1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng bài 4 rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

42 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN, rủi ro tín dụng đã được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

Trang 1

BÀI 4: RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Sau khi học xong bài này, học viên sẽ:

 Hiểu được thế nào là rủi ro và các loại rủi ro

đặc trưng trong hoạt động của ngân hàng

 Nắm bắt được nguyên nhân, mô hình đo

lường và các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín

dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái, rủi ro

thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng

thương mại

 15 tiết

Trang 2

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống

Công ty Huy Hoàng thành lập với vốn điều lệ 2 tỷ VND Chức

năng kinh doanh là may thêu xuất khẩu, sản xuất các loại đũa

Năm 2001 – 2005 Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

cho phép mở rộng thêm một số chức năng như xây dựng dân

dụng, sau đấy Công ty nâng vốn điều lệ lên 20 tỷ thành công ty

cổ phần Năm 2006 công ty Huy Hoàng muốn làm giàu bằng

đầu tư bất động sản hơn là sản xuất, vì thế công ty đã đầu tư

đất ở Đồng Nai, Lâm Đồng, Thành phố Hồ chí Minh, Vũng

Tầu Công ty Huy Hoàng đã vay Eximbank và Ngân hàng

Bắc Á 50 tỷ đồng và 1 triệu USD Năm 2007 xảy ra khủng

hoảng tài chính, thị trường bất động sản khu vực miền Nam gần như đóng băng, một số dự án đang thi công nhà ở cao cấp cũng phải ngừng Năm 2008 để cứu vãn tình hình Huy Hoàng nhập phân bón trả chậm của nước ngoài và lỗ hàng tỷ đồng

Câu hỏi

Với món vay của công ty Huy Hoàng, hai ngân hàng trên sẽ gặp phải những rủi ro nào?

Trang 3

Rủi ro là một yếu tố khách quan, con người không thể loại trừ được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những thiệt hại do chúng gây ra Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro nhưng khái quát lại có thể chia làm 2 quan điểm:

Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các

yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người

Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là độ lệch so với kì vọng, là những biến cố xảy ra

ngoài dự kiến Đây là sự bất trắc có thể đo lường được, có thể mang tính tích cực, có thể mang tính tiêu cực Nếu tập trung nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai

4.1 Rủi ro tín dụng

4.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng luôn là vấn đề đi kèm với mỗi khoản

tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng, đòi hỏi

ngân hàng cần phải quan tâm ngăn ngừa, hạn chế

nhằm bảo đảm an toàn cho những đồng vốn mà các cổ

đông cùng những người gửi tiền đã bỏ ra Không chỉ

có vậy, Chính phủ và ngân hàng nhà nước cũng luôn

quan tâm và đưa ra các quy chế để tạo ra hành lang

pháp lý thích hợp giúp cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn lành mạnh

và hiệu quả bởi hệ thống NHTM có vai trò đặc biệt quan trọng so với các ngành kinh

tế khác – hệ thống ngân hàng chính là huyết mạch của nền kinh tế

Tìm hiểu rủi ro tín dụng trước hết phải định nghĩa được nó, có rất nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng Tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN, rủi ro tín

dụng đã được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không

có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”

Như vậy có thể nói rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu

do hoạt động tín dụng mang lại bởi vì khả năng khách hàng không hoàn trả vốn gốc và lãi không đúng thời hạn hoàn toàn có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau

4.1.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Muốn đối phó với rủi ro tín dụng không thể không tìm hiểu các nguyên nhân đã dẫn đến rủi ro tín dụng Nếu phân chia theo xuất xứ của rủi ro thì có 4 nguyên nhân chính gây nên rủi ro đó là:

Nguyên nhân

Môi trường bên ngoài

Ngân hàng Khách hàng

Tài sản đảm bảo

Trang 4

 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài

Môi trường bên ngoài bao hàm rất nhiều yếu tố, nhưng ảnh hưởng lớn nhất tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các khách hàng của ngân hàng mà có thể dẫn tới rủi ro thì có bốn yếu tố cơ bản: Môi trường tự nhiên, môi trường chính trị pháp luật, môi trường khoa học công nghệ và môi trường kinh tế

Điểm chung lớn nhất của bốn yếu tố này là chúng đều tác động hàng loạt tới các khách hàng của ngân hàng, nếu chúng diễn biến xấu thì hầu hết hoặc thậm chí tất

cả khách hàng đều bị ảnh hưởng tiêu cực, khả năng trả nợ vì thế mà giảm sút và dẫn tới rủi ro tín dụng cho ngân hàng

o Môi trường tự nhiên

Là yếu tố mà con người khó có thể tác động vào nhất trong bốn yếu tố đã nêu Môi trường tự nhiên bao gồm: điều kiện thời tiết, khí hậu, địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên… Khi môi trường tự nhiên diễn biến tiêu cực tức là xảy ra thiên tai (như lũ lụt, động đất, hạn hán, sương muối…) hay dịch bệnh (cúm gia cầm, cúm lợn, lợn tai xanh…) thậm chí thiên tai làm cho cơ sở sản xuất của khách hàng bị phá hỏng, dẫn đến hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ bị giảm sút nặng nề, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, nhẹ thì chỉ thua lỗ nếu nặng còn có thể bị phá sản Do dó, khách hàng sẽ không còn khả năng thực hiện các cam kết với ngân hàng

o Môi trường kinh tế Bao hàm các vấn đề như: Chu kỳ của nền kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá

o Môi trường chính trị, pháp luật Bao hàm các yếu tố như: Cơ chế chính sách, các

bộ luật và các văn bản dưới luật…

Tuy đã có nhiều cố gắng trong cải cách thủ tục hành chính song vẫn phải thừa nhận rằng cơ chế chính sách chồng chéo là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của kinh tế Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài đã nhận ra rằng thị trường Việt Nam không thực sự hấp dẫn, đồng vốn họ bỏ ra đầu tư không hiệu quả chính là do các thủ tục hành chính ở Việt Nam quá phức tạp

Trong năm 2008 một điều đáng nói về yếu tố này đó là công tác dự báo không khoa học, thiếu chính xác đã làm cho xuất khẩu Việt Nam tổn thất nặng nề, hàng loạt doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này chắc chắn đã phải chịu thua lỗ,

mà tỷ trọng cho vay của ngân hàng đối với những khách hàng này lại không

hề nhỏ

o Môi trường khoa học công nghệ (trình bày ở phần sau) Những rủi ro từ phía môi trường bên ngoài rất khó phòng tránh và nếu bị thiệt hại thì khắc phục cũng rất khó khăn

 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Khách hàng của ngân hàng hết sức phong phú và đa dạng, hiếm có loại hình doanh nghiệp nào lại có được cơ sở khách hàng đặc biệt như ngân hàng, bởi lẽ ngân hàng giao dịch với những khách hàng trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, các

Trang 5

khách hàng có độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập rất khác nhau, đó vừa là thuận lợi vừa là khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, hoạt động tín dụng nói chung và trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng nói riêng Để đơn giản hóa khách hàng của ngân hàng được chia thành khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp

o Đối với khách hàng cá nhân Nguồn trả nợ của họ chính là thu nhập, thường có tính chất chu kì theo tháng,

do đó nếu thu nhập hàng tháng của cá nhân bị sụt giảm vì một lý do nào đó thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng Điều này xảy ra do rất nhiều nguyên nhân khác nhau: do khách hàng ốm đau, thất nghiệp, hay do sử dụng vốn vay không đúng cam kết hoặc chây ì cố tình không trả nợ

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nguyên nhân chủ yếu nhất làm cho khách hàng cá nhân chậm trả hoặc không thể trả nợ cho ngân hàng là do họ bị thất nghiệp, hoặc thu nhập bị cắt giảm do nền kinh tế nước ta đang phải chịu những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế

o Đối với khách hàng doanh nghiệp Khách hàng doanh nghiệp có 3 nguồn tiền để có thể trả nợ ngân hàng đó là: nguồn tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, song chủ yếu nhất vẫn là hoạt động kinh doanh, và trong các doanh nghiệp sản xuất thì nó có thể chiếm tới 90% nguồn tiền của doanh nghiệp

Nguyên nhân gây ra rủi ro chính là những nguyên nhân làm cho những nguồn tiền trên bị giảm sút, và đó có thể là:

 Do doanh nghiệp không bán được hàng trong thời kỳ khó khăn, khách hàng của doanh nghiệp cắt giảm chi tiêu

 Do các đối tác trong kinh doanh đã vi phạm hợp đồng khiến cho doanh nghiệp bị thiệt hại

 Sự yếu kém của người chủ doanh nghiệp và của các cán bộ trong doanh nghiệp dẫn tới hoạt động kinh doanh thất bại

 Do doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến mất vốn hoặc hiệu quả không cao nên không hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng

Với cơ cấu khách hàng hết sức phong phú và đa dạng như trên ngân hàng có điều kiện để phát triển nhiều loại hình dịch vụ tài chính qua đó phân tán rủi ro tín dụng, song việc theo dõi quản lý rủi ro cũng gặp nhiều khó khăn, bởi mỗi khách hàng lại có những đặc điểm riêng khiến cho các cán bộ ngân hàng mất nhiều công sức để tìm hiểu và đưa ra các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa rủi ro phù hợp và hiệu quả

 Nguyên nhân từ phía ngân hàng

o Từ phía ngân hàng, rủi ro tín dụng đến từ nhiều nguyên nhân như:

 Chính sách tín dụng không hợp lý, đặc biệt là về vấn đề phân tán rủi ro, hạn mức tín dụng, chưa có sự dự báo trước các vấn đề có thể xảy ra, chưa được điều chỉnh kịp thời với đặc điểm của từng thời kỳ;

Trang 6

 Có thể do việc thẩm định tín dụng không chính xác dẫn đến quyết định cho vay không phù hợp, năng lực của cán bộ tín dụng còn yếu kém hay thông tin không được thu thập đầy đủ nên xếp hạng khách hàng sai, mà khoản vay được cấp không dựa trên mức độ tín nhiệm thực của khách hàng thì rủi ro

sẽ rất cao

o Hiện nay các công cụ phòng ngừa rủi ro tín dụng đều đã được các ngân hàng tìm hiểu và cập nhật, song vận dụng chúng một cách có hiệu quả thì không phải ngân hàng nào cũng làm được, bởi lẽ điều kiện thực tế của Việt Nam gây nhiều khó khăn cho việc áp dụng các công cụ này, đó là:

 Sự hạn chế về khoa học kỹ thuật và trình độ của cán bộ tín dụng trong việc ứng dụng tin học vào hoạt động ngân hàng

 Việc các khách hàng còn chưa tự nguyện cung cấp thông tin chính xác

 Việc chưa tận dụng được hết hiệu quả của các công cụ phòng ngừa rủi ro cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho rủi ro tín dụng tại các ngân hàng vẫn cao trong khi hệ thống các công cụ thì đã khá hoàn thiện

o Nếu tất cả các nguyên nhân trên đã được loại trừ thì còn một vấn đề nữa rất khó kiểm soát đó là vấn đề rủi ro đạo đức của các cán bộ tín dụng, sự thông đồng giữa cán bộ tín dụng và khách hàng trong việc cho vay những khách hàng không đủ điều kiện có thể dẫn tới hậu quả khôn lường cho ngân hàng, và có không ít bài học kinh nghiệm trong lịch sử về vấn đề này

Nếu các nguyên nhân khác là nguyên nhân khách quan thì nguyên nhân từ phía ngân hàng mang tính chủ quan, do đó ngân hàng có sự chủ động trong việc phòng tránh rủi ro tín dụng đến từ nguyên nhân này

 Nguyên nhân từ phía tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo là một trong các yếu tố cần thẩm định khi cho các khách hàng của ngân hàng vay, bởi lẽ tài sản đảm bảo là bằng chứng về khả năng

và thiện chí trả nợ của khách hàng, là nguồn thu nợ thứ hai đối với ngân hàng khi rủi ro tín dụng xảy ra

mà ngân hàng buộc phải xóa nợ

Các ngân hàng hiện nay vẫn cho vay theo một tỷ lệ nhất định trên tài sản đảm bảo, do đó nếu tài sản đảm bảo không được định giá một cách chính xác thì rủi ro tín dụng tất yếu sẽ xảy

ra, khi khách hàng không trả được nợ thì mặc dù có tài sản đảm bảo nhưng ngân hàng vẫn không thu hồi được đủ vốn gốc và lãi

Tài sản đảm bảo rất khó định giá đúng do các nguyên nhân sau đây:

o Giá cả của tài sản trên thị trường biến động không ngừng theo quy luật cung cầu Khi tham gia vào quá trình sản xuất chúng lại chịu những hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình, ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học

kỹ thuật thì việc đánh giá mức độ hao mòn của tài sản đảm bảo lại càng trở nên khó khăn, dẫn đến việc dự báo giá cả tài sản trong tương lai không chính xác

o Nhiều tài sản trong các lĩnh vực kinh doanh đặc biệt nên khó định giá đối với các cán bộ tín dụng và ngay cả các chuyên gia

Trang 7

o Ngay cả khi tài sản đã được định giá chính xác thì ngân hàng vẫn không thu hồi được nợ do tính khả mại thấp, nhiều khi chỉ có khách hàng đang vay nợ ngân hàng mới dùng tài sản đó

o Phần lớn tài sản đảm bảo tại các ngân hàng là bất động sản, mà đây là loại tài sản từ trước tới nay vẫn có rất nhiều tranh chấp dù hệ thống văn bản pháp lý quy định về bất động sản không phải là ít

Tài sản đảm bảo cần được khẳng định chắc chắn về mặt sở hữu và giá trị thì mới

có thể đảm bảo an toàn tín dụng cao, do đó công tác thẩm định tài sản đảm bảo cần

có sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức và các cơ quan hữu quan

4.1.3 Các biện pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

Tìm ra nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng có vai trò hết sức quan trọng

 Trong ngắn hạn việc đó giúp cho ngân hàng tìm ra cách thức hạn chế rủi ro nếu như nó chưa xảy ra và khắc phục hậu quả nếu như rủi ro đã xảy ra rồi

 Trong dài hạn ngân hàng sẽ đề ra được hệ thống biện pháp ngăn ngừa trước khi rủi

ro tín dụng xảy ra và ngay cả trước khi cấp tín dụng

“Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, do đó các ngân hàng cần phải thực hiện một cách đồng bộ việc nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán

bộ tín dụng, hiện đại hóa công nghệ thông tin ứng dụng vào hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, thực hiện phân tán rủi ro, xây dựng hạn mức tín dụng phù hợp với từng khách hàng, từng mục đích vay cụ thể, kiểm tra và giám sát tín dụng chặt chẽ, thực hiện đảm bảo tín dụng chắc chắn, đồng thời tích cực áp dụng một phương pháp khá hiện đại đó là sử dụng tốt các công cụ tín dụng phái sinh

Chú trọng công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ

 Cán bộ tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, bởi con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi lĩnh vực Đội ngũ cán bộ có trình độ và đạo đức là biện pháp phòng ngừa, đồng thời cũng là biện pháp khắc phục rủi ro hữu hiệu nhất cho ngân hàng

Do đó, các cán bộ tín dụng cần được đào tạo và đào tạo lại một cách thường xuyên nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ Việc đào tạo cần có những hình thức đa dạng

và phù hợp với các điều kiện khách quan cũng như chủ quan của từng thời kỳ: có thể đó là các khóa đào tạo trong nội bộ ngân hàng, các khóa học tại các trường đại học, các khóa học với các chuyên gia nước ngoài

 Việc nâng cao trình độ chuyên môn là rất cần thiết dù cho hầu hết các cán bộ tín dụng đều đã theo học chuyên ngành tài chính ngân hàng, bởi lẽ hoạt động tín dụng

và phòng ngừa rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện cho phù hợp với các chuẩn mực quốc tế

Do đặc thù nghề nghiệp việc nâng cao kiến thức của các cán bộ tín dụng về các nghành nghề kinh doanh trong nền kinh tế cũng không kém phần cần thiết, bởi lẽ ngân hàng cho vay tất cả các thành phần của nền kinh tế cho nên cán bộ tín dụng cần có kiến thức nền tảng về các loại hình kinh doanh khác nhau Càng hiểu biết sâu về nhiều lĩnh vực khác nhau rủi ro tín dụng sẽ càng giảm do công tác thẩm định sẽ có chất lượng cao hơn nhờ những hiểu biết này

Trang 8

 Công nghệ thông tin là phương tiện hết sức hữu hiệu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đặc biệt là công nghệ tin học

Do đó, cán bộ tín dụng cũng cần nâng cao khả năng ứng dụng tin học vào công tác cho vay nhằm nâng cao tính chính xác của việc thẩm định khách hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động giải ngân cũng như kiểm tra và giám sát khoản vay và thu nợ,

từ đó tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các đối thủ, nâng cao uy tín của ngân hàng trong mắt khách hàng đồng thời giảm thiểu rủi ro nhờ độ chính xác cao của công nghệ tin học

Đầu tư khoa học công nghệ hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Như trên đã nói công nghệ sẽ là phương tiện giúp các ngân hàng tự động hóa hoạt động kinh doanh, nhất là với các NHTM nó còn là công cụ cạnh tranh hữu hiệu Do đó hiện nay một loạt các NHTM Việt Nam đã có sự hợp tác với các ngân hàng nước ngoài, trong đó có cả Techcombank, nhằm tranh thủ tiếp cận và kế thừa thành tựu khoa học kỹ thuật trong ngành ngân hàng của các nước trên thế giới Cũng nhờ vậy

mà hoạt động ngân hàng điện tử ngày càng phát triển và ngân hàng lại gần gũi và cung cấp nhiều tiện ích với người dân hơn

Vi tính hóa hoạt động tín dụng không chỉ giúp cho quy

trình phê duyệt một khoản vay từ khâu nhận hồ sơ cho

đến khâu thu nợ tất toán khoản vay được rút ngắn về

thời gian và tiết kiệm về chi phí, mà nó còn đảm bảo

độ chính xác cũng như độ an toàn cao hơn do loại trừ

bớt yếu tố con người, tình cảm, do đó hoạt động tín

dụng sẽ an toàn hơn

Không chỉ có vậy, nhờ có công nghệ khoa học nói

chung và công nghệ tin học nói riêng, các thành viên

trong hệ thống NHTM sẽ có sự liên lạc trao đổi thông tin với nhau tốt hơn, từ đó giảm được tình trạng thông tin không cân xứng, uy tín của khách hàng vay cũng được đánh giá đúng đắn hơn Và chắc chắn việc nhiều ngân hàng cho vay cùng một khách hàng

mà không phải là hình thức đồng tài trợ cũng sẽ an toàn hơn do khả năng trả nợ cũng như tài sản đảm bảo của khách hàng đã được công khai rộng rãi

Phân tán rủi ro

Hiện nay tại nhiều ngân hàng ở Việt Nam, hoạt động tín dụng vẫn chiếm tới 90% hoạt động của ngân hàng, vì thế lợi nhuận do hoạt động này mang lại cũng đóng góp chủ yếu vào tổng lợi nhuận của ngân hàng Trong hoạt động tín dụng thì tỷ trọng cho vay các tổng công ty nhà nước, các dự án đầu tư xây dựng chiếm đa số, do vậy có thể nói rủi ro mà các ngân hàng phải đối mặt tập trung vào một số ít ngành nghề, điều đó sẽ dẫn đến sự đổ vỡ của ngân hàng diễn ra nhanh hơn nếu như số ít ngành nghề đó gặp khó khăn

Vì vậy cần phải phân tán rủi ro của ngân hàng bằng cách:

 Đa dạng hóa loại hình kinh doanh của ngân hàng;

 Đa dạng hóa các khoản cho vay của ngân hàng

Nhiều ngân hàng hiện nay không chỉ cho vay mà còn cung ứng rất nhiều dịch vụ như quản lý tài sản theo ủy thác, thanh toán qua thẻ, chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ,

Trang 9

bảo lãnh… Trong công tác cho vay thì ngân hàng cũng đã mở rộng cho vay nhiều thành phần kinh tế khác nhau miễn là dự án khả thi, có khả năng thu hồi vốn

Việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh như trên là cách thức giảm thiểu rủi ro tín dụng đơn giản hơn

so với các cách khác tùy thuộc vào điều kiện thực

tế của mỗi ngân hàng, chẳng hạn các ngân hàng quốc doanh của Việt Nam hiện nay đang chuyên sâu vào từng lĩnh vực khác nhau do đó chi phí để thực hiện phân tán rủi ro sẽ cao hơn các NHTM cổ phần

Thực hiện tốt việc giám sát tín dụng

Nếu như khâu thẩm định tín dụng có một vài sai sót thì giám sát tín dụng chính là khâu tiếp theo giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro, nhằm kiểm soát khách hàng trong việc sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả

Nếu đã thẩm định kĩ thì vẫn cần có giám sát tín dụng để ngân hàng và doanh nghiệp

có thể kịp thời cùng nhau tháo gỡ khó khăn khi xuất hiện những diễn biến xấu chưa được dự báo

Thực hiện tốt công tác giám sát tín dụng là cán bộ tín dụng phải đi sâu, đi sát tình hình thực tế của khách hàng sau khi được ngân hàng cấp tín dụng: kiểm tra khách hàng đã

sử dụng vốn vay ra sao, có đúng mục đích không, hiệu quả đến đâu?

Để nắm bắt hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng, cán bộ tín dụng cần tiến hành các bước tương tự như trong khâu thẩm định tín dụng:

 Định kỳ phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp hay thu nhập của khách hàng cá nhân

 Tham quan xem xét cơ sở sản xuất

 Phỏng vấn những người có liên quan…

Cán bộ tín dụng phải đôn đốc nhắc nhở khách hàng về kỳ hạn trả nợ, số tiền cần trả khi gần đến hạn thanh toán Nếu vì nguyên nhân nào đó khách hàng không thể hoàn trả đúng hạn, cán bộ tín dụng cùng khách hàng tháo gỡ khó khăn Còn nếu khách hàng chây ì cố tình không trả thì cần áp dụng ngay các biện pháp thu hồi nợ kịp thời nhằm giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng

Thực hiện đảm bảo tín dụng chắc chắn

Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng nếu như khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng sau khi áp dụng nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn hoặc nhiều biện pháp thu nợ đối với khách hàng Tuy không phải là nguồn thu nợ chính nhưng ngân hàng cũng vẫn phải thực hiện đảm bảo tín dụng chắc chắn

 Đối với hình thức nhận cầm cố, thế chấp tài sản

Ngân hàng cần có sự định giá chính xác tài sản đó về các mặt sau đây:

o Giá trị của tài sản trên thị trường là bao nhiêu?

o Khả năng phát mại như thế nào?

o Giá cả có ổn định hay không?

o Mức độ biến động giá theo thời gian như thế nào?

o Đặc biệt tài sản đó có chắc chắn thuộc sở hữu của khách hàng hay không?

Trang 10

Nhiều trường hợp dấu hiệu của rủi ro xuất hiện ngay ở khâu định giá tài sản đảm bảo, nếu có sự gian lận ở đây ta có thể thấy trước nguy cơ khách hàng sử dụng vốn sai mục đích và nếu thất bại thì sẽ không trả nợ

 Đối với hình thức bảo lãnh của bên thứ ba

Bên thứ ba cũng cần được thẩm định về mặt uy tín, tài chính như khi ngân hàng thẩm định khách hàng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ thay khách hàng của bên thứ

ba là có thật:

o Tư cách pháp lý của họ ra sao?

o Năng lực tài chính như thế nào?

o Uy tín của họ có cho thấy họ sẵn sàng trả nợ thay hay không?

Trên thực tế để thực hiện đảm bảo tín dụng chắc chắn có rất nhiều cách thức linh hoạt nhưng tất cả đều nhằm đảm bảo ngân hàng sẽ không bị mất vốn bởi các khoản tín dụng rủi ro

Sử dụng các nghiệp vụ phái sinh

Cho vay nhiều thành phần kinh tế thì ngân hàng có thể

phân tán rủi ro giữa các ngành nghề với nhau, còn

trong một ngành nghề cụ thể thì ngân hàng lại có thể

san sẻ rủi ro cho các chủ thể đầu tư khác nhờ các công

cụ tín dụng phái sinh Phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng

các hoạt động ngoại bảng hiện còn đang là hoạt động

hết sức mới mẻ đối với các ngân hàng Đây là hoạt

động rất phức tạp đòi hỏi người thực hiện phải có đầu

óc chiến lược

Công cụ tín dụng phái sinh bao gồm:

 Hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit Swap)

Đây là nghiệp vụ phái sinh liên quan trực tiếp tới việc kiểm soát rủi ro tín dụng Hợp đồng trao đổi tín dụng là hợp đồng mà theo đó hai tổ chức tín dụng thỏa thuận trao đổi cho nhau một phần các khoản thanh toán theo các hợp đồng tín dụng của mỗi bên

Để thực hiện hợp đồng này ngoài hai ngân hàng còn cần có sự tham gia của một tổ chức trung gian thứ ba thường là công ty bảo hiểm Nhờ có hợp đồng trao đổi tín dụng, các ngân hàng có thể nâng cao tính đa dạng hóa của danh mục cho vay dù cho thế mạnh của ngân hàng chỉ là về một ngành nghề nhất định, trong khi đó chất lượng của khoản tín dụng nhận được từ hợp đồng trao đổi vẫn đảm bảo chất lượng,

từ đó giúp ngân hàng giảm sự lệ thuộc vào một thị trường truyền thống duy nhất đồng thời giảm thiểu rủi ro tín dụng

 Hợp đồng quyền tín dụng (Credit options)

Là hợp đồng mà trong đó người mua quyền tín dụng sẽ được quyền thanh toán một khoản tiền xác định trước nếu như khoản cho vay thỏa thuận trong hợp đồng giảm giá đáng kể hoặc không thể thu hồi được

Hợp đồng quyền tín dụng giúp ngân hàng bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng khoản vay giảm sút hay nói cách khác là giảm thấp tổn thất nếu rủi ro tín dụng xảy ra

Trang 11

 Hợp đồng trao đổi các khoản tín dụng rủi ro

Ngược với hợp đồng quyền tín dụng bởi ngân hàng muốn khắc phục rủi ro lúc này

sẽ mua hợp đồng quyền bán để được bán khoản tín dụng bị giảm chất lượng, còn nếu ngược lại thì ngân hàng sẽ chỉ phải mất khoản phí để có được quyền đó

 Trái phiếu ràng buộc

Đây là một công cụ kết hợp đặc tính của các khoản nợ thông thường với hợp đồng quyền tín dụng, nó giúp cho ngân hàng có thể giảm mức thanh toán nếu như có những thay đổi lớn trong một số yếu tố

Ví dụ, ngân hàng phát hành trái phiếu ràng buộc để huy động vốn tài trợ cho một

số khoản vay với lãi suất là 10%/năm, tuy nhiên các trái phiếu này quy định rằng nếu như rủi ro tín dụng xảy ra thì ngân hàng chỉ phải thanh toán cho những người

sở hữu trái phiếu mức lãi suất thấp hơn, chẳng hạn là 7%/năm

Công cụ tín dụng phái sinh là biện pháp hiện đại và thực sự rất hữu ích nếu như người sử dụng nó có thể dự đoán được tổn thất có xảy ra không và ở mức độ nào

để tránh đưa ngân hàng vào một rủi ro mới đó là rủi ro từ các công cụ phái sinh Trên đây là các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, việc vận dụng chúng một cách linh hoạt và hiệu quả là một phần trong công tác quản trị rủi ro tín

dụng

4.2 Rủi ro lãi suất

4.2.1 Khái niệm và nguyên nhân rủi ro lãi suất

4.2.1.1 Khái niệm

Để huy động vốn của doanh nghiệp và dân cư, ngân

hàng phải trả lãi Khi tài trợ, ngân hàng thu lãi Như

nhiều giá cả hàng hóa khác, lãi suất của các khoản cho

vay, tiền gửi và chứng khoán thường xuyên biến động,

có thể làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng và ngược lại

sẽ gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro lãi suất là khoản

lỗ tiềm tàng mà ngân hàng sẽ phải gánh chịu khi lãi

suất thị trường có sự biến động

Rủi ro lãi suất bao gồm hai loại:

Ví dụ: Techcombank đang có nhu cầu cho vay 1 tỷ đồng có thời hạn 2 năm, lãi

suất 10%/năm, để có số vốn 1 tỷ đồng cho vay, Techcombank huy động với lãi suất bình quân là 9% thời hạn 1 năm

Như vậy, sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% – 9% = 1% Tuy nhiên lợi nhuận của năm thứ hai chưa biết trước là bao nhiêu cho nên sẽ là

Trang 12

một số không chắc chắn Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản Nợ với mức lãi suất là 9%;

và do đó mức lợi nhuận thu được trong năm thứ hai vẫn là 1% Giả sử sang năm thứ hai lãi suất tăng lên thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro

Như vậy, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản Có có kỳ hạn dài hơn

so với tài sản Nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản Nợ Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn Trường hợp ngược lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tư có kỳ hạn ngắn, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro về lãi suất nếu lãi suất đầu tư năm tiếp theo giảm xuống dưới mức huy động vốn dài hạn

 Rủi ro giảm giá trị tài sản

Giá trị thị trường của tài sản Có và tài sản Nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó:

o Nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên,

và do đó giá trị hiện tại của tài sản Có và tài sản Nợ giảm xuống

o Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ

Ví dụ: Tài sản Có: 100 triệu USD thời hạn 3 năm, tài sản Nợ: 100 triệu USD thời

hạn 1 năm, xác định tổn thất mà ngân hàng gặp biết rằng lãi suất tăng từ 9% đến 10% (kỳ hạn càng dài tốc độ giảm giá trị càng lớn) Ngân hàng gặp rủi ro vì kỳ hạn tài sản Có lớn hơn kỳ hạn tài sản Nợ

4.2.1.2 Nguyên nhân chính gây nên rủi ro lãi suất đối với các ngân hàng

 Sự không cân xứng giữa kỳ hạn của tài sản Nợ và tài sản Có

 Sự biến động lãi suất trên thị trường (phụ thuộc nhiều vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương)

4.2.2 Đo lường rủi ro lãi suất

4.2.2.1 Mô hình kỳ hạn đến hạn (maturity model)

Giá trị các số liệu kế toán trong bảng cân đối tài sản của ngân hàng là giá trị ghi sổ Giá trị ghi sổ là giá trị lịch sử của tài sản và cũng là giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm mua bán, cho vay tài sản

Đối với những tài sản có kỳ hạn trên 1 năm được ghi chép trong bảng cân đối là giá trị ghi sổ Còn tài sản lưu động đều được ghi chép theo phương thức giá thị trường hiện hành Nghĩa là giá trị các tài sản này được định giá thường xuyên theo giá thị trường

và phản ánh thực trạng giá trị của tài sản

Trang 13

Ví dụ

Giả sử ngân hàng nắm giữ một trái phiếu, kỳ hạn đến hạn là 1 năm và mệnh giá trái phiếu được thanh toán khi đến hạn là 100 (F), mức lãi suất đến hạn một năm hiện hành của thị trường là 10% (R), mức lợi tức trái phiếu là 10% (C) Gọi giá của trái phiếu này là P1, ta có:

Giả thiết rằng, ngân hàng trung ương áp dụng chính

sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất tăng từ 10% tới 11% Giá

trị thị trường của trái phiếu giảm xuống là:

 Khi lãi suất thị trường tăng lên làm cho giá trị của tài sản Có giảm, và đây là một tình huống xấu với ngân hàng;

 Ngược lại, giá trị thị trường của tài sản Nợ giảm lại là một tình huống thuận lợi với ngân hàng Giả sử ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi thay vì nắm giữ như trường hợp trên, nếu lãi suất tăng làm cho ngân hàng được lợi, bởi vì ngân hàng chỉ phải thanh toán một mức lãi suất là 10% thay vì phải thanh toán lãi suất 11% trong trường hợp ngân hàng phát hành mới chứng chỉ tiền gửi

Giả sử chứng chỉ tiền gửi đó có kỳ hạn là 2 năm thì khi đó nếu lãi suất tăng làm cho giá của trái phiếu giảm xuống hơn nhiều:

Trang 14

Ví dụ trên cho biết khi lãi suất thị trường tăng thì đối với tài sản có thu nhập cố định

có kỳ hạn đến hạn càng dài thì giá trị thị trường càng giảm

4.2.2.2 Mô hình thời lượng

 Khái niệm

Thời lượng của 1 tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó

Ví dụ: Một khoản tín dụng kỳ hạn 1 năm, lãi suất

15%/năm, gốc và lãi thanh toán 6 tháng một lần

Luồng tiền (CF) mà ngân hàng thu về từ khoản tín dụng này tại thời điểm cuối tháng 6 và cuối năm được mô tả trên đồ thị như sau:

o Để tính được thời lượng của 2 CF ta quy về một thời điểm là hiện tại:

Trang 15

o Tính thời lượng (D) của khoản tín dụng bằng cách sử dụng tỷ trọng giá trị hiện tại của các luồng tiền

DL = 1/2 × X1/2 + 1 × X1 = 1/2 × 0.5349 + 1 × 0.4651 = 0.7326 năm

Như vậy, trong kỳ hạn của hợp đồng tín dụng là 1 năm, thì thời lượng của nó chỉ là 0,7326 năm Thời lượng nhỏ hơn kỳ hạn đến hạn bởi vì xét từ góc độ giá trị hiện tại thì có tới 53.79% các luồng tiền được thu hồi sớm hơn (tại thời điểm nửa năm)

Để biết được tại sao ngân hàng luôn phải chịu rủi ro lãi suất trong khi đã làm cho các kỳ hạn đến hạn của tài sản Có và tài sản Nợ cân xứng với nhau, ta thấy thời lượng của một chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn 1 năm, lãi suất 15%/năm để so sánh

Do ngân hàng cam kết thanh toán cả gốc và lãi tại thời điểm cuối năm nên:

t 1 N t

t 1

PV tD

PVt: Là giá trị hiện tại của luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t

Ví dụ 1: Tính thời lượng của Trái phiếu Châu Âu, biết rằng trái phiếu có kỳ hạn là

6 năm, lợi tức là 8%, trả lãi hàng năm, mệnh giá trái phiếu là 1000$, và lãi suất hiện hành của thị trường là 8%

Trang 16

1000

 Ý nghĩa kinh tế của mô hình thời lượng

Thời lượng là phép đo trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản đối với lãi suất, tức

là đo sự thay đổi giá trị của tài sản khi lãi suất thị trường thay đổi

dPPDdR(1 R)

(1 R) : Là tỷ lệ thay đổi lãi suất thị trường

Ý nghĩa kinh tế của phương trình là: Khi lãi suất thị trường thay đổi thì thời lượng D là phép đo độ nhạy cảm của thị giá chứng khoán P Nghĩa là, khi lãi suất thị trường thay đổi với một tỷ lệ thì thị giá của trái phiếu thay đổi là D Lãi suất thay đổi thị giá của trái phiếu biến động ngược chiều theo tỷ lệ thuận độ lớn của D

Ví dụ: Trong trường hợp trái phiếu Châu Âu có kỳ hạn 6 năm, lợi tức trái phiếu là

8%, lãi suất thị trường là 8%, thời lượng đã được xác định là 4.99 năm Giả sử lãi suất thị trường tăng 1 điểm tức là tăng 0.01%

Phương pháp tính chênh lệch thời lượng của hai vế bảng cân đối tài sản ngân hàng:

o Xác định thời lượng của 2 vế bảng cân đối:

DA: Là thời lượng của toàn bộ tài sản Có

DL: Là thời lượng của toàn bộ tài sản Nợ

Trang 17

1A 2A nA

X X  X  1

X X  X  1Lãi suất = 1; 2; ; n

xi biểu thị tỷ trọng và Di biểu thị thời lượng của lãi suất trong tài sản Có hoặc tài sản Nợ

o Xác định rủi ro lãi suất đối với vốn tự có của ngân hàng:

Kết cấu bảng cân đối tài sản: A = L + E Trong đó:

A: là tài sản Có L: là tài sản Nợ E: là vốn tự có

A

 là tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản Có của ngân hàng, gọi

là tỷ lệ đòn bẩy k

Kết luận:

(1) Chênh lệch thời lượng giữa tài sản Có và tài sản Nợ được điều chỉnh bởi tỷ

lệ đòn bẩy Chênh lệch thời lượng được tính bằng năm, phản ánh sự không cân xứng về thời lượng của hai vế bảng cân đối tài sản Nếu chênh lệch này lớn, thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao

(2) Quy mô của ngân hàng, tức tổng tài sản Có (A): Quy mô tài sản của ngân hàng càng lớn, thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao

(3) Mức độ thay đổi lãi suất: mức thay đổi lãi suất ngày càng nhiều, thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao

Như vậy, có thể biểu diễn rủi ro lãi suất đối với vốn tự có của ngân hàng như sau:

E = – (chênh lệch thời lượng đã điều chỉnh ) × quy mô tài sản

× Mức thay đổi lãi suất

Trang 18

4.2.2.3 Mô hình định giá lại

Nội dung của mô hình định giá lại là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản Có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định

Cách thực hiện như sau:

 Phân loại tài sản Có và tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất

o Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất bao gồm tài sản khi lãi suất thay đổi thì thu nhập từ lãi thay đổi (được ký hiệu là RSA)

o Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất bao gồm các khoản nợ khi lãi suất thay đổi chi phí từ lãi sẽ thay đổi (được ký hiệu là RSL)

Thông thường căn cứ vào báo cáo phải lập theo thời hạn bao nhiêu như báo cáo

1 ngày, báo cáo 3 tháng, báo cáo 6 tháng, báo cáo 1 năm, ngân hàng sẽ sử dụng thời gian đó là khoảng thời gian mà lãi suất có sự thay đổi Ví dụ nếu báo cáo 6 tháng, ngân hàng sẽ phân loại thành RSA và RSL nhạy cảm 6 tháng

 Xác định

o Chênh lệch tài sản Có và tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất (GAP)

GAP = RSA – RSL Trong đó:

 RSA: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất

 RSL: Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất

o Tỷ lệ chênh lệch = GAP/Tổng tài sản Có

o Tỷ lệ độ nhạy với lãi suất = RSA/RSL

o Sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất (NII)

NII = RSA × i – RSL × i = GAP × Ri GAP > 0 → Äi > 0 → ÄNII > 0

→ Äi < 0 → ÄNII < 0 GAP < 0 → Äi > 0 → ÄNII < 0

Nếu đây là báo cáo 6 tháng, lãi suất tăng lên từ 10% đến 15% thì:

 Thu nhập từ lãi tăng lên: 0.05 × 20 = 1 triệu đồng

 Chi phí từ lãi tăng lên: 50 × 0.05 = 2.5 triệu đồng

 Ngân hàng bị thiệt hại 1.5 triệu đồng

NII = GAP × R = –30 × 0.05 = –1.5 triệu đồng

Trang 19

Như vậy, nếu lãi suất giảm 5% thì thu giảm 1 triệu đồng, chi giảm 2.5 triệu đồng

 lợi được 1.5 triệu đồng

 Nếu 1 ngân hàng Có nhiều tài sản Nợ loại nhạy cảm với lãi suất hơn là tài sản Có loại nhạy cảm với lãi suất thì:

 Sự tăng thêm của lãi suất thị trường sẽ làm lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống và ngược lại

 Sự giảm xuống của lãi suất sẽ làm lợi nhuận của ngân hàng tăng lên

 Nếu một ngân hàng tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất nhỏ hơn tài sản Có nhạy cảm với lãi suất thì:

 Sự tăng lên của lãi suất làm lợi nhuận ngân hàng tăng

 Sự giảm xuống của lãi suất làm lợi nhuận ngân hàng giảm

Tuy nhiên mô hình này mới đo lường được thu nhập chưa đo lường được tốc

độ giảm giá trị tài sản của ngân hàng

4.2.3 Các biện pháp phòng chống rủi ro lãi suất

4.2.3.1 Biện pháp phòng ngừa nội bảng

 Ngân hàng có độ lệch về lãi suất là âm:

o Nếu ngân hàng dự tính rằng lãi suất có xu hướng tăng thì không cần đưa ra các giải pháp đề phòng

o Nếu lãi suất có xu hướng tăng thì ngân hàng điều chuyển lại khoản mục trong bảng cân đối tài sản của mình theo 2 hướng:

 Giảm các tài sản Có có lãi suất cố định, tăng tài sản Có nhạy cảm với lãi suất;

 Hoặc giảm tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất, tăng tài sản Nợ có lãi suất

cố định

 Ngân hàng có độ lệch về lãi suất là dương thì điều chỉnh ngược lại

Tuy nhiên phương pháp này nhiều khi rất khó thực hiện tại các ngân hàng lớn, do nhu cầu cho vay và đầu tư trung dài hạn thường lớn hơn nhiều các nguồn tương ứng Hơn nữa phương pháp này loại trừ luôn cả việc gia tăng các khoản thu khi lãi suất thay đổi phù hợp với dự đoán của nhà quản lý

4.2.3.2 Sử dụng các công cụ phái sinh

Các loại nghiệp vụ kỳ hạn về lãi suất

 Nghiệp vụ kỳ hạn tiền gửi (Forward Forward Deposit - FFD)

Là sự thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm t0, theo

đó bên mua cam kết nhận và bên bán cam kết gửi một số tiền nhất định bằng một loại tiền nhất định trong khoảng thời gian từ t1 tới t2 nằm trong tương lai với một lãi suất nhất định Thực chất nghiệp vụ này chính là việc gửi tiền kỳ hạn theo lãi suất kỳ hạn

Trang 20

 Nghiệp vụ kỳ hạn lãi suất (Forward Rate agreement)

Là sự thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm t0, theo đó bên mua cam kết nhận và bên bán cam kết gửi một số tiền hư cấu nhất định bằng một loại tiền nhất định theo một lãi suất nhất định trong khoảng thời gian từ t1 tới t2 trong tương lai

Đây giống như nghiệp vụ cá cược Tại thời điểm t1: Trên cơ sở so sánh lãi suất đã

ấn định tại t0 với lãi suất hiện hành cho thời hạn t1 tới t2 (= lãi suất so sánh) để thực hiện thanh toán bù trừ tiền mặt Bên bán thanh toán cho bên mua, nếu lãi suất so sánh > lãi suất ấn định tại t0 Bên mua thanh toán cho bên bán, nếu lãi suất so sánh

< lãi suất ấn định tại t0

FRA theo lãi suất 7.8%

Vay DM, lãi suất Libor 6 tháng

06.02.11 ấn định i giả định Libor 6 tháng (1) 9.0% (2) 6.6%

Trang 21

o Trường hợp 1 Ngân hàng vay tiếp một khoản 9% và do ký FRA, được bù một khoản tiền là:

Chênh lệch 1.2%

o Trường hợp 2 Ngân hàng vay tiếp một khoản 6.6% và do ký FRA, ngân hàng phải thanh toán một khoản tiền bù:

Chênh lệch 1.2%

 Nghiệp vụ kỳ hạn trái phiếu

Hợp đồng kỳ hạn giao dịch tại thị trường OTC, không có tổ chức quy định đối với giao dịch giữa các chủ thể tư nhân

Trên thực tế khi lãi suất thay đổi giá chứng khoán thay đổi, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ mua bán chứng khoán nhằm bù đắp tổn thất trong trường hợp lãi suất thay đổi, có nghĩa, sau thời gian

dự tính nếu lãi suất thật sự thay đổi ngân hàng sẽ bị lỗ trên bảng cân đối nhưng phần lỗ này sẽ được bù từ phần lãi ngoại bảng Số lượng chứng khoán mua căn cứ vào lãi suất giảm gây tổn thất bao nhiêu và giá trị chứng khoán phải mua là bao nhiêu

Bảo đảm rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai

Phần này, chúng ta sẽ xem xét ngân hàng sử dụng các nghiệp vụ giao dịch tương lai để

bảo đảm rủi ro do sự không cân xứng về thời lượng của hai vế bảng cân đối tài sản

Giả sử, trạng thái ban đầu tại bảng tổng kết tài sản cửa một ngân hàng như sau:

Thời lượng DA = 5 năm; DL = 3 năm;

Ngân hàng dự tính lãi suất sẽ tăng từ 10 % lên 11% (tăng 1%) Vậy, khoản lỗ mà ngân

hàng dự tính phải chịu là:

Ký quỹ duy trì của người mua

Ký quỹ duy trì của người bán

22

Pcon 28 38

Ngày đăng: 04/07/2021, 07:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w