từ các vùng dự án khoảng 32.000 mộ và hiện có hơn 1.500 mộ nằm xen lẫn trong khu vực dân cư sẽ phải di dời để giải phóng mặt bằng Nhìn chung, đất nghĩa trang tại thành phố Đà Nẵng cũng đang dần cạn kiệt, quá tải Tình trạng trên đang là vấn đề lo ngại của toàn thành phố
Không chỉ Hà Nội, Đà Nẵng mà ở thành phố Hồ Chí Minh đất nghĩa trang cũng đã và đang trở nên quá nghiêm trọng Theo số liệu của chi cục Thống kê TPHCM, mỗi năm tại TPHCM có khoảng 23 - 24 ngàn người chết Nhu cầu chôn cất tại các nghĩa trang đang tăng cao, và hầu hết các nghĩa trang hiện nay đều qúa tải, hết đất Nghĩa trang Bình Hưng Hòa đang giải tỏa để xây dựng khu dân cư, đất nghĩa trang Đa Phước cũng đã được lấp đầy giai đoạn 1 là 7,5ha (đang đầu tư mở rộng giai đoạn 2) Đất nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức) cũng đang ở mức báo động, chỉ còn lại là chủ yếu là đất rẻo, đất nơi khuất Với nhu cầu đất địa táng đang tăng cao như hiện nay, chỉ trong một thời gian ngắn nữa thì nghĩa trang này cũng sẽ hết chỗ
1.2.1.2 Khái quát tình hình quản lý nghĩa trang đô thị tại Việt Nam
Do nghĩa trang nhân dân đô thị là một hệ thống hạ tầng xã hội thiết yếu với sự đầu tư, xây dựng và quản lý của chính quyền đô thị nên hiện công tác quy hoạch xây dựng nghĩa trang nhân dân đô thị cũng đã được đề cập trong nội dung nghiên cứu của các đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát thực tế tại 15 đô thị từ loại đặc biệt đến loại V (thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Nha Trang… ) cho thấy, trong nội dung quy hoạch chung, tại phần hiện trạng, phần lớn các đồ án chỉ dừng ở mức nêu tên, vị trí, diện tích nghĩa trang nhân dân hiện có, hoàn toàn không đề cập đến công nghệ táng cũng như hiện trạng công tác quản lý quy hoạch, xây dựng nghĩa trang
Về định hướng quy hoạch và phát triển lâu dài, nội dung một số đồ án quy hoạch chung cũng chỉ đưa ra địa điểm, diện tích xây dựng nghĩa trang nhân dân theo một số quy định chưa đầy đủ của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 4449:1987
Trang 23về quy hoạch xây dựng đô thị và quy chuẩn xây dựng Việt Nam 1997 và đề xuất
áp dụng thêm công nghệ táng (hỏa táng) mà không giải thích cơ sở lựa chọn cũng như không đề cập đến khoảng cách đến khu dân cư gần nhất và hệ thống
hạ tầng kỹ thuật của nghĩa trang Thậm chí một số đồ án quy hoạch chung không còn đề cập bất cứ thông tin nào về vấn đề hiện trạng và quy hoạch nghĩa trang nhân dân đô thị, kể cả vị trí lẫn quy mô diện tích
Năm 1992, UBND thành phố Hà Nội khởi công xây dựng đài hóa thân Hoàn Vũ tại nghĩa trang Văn Điển với 2 lò điện táng và chính thức đi vào hoạt động năm 1996 Tuy nhiên, những năm đầu thực hiện điện táng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi từ tập tục hung táng (mai táng) sang điện táng, do vậy số lượng phục vụ chỉ chiếm 10 - 15% tổng số đám tang tại Văn Điển Đến nay, ngoài việc nâng cao chất lượng phục vụ, việc nhận thức của người dân cũng thay đổi, cùng với việc hưởng ứng thực hiện nếp sống văn hóa - văn minh trong tang lễ của người dân thủ đô cũng có nhiều chuyển biến tích cực đã nâng tỷ lệ lên 65 - 75% đám tang tại Văn Điển (500 ca điện táng/700 đám tang tại Văn Điển, với 16 ca/ngày) với mức chi phí hỏa tánglà 2.850.000 đồng/ca
Nghĩa trang nhân dân Hội An tọa lạc trong khuôn viên rộng trên địa bàn
xã Cẩm Hà, Tp Hội An (tỉnh Quảng Nam) Nghĩa trang nằm cạnh tuyến đường liên tỉnh Đà Nẵng - Hội An, rất thuận lợi cho người và phương tiện khi tham gia mai táng người quá cố Tuy nhiên, qua nhiều năm nghĩa trang đã quá tải, quỹ đất ngày càng hạn hẹp Nhà hỏa táng Hội An bị bỏ hoang phế, đã xuống cấp nghiêm trọng, hư hỏng, nằm chỏng chơ, nhiều trang thiết bị như ống dẫn nước, bê tông… bị kẻ cắp đập phá, bẻ nát để lấy vật liệu xây dựng
Tại thành phố Hải Dương, lò hỏa táng nằm tại nghĩa trang nhân dân thành phố được khởi công xây dựng từ năm 2010 - 2011 do công ty CP quản lý đô thị Hải Dương làm chủ đầu tư Đến tháng 9/2012, lò hỏa táng được đưa vào vận hành thử nghiệm và đến nay đã chính thức đi vào sử dụng khai thác Điều đặc biệt là lò hỏa táng này lại nằm ngay khu dân cư (đã có từ lâu đời) Thậm chí ở những vị trí gần thì lò hỏa táng chỉ cách nhà dân khoảng 150m đến 200m Trong khi khoảng cách này theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “Các công trình hạ tầng kỹ thuật” ban hành kèm theo Thông tư số 02/TT -BXD ngày 05/02/2010 của Bộ Xây dựng là 1.500 m Sau thời gian hoạt động được gần 2 tháng thì lò hỏa táng đã tỏa ra nhiều khói bụi, mùi khét, tiếng ồn… nhân dân đã kiến nghị tới các cơ quan chức năng nhưng sự việc vẫn chỉ dừng lại ở chỗ “bắt cóc bỏ đĩa”
Trang 241.2.2 Một số tiêu chí quy định cụ thể trong quản lý và quy hoạch nghĩa trang đô thị
Quy hoạch xây dựng nghĩa trang là việc tổ chức không gian kiến trúc, phân khu chức năng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nghĩa trang nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả về đất đai và đáp ứng yêu cầu khách quan, bảo vệ môi trường, làm cơ sở pháp lý cho việc đầu tư xây dựng, cải tạo, sử dụng và quản lý nghĩa trang
Yêu cầu đối với việc quy hoạch địa điểm nghĩa trang phải phù hợp tổ chức phân bố dân cư và kết nối công trình hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu táng trước mắt và lâu dài của khu vực lập quy hoạch, đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Một số tiêu chí về quản lý phân cấp và xây dựng nghĩa trang như sau:
Theo tiêu chí phân cấp như bảng 1.1 thì nghĩa trang được phân cấp theo quy
mô đất và tương ứng với từng loại hình đô thị, tương ứng có 4 cấp nghĩa trang
Bảng 1.1 Phân cấp nghĩa trang theo qui mô đất đai và loại đô thị
Cấp nghĩa trang Quy mô đất
(ha)
Loại đô thị phục vụ
Cấp I > 60 Loại đặc biệt; loại I Cấp II > 30 60 Loại II
Cấp III 10 30 Loại III Cấp IV < 10 Loại IV; loại V
(Nguồn: Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 của Bộ Xây Dựng)
Bên cạnh việc phân loại cấp nghĩa trang theo quy mô đất là loại đô thị thì mỗi nghĩa trang theo tiêu chuẩn Quốc gia về tiêu chuẩn thiết kế của nghĩa trang
đô thị xây dựng cần chú ý các yêu cầu như: lựa chọn địa điểm xây dựng nghĩa trang đô thị; nguyên tắc tổ chức không gian mặt bằng; xác định hình thức táng, chỉ tiêu sử dụng đất mộ phần trong nghĩa trang đô thị; xác định các yêu cầu cơ bản hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu như sau:
Trang 25* Lựa chọn địa điểm xây dựng nghĩa trang đô thị phải được xây dựng ở
vị trí phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt Đối với các nghĩa trang có hình thức mai táng là hung táng và chôn một lần tuyệt đối không được đặt trong nội thị Đối với nghĩa trang chỉ có hình thức mai táng là cát táng có thể được đặt trong nội thị nhưng phải đảm bảo tỷ lệ sử dụng đất dành cho chôn cất không vượt quá 35% và cho cây xanh không nhỏ hơn 50% tổng diện tích nghĩa trang
Lựa chọn địa điểm xây dựng nghĩa trang đô thị phải ưu tiên các vị trí có khả năng phục vụ cho liên vùng, liên đô thị Địa điểm xây dựng nghĩa trang đô thị phải đảm bảo được các yêu cầu về bảo vệ môi trường và khai thác, sử dụng lâu dài
Diện tích khu đất phải bảo đảm được theo qui mô dự báo về mộ phần trong thời gian tối thiểu 50 năm
Lựa chọn địa điểm xây dựng nghĩa trang đô thị phải đảm bảo khoảng cách đến các khu lân cận theo qui định tại bảng 1.2
Lựa chọn địa điểm xây dựng nghĩa trang đô thị phải xem xét các điều kiện
tự nhiên như: khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn… Không bố trí nghĩa trang tại khu vực thiên tai, úng ngập, sạt lở Riêng nghĩa trang hung táng cần ở nơi trũng,
có độ ẩm cao
Bảng 1.2 Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn nghĩa trang đô thị
Đối tượng cần cách ly
Khoảng cách tới nghĩa trang đô thị Nghĩa trang
hung táng
Nghĩa trang chôn một lần
Nghĩa trang cát táng
Từ hàng rào của hộ dân gần nhất 1.500 500 100 Công trình khai thác
nước sinh hoạt tập trung
5.000 5.000 3.000
Đường sắt, đường Quốc lộ, tỉnh lộ 300 300 300 Mép nước của các thủy
vực lớn 500 500 100
Trang 26(Nguồn: Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 01/02/2013 của UBND tỉnh Đồng Nai)
* Nguyên tắc tổ chức không gian tổng mặt bằng được thiết kế theo các tiêu chuẩn cụ thể như sau:
- Tổ chức không gian: Hướng chính nghĩa trang nên quay về hướng nam; hướng đông; hướng đông nam, về hướng thoáng và thấp Bố cục chiều cao không gian cần sao cho phía sau cao hơn phía trước,nên bố cục không gian đối xứng
- Các khu chức năng trong một nghĩa trang bao gồm:
+ Khu vực táng bao gồm khu hung táng (các mộ phần), khu chôn 1 lần (các mộ phần), khu hậu hỏa táng (bao gồm cả địa hỏa táng và nhà lưu tro), dành cho các nghĩa trang có đài hóa thân hoàn vũ (nhà thiêu xác)
+ Khu vực dịch vụ: Các công trình dịch vụ phục vụ tang lễ, thăm viếng tảo mộ, nhà tang lễ, nhà chờ; y tế, vệ sinh
+ Khu tâm linh: Bàn thờ thổ địa; các vườn tâm linh; quảng trường hành lễ trước ban thổ địa; các điểm tâm linh của từng mộ phần; cụm mộ phần (bia mộ, bàn hương, …)
+ Cây xanh, mặt nước: Các mảng cây xanh chung; các mảng cây xanh, vườn hoa của các khu nghĩa trang thành phần, cụm mộ, mộ phần; các dải cây xanh cách ly, liên hoàn với cây xanh vùng đệm
+ Khu vực quản lý bao gồm nhà quản trang, nhà dịch vụ xây mộ, trồng hoa, trồng cây xanh, nhà trực
+ Các khu kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật: Khu xử lý kỹ thuật cải táng,hỏa táng, lưu táng Các công trình hạ tầng như bãi đỗ xe, trạm biến áp,trạm xử lý nước thảivà các tuyến giao thông, đường dây, đường ống kỹ thuật
* Xác định hình thức táng: Là chỉ tiêu sử dụng đất mộ phần trong nghĩa trang đô thị là một trong những tiêu chí thiết kế quan trọng trong tiêu chuẩn quy định của Quốc gia về tiêu chuẩn xây dựng nghĩa trang đô thị
Xác định hình thức táng là cơ sở xác định quy mô đất đai, kiến trúc, kỹ thuật, hình thức quản lý phù hợp Hình thức táng trong nghĩa trang đô thị được lựa chọn phù hợp với phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân địa phương kết hợp với yêu cầu phát triển thực tế công nghệ táng hiện đại của đô thị
Trang 27Hạn mức diện tích đất sử dụng cho từng loại mộ được quy định cho mộ người lớn và trẻ em, tùy vào các loại hình mai táng hung táng, cát táng và hỏa táng như quy định ở bảng 1.3 Trong đó, đối với hình thức mai táng bằng lò thiêu hỏa táng, diện tích phần mộ để lưu cốt hỏa táng là chiếm ít diện tích nhất trong các hình thức còn lại, nên các nghĩa trang đô thị trên cả nước đang rất chú
ý đến vấn đề chuyền dần các hình thức mai táng còn lại để tiết kiệm quỹ đất trong tương lai
Bảng 1.3 Chỉ tiêu sử dụng đất mộ phần trong nghĩa trang đô thị
Loại mộ phần
Mộ phần người lớn
Mộ trẻ em
Mộ phần hung táng (m2/mộ phần) 5 8 5
Mộ phần chôn một lần (m2/mộ phần) 5 8 5
Mộ phần cát táng (m2/mộ phần) 4 5 4 Ngăn lưu cốt hỏa táng (m3/ngăn) 0,125 0,125
(Nguồn: Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 01/02/2013 của UBND tỉnh Đồng Nai)
* Cuối cùng, tiêu chí xác định các yêu cầu cơ bản hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong mỗi nghĩa trang đô thị cũng được quy định chặt chẽ, để đáp ứng được các nhu cầu sử dụng của người thân khi tiến hành chôn cất cũng như thăm viếng, tạo mỹ quan hợp lý và phù hợp trong khu nghĩa trang
Giao thông
- Hệ thống đường trong nghĩa trang + Đường chính trong nghĩa trang: Thông thường chủ yếu dành cho phương tiện cơ giới cho nên sự lưu thông cần được nhanh chóng, an toàn và thuận tiện - Bề rộng đường phải đảm bảo tối thiểu 2 làn xe 7m Tùy theo quy mô nghĩa trang hai bên đường có thể có hè, dải cây xanh Mặt đường xe chạy là đá răm thấm nhập hoặc bê tông xi măng,hè được lát gạch
+ Đường nhánh: Các tuyến đường nhánh trong nghĩa trang chủ yếu dành cho người đi bộ, được xây dựng giữa các lô mộ Bề rộng mặt cắt ngang tối thiểu
là 3,5m Mặt đường nên làm bằng bê tông, gạch hoặc đá
Trang 28+ Đường nội bộ: Được xây dựng giữa hai hàng mộ rộng từ 0,8 m đến 1
m và giữa 2 mộ liên tiếp cùng hàng khoảng 0,6m Loại đường này nên được lát gạch
- Sân bãi đỗ xe: Tùy theo quy mô nghĩa trang mà quy mô của sân, bãi đỗ xe được tính toán cho phù hợp Việc bố trí phải thuận lợi và có liên hệ thuận tiện với cổng chính đồng thời cũng góp phần giảm thiểu ùn tắc giao thông tại khu vực ra, vào nghĩa trang
- Quảng trường: Một quảng trường nhỏ nên được bố trí trước kỳ đài, khu tưởng niệm hay khu vực thờ cúng chung của nghĩa trang Quảng trường cũng có thể là điểm cuối của đường chính Trong không gian quảng trường cần có cây xanh, tiểu cảnh kiến trúc, tượng đài, ghế đá… Quảng trường có quy mô tương ứng với quy mô nghĩa trang
Qui hoạch kỹ thuật
- Nguyên tắc: Tôn trọng tối đa địa hình tự nhiên,không san gạt lớn; đặc biệt khu các ô chôn cất phải là đất thổ không dùng đất đắp (đất mượn); hệ thống thoát nước mặt tận dụng tối đa độ dốc tự nhiên, tuyệt đối tránh úng ngập ở mọi tần suất
- Giải pháp: Không san gạt các khu chôn cất, an táng; hệ thống thoát nước mưa, cống, mương cần sử dụng kết cấu và vật liệu xây dựng chất lượng cao
- Yêu cầu về thổ nhưỡng: Đất thuộc nhóm hạt có kích thước hạt từ (0,6 2) mm; độ ẩm tốt nhất của đất là (50 - 70)%; mực nước ngầm nằm sâu với khoảng cách tối thiểu cách đáy hố chôn là (0,7 1) m; các huyệt mộ (hố chôn địa táng) ở độ sâu tối ưu là (1,5 2) m; cây xanh trồng trong nghĩa trang phải là những loại cây có khả năng hấp thụ các chất hữu cơ phân hủy nhanh và quá trình hô hấp qua các lá của cây phải có tác dụng khử độc Mật độ cây trồng từ (4-6) m2/cây Không trồng các loại cây có quả để tránh ruồi muỗi
Qui hoạch thoát nước bẩn
- Loại hình nước thải từ nghĩa trang đô thị: Nước rỉ ngầm từ các huyệt mộ; nước thải từ nhà WC công cộng; nước thải khi có mưa rửa trôi bề mặt phủ trong nghĩa trang mang theo đất, cát và một số chất bẩn khác
- Giải pháp: Xây dựng trạm làm sạch nước thải,xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5945 : 2005 (giới hạn B); tiếp tục xử lý qua hồ sinh học trước khi xả ra ngoài khu vực nghĩa trang
Trang 29 Qui hoạch xử lý chất thải rắn và chất thải khí
- Xử lý chất thải rắn: Tại các nơi dịch vụ và thăm viếng, cần tổ chức đặt thùng chứa rác Hàng ngày có phương tiện thu gom đưa về nơi xử lý
- Xử lý chất thải khí (đối với các nghĩa trang hậu hỏa táng): nên chọn vị trí đài hóa thân hoàn vũ (lò hỏa táng) có khoảng cách xa nhất đối với khu vực cách ly gần nhất; và cuối hướng gió
Qui hoạch cấp điện và chiếu sáng
- Nguồn điện: Thuộc nguồn điện của đô thị,đ`ối với nghĩa trang hỏa táng cần có nguồn đặc biệt ưu tiên
- Lưới điện: Sử dụng lưới điện 220 KV
- Chiếu sáng:
+ Sử dụng cáp ngầm, dùng đèn vàng (bóng sodium) Không sử dụng cột cao, chỉ dùng đèn thấp, đèn nấm ( 0,5 m) Độ dọi 0,1 cdm2
+ Nơi chiếu sáng: khu tâm linh, cổng và các trục chính + Riêng khu hỏa táng: theo yêu cầu của dự án riêng với công nghệ hỏa táng và công nghệ chiếu sáng phù hợp
Quy hoạch cấp nước
- Nguồn: Căn cứ vào khoảng cách cụ thể từ nghĩa trang đến nguồn nước chung của đô thị và đến nguồn nước cục bộ mà lựa chọn phương án nguồn
- Giải pháp: Mạng vòng kết hợp với mạnh nhánh (200 100) mm
- Tiêu chuẩn xây dựng TCXD 33:2006
+ Nhân viên phục vụ 100 lít/người.ngày; khách phục vụ 5 lít/người.ngày + Nước công cộng 60% QSH; nước tưới cây 10 m3/ha.ngày
* Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu được Bộ xây dựng quy định trong tiêu chuẩn quốc gia về thiết kế nghĩa trang đô thị cụ thể cho 4 cấp nghĩa trang
với các loại hình nghĩa trang cụ thể như bảng 1.4 đối với yêu cầu sử dụng đất
Trang 30Bảng 1.4 Chỉ tiêu sử dụng đất cho nghĩa trang đô thị
TT Loại hình - hạng mục chỉ tiêu Cấp I Cấp II Cấp III Cấp IV
I
Các chỉ tiêu chung cho toàn nghĩa trang (bao gồm từ 2 nghĩa trang thành phần trở lên)
1.1
Tỷ lệ đất các nghĩa trang thành phần so với tổng diện tích nghĩa trang
Tỷ lệ các công trình phục vụ + công trình kỹ thuật so với tổng diện tích nghĩa trang
II Các chỉ tiêu cụ thể cho "từng nghĩa trang thành phần" 100 100 100 100
2.1
Tỷ lệ đất các khu an táng so với tổng diện tích táng "nghĩa trang thành phần"
50 55 60 70
2.2
Tỷ lệ đất giao thông các loại so với tổng diện tích "nghĩa trang thành phần"
7 8 9 10
2.3
Tỷ lệ đất cây xanh mặt nước so với tổng diện tích "nghĩa trang thành phần"
42 36 29,5 18
2.4
Tỷ lệ các công trình phục vụ + công trình kỹ thuật so với tổng diện tích "nghĩa trang thành phần"
1 1 1,5 2
III Nghĩa trang hung táng 100 100 100 100
3.1 Tỷ lệ đất các khu an táng so với tổng diện tích nghĩa trang 50 55 60 70 3.2 Tỷ lệ đất giao thông các loại so với
tổng diện tích nghĩa trang 7 8 9 10
Trang 31TT Loại hình - hạng mục chỉ tiêu Cấp I Cấp II Cấp III Cấp IV
3.3 Tỷ lệ đất cây xanh mặt nước so với tổng diện tích nghĩa trang 41 34 27 15 3.4
Tỷ lệ đất các công trình phục vụ, công trình kỹ thuật so với tổng diện tích nghĩa trang
IV Nghĩa trang chôn 1 lần 100 100 100 100
4.1 Tỷ lệ đất các khu an táng so với tổng diện tích nghĩa trang 45 55 60 65
4.2 Tỷ lệ đất giao thông các loại so với tổng diện tích nghĩa trang 9 10 11 12
4.3 Tỷ lệ đất cây xanh mặt nước so với tổng diện tích nghĩa trang 44,5 33 26 19
4.4
Tỷ lệ đất các công trình phục vụ, công trình kỹ thuật so với tổng diện tích nghĩa trang
1,5 2 3 4
V Nghĩa trang cát táng và nghĩa
5.1 Tỷ lệ đất các khu an táng so với tổng diện tích nghĩa trang 45 50 55 60
5.2 Tỷ lệ đất giao thông các loại so với tổng diện tích nghĩa trang 10 11 12 13
5.3 Tỷ lệ đất cây xanh mặt nước so với tổng diện tích nghĩa trang 41 34 25 17 5.4
Tỷ lệ đất các công trình phục vụ, công trình kỹ thuật so với tổng diện tích nghĩa trang
4 5 8 10
(Nguồn: Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 của Bộ Xây dựng)
Ngoài ra, hệ thống phụ trợ trong các nghĩa trang đô thị cũng được Bộ xây dựng quy định trong yêu cầu thiết kể về chỉ tiêu giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, thu gom chất thải rắn và môi trường theo bảng 1.4
Công trình phụ trợ trong khu nghĩa trang đô thị không chỉ đảm bảo đáp ứng về nhu cầu đi lại, chăm sóc của cán bộ quản trang, người thân đến thăm viếng mà ngoài ra cần đáp ứng về cảnh quan môi trường, hướng đến nghĩa trang
Trang 32xanh thân thiện với môi trường, là tiền đề để phát triển thành những nghĩa trang công viên cho các đô thị trong tương lai
1.2.3 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa tại
đô thị Việt Nam
1.2.3.1 Khái quát tình hình sử dụng đất nghĩa trang đô thị tại Việt Nam
Về thực trạng tổ chức không gian và hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng đang gặp phải nhiều chuyện bất cập Cụ thể, trong số 15 đô thị đã được tiến hành khảo sát thực tế, có tới 4 đô thị có các nghĩa trang nhân dân nằm xen kẽ các điểm dân cư (Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Krông Pắc) Đặc biệt, trong tất cả các nghĩa trang đô thị đã được khảo sát đều không có hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thug om và xử lý nước thấm Nhiều nghĩa trang hệ thống các tuyến giao thông nội bộ này hầu như không có, thậm chí còn thiếu cả các công trình phụ trợ như tường rào, nhà quản trang, bãi đỗ xe, hệ thống cấp nước
Theo thống kê của Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội, Hà Nội hiện có 2.362 nghĩa trang với quy mô 2.740 ha, trong đó có 6 nghĩa trang tập trung (gồm Yên Kỳ, Vĩnh Hằng, Thanh Tước, Mai Dịch, Văn Điển, Sài Đồng, không bao gồm nghĩa trang liệt sỹ Nhổn, Ngọc Hồi), 3 nghĩa trang tập trung huyện (Hà Đông, Sơn Tây và Xuân Đỉnh) và 2.353 nghĩa trang thôn, xã.Hà Nội hiện có 21 nhà tang lễ, xây dựng từ năm 1959 đến nay, quy mô nhỏ hẹp, không đảm bảo khoảng cách cách ly vệ sinh môi trường, cự ly di chuyển đến nghĩa trang tập trung lớn, cơ sở vật chất phục vụ tang lễ trong các bệnh viện rất thiếu thốn.Việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km2 Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 1.000 người/km2 Theo sở LĐ, TB &XH Hà Nội, trên toàn địa bàn thủ đô chỉ có 7 nghĩa trang do thành phố quản lý, trong đó có 2 nghĩa trang liệt sỹ là nghĩa trang Ngọc Hồi và nghĩa trang Sài Đồng Tất cả nghĩa trang đều đang rất xập xệ và quá tải Phần đất dành để an táng cho người đã khuất của các nghĩa trang trên địa bàn Thủ Đô đang cạn kiệt qua từng ngày Việc triển khai xây dựng thêm các nghĩa trang phục vụ nhu cầu mai táng cho người dân là chủ trương rất đúng đắn và cấp thiết
Theo Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội sẽ đóng cửa các nghĩa trang Vạn phúc, Xuân Đinh, Mai Dịch 1, Yên Kỳ 1 từ năm 2013 Nghĩa trang Văn Điển chỉ để duy trì hỏa táng, đồng thời đóng cửa các nghĩa trang phân tán trong khu vực nội
đô, trồng cầy xanh cách ly
Trang 33Tại Đà Nẵng, vấn đề đất nghĩa trang càng cấp bách hơn khi tất cả các nghĩa trang lớn của thành phố đều đã trở nên quá tải Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 3 nghĩa trang là Hòa Khương, Hòa Sơn và Hòa Ninh, nghĩa trang ở Hòa Khương hết chỗ, nghĩa trang ở Hòa Sơn còn 1 ha đất dự phòng Còn nghĩa trang Hòa Ninh đang phải mở rộng do áp lực di dời giải tỏa mồ mã từ các vùng
dự án quá lớn Theo ban quản lý nghĩa trang thành phố Đà Nẵng, trung bình mỗi tháng có khoảng 60 trường hợp xin đất an táng Năm 2014, số mộ phải cải táng
từ các vùng dự án khoảng 32.000 mộ và hiện có hơn 1.500 mộ nằm xen lẫn trong khu vực dân cư sẽ phải di dời để giải phóng mặt bằng Nhìn chung, đất nghĩa trang tại thành phố Đà Nẵng cũng đang dần cạn kiệt, quá tải Tình trạng trên đang là vấn đề lo ngại của toàn thành phố
Không chỉ Hà Nội, Đà Nẵng mà ở thành phố Hồ Chí Minh đất nghĩa trang cũng đã và đang trở nên quá nghiêm trọng Theo số liệu của chi cục Thống kê TPHCM, mỗi năm tại TPHCM có khoảng 23 - 24 ngàn người chết Nhu cầu chôn cất tại các nghĩa trang đang tăng cao, và hầu hết các nghĩa trang hiện nay đều qúa tải, hết đất Nghĩa trang Bình Hưng Hòa đang giải tỏa để xây dựng khu dân cư, đất nghĩa trang Đa Phước cũng đã được lấp đầy giai đoạn 1 là 7,5ha (đang đầu tư mở rộng giai đoạn 2) Đất nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức) cũng đang ở mức báo động, chỉ còn lại là chủ yếu là đất rẻo, đất nơi khuất Với nhu cầu đất địa táng đang tăng cao như hiện nay, chỉ trong một thời gian ngắn nữa thì nghĩa trang này cũng sẽ hết chỗ
1.2.3.2 Khái quát tình hình quản lý nghĩa trang đô thị tại Việt Nam
Do nghĩa trang nhân dân đô thị là một hệ thống hạ tầng xã hội thiết yếu với sự đầu tư, xây dựng và quản lý của chính quyền đô thị nên hiện công tác quy hoạch xây dựng nghĩa trang nhân dân đô thị cũng đã được đề cập trong nội dung nghiên cứu của các đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát thực tế tại 15 đô thị từ loại đặc biệt đến loại V (thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Nha Trang…) cho thấy, trong nội dung quy hoạch chung, tại phần hiện trạng, phần lớn các đồ án chỉ dừng ở mức nêu tên, vị trí, diện tích nghĩa trang nhân dân hiện có, hoàn toàn không đề cập đến công nghệ táng cũng như hiện trạng công tác quản lý quy hoạch, xây dựng nghĩa trang
Về định hướng quy hoạch và phát triển lâu dài, nội dung một số đồ án quy hoạch chung cũng chỉ đưa ra địa điểm, diện tích xây dựng nghĩa trang nhân dân theo một số quy định chưa đầy đủ của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 4449:1987
Trang 34về quy hoạch xây dựng đô thị và quy chuẩn xây dựng Việt Nam 1997 và đề xuất
áp dụng thêm công nghệ táng (hỏa táng) mà không giải thích cơ sở lựa chọn cũng như không đề cập đến khoảng cách đến khu dân cư gần nhất và hệ thống
hạ tầng kỹ thuật của nghĩa trang Thậm chí một số đồ án quy hoạch chung không còn đề cập bất cứ thông tin nào về vấn đề hiện trạng và quy hoạch nghĩa trang nhân dân đô thị, kể cả vị trí lẫn quy mô diện tích
Năm 1992, UBND thành phố Hà Nội khởi công xây dựng đài hóa thân Hoàn Vũ tại nghĩa trang Văn Điển với 2 lò điện táng và chính thức đi vào hoạt động năm 1996 Tuy nhiên, những năm đầu thực hiện điện táng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi từ tập tục hung táng (mai táng) sang điện táng, do vậy số lượng phục vụ chỉ chiếm 10 – 15% tổng số đám tang tại Văn Điển Đến nay, ngoài việc nâng cao chất lượng phục vụ, việc nhận thức của người dân cũng thay đổi, cùng với việc hưởng ứng thực hiện nếp sống văn hóa – văn minh trong tang lễ của người dân thủ đô cũng có nhiều chuyển biến tích cực đã nâng tỷ lệ lên 65 – 75% đám tang tại Văn Điển (500 ca điện táng/700 đám tang tại Văn Điển, với 16 ca/ngày) với mức chi phí hỏa tánglà 2.850.000 đồng/ca
Nghĩa trang nhân dân Hội An tọa lạc trong khuôn viên rộng trên địa bàn
xã Cẩm Hà, Tp Hội An (tỉnh Quảng Nam) Nghĩa trang nằm cạnh tuyến đường liên tỉnh Đà Nẵng - Hội An, rất thuận lợi cho người và phương tiện khi tham gia mai táng người quá cố Tuy nhiên, qua nhiều năm nghĩa trang đã quá tải, quỹ đất ngày càng hạn hẹp Nhà hỏa táng Hội An bị bỏ hoang phế, đã xuống cấp nghiêm trọng, hư hỏng, nằm chỏng chơ, nhiều trang thiết bị như ống dẫn nước, bê tông… bị kẻ cắp đập phá, bẻ nát để lấy vật liệu xây dựng
Tại thành phố Hải Dương, lò hỏa táng nằm tại nghĩa trang nhân dân thành phố được khởi công xây dựng từ năm 2010 - 2011 do công ty CP quản lý đô thị Hải Dương làm chủ đầu tư Đến tháng 9/2012, lò hỏa táng được đưa vào vận hành thử nghiệm và đến nay đã chính thức đi vào sử dụng khai thác Điều đặc biệt là lò hỏa táng này lại nằm ngay khu dân cư (đã có từ lâu đời) Thậm chí ở những vị trí gần thì lò hỏa táng chỉ cách nhà dân khoảng 150m đến 200m Trong khi khoảng cách này theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “Các công trình hạ tầng kỹ thuật” ban hành kèm theo Thông tư số 02/TT-BXD ngày 05/02/2010 của Bộ Xây dựng là 1.500 m Sau thời gian hoạt động được gần 2 tháng thì lò hỏa táng đã tỏa ra nhiều khói bụi, mùi khét, tiếng ồn… nhân dân đã kiến nghị tới các cơ quan chức năng nhưng sự việc vẫn chỉ dừng lại ở chỗ “bắt
cóc bỏ đĩa”
Trang 351.2.4 Tổng quan về hệ thống nghĩa trang trên toàn tỉnh
Theo thống kê hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có khoảng 1.256 ha đất nghĩa trang, chiếm 0,21% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, trong đó diện tích đất nghĩa trang huyện Vĩnh Cửu chiến lớn nhất với 218,07 ha, chiếm 17,36%
tổng diện tích đất nghĩa trang toàn tỉnh
Do lịch sử để lại từ nhiều đời nên quá trình hình thành và phân bố các nghĩa trang, nghĩa địa chưa hợp lý, số mộ nằm rải rác ở các nơi còn nhiều, thậm chí còn nằm cả trong khuôn viên khu dân cư, trong phần đất của các hộ gia đình, gây ra rất nhiều khó khăn trong việc quản lý loại đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh
Việc phân bố nghĩa trang trên địa bàn tỉnh không đồng đều, một số huyện
có số lượng nghĩa trang tương đối lớn như huyện Xuân Lộc, Tân Phú, Định Quán, bình quân 01 xã có từ 4 - 7 nghĩa trang Tuy nhiên, có một số huyện có mật độ nghĩa trang, nghĩa địa thấp như huyện Long Thành, Thống Nhất bình quân mỗi xã có từ 1 - 3 nghĩa trang Số nghĩa trang ở từng địa phương phụ thuộc vào số xóm, ấp hoặc khu dân cư Bình quân mỗi xóm, ấp hoặc khu dân cư có ít nhất một nghĩa trang Đặc biệt tại một số xã tập trung tới 10 nghĩa trang như xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch và xã Thanh Sơn, huyện Định Quán
Việc quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa của các địa phương nhìn chung còn lỏng lẻo, hiện tượng sử dụng không đúng quy hoạch, kế hoạch thường xuyên xảy ra Một số nơi chính quyền địa phương coi nhẹ vấn đề này còn để các gia đình, dòng họ tự khoanh bao lấn chiếm đất nông nghiệp, đất công làm nghĩa trang, nghĩa địa riêng cho dòng họ mình, thậm chí có trường hợp làm mộ giả để chiếm, giữ đất
Các khu vực nghĩa địa hiện nay hầu hết chưa có ranh giới rõ ràng, không
có tường bao, rãnh thoát nước, chưa bố trí đường đi, cây xanh xung quanh khu vực nghĩa trang, vì vậy hiện tượng lấn chiếm, mất vệ sinh chung đã làm ảnh hưởng đến tôn nghiêm trong khu vực nghĩa trang Hầu hết các nghĩa trang, nghĩa địa không có quy hoạch chi tiết thống nhất, diện tích đất của mỗi phần mộ tùy tiện và không có tường bao bảo vệ, không có nhà quản trang, hệ thống thoát nước gây lãng phí đất Kiến trúc các phần mộ không thống nhất, hầu hết là phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi gia đình, dòng họ, gây nên tình trạng lãng phí tiền của, mất mỹ quan chung và không đảm bảo vệ sinh môi trường
Trang 36Thêm vào đó, nhận thức của các địa phương và nhân dân về ô nhiêm môi trường chưa đầy đủ nên có một số nơi bố trí nhiều khu nghĩa địa gần các khu dân cư, làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sinh hoạt của người dân
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là đề tài rất thiết thực và có ý nghĩa Đối với nhiều địa phương trên cả nước, đề tài này không còn là vấn đề mới mẻ nhưng việc tổ chức nghiên cứu, đánh giá trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là một việc làm hết sức cần thiết vì trên địa bàn tỉnh từ trước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này Trong bối cảnh hiện nay, Đồng Nai là một trong số các tỉnh có tốc độ tăng dân số cơ học rất cao, tôn giáo cũng rất đa dạng nên việc tổ chức đánh giá tình hình quản
lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, từ đó
đề xuất các giải pháp để quản lý, sử dụng hiệu quả trong thời gian tới là việc làm hết sức cần thiết và có tính thực tiễn cao Để việc triển khai đạt hiệu quả cao, việc nghiên cứu các đề tài có liên quan để kế thừa các kết quả sẽ rút ngắn được thời gian nghiên cứu và hạn chế các sai sót trong quá trình triển khai thực hiện, cụ thể như sau:
Theo Nguyễn Hữu Ngữ, Nguyễn Thành Quốc, thực trạng sử dụng đất NTD trên địa bàn thành phố Huế là do lịch sử để lại lâu đời nên hiện nay đất NTD không tập trung theo từng nghĩa trang, nghĩa địa chung mà phân bố rãi rác khắp ở 20 phường Toàn thành phố có 449 khu nghĩa trang, nghĩa địa với 4 loại hình sử dụng đất NDT, tổng diện tích là 696,64 ha Có 3 khu nghĩa trang phù hợp với quy hoạch, 64 khu nghĩa địa đang thực hiện dự án hoặc giao cho chủ đầu tư, 228 khu nghĩa địa chưa có dự án nhưng nằm trong khu vực đã có quy hoạch chi tiết được phê duyệt, 204 khu nghĩa địa nằm trong khu vực chưa có quy hoạch chi tiết Vấn đề hạn mức đất sử dụng cho nghĩa trang, nghĩa địa vẫn chưa được quản lý chặt chẽ Người dân vẫn chôn cất một cách tùy tiện, không theo quy định về diện tích cho từng phần mộ Do không quản lý chặt chẽ nên một số đối tượng “đầu nậu” vẫn tiến hành tạo mộ gió, gây khó khăn trong việc xác định hiện trạng quỹ đất NTD Việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất NTD tuy đã được chính quyền tỉnh và thành phố bước đầu quan tâm, song vẫn chưa toàn diện Công tác ban hành các văn bản pháp luật để quản lý đất NTD còn hạn chế, thiếu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất NTD chưa có các kế hoạch cụ thể cho từng vị trí,
Trang 37theo thời kỳ hay theo các năm Hầu hết các nghĩa trang, nghĩa địa không có quy hoạch chi tiết thống nhất Do đó, vấn đề quản lý đất NTD không đảm bảo hiệu quả Vấn đề xây dựng nhà hỏa táng đến nay là rất cần thiết Song kết quả điều tra, thăm dò ý kiến người dân về việc xây dựng nhà hỏa táng trên địa bàn thành phố Huế cho thấy, người dân còn e dè khi lựa chọn phương thức đưa tiễn người thân đến tượng đài hỏa thiêu
Theo Lã Kim Ngân, là một đất nước có 54 dân tộc sinh sống và có tốc độ phát triển đô thị thuộc loại rất cao, vấn đề chôn cất người chết tại các đô thị và nông thôn Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn trên toàn quốc Mỗi vùng miền lại có những phong tục tập quán và quan niệm xã hội về nơi cư trú cho người đã khuất rất khác nhau, đặc biệt tại các tỉnh miền Trung như Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Tây Nguyên và các khu dân cư nông thôn, quan niệm này còn hết sức bảo thủ,
xu hướng chôn ba năm mới bốc mộ còn phổ biến, thậm chí một số nơi còn chôn vĩnh viễn Vì thế, đất giành cho các khu nghĩa trang đang chiếm một tỷ lệ đáng
kể, gây cản trở cho việc phát triển mở rộng đô thị, ô nhiễm môi trường Ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị và làm trở ngại đến công tác quản lý sử dụng đất
Thực tế, đa số các nghĩa trang xây dựng tự phát không có quy hoạch và các hướng dẫn cụ thể về hình thức kiến trúc mộ trí, cách sắp đặt và bố cục khuôn viên khu mộ như cảnh quan cây xanh, kiến trúc cho các công trình phụ trợ Do vậy, tình trạng xây dựng các khu nghĩa trang không có sự thống nhất về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, kiến trúc và cảnh quan nghĩa trang, chưa tạo ra được bản sắc riêng của từng vùng miền, chưa tham gia đóng góp vào việc tạo dựng mỹ quan của khu vực
Xây dựng và quản lý các khu nghĩa trang là một trong những nội dung của công tác quản lý đô thị, có ảnh hưởng rất lớn trong việc quản lý và sử dụng đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Vấn đề này đòi hỏi phải có sự hướng dẫn một cách khoa học để việc chôn cất người chết ở Việt Nam vừa đảm bảo nét thuần phong mỹ tục của dân tộc, vừa không ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng dân cư
Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Ban hành Hướng dẫn Quy hoạch xây dựng và quản lý nghĩa trang trong quy hoạch phát triển đô thị sẽ làm
cơ sở khoa học cho công tác thiết kế quy hoạch xây dựng và tạo ra cơ sở pháp lý cho công tác quản lý đô thị ở Việt Nam có hiệu quả Hướng dẫn Quy hoạch xây dựng và quản lý nghĩa trang trong quy hoạch phát triển đô thị sẽ hoàn thiện một
Trang 38bước hệ thống các vấn đề cơ sở lý luận khoa học trong quy hoạch xây dựng nghĩa trang tại các khu đô thị ở Việt Nam
Tạo cơ sở cho việc tổ chức xây dựng các nghĩa trang vừa mang tính khoa học, vừa mang tính văn hoá, phù hợp với phong tục tập quán lành mạnh của các cộng đồng dân cư, đảm bảo môi trường cảnh quan đô thị và thẩm mỹ kiến trúc
Theo Vũ Thị Hiền, quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa là một vấn
đề khá mới nhưng có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
và đời sống tâm linh con người Nghiên cứu thực trạng quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Hà Nội không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp phần để xuất các giải pháp để quản
lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa hiệu quả theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp trong việc táng của dân tộc
Qua nghiên cứu, tác giả xin đưa ra một số kết luận như sau: Người Hà Nội có truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, luôn chăm lo đến mồ mả ông bà, tổ tiên và thể hiện lòng hiếu thảo đối với đấng sinh thành dưỡng dục và rất coi trọng đời sống tâm linh Hầu hết các nghĩa trang, nghĩa địa nhân dân được hình thành tự phát, phân tán nhỏ lẻ, xây dựng mộ lộn xộn, ô nhiễm môi trường do không có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng chi tiết và thiếu sự quản lý trong một thời gian dài UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quy chế quản lý và sử dụng nghĩa trang trong đó có quy định mức sử dụng đất đối với một phần mộ Đây chính là cơ sở cho việc bố trí, sắp xếp và sử dụng đất tại các nghĩa trang, nghĩa địa đồng thời giúp các nghĩa trang xây dựng quy chế và đưa vấn đề quản lý, sử dụng đất nghĩa trang dần đi vào nề nếp và ngày càng tiết kiệm đất Tuy nhiên, công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất nghĩa trang chưa được tốt, hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ cấp thành phố đến cấp cơ sở đã cơ bản xác định vị trí và diện tích đất làm nghĩa trang, nghĩa địa nhưng chưa mang tính chất liên vùng, chưa sát với thực tế, quy hoạch nghĩa trang quy mô nhỏ còn nhiều và manh mún, chưa giải quyết được bài toàn tiết kiệm đất và đảm bảo vệ sinh môi trường Tình trạng táng tùy tiện, tự ý xây tường bao, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất xây dựng nghĩa trang dòng họ đang diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các huyện ngoại thành Quản
lý đất nghĩa trang, nghĩa địa nông thôn đang trở thành vấn đề nhức nhối cần sớm
có biện pháp quản lý hiệu quả nhằm đạt mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm vệ sinh môi trường và giữ được nét văn hóa truyền thống tốt đẹp
Trang 39của dân tộc Mặc dù đã bị cấm nhưng việc mua bán, chuyển nhượng đất nghĩa trang, nghĩa địa vẫn diễn ra, hình thành một “thị trường bất động sản ngầm” về loại đất này, điều đó cho thấy nếu đi ngược lại quy luật thị trường thì Nhà quản
lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, nhiều vấn đề xã hội phức tạp phát sinh Những giải pháp tác giả đề xuất tại Luận văn sẽ góp phần giúp Hà Nội quản lý tốt hơn quỹ đất nghĩa trang, nghĩa địa cũng như sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả hơn, đồng thời vẫn giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân dân trong việc táng, giúp đời sống tinh thần, tâm linh của người dân ngày càng phong phú hơn
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quỹ đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến việc quản lý và sử dụng quỹ đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi thời gian
- Tài liệu thu thập số liệu trong giai đoạn 2014 đến 2017
- Quá trình nghiên cứu 12/2017 đến 5/2018
b Phạm vi không gian
Các khu đất nghĩa trang, nghĩa địa trong khu địa giới hành chính của thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
2 Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
3 Quy hoạch và định hướng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
4 Đề xuất một số biện pháp quản lý, sử dụng và di dời đất nghĩa trang,
nghĩa địa một cách hợp lý