Do vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của hòa giải tranh chấp dân sự, thì việc hòa giải tranh chấp đất đai còn có những đặc trưng riêng như đối tượng của tranh chấp gắn liền với quyền sử
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HUY HÙNG PHONG
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HUY HÙNG PHONG
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là Luận văn do tôi tự nghiên cứu Những số liệu thống kê và trích dẫn trong luận văn là trung thực đảm bảo tính khách quan
và phù hợp với tình hình thực tiễn Những kết luận khoa học của luận văn là
do tôi tự nghiên cứu rút ra và kế thừa những công trình nghiên cứu trước đó Tôi đã hoàn thành chương trình các môn học và các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện khoa học xã hội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Luật Học viện khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ
TRẦN HUY HÙNG PHONG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬTVỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 13
1.1 Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai 13 1.2 Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân 21
Kết luận chương 1 33 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐÁT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân 34 2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh 47
Kết luận chương 2 65 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM 67
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam 67 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam 72
Kết luận chương 3 77 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- TAND : Tòa án nhân dân
- TA : Tòa án
- VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
- UBND : Ủy ban nhân dân
- LKDBĐS : Luật Kinh doanh bất động sản
- VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 6DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Bảng số liệu thống kê công tác giải quyết các tranh chấp tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân từ 2015-2019;
Bảng 2: Bảng số liệu thống kê các tranh chấp đất đai được hòa giải ở cấp sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân từ 2015-2019;
Bảng 3: Bảng thống kê kết quả hòa giải các tranh chấp đất đại ở cấp sơ
thẩm tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân từ 2015-2019;
Bảng 4: Bảng số liệu thống kê số vụ án tranh chấp đất đai được Tòa án
nhân dân quận Bình Tân xét xử sơ thẩm từ 2015-2019;
Bảng 5: Bảng thống kê số vụ tranh chấp đất đai có kháng cáo, kháng
nghị tại quận Bình Tân từ 2015-2019
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp xảy ra phổ biến, rất phức tạp và gay gắt, mà hậu quả khi xảy ra tác động xấu đến các mối quan hệ trong xã hội như: từ huyết thống, hôn nhân gia đình
và tình làng nghĩa xóm cho đến xã hội nó còn gây mất trật tự và an toàn xã hội Rất khó để hạn chế tranh chấp, khi tranh chấp xảy ra rồi thì làm thế nào
để hóa giải tranh các chấp đó là vấn đề được nhiều cá nhân cũng như các cơ quan có thẩm quyền quan tâm Hòa giải là một trong những biện pháp hữu hiệu để giải quyết tranh chấp đất đai, tuy nhiên, pháp luật về hòa giải đối với tranh chấp đất đai hiện nay chưa có sự thống nhất, chưa có quy định cụ thể, từ
đó, gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp đất đai trên thực tế Việc giải thích hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa đầy đủ và kịp thời, vẫn còn có những thẩm phán chưa xác định đúng vị trí, vai trò, ý nghĩa của hòa giải trong tố tụng dân sự; chưa coi trọng đúng mức công tác hòa giải; kinh nghiệm, kỹ năng, phương pháp hòa giải còn có những hạn chế, thiếu hiệu quả; công tác tập huấn, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng hòa giải chưa được tổ chức thường xuyên v.v Vì vậy, việc hòa giải tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân (TAND) trong những năm qua vừa không thống nhất, vừa không đạt hiệu quả cao Có nhiều vụ án vì hòa giải mà kéo dài trong nhiều năm, khiếu kiện kéo dài và làm giảm lòng tin của người dân đối với đường lối chính sách, pháp luật của Nhà nước
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân là một giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự và đồng thời là phương thức giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu quả mà không cần phải thực hiện việc xét xử Về bản chất, nó là biện pháp hòa giải nhưng do thẩm phán trực tiếp thực hiện và được bảo đảm thực thi như một quyết định của Tòa án Ở giai đoạn hiện nay, khi đời sống,
Trang 8kinh tế, xã hội ngày càng phát triển sẽ kéo theo nhiều tranh chấp, phức tạp phát sinh trên nhiều lĩnh vực, trong đó tranh chấp đất đai là một điển hình Thực trạng này đòi hỏi hệ thống pháp luật áp dụng giải quyết cần phảiđược bổ sung và hoàn thiện Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu các quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải tại Tòa án nhân dân để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích cho công dân là vấn đề
có tính cấp thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”làm Luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu và xuất phát từ nhu cầu thực tế để giải quyết tranh chấp đất đai, trong thời gian qua đã có một số tác giả có các công trình nghiên cứu khoa học đề cập và nghiên cứu về hòa giải tranh chấp đất đai Cụ thể:Các công trình nghiên cứu, khóa luận, luận văn, luận án chuyên đề như:
Sách chuyên khảo “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay ” do TS Phạm Thị Hương Lan biên soạn;
Luận án Tiến sĩ luật học“Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam - Cơ sở lý luận và thực tiễn”, của tác giả Trần Văn Quảng, Đại
học Luật Hà Nội, năm 2008;
Luận văn Thạc sĩ luật học “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai” của tác giả Nguyễn Thị Hảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2014;
Khóa luận tốt nghiệp Đại học “ Đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2014” của tác giả Mùa A Tùng, Đại học Nông lâm – Đại học Thái
Trang 9Nguyên, năm 2015;
Luận văn thạc sĩ luật học “ Pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn huyện Chương Mỹ” của tác giả Nguyễn Văn Hoàng,
Học viện khoa học xã hội năm 2017;
Luận án Tiến sĩ luật học “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Hương Lan, Học viện Khoa học
Xã hội, năm 2017;
Luận văn Thạc sĩ luật học “ Hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp chính quyền cơ sở từ thực tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” của tác giả Đỗ
Hải Long, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2018;
Luận văn thạc sĩ luật học “ Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thực tiễn huyện Eahleo, tỉnh Đăk Lăk”, của tác giả Phan Thanh Tùng,
Học viện Khoa học Xã hội, năm 2019
Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết và tiếp cận ở nhiều khía cạnh và góc nhìn khác nhau về hòa giải nói chung và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng Vấn đề đặt ra trong đề tài tuy không mới, nhưng trong thực tế hiện nay, khi mà LĐĐ2013, BLTTDS 2015 và Quốc hội vừa thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại TAcó những quy định về hòa giải nói chung và hòa giải tranh chấp đất đai nói riêng, thì việc tiếp tục nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ dưới góc độ lý luận và thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai
và hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TA trong điều kiện có sự ra đời của những chế định mới là rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10quả hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND;
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm và đánh giá thực trạng thi hành chế định pháp luật này tại TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh;
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm từ thực tiễn TAND quận Bình Tân, thành phố
Hồ Chí Minh
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượngnghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đaitại TAND; các quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND; thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn
pháp luật và thực tiễn tổ chức hoạt động hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm qua thực tiễn của TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh Từ đó mở rộng phạm vi nghiên cứu hoạt động hòa giải các tranh chấp đất đai tại TAND các cấp trên phạm vi cả nước Các vấn đề liên
Trang 11quan đến lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai nói chung chỉ
là tiền đề hoặc có tính chất tham khảo và so sánh để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu nội hàm đề tài luận văn
Về không gian và thời gian, Luận văn nghiên cứu và đánh giá thực
trạng pháp luật kể từ khi LĐĐ 2013 và BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành và thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND nói chung và TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và Pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề đất đai trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp phân tích, luận giải, bình luận,… được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu cơ sở lý luận pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm;
- Phương pháp phân tích, đánh giá, diễn giải, so sánh, tổng hợp, quy nạp… được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp bình luận, tổng hợp… được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc xây
Trang 12dựng các luận cứ khoa học trong quá trình hoàn thiện những vấn đề lý luận pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay;
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giúp chính
quyền và các cơ quan ban ngành nghiên cứu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hòa
giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách, pháp luật đất đai khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, hay chỉ được giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,… thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai vẫn xảy ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói riêng, gây ra nhiều bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế-xã hội Nhà nước phải ban hành nhiều quy định pháp luật để giải quyết mâu thuẩn, tranh chấp Vậy, tranh chấp đất đai là gì? Khái niệm này tưởng chừng đơn giản nhưng lại có nhiều ý nghĩa trong việc phân định thẩm quyền, xác định nội dung cần giải quyết đối với các tranh chấp đất đai trong thực tiễn hiện nay
Trong thực tiễn xã hội hiện nay thì có rất nhiều loại tranh chấp xảy ra như: tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại, tranh chấp hành chính,…Trong quan hệ đất đai có thể phát sinh tranh chấp đất đai, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền định đoạt đất, tranh chấp quyền sở hữu nhà và tài sản gắng liền với đất, tranh chấp về xác định ranh giới đất, tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức và tổ chức với tổ chức,…Vì vậy, tranh chấp đất đai rất đa dạng, phong phú và phức tạp Hiện nay có rất nhiều khái niệm liên quan đến tranh chấp đất đai, các khái niệm này được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, quan điểm:
Trang 14Theo Từ điển tiếng Việt – Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2010, “tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [39] Theo khái niệm này, thì tranh chấp đất đai là
việc đấu tranh giằng co khi có bất đồng trong lĩnh vực đất đai liên quan đến quyền lợi như quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất,…
Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:“Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai,… các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai” [31] Còn theo giáo trình của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một hoặc những thửa đất nhất định Tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả tranh chấp về địa giới các đơn vị hành chính,…”[31]
Như vậy có thể nói rằng đứng trên các quan điểm khác nhau thì khái niệm về tranh chấp đất đai được hình thành và được diễn giải khác nhau Vì vậy, khái niệm tranh đất đai hiện nay rất đa dạng trong cách hiểu, quy định pháp luật và thực tiễn đời sống
Khoản 24 Điều 3 LĐĐ 2013 đã quy định về khái niệm tranh chấp đất
đai như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người
sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Có thể thấy,
khái niệm tranh chấp đất đai quy định trong LĐĐ là một khái niệm mang tính pháp lý, bao trùm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính Đất đang có tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính Đất đang có tranh chấp được hiểu là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với các cá
Trang 15nhân khác, với Nhà nước hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất,
về ranh giới, mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất,… Đất đang có tranh chấp cũng có thể hiểu là đất tranh chấp giữa các chủ thể chưa xác định được chủ thể nào là người sử dụng đất hợp pháp [19]
Ở nước ta hiện nay, đất đai là tài nguyên đặc biệt thuộc quyền sở hữu của toàn dân, người dân chỉ có quyền sử dụng đất do Nhà nước cấp đất, giao đất và cho thuê đất, chứ không có quyền sở hữu đối với đất Đất đai thuộc quyền sở hữu chung của toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Đất đai
là tài nguyên và là nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước, đóng vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng, đảm bảo chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Theo quy định của LĐĐ 2013, thì đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Vì vậy, tranh chấp đất đai nói chung mang tính thường xuyên và phức tạp cần phải có
sự quản lý, điều hành, giải quyết các tranh chấp phát sinh của cơ quan nhà nước trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đất đai
1.1.1.2 Khái niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại TA được hiểu là quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai tại cơ quan tiến hành tố tụng là TAND, bằng hình thức hòa giải hoặc đưa tranh chấp ra xét xử theo quy định pháp luật Sau khi thụ lý vụ án, Tòa ánsẽ tiến hành mời các đương sự lên hòa giải, đây là giai đoạn bắt buộc do Tòa án tiến hành và chủ trì Theo đó, nếu hòa giải thành, mà sau 07 ngày các bên không có ý kiến gì về việc này nữa thì tranh chấp chính thức kết thúc, trường hợp nếu hòa giải không thành thì Tòa án sẽ đưa ra xét
Trang 16xử Trong quá trình xét xử, các bên vẫn được quyền thỏa thuận với nhau để có thể giải quyết vụ án Và vẫn có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.Điều này khẳng định vai trò quan trọng của cơ quan tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai đảm bảo quyền tự quyết nhưng cũng phải tuân theo quy định pháp luật Để hiểu rõ hơn công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND, tác giả đã nghiên cứu và làm rõ các khái niệm như sau:
Theo Từ điển tiếng Việt ghi nhận: “Hòa giải là thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ôn hòa, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng giữa các bên đã không đạt được kết quả Việc hòa giải thường được thông qua bên thứ ba gọi là bên hòa giải”
[39]
Theo Từ điển Luật học ghi nhận: “Hòa giải là sự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà biến thành việc hình sự”[12]
Từ cách hiểu về hòa giải, có thể thấy rằng, hòa giải tranh chấp đất đai được hiểu theo nghĩa là hòa giải các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến quyền sử dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình
1.1.1.3 Đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Có thể nói, tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân
Trang 17sự, do có đối tượng của tranh chấp là quyền sử dụng đất Do vậy, bên cạnh những đặc điểm chung của hòa giải tranh chấp dân sự, thì việc hòa giải tranh chấp đất đai còn có những đặc trưng riêng như đối tượng của tranh chấp gắn liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thường phải do cơ sở hoặc Tòa
án nơi có tài sản tranh chấp tiến hành; đối tượng của tranh chấp có thể trải qua nhiều biến động theo thời gian với các chính sách pháp luật khác nhau, do vậy, nội dung của tranh chấp thường phức tạp, đòi hỏi người hòa giải phải nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và chính sách pháp luật về đất đai trong từng thời kỳ lịch sử Cụ thể:
(i) Việc hòa giải được tiến hành tại địa bàn nơi có đất tranh chấp Tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thường phải được tiến hành tại nơi có tài sản tranh chấp Thông thường tổ hòa giải, chính quyền địa phương hoặc Tòa án nơi có tranh chấp đất đai sẽ có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử và hiện trạng pháp lý cũng như thực
tế của tài sản tranh chấp Do vậy, các chủ thể này sẽ có điều kiện tốt nhất để tiến hành hòa giải một cách có hiệu quả
(ii) Việc hòa giải tranh chấp đất đai phải do các chủ thể am hiểu pháp luật về đất đai, nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và nguyên nhân tranh chấp giữa các bên tiến hành Tranh chấp đất đai thường là tranh chấp về tài sản có giá trị lớn, quyền sử dụng có thể đã được dịch chuyển qua nhiều chủ thể, có nguồn gốc phức tạp nên mức độ tranh chấp thường quyết liệt, do vậy, chủ thể trung gian tiến hành hòa giải phải là người am hiểu pháp Luật Đất đai và các ngành luật có liên quan, nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và nguyên nhân tranh chấp giữa các bên
(iii) Chủ thể tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai có thể là tổ hòa giải,
Ủy ban nhân dân (UBND) hoặc Tòa án Tranh chấp đất đai có thể gắn với dòng họ, những người dân trong cùng một địa phương nên để việc hòa giải có
Trang 18hiệu quả thì tùy theo trường hợp mà hòa giải có thể được trao cho cộng đồng, chính quyền địa phương hoặc cơ quan tư pháp Vấn đề quan trọng là cần phải thiết lập được cơ chế chuyển hóa giữa kết quả hòa giải cơ sở, chính quyền địa phương và quyết định tư pháp do Tòa án thực hiện có giá trị cưỡng chế thi hành
Theo quy định của pháp luật đất đai, thì hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai là phương thức bắt buộc đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai Đặc biệt hòa giải tại cấp chính quyền cơ sở chính là điều kiện tiền đề để TAND thụ lý vụ án tranh chấp đất đai Do đó, vai trò của hòa giải hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại UBND và TAND
Căn cứ quy định tại Điều 202, Luật Đất đai 2013, thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”[19] Tuy nhiên, đối với trường hợp
tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của LĐĐ 2013 gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc
có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993; giấy
tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy đinh pháp luật,…Và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì đương sự gửi đến TAND giải quyết
1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp trong lĩnh vực đất đai nói riêng thì giải quyết bằng hòa giải là hiệu quả nhất, tốt nhất, nhanh nhất và tránh lãng phí nhất Bởi hòa giải thành sẽ chấm dứt mâu thuẫn, xung đột hoặc xích mích, kết thúc tranh chấp sớm, ổn thỏa
Trang 19cũng như sau này không có sự phản đối, khiếu nại, khiếu kiện về sau
Hiện nay thì tranh chấp đất đai thường xuyên diễn ra, nhiều tranh chấp hết sức phức tạp, giá trị tranh chấp lớn, nhiều vấn đề phát sinh và liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức, quy trình thủ tục giải quyết thì phức tạp và có thể kéo dài thời gian Trong khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai thì còn nhiều khó khăn và hạn chế như: quy định tố tụng, năng lực, trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất, đội ngủ nhân sự hạn chế,… Vì vậy, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai đóng vai trò quan trọng, đem lại nhiều hiệu quả tích cực vì:
- Hòa giải giúp gìn giữ mối gắn kết, củng cố phát huy những tình cảm
và đạo lý truyền thống tốt đẹp của gia đình, cộng đồng;
- Giúp rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, chi phí, giảm tải áp lực giải quyết án cho TAND trong giải quyết các tranh chấp đất đai;
- Giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả nhất khi được sự đồng thuận của các bên tham gia tranh chấp và tránh được những khiếu nại, khiếu kiện về sau;
- Hòa giải có ý nghĩa rất lớn, nó làm cho những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, xích mích được dập tắt hoặc không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng, giúp các bên tránh được xung đột được giải quyết bằng một hình thức giải quyết đem lại hậu quả xấu và thiệt hại;
- Hòa giải góp phần giải quyết mâu thuẫn, điều chỉnh các mâu thuẫn trong xã hội ổn định, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước;
- Đối với TA thì việc Hòa giải các tranh chấp đất đai giúp TA giảm bớt được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết vụ án, rút ngắn thời gian, thủ tục, nâng cao hiệu quả công tác;
- Hòa giải tại TA giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau
Trang 20góp phần khôi phục lại tình đoàn kết, hợp tác giữa họ Giúp họ cùng nhau giải quyết tranh chấp trên tinh thần cởi mở, sang sẻ quyền và lợi ích Hòa giải giúp nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án trong phiên hòa giải, các đương sự sẽ phần nào hiểu được quy định của pháp luật về vấn đề mà họ đang tranh chấp Từ đó, các bên có thể hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp, không mắc sai lầm về sau;
- Hòa giả đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp, quyền tự định đoạt và hướng giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, đúng đạo đức xã hội
1.1.3 Thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay thông qua hai thủ tục như sau:
Thứ nhất là hòa giải: Các bên tranh chấp tự hòa giải với nhau, nếu hòa
giải không thành thì yêu cầu UBND cấp xã hòa giải;
+ Nếu hòa giải thành: UBND cấp xã lập biên bản hòa giải Nếu hòa giải
mà làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất ban đầu thì UBND cấp xã phải gửi biên bản cho Phòng Tài nguyên & Môi trường hoặc Sở Tài nguyên & Môi trường để được thông qua và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai mới
+ Nếu hòa giải không thành: Đối với tranh chấp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các bên yêu cầu TAND giải quyết Còn nếu không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện ra TAND theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Thứ hai là giải quyết tranh chấp: Tùy vào từng vụ việc mà sẽ do
UBND cấp huyện hay UBND cấp tỉnh giải quyết:
+ UBND cấp huyện: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết Nếu không đồng ý với quyết định thì có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND cấp
Trang 21tỉnh hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định pháp luật về tố tụng hành chính
+ UBND cấp tỉnh: Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định pháp luật về tố tụng hành chính
Như vậy có hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là theo thủ tục hành chính tại UBND và theo thủ tục tố tụng dân sự tại TAND và cả hai hình thức giải quyết này đều có quy định ưu tiên phải thông qua thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai Đối với giải quyết tranh chấp đất đai bằng việc khởi kiện
ra TAND, thì TA sẽ tiến hành cho các bên hòa giải, nếu hòa giải thành TA sẽ lập biên bản công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, còn nếu hòa giải không thành sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật
1.2 Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được coi
là một thủ tục tố tụng bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp đất đai Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án phải tuân theo những nguyên tắc do pháp luật tố tụng dân sự quy định Tại Chương II Những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) có quy định về hòa giải trong tố tụng dân sự Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của Tòa án nhằm giúp đỡ đương sự thỏa thuận với nhau Theo truyền thống tố tụng dân sự ở Việt Nam, thì hòa giải có tính bắt buộc phải tiến hành trước khi mở phiên tòa
sơ thẩm, trừ những vụ án không được tiến hành hòa giải hoặc không hòa giải
Trang 22được và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo nếu thấy có khả năng hòa giải, thì Tòa án cũng tiến hành hòa giải Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự nói chung, trong tranh chấp đất đai nói riêng là trách nhiệm của Tòa án, được Tòa
án thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp đất đai, nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình Thực hiện hòa giải cũng là việc tận dụng tối đa cơ hội rút ngắn quá trình tố tụng, nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình tương thân, tương ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng Sự có mặt của Tòa án trong hòa giải khẳng định vị trí trung gian của Tòa án đối với việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Đây cũng là đặc điểm riêng, là dấu hiệu để phân biệt hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai với hòa giải ngoài tố tụng và trường hợp các đương
sự tự hòa giải, cụ thể là:
+ Trong quá trình tiến hành tố tụng dân sự để giải quyết tranh chấp đất đai, thủ tục hòa giải là do Tòa án phải chủ động tổ chức và trực tiếp tham gia với vai trò giải thích, động viên các đương sự tự thỏa thuận Thủ tục hòa giải
do Tòa án tiến hành cũng khác trường hợp đương sự tự thỏa thuận Trường hợp đương sự tự thỏa thuận là việc các bên chủ động thương lượng, thỏa thuận mà không có sự tham gia của Tòa án
+ Kết quả hòa giải được Thẩm phán lập biên bản, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Còn trong trường hợp các bên tự hòa giải và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết thì Tòa án có thể
ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án
Hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành trên cơ sở tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự có tranh chấp Mặc dù hòa giải tranh chấp đất đai
Trang 23là một hoạt động do Tòa án tiến hành, nhưng về bản chất hòa giải vẫn dựa trên cơ sở tự thỏa thuận của các đương sự Tòa án chỉ giữ vai trò trung gian hướng dẫn, chủ trì và ghi nhận việc hòa giải Chỉ có các đương sự là các bên trong quan hệ tranh chấp mới có quyền thỏa thuận, thương lượng với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ tranh chấp, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp Họ là người hiểu
rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ Khi tham gia vào quá trình hòa giải tranh chấp đất đai, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau
để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận.Trong quá trình các bên thỏa thuận, hòa giải, Tòa án không được can thiệp vào ý chí tự nguyện của bất kỳ bên nào hoặc cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ
1.2.2 Bản chất pháp lý của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Nội dung cơ bản pháp lý của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TA dựa trên cơ sở pháp lý: LĐĐ 2013; Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP; BLTTDS 2015; và Luật Hòa giải, đối thoại tại TA Nội dung pháp lý như sau:
Theo quy định của LĐĐ 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Có rất nhiều tranh chấp liên quan đến đất đai Tuy nhiên,theo quy định của pháp luật, không phải tất cả các tranh chấp có liên quan đến đất đai đều phải được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp trước khi khởi kiện ra TA giải quyết Việc tiến hành hòa giải phải theo đúng quy định của pháp luật Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP
Trang 24về điều kiện khởi kiện:Đối với tranh chấp có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều
202 LĐĐ 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015
Theo đó, các tranh chấp mà ai là người có quyền sử dụng đất bắt buộc phải được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp.Các tranh chấp này chủ yếu đến từ tranh chấp về ranh giới giữa các thửa đất liền kề, tranh chấp về chủ sở hữu của đất có tranh chấp Đây là thủ tục hòa giải tiền tố tụng bắt buộc trước khi tiến hành khởi kiện ra TA để giải quyết tranh chấp Trong trường hợp hòa giải thành, thì UBND cấp xã có thẩm quyền lập biên bản hòa giải thành, các bên thực hiện nghĩa vụ theo cam kết trong biên bản hòa giải thành
và tranh chấp giữa các bên sẽ kết thúc Trong trường hợp hòa giải không thành, UBND sẽ lập biên bản hòa giải không thành Biên bản hòa giải không thành được lập là căn cứ để một trong các bên nộp đơn khởi kiện đến TAND
có thẩm quyền giải quyết
Cơ sở của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai là quyền tự định đoạt của các đương sự Để giải quyết tranh chấp đất đai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án không chỉ xét xử mà còn có trách nhiệm tiến hành hòa giải giữa các bên trong quan hệ tranh chấp đất đai Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành quy định, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự (trong đó có tranh chấp đất đai) theo quy định của Bộ luật này
Hoạt động hòa giải được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp đất đai Tuy vậy, theo các Điều 246, 278 BLTTDS thì tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Tòa án cũng có trách nhiệm phải hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp đất đai hay không? Nếu
Trang 25các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp đất đai, thì Toà án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Như vậy, việc hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc, trừ những việc không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải Quy định này xuất phát từ tầm quan trọng của hòa giải Nếu hòa giải thành cũng có nghĩa là Tòa án đã hoàn thành việc giải quyết vụ tranh chấp đất đaimà không cần mở phiên tòa
Trong thời gian qua, Nhà nước luôn khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ
sở và hòa giải ở TAND Hiện nay, cả nước đã thực hiện thí điểm thành lập trung tâm hòa giải, đối thoại tại 16 tỉnh, thành phố và đã đem lại nhiều hiệu quả trong công tác giải quyết tranh chấp, giảm áp lực cho TA Theo đề án thí điểm, trung tâm hòa giải đối thoại có nhiệm vụ thực hiện hòa giải các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình, lao động; đối thoại giải quyết các khiếu kiện hành chính trước khi TA thụ lý Theo Luật Hòa giải, đối thoại tại TA, trung tâm hòa giải, đối thoại được đặt trụ sở tại các TA, nhưng không phải là một tổ chức có cơ cấu, bộ máy riêng, không thuộc biên chế của TAND Đây là một tổ chức tự quản của các hòa giải viên, đối thoại viên, có chức năng điều phối hoạt động hòa giải vụ việc dân sự, đối thoại khiếu kiện hành chính, được TAND hỗ trợ một số hoạt động Về kinh phí hoạt động của trung tâm này, các quy định sẽ do TAND tối cao và UBND hỗ trợ Hòa giải viên, đối thoại viên chính là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên đã nghỉ hưu, các cán bộ đã từng tham gia công tác hội thẩm nhân dân và các luật sư có phẩm chất đạo đức, uy tín, kỹ năng hòa giải, đối thoại Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai thí điểm trung tâm hòa giải đối thoại tại TAND thành phố Hồ Chí Minh, TAND quận 1, TAND quận 2, TAND quận 9, TAND quận Bình Thạnh, TAND quận Bình Tân, TAND quận
Trang 26Gò vấp, TAND quận Tân Phú, TAND huyện Bình Chánh, TAND huyện Củ Chi
Bản chất pháp lý của công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND là thực hiện chính sách tạo điều kiện cho các bên tham gia tranh chấp có thể tự thỏa thuận với nhau về hướng giải quyết và phải đúng quy trình thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật Việc trung tâm hòa giải, đối thoại tổ chức hòa giải, đối thoại giữa các bên đang tranh chấp làm nhằm tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận được hướng giải quyết tốt nhất, hiệu quả nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí cũng như giảm tình trạng quá tải cho TAND
1.2.3 Thời điểm áp dụng hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Theo quy định tại Điều 10 BLTTDS 2015 quy định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự” trước khi TA đưa vụ việc ra
Trang 27+ Lập hồ sơ vụ án theo quy định pháp luật
+ Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng
+ Xác định quan hệ tranh chấp và pháp luật áp dụng
+ Làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án
+ Xác minh, thu thập chứng cứ
+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
+ Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải theo quy định pháp luật, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn
Theo quy định này thì trong giai đoạn TA chuẩn bị xét xử kể từ khi TA
có thông báo thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm phán sẽ tổ chức các phiên họp hòa giải giữa các đương sự để thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp Điều 205 quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải như sau:
+ Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, TA tiến hành hòa giải
để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;
+ Việc hòa giải được tiến hành theo nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận giữa các đương sự, không dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận; nội dung thỏa thuận không vi phạm pháp luật và đạo đức
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành thủ tục hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp
Trang 28đất đai, trừ những vụ án không được tiến hành hòa giải Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về nội dung tranh chấp mà không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Quyết định này là sự kết hợp giữa ý chí tự nguyện của các bên đương sự với ý chí của Nhà nước, thể hiện rõ bản chất của quá trình kết hợp và chuyển hóa từ quyền lực tư sang quyền lực công, nên phải xem xét đúng bản chất của việc hòa giải để có những quy định phù hợp Tòa án có vai trò trung gian giúp các đương sự tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận, các bên
có quyền thỏa thuận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu Tòa án có thể công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự đối với một phần yêu cầu trong vụ tranh chấp hoặc toàn bộ các yêu cầu trong vụ tranh chấp, không nhất thiết phải thỏa thuận được toàn bộ các yêu cầu trong vụ tranh chấp mới được công nhận như trong pháp luật hiện hành Pháp luật tố tụng dân sự của một số nước đều công nhận sự thỏa thuận một phần hay toàn bộ của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Chẳng hạn tại Điều 786 Bộ luật TTDS Pháp quy định: “Thẩm phán phụ trách việc thẩm cứu hoàn tất hồ sơ có thể ghi nhận sự hòa giải của các bên, dù là hòa giải một phần” Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được Khi vụ
án ở trong trường hợp không thể hòa giải được thì Tòa án quyết định đưa vụ
án ra xét xử mà không cần phải hòa giải
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ngoài việc Tòa án công nhận kết quả thỏa thuận của các đương sự khi hòa giải tại tòa án, thì tòa án còn thực hiện thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành theo thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án của các đương sự Hiện nay, theo quy định tại Điều 15Luật Hòa giải, đối thoại tại TA quy định về trình tự nhận, phân công, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại TA như sau:
+ Người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải
Trang 29quyết vụ việc dân sự kèm theo chứng cứ đến TA;
+ TA nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn và thông báo cho người nộp đơn khởi kiện biết vụ việc sẽ được xem xét chuyển sang hòa giải, đối thoại nếu đáp ứng đủ các điều kiện;
+ Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu chánh án TA phân công thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại;
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, phân công hòa giải viên trong danh sách của TA mình để tiến hành hòa giải, đối thoại và thông báo cho các bên liên quan biết;
+ Sau khi nhận được thông báo về hòa giải, đối thoại thì đương sự thông báo ý kiến của mình cho TA biết
Đối với các trường hợp không phải hòa giải, đối thoại thì giải quyết theo quy định của BLTTDS Thời gian nhận, giải quyết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không tính vào thời hiệu khởi kiện, thời hiệu xử lý đơn theo quy định của BLTTDS, LTTHC nếu vụ việc được giải quyết theo trình tự tố tụng
Về thời hạn chuẩn bị hòa giải, đối thoại không quá 20 ngày, kể từ ngày hòa giải viên được phân công.Đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày Hết thời hạn này, thời hạn có thể kéo dài theo đề nghị của các bên
Trên thực tế công tác hòa giải vẫn được TA tiến hành ở những giai đoạn tố tụng tiếp theo ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm, mặc dù BLTTDS 2015 không quy định trực tiếp nhưng trên tinh thần tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên đương sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, rút ngắn thủ tục tố tụng thì trong quá trình xét xử sơ thẩm TA vẫn tạo điều kiện cho các
Trang 30bên đương sự tham gia tranh chấp hòa gải và tự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án
Hiện nay đối với những TAND đang thí điểm và thành lập trung tâm hòa giải, đối thoại thì thời điểm tiến hành hoạt động hòa giải đối thoại để thỏa thuận giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại Đối với những tranh chấp không phải hòa giải đối thoại theo quy định pháp luật, những TAND không có trung tâm hòa giải, đối thoại thì thời điểm tổ chức hạt động hòa giải cho các bên tham gia tranh chấp được thực hiện theo quy định của BLTTDS
1.2.4 Nguyên tắc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa
án nhân dân
Công tác hòa giải, đối thoại tại TA là công tác vô cùng quan trọng cũng như định hướng cho việc giải quyết tranh chấp, tạo điều kiện thuận lợi cũng như hướng dẫn các bên tham gia tranh chấp có thể hòa giải, đối thoại với nhau để tìm ra hướng giải quyết Vì vậy hòa giải, đối thoại phải tuân thủ các nguyên tắc:
Một là, các bên tự nguyện tham gia hòa giải, đối thoại, tự nguyện thống
nhất phương án hoà giải, đối thoại, bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ;
Hai là, nội dung hòa giải, đối thoại không vi phạm điều cấm của luật,
không vi phạm đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác;
Ba là, các thông tin liên quan đến việc hòa giải, đối thoại phải được giữ
bí mật theo quy định của pháp luật;
Bốn là, phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù
hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi vụ việc;
Năm là, đảm bảo bình đẳng giới, bảo vệ quyền trẻ em trong tổ chức và
Trang 31hoạt động hòa giải, đối thoại tại TA;
Sáu là, tiếng nói và chữ viết trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt
Người tham gia hòa giải, đối thoại có thể dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này có thể tự bố trí hoặc yêu cầu hòa giải viên bố trí người phiên dịch cho mình và tự chịu chi phí phiên dịch Người khuyết tật có thể dùng ngôn ngữ, kí hiệu và có người phiên dịch, chi phí do người đề nghị chi trả
Theo quy định điều 205 trong BLDS 2015 thì nguyên tắc hòa giải các
vụ án dân sự như sau:
Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng
vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;
Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Thứ nhất, hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Theo quy định tại Điều 205 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015quy định Như vậy, khi các đương sự
đã tự nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn quyết định các vấn
đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ án
Thứ hai, hòa giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không trái với pháp luật, đạo đức xã hội
Khi tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án dân sự ngoài yếu tố tự nguyện thỏa thuận của các đương sự thì việc tòa án hòa giải còn phải thỏa
Trang 32mãn các điều kiện: tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theo pháp luật quy định; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
Thứ ba, hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt được kết quả hòa giải Tích cực để có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, không để việc hòa giải kéo dài vô ích khi không có khả năng hòa giải nhưng lại phải kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết các mắc mớ trong tâm tư tình cảm của họ
1.2.5 Hậu quả pháp lý của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Hậu quả pháp lý của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TA
là những kết quả tất yếu dẫn đến mà các các nhân, tổ chức tham gia trong tranh chấp phải chịu khi hòa giải tranh chấp tại TA
Trường hợp các đương sự tham gia hòa giải, đối thoại không thành do bất đồng quan điểm, bất đồng quyền và lợi ích thì bắt buộc TA phải giải quyết tranh chấp theo quy định của BLTTDS bằng một bản án, quyết định của TA
và các bên tranh chấp phải nghiêm chỉnh chấp hành
Trường hợp các đương sự tham gia hòa giải, đối thoại thành do trong quá trình hòa giải tự thương lương giải quyết vấn đề thì sẽ được TA công nhận hòa giải thành bằng một quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Trong thời hạn 07 ngày làm việc nếu không có sự thay đổi thì quyết định công nhận thỏa thuận giữa các đương sự có hiệu lực thi hành Các bên trong tranh chấp phải nghiêm chỉnh chấp hành theo nội dung của quyết định và không được kháng cáo hay khiếu nại hoặc yêu cầu TA giải quyết tranh chấp nữa
Trang 33Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn giúp khái quát và làm rõ những vấn đề cơ bản
về lý luận và quy định thực tiễn pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND như: khái niệm, đặc điểm; mục đích, ý nghĩa; các hình thức hòa giải; bản chất pháp lý; thời điểm áp dụng hòa giải; nguyên tắc áp dụng trong hòa giải; hậu quả pháp lý của hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai tại TAND Thông qua chương 1 sẽ cung cấp những kiến thức lý luận
và thực tiễn của công tác hòa giải tại TAND, qua đó giúp người đọc có cái nhìn tổng quan nhất trên nhiều phương diện, lĩnh vực về công tác hòa giải tại
TA, đặc biệt là trong giải quyết các tranh chấp đất đai Việc làm rõ những nội dung ở chương 1 có ý nghĩa quan trọng, làm căn cứ để nghiên cứu hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp hướng tới xây dựng và hoàn thiện các quy định về tố tụng, rút ngắn thời gian tố tụng, tạo sự hiệu quả trong công tác tố tụng giải quyết tranh chấp đất đai và tạo cơ sở cho việc làm rõ những vấn đề thực tiễn, thực trạng công tác hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại
TA cũng như đóng góp những ý kiến tích cực góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng công tác áp dụng pháp luật trong thực tế ở chương 2 và chương 3
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ
lý đơn cho đến khi vụ án được TAND đưa ra xét xử sơ thẩm và kết thúc bằng một bản án, quyết định của TA thì đây là khoảng thời gian vô cùng quang trọng và có ý nghĩa to lớn, quyết định đến kết quả của quá trình giải quyết vụ
án có kết thúc ở cấp sơ thẩm hay không, giải quyết mâu thuẫn tranh chấp cho triệt để hay không, các bên tham gia tranh chấp đã hài lòng với phán quyết của TA hay không, hay chưa hài lòng và tiếp tục kháng cáo lên cấp phúc thẩm Vì vậy, trong khoảng thời gian TAND chuẩn bị cho xét xử sơ thẩm là khoảng thời gian quan trọng để TAND tiến hành hòa giải, đối thoại cho các đương sự để có hướng giải quyết tranh chấp và kết thúc vụ án sớm, hạn chế thời gian giải quyết ở thủ tục xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
BLTTDS 2015 quy định về thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì thời điểm TA tiến hành hòa giải cho các đương sự tham gia tranh chấp bắt đầu từ thời điểm TA thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi TA có quyết định đưa
vụ án ra xét xử Trong quãng thời gian chuẩn bị xét xử, TA tiến hành mời các
Trang 35bên trong tranh chấp tham gia phiên họp hòa giải Trong thời hạn chuẩn bị xét
xử quy định, tùy từng trường hợp,Thẩm phán ra một trong các quyết định:
+ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
+ Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
+ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử,
TA phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, pháp luật tố tụng không buộc TA phải tiến hành phiên hòa giải theo trình tự, thủ tục quy định tại BLTTDS 2015 Nếu chỉ dựa vào việc pháp luật tố tụng không có quy định trực tiếp về hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm để cho rằng, tại phiên tòa sơ thẩm thì hoạt động hòa giải không diễn ra là không chính xác, trên thực tế công tác xét xử các vụ án dân sự sơ thẩm tại TA, đặc biệt là các tranh chấp về đất đai Bởi mặc dù pháp luật tố tụng không có quy định trực tiếp về việc hòa giải, nhưng việc hòa giải vẫn hiện hữu thông qua việc Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không? (khoản 1 Điều 246 BLTTDS 2015) Việc TA hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc TA kiểm tra, xác thực lại xem các đương sự có tự hòa giải được với nhau hay không
Điểm khác biệt của hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm so với trong thời hạn chuẩn bị xét xử chính là sự chủ động, vai trò của TA đối với việc hòa giải của các đương sự.hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm được coi như việc các đương sự
tự chủ động tìm sự đồng nhất trong quan điểm giải quyết vụ án, trong trường hợp này TA chỉ là bên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu sự thỏa thuận không vi phạm pháp luật, đạo đức Vì vậy, việc hòa giải này do các đương sự tự thỏa thuận, việc thỏa thuận này có thể được thực hiện vào bất cứ
Trang 36vào thời điểm nào từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến thủ tục bắt đầu phiên tòa Các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định về trình tự, thủ tục, hoàn toàn không có sự tham gia của TA.Đến phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, chủ tọa phiên tòa kiểm tra chứng
cứ lại sự thỏa thuận của các đương sự, trong trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án thì HĐXX ra quyết định công nhân sự thỏa thuận của các đương sự Việc hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm cần phải lưu ý một số nội dung sau:
+ Thời điểm hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm: Căn cứ quy định BLTTDS
2015 thì việc hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án hay không do chủ tọa phiên tòa hỏi và được thực hiện trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa (Điều 246, mục 2, chương XIV BLTTDS 2015) Sau khi tiến hành khai mạc phiên tòa và thực hiện các thủ tục theo Điều 239 BLTTDS
2015, chủ tọa phiên tòa hỏi và giải quyết về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; Chủ tọa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau hay không là hoạt động cuối trong thủ tục bắt đầu phiên tòa; Việc các đương sự không thỏa thuận được với nhau trong giai đoạn này chính là tiền đề cho hoạt động tiếp theo là hoạt động tranh tụng
Mặc dù BLTTDS 2015 đã quy định rõ việc hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau hay không được thực hiện tại thủ tục bắt đầu phiên tòa, nhưng tại Phần III-Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa của Biểu mẫu số 48 Ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về mẫu biên bản phiên tòa sơ thẩm là không có nội dung thể hiện việc hỏi này Tại Phần III Biểu mẫu số 48 đã quy định cứng các nội dung trong phần này mà không hề có nội dung mở để người
sử dụng có thể bổ sung nội dung như các phần khác trong biểu mẫu Đây là
Trang 37điểm hạn chế trong Biểu mẫu số 48 ban hành kè theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP và cần được xem xét sửa đổi
+ Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Các bên thỏa thuận với nhau trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì chỉ phải chịu 50% mức án phí Trường hợp không thỏa thuận được với nhau thì phải chịu y án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật
+ Hình thức và hậu quả pháp lý: Như giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi các bên thỏa thuận được với nhau thì HĐXX sẽ xem xét và thảo luận tại phòng nghị án; Nếu nội dung thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức thì hội đòng xét xử ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay mà không bị kháng cáo, kháng nghị
Hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm: Tương tự như tại phiên tòa sơ thẩm, khi quá trình tố tụng đến giai đoạn phiên tòa phúc thẩm thì các đương sự vẫn không mất quyền tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Tuy nhiên,
do tính chất xét xử phúc thẩm là xem xét lại vụ án ở cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực thi hành bị kháng cáo, kháng nghị nên việc hòa giải ở phiên tòa phúc thẩm
có một số điểm khác biệt như sau:
+ Nội dung hòa giải: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm, TA chỉ ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (kể
cả án phí); Trong trường hợp các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng không thỏa thuận được với nhau về án phí thì TA không được ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận mà tiến hành xét
xử vụ án theo quy định chung Tại phiên phúc thẩm, chỉ cần các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án (không thỏa thuận được về
án phí sơ thẩm) và thỏa thuận không trái quy định pháp luật, đạo dức thì
Trang 38HĐXX phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và HĐXX tự mình xác định nghĩa vụ chịu án phí dựa trên nội dung thỏa thuận của các đương sự
+ Hình thức công nhận sự thỏa thuận: Hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm được ghi nhận dưới hình thức quyết định công nhận sự thỏa tuận của các đương sự Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm do vụ
án đang tồn tại một bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực thi hành nên HĐXX không thể ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được; bởi khi ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận không làm mất hiệu lực của bản án sơ thẩm nên sẽ tồn tại song song một bản án sơ thẩm và một quyết định về việc giải quyết cùng một vụ án Do đó, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết thì HĐXX phúc thẩm ban hành Bản án phúc thẩm sửa bản án ớ thẩm, có nội dung trong phần quyết định là công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Nghĩa vụ án phí: Án phí phúc thảm do đương sự kháng cáo chịu; án phí
sơ thẩm do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tòa án xác định lại án phí dân sự sơ thẩm theo nội dung thỏa thuận về việc giải quyết vụ
án tại phiên tòa phúc thẩm
Đối với thủ tục xét xử đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm thì trực tiếp pháp luật vẫn chưa có quy định về công tác hòa giải ở các thủ tục xét xử đặc biệt này.Và trong thực tiễn xét xử ở giám đốc thẩm và tái thẩm chưa có trường hợp các đương sự hòa giải, thỏa thuận với nhau [35]
2.1.2 Nguyên tắc tiến hành hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Dựa trên những nguyên tắc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TA thì đối với hòa giải ở cấp sơ thẩm tại TA ngoài việc đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của hòa giải tranh chấp đất đai như: Nguyên tắc tự nguyện;
Trang 39nguyên tắc thỏa thuận trong buổi hòa giải phải đúng quy định pháp luật, không vi phạm pháp luật, đạo dức xã hội; Nguyên tắc bình đẳng;… Thì ở cấp xét xử sơ thẩm, công tác hòa giải cho các đương sự để thỏa thuận hướng giải quyết tranh chấp cũng phải được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục tố tụng
và tuân thủ theo những nguyên tắc:
+ Sau khi TAND thụ lý vụ án về tranh chấp đất đai, thì trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, TA tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật Trong giai đoạn xét xử việc hòa giải phải tuân thủ nguyên tắc hòa giải:
+ Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình
+ Nội dung thỏa thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội Thông báo về phiên hòa giải ở cấp sơ thẩm:
Trước khi tiến hành hòa giải, Tòa án phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải
Khi tiến hành hòa giải: Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên
hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
Biên bản hòa giải: Việc hòa giải được thư ký TA ghi vào biên bản Biênbản hòa giải phải có các nội dung chính sau:
+ Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải
+ Địa điểm tiến hành phiên hòa giải
+ Ý kiến tham gia phiên hòa giải
Trang 40+ Những nội dung đã được các đương sự thỏa thuận, không thỏa thuận Biên bản hòa giải phải có đầy đủ các chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của Thư ký TA ghi biên bản và của thẩm phán chủ trì phiên hòa giải
Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì TA lập biên bản hòa giải thành Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải
Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một thẩm phán được chánh án TA phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, TA phải gửi quyết định đó cho các đương sự.Quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Trong trường hợp các bên đương sự không hòa giải được với nhau về cách giải quyết tranh chấp đất đai, thì TA quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm[36]
2.1.3 Phạm vi hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Theo Chỉ thị số 04/2017/CT-CA về tăng cường công tác hòa giải tại TAND, thì để công tác hòa giải tại TA, đặc biệt là TA cấp sơ thẩm trong thực tiễn đem lại hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đặt ra thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như:
Xác định phạm vi hòa giải tại TA, những vụ án không được hòa giải và thời điểm mở phiên hòa giải tại TA cấp sơ thẩm Mở phiên hòa giải là trách nhiệm của TA cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nóichung