TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Sự cần thiết của đề tài
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực quan trọng trong sản xuất lương thực của Việt Nam, với Long An nổi bật là tỉnh có diện tích trồng lúa gạo lớn nhất trong vùng này.
Tỉnh Long An có tổng diện tích đất là 449.494 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 360.251 ha Đặc biệt, diện tích đất trồng lúa đạt 266.528 ha, tương đương 74% tổng diện tích đất nông nghiệp, khẳng định vai trò quan trọng của cây lúa trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh (theo niên giám thống kê 2017).
Trong những năm qua, sản xuất lúa đã đóng góp quan trọng vào xuất khẩu gạo của tỉnh Long An, với sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu giống lúa, ngày càng chú trọng đến giống lúa chất lượng cao Tỉnh Long An hiện đang triển khai xây dựng vùng sản xuất lúa ứng dụng công nghệ cao trên diện tích 20.000 ha, dự kiến hoàn thành vào năm 2020 Việc chuyển đổi giống lúa là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển bền vững của ngành sản xuất lúa.
Trong đó huyện Tân Hưng là huyện chiếm diện tích trồng lúa lớn nhất trong
Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính, trong đó huyện Tân Hưng đã phát triển thêm 06 loại giống lúa chất lượng cao vào năm 2018, bao gồm RVT, Đài thơm 8, Nhật, OM 5451, OM 7347 và Lộc trời 5, mà trước đây không có vào năm 2014 Những giống lúa này đang được thị trường chấp nhận và mang lại hiệu quả cao cho nông dân Hiện nay, tỷ lệ giống lúa chất lượng cao, thơm và đặc sản đã chiếm 86,5%, tăng 18,5% so với năm 2014.
Các giống lúa cần phải phù hợp với mùa vụ, thị trường và diễn biến nguồn nước cũng như tình hình xâm nhập mặn Hiện nay, cơ cấu giống lúa chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ, trong khi việc nông dân chọn giống bị thoái hóa và kém chất lượng cũng ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và khả năng kháng bệnh của cây lúa.
Để đáp ứng nhu cầu thực tế trong sản xuất, ngành Nông nghiệp tỉnh đã tiến hành khảo nghiệm và nhân rộng các giống lúa mới tại huyện Tân trong những năm qua.
Việc thay đổi cơ cấu giống lúa ở các vùng trồng đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực và lợi ích kinh tế cao Đặc biệt, việc điều chỉnh giống lúa theo nhu cầu thị trường thông qua mô hình liên kết sản xuất chuỗi khép kín là rất cần thiết Đây cũng chính là chủ trương của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020, với tầm nhìn đến năm 2030.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 98/2018/NĐ-CP vào ngày 05/7/2018 nhằm khuyến khích phát triển hợp tác và liên kết trong sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thay thế Quyết định 62/2013/QĐ-TTg Đây là một chủ trương quan trọng nhằm giúp nông dân thay đổi cơ cấu giống cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, từ đó đảm bảo đầu ra ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Việc đánh giá hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống lúa của các hộ sản xuất tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An là rất cần thiết Nghiên cứu này, mang tên “Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa trên đất lúa tại huyện Tân Hưng”, sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý nông nghiệp và nông hộ trong việc đầu tư, quy hoạch và phát triển cây lúa, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất Từ kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất một số biện pháp và chính sách nhằm tăng cường hoặc hạn chế các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi giống lúa, phù hợp với nhu cầu thị trường.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu giống lúa là rất quan trọng để đề xuất giải pháp cho chính quyền địa phương Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp xây dựng định hướng và chính sách khuyến khích người nông dân thực hiện chuyển đổi giống lúa, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định chuyển đổi giống lúa của nông dân là rất quan trọng Để cải thiện hoặc hạn chế tác động của những yếu tố này, cần đưa ra các khuyến nghị và giải pháp phù hợp Những biện pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa, đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu giống lúa, với đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trồng lúa.
Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về không gian địa điểm Đề tài nghiên cứu tại địa bàn huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
1.4.2 Phạm vi về thời gian
Dữ liệu sơ cấp (thực hiện điều tra): từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2019.
Dữ liệu thứ cấp: Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2018.
Câu hỏi nghiên cứu
Những câu hỏi đặt ra cần phải trả lời khi nghiên cứu:
Câu hỏi 1: Thực trạng cơ cấu giống lúa sản xuất tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An?
Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chuyển đổi giống lúa của hộ nông dân trồng lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An?
Để tăng cường hoặc hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố đến sự chuyển đổi cơ cấu giống lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, cần thực hiện một số giải pháp như: nâng cao nhận thức của nông dân về lợi ích của giống lúa mới, cung cấp đào tạo kỹ thuật canh tác hiện đại, khuyến khích nghiên cứu và phát triển giống lúa phù hợp với điều kiện địa phương, và tăng cường hỗ trợ từ chính quyền địa phương trong việc tiếp cận giống lúa chất lượng Bên cạnh đó, cần xây dựng các chương trình khuyến nông hiệu quả để giúp nông dân áp dụng công nghệ mới, từ đó thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu giống lúa bền vững.
Những đóng góp mới của luận văn
1.6.1 Đóng góp về phương diện khoa học
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận những yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa.
- Để cho các nghiên cứu sau này trong cùng chung lĩnh vực nghiên cứu tham khảo.
1.6.2 Đóng góp về phương diện thực tiễn Đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo, cho chính quyền địa phương hiểu sâu hơn vấn đề và đưa ra các chính sách, biện pháp phù hợp, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ nông dân và kinh tế địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này tác giả vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu, báo cáo và tham khảo ý kiến chuyên gia nhằm đánh giá tình hình sản xuất các giống lúa và các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển đổi giống lúa Quá trình này giúp nhận diện các vấn đề liên quan, tạo cơ sở cho việc kiểm tra các yếu tố tác động trong mô hình lý thuyết, thiết kế câu hỏi nghiên cứu, phát triển mô hình nghiên cứu thực tế và đo lường các biến trong nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng khảo sát theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, dự kiến thu thập dữ liệu từ 200 nông dân tại huyện Tân Hưng Sau khi loại bỏ các phiếu khảo sát không hợp lý, dữ liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.
Xử lý dữ liệu loại biến không hợp lệ là bước quan trọng trong phân tích dữ liệu Sau khi thu thập, dữ liệu sẽ được phân tích bằng thống kê mô tả và hồi quy Logistic nhị phân Cuối cùng, kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa các biến.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trước
1.8.1 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Sáng (2009) tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội về chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đã chỉ ra rằng các yếu tố tự nhiên như đất, nước và khí hậu, cùng với các yếu tố sinh vật như cây trồng và vật nuôi, cũng như các yếu tố kinh tế xã hội như cơ chế chính sách, thị trường, dịch vụ, và điều kiện cơ sở hạ tầng, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển đổi này nhằm hướng tới sản xuất hàng hóa.
Nghiên cứu của Đinh Ngọc Lan (2013) trong Tạp chí Khoa học & Công nghệ chỉ ra rằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất ruộng ở thành phố Lạng Sơn gặp nhiều trở ngại Những khó khăn chính bao gồm điều kiện sản xuất không thuận lợi, như thiếu hệ thống thủy lợi, giống cây chất lượng kém, và thiếu thông tin về đầu vào và đầu ra Thêm vào đó, nông hộ còn đối mặt với thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật, cũng như trình độ học vấn thấp Đặc biệt, thông tin thị trường và lợi nhuận có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định sản xuất và mức độ đầu tư của nông dân.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Cúc (2016) tại Đại học Mở TPHCM tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng mía ở tỉnh Long An Đề tài áp dụng thống kê mô tả và mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích Kết quả cho thấy có 08 nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cây trồng của nông hộ, bao gồm: dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tiếp cận tín dụng, tham gia cộng đồng nắm giữ công nghệ, trình độ học vấn, lợi nhuận kỳ vọng, quy mô vốn sở hữu, tuổi chủ hộ và quy mô hộ, với mức ý nghĩa thống kê 1% và 10%.
Nghiên cứu của tác giả Lê Xuân Thái (2014) trong Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ đã chỉ ra rằng các yếu tố như diện tích canh tác, chi phí đầu tư sản xuất và việc tham gia tổ chức xã hội địa phương có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập bình quân của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long Các biến độc lập được khảo sát bao gồm số người trong hộ, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn của lao động, số ngày công lao động gia đình, diện tích canh tác, chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận trong năm Kết quả phân tích cho thấy những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho nông dân trong các mô hình sản xuất trên đất lúa.
Nghiên cứu của Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) đăng trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ đã chỉ ra rằng việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long mang lại hiệu quả tài chính vượt trội so với mô hình không ứng dụng Kết quả kiểm định cho thấy nông hộ áp dụng công nghệ mới đạt được lợi nhuận cao hơn, khẳng định tầm quan trọng của việc đổi mới kỹ thuật trong ngành nông nghiệp.
(6) Nghiên cứu của tác giả Phạm Lê Thông, Huỳnh Thị Đan Xuân và Trần Thị Thu Duyên (2011), Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số 18a, trang 267–
Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của vụ lúa hè thu và thu đông ở ĐBSCL cho thấy nông dân đạt mức hiệu quả chỉ khoảng 57% Mặc dù hiệu quả kinh tế của hai vụ này tương đương nhau, nhưng lợi nhuận từ vụ hè thu lại cao hơn so với vụ thu đông, mặc dù sử dụng cùng lượng đầu vào và giá cả.
17 đến 19%, chủ yếu là do điều kiện thời tiết và canh tác thuận lợi hơn.
Nghiên cứu của Đỗ Quang Giám và Trần Quang Trung (2013) trên Tạp chí Phát triển kinh tế chỉ ra rằng các hộ nông dân chăn nuôi heo thịt tham gia vào các mô hình kết nối thị trường có thu nhập cao hơn so với những hộ không tham gia Kết quả khảo sát 360 hộ cho thấy quy mô sản xuất, trình độ học vấn, địa vị xã hội của chủ hộ và biến động giá sản phẩm là những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tham gia kết nối giữa nông dân và thị trường.
Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và Lê Khương Ninh (2015) đăng trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ chỉ ra rằng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ tương đối thấp Các yếu tố nội tại như quy mô diện tích, phương thức mua vật tư, phương thức bán lúa, số lượng lao động gia đình, tập quán canh tác và lượng tiền nhàn rỗi có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả này Bên cạnh đó, các yếu tố ngoại biên như thực trạng hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và khoảng cách từ nơi sinh sống của nông hộ đến các điểm chợ cũng góp phần ảnh hưởng đến kết quả sản xuất.
(9) Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Nhàn, Hồ Hoàng Chinh và Trần Thị Linka (2017) Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, tập 50, Phần D, trang 87–
Nghiên cứu năm 2016 tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân trong hoạt động sản xuất lúa giống cộng đồng Các yếu tố này bao gồm nhận thức của nông dân về lợi ích của lúa giống, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, điều kiện kinh tế và xã hội của hộ gia đình, cũng như các yếu tố môi trường và kỹ thuật sản xuất Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp cải thiện sự tham gia của nông dân và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa giống trong cộng đồng.
Nghiên cứu chỉ ra rằng sự tham gia của nông dân chủ yếu bị ảnh hưởng bởi yếu tố Nhận thức xã hội, tiếp theo là Năng lực cá nhân, cùng với Sự chấp thuận của thị trường và người tiêu dùng Trong khi đó, các yếu tố như chính sách nhà nước, hoạt động hỗ trợ, cũng như Lợi ích cá nhân và xã hội không có tác động đáng kể.
Nghiên cứu của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011) trong tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ tập trung vào "Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long", phỏng vấn 564 đại diện từ các tác nhân trong chuỗi và 10 nhóm nông dân trồng lúa tại bốn tỉnh có sản lượng lúa cao nhất Nghiên cứu đã phân tích sâu về chuỗi giá trị lúa gạo nội địa và xuất khẩu, nhấn mạnh vào phân phối lợi ích, chi phí, giá trị gia tăng và tổng lợi nhuận của từng tác nhân cũng như toàn bộ chuỗi.
1.8.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Xaysongkhame Phimmasone và Nguyễn Hữu Ngoan (2015) trong Tạp chí Phát triển kinh tế chỉ ra rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Bo Kẹo, Lào bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Các yếu tố chính bao gồm hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp hàng hóa như chính sách giao đất, tín dụng và khuyến khích sản xuất Ngoài ra, nguồn lực của hộ nông dân như độ tuổi trung bình, số nhân khẩu và diện tích đất canh tác cũng đóng vai trò quan trọng Kết luận cho thấy, trong khi chính sách và thị trường vốn có tác động tích cực, thì đất đai và lao động lại đang gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Nghiên cứu của Uaiene và Rafael N (2006) về việc áp dụng công nghệ nông nghiệp ở Mozambique cho thấy rằng, việc tiếp cận giáo dục cao hơn, dịch vụ tư vấn phổ biến, và tham gia vào các hiệp hội nông nghiệp có thể thúc đẩy khả năng áp dụng công nghệ mới Tuy nhiên, khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng là một trong những rào cản lớn nhất đối với việc áp dụng công nghệ Đặc biệt, các hộ gia đình có quyền tiếp cận đất đai dễ dàng lại ít có khả năng chấp nhận công nghệ mới, đặc biệt là các đầu vào nông nghiệp.
Nghiên cứu của Uaiene và cộng sự (2009) về các yếu tố quyết định việc áp dụng công nghệ nông nghiệp ở Mozambique cho thấy rằng tiếp cận tín dụng, trình độ giáo dục cao, dịch vụ tư vấn mở rộng và tham gia hiệp hội nông nghiệp là những yếu tố quan trọng giúp nông hộ dễ dàng áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp.
Nghiên cứu của Sarker và ctg (2005) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hệ thống nông trại ở Bangladesh đã chỉ ra rằng các đặc tính nông hộ đóng vai trò quan trọng Các yếu tố kinh tế xã hội như giới tính, tuổi tác, trình độ giáo dục, số lượng thành viên tích cực và thành viên phụ thuộc trong gia đình, cùng với các nguồn lực như lực lượng lao động gia đình, quy mô trang trại, thu nhập hộ và kinh nghiệm của hộ nông dân đều ảnh hưởng đến quyết định này.
Kết cấu của luận văn
Gồm 5 chương và được trình bày theo thứ tự như sau:
Chương 1 Phần mở đầu: Chương này giới thiệu về lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, kết cấu của nghiên cứu.
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước
Chương này giới thiệu các khái niệm và cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, đồng thời trình bày mô hình lý thuyết và kết quả từ các nghiên cứu trước Ngoài ra, chương cũng đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài này.
Chương 3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:
Chương này tổng hợp các yếu tố tự nhiên, nguồn nhân lực và tình hình sản xuất của vùng nghiên cứu Đồng thời, nó cũng mô tả quy trình và phương pháp nghiên cứu, cách xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và thực hiện các kiểm định liên quan.
Chương 4 Kết quả và thảo luận: Trình bày và phân tích dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả thống kê mô tả dữ liệu dùng trong nghiên cứu, kết quả kiểm định các mô hình kinh tế lượng, để giải quyết, trả lời các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.
Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị: Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được; trên cơ sở đó đề xuất, gợi ý một số chính sách liên quan.Nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Khái niệm cơ cấu giống lúa
Cơ cấu cây trồng là sự sắp xếp các giống và loài cây theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp, nhằm tối ưu hóa nguồn lợi tự nhiên và kinh tế - xã hội Việc xác định cơ cấu cây trồng dựa trên mùa vụ và chế độ luân canh, đồng thời điều chỉnh theo tiến bộ khoa học kỹ thuật và nhu cầu thực tiễn sản xuất.
Tên khoa học của cây lúa là Oryzae sativa L thuộc họ Hòa thảo Graminae.
Hạt thóc, hay còn gọi là hạt lúa, bao gồm gạo lật và trấu bao quanh Gạo lật (brown rice) là phần ăn được, trong khi trấu là lớp vỏ bên ngoài.
Chiều dài, chiều rộng và độ mảnh của hạt thóc thay đổi đáng kể tùy thuộc vào giống lúa Kích thước và hình dạng của hạt thóc, cũng như hạt gạo, là những chỉ tiêu chất lượng bề ngoài quan trọng Trong thương mại, gạo thường được phân loại dựa trên kích thước, hình dạng và độ đồng đều của hạt gạo.
Cơ cấu giống lúa là sự sắp xếp các giống lúa theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và lợi ích kinh tế - xã hội hiện có.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển tỉnh Long An năm 2019, Long An có các nhóm giống lúa sản xuất như sau:
Nhóm lúa thơm, đặc sản chiếm tỷ lệ 62,5%: (Đài thơm 8, Nàng Hoa 9, RVT, Tài nguyên, ST 24, VD 20, Nàng thơm và nếp (chiếm tỷ lệ 29,9%).
Nhóm lúa chất lượng cao chiếm tỷ lệ 23,25%: (OM 5451, OM 4900, OM
Nhóm chất lượng trung bình chiếm tỷ lệ 8,28%: (IR 50404, OM 1352).
Theo Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt theo Quyết định số 1898/QĐ-BNN-TT ngày 23/5/2016, ngành lúa gạo sẽ được định hướng cơ cấu giống nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Tập trung vào nghiên cứu và phát triển các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm với giá bán cạnh tranh cho thị trường xuất khẩu và nội địa, đồng thời chống chịu với sâu bệnh hại Ưu tiên phát triển giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn hoặc trung ngày, có chất lượng cao và thơm Các giống lúa mới cần thích nghi với biến đổi khí hậu, bao gồm khả năng chịu mặn, hạn, ngập úng và nóng Bảo tồn và chọn lọc các giống lúa địa phương đặc sản để cung cấp giống sản xuất gạo đặc sản phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu chuyên biệt.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long tập trung vào xuất khẩu, đồng thời cũng chú trọng đến thị trường nội địa Khu vực này sử dụng khoảng 50% diện tích gieo trồng cho nhóm giống lúa chất lượng cao như gạo trắng, hạt dài, thơm nhẹ hoặc không thơm Giống lúa thơm chiếm khoảng 25%, trong khi giống Nếp và đặc sản địa phương chiếm khoảng 15%, và giống chất lượng trung bình chiếm khoảng 10%.
Vùng Đồng bằng sông Hồng và các khu vực sản xuất lúa hàng hóa khác chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa, sử dụng các giống lúa chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Các giống lúa có chất lượng gạo ngon và giá bán cao chiếm khoảng 60% diện tích gieo trồng, trong khi giống lúa năng suất cao chiếm khoảng 40%.
Tỷ lệ giống lúa lai hiện chiếm khoảng 10% diện tích lúa toàn quốc, với ưu tiên tập trung vào các khu vực cần đảm bảo an ninh lương thực như miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, vùng đất thấp ven biển và các vùng lúa - tôm.
Chuyển đổi cơ cấu giống
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là quá trình cải tiến và thay đổi cơ cấu cây trồng hiện tại sang một cơ cấu mới để đáp ứng nhu cầu sản xuất Thực chất của quá trình này là áp dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và chính sách xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của cơ cấu cây trồng, phù hợp với các mục tiêu của xã hội.
Chuyển đổi cơ cấu giống là quá trình cải tiến cơ cấu giống hiện tại sang một cơ cấu mới, nhằm đáp ứng các yêu cầu về sản xuất và kinh tế Thực chất của việc này bao gồm việc thực hiện đồng bộ các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và chính sách xã hội để thúc đẩy sự phát triển của cơ cấu giống, phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Vai trò của chuyển đổi cơ cấu giống lúa
Cuối thế kỷ XIX, năng suất lúa bình quân cả nước chỉ khoảng 1 tấn/ha, nhưng hiện nay đã đạt 5 – 6 tấn/ha nhờ cải thiện điều kiện sản xuất Sự gia tăng này đến từ việc đầu tư vào công nghệ sản xuất mới, sử dụng giống lúa cao sản, tăng cường phân hóa học và thuốc sát trùng, cùng với các chính sách hợp lý hơn.
Từ năm 1878 đến 1995, nông dân trồng lúa phụ thuộc vào độ màu mỡ tự nhiên của đất và sức lao động của họ, trong khi hạt giống lúa được tự chọn và bảo tồn Các giống lúa truyền thống thường cao cây, dài ngày và có năng suất hạt thấp, đồng thời các giống lúa địa phương cũng không chịu được phân bón tốt.
Nông nghiệp trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chỉ mới phát triển khoảng 300 năm, nhưng đã hình thành một tập đoàn giống lúa đa dạng, giúp thích ứng tốt với các điều kiện tự nhiên phức tạp của khu vực này.
Từ năm 1960 đến 1985, năng suất lúa đã đạt từ 2-2,8 triệu tấn/ha, nhờ vào việc nhập khẩu và sản xuất thử nghiệm giống lúa mới, đặc biệt là giống IR Những giống lúa này đã trở thành yếu tố quan trọng nhất trong việc tăng năng suất và sản lượng lúa Trong giai đoạn này, các giống lúa cao sản, ngắn ngày được nhập từ Viện Lúa Quốc tế đã được sản xuất đại trà, đạt năng suất từ 8-10 tấn/ha Hệ số tăng vụ lúa cũng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong việc tăng vụ và luân canh.
Với năng suất cao và thời gian sinh trưởng ngắn, sản lượng lúa của Việt Nam đã tăng nhanh chóng, giúp nước ta chuyển từ tình trạng phải nhập khẩu lương thực sang vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, chỉ sau Thái Lan Tuy nhiên, nếu không có sự tiến bộ trong giống lúa và áp dụng kỹ thuật mới, chúng ta sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn tới.
Trong sản xuất lúa, việc sử dụng giống lúa chín sớm là cần thiết để tăng vụ và tránh điều kiện bất lợi Bên cạnh đó, cần phát triển những giống lúa có khả năng sống chung với lũ và áp dụng các cây trồng luân xen canh để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Từ 1990 đến 1999, năng suất lúa tại Việt Nam đã tăng từ 3,5 – 4,05 tấn/ha, đạt thêm 1 tấn chỉ trong 15 năm Kể từ năm 1989, Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu gạo bền vững, với khối lượng xuất khẩu liên tục tăng, đạt 6,7 triệu tấn vào năm 2010 và hơn 6 triệu tấn vào năm 2018 Sự phát triển của các giống lúa mới có năng suất cao, cây thấp và thời gian sinh trưởng ngắn đã giúp tăng nhanh diện tích gieo trồng và sản lượng Cơ cấu sử dụng các loại giống lúa cũng trở nên ổn định hơn Để tiếp tục tăng năng suất và sản lượng, Việt Nam cần chú trọng vào kỹ thuật canh tác, công nghệ sản xuất, cũng như mức độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa cao hơn, bên cạnh việc sử dụng giống năng suất cao.
Từ năm 2000, năng suất lúa đã tăng từ 4 lên 5 tấn mỗi hectare, mặc dù diện tích canh tác lúa giảm do quá trình công nghiệp hóa Tuy nhiên, sản lượng lúa vẫn tiếp tục tăng trưởng ổn định.
Bảng 2.1: Diện tích lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 Địa bàn
Việt NamLong AnTânHưng
Bảng 2.2: Sản lượng lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 Địa bàn
Bảng 2.3: Năng suất lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 Địa bàn
Việt NamLong AnTân Hưng
Các lý thuyết liên quan đề tài nghiên cứu
2.4.1 Bản chất của thị trường lúa gạo
Hệ thống tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam rất phức tạp, bao gồm nhiều mắt xích liên kết giữa các đối tác như nông dân sản xuất, người thu gom, cơ sở xay xát, người bán buôn, người bán lẻ và các công ty lương thực quốc doanh.
Kể từ năm 1980, chính sách đổi mới đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của hệ thống lưu thông lúa gạo tự do tại Việt Nam.
Thị trường lúa gạo trong nước đã được giải phóng khỏi các hạn chế, tạo điều kiện cho hệ thống lưu thông và tiêu thụ sản phẩm trở nên tự do hơn Hiện nay, nhiều đơn vị và thành phần kinh tế khác nhau tham gia vào quá trình này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành lúa gạo.
Cấu trúc ngành lúa gạo sẽ được chia thành hai phân khúc thị trường liên kết chặt chẽ với nhau: thị trường mua bán lúa và thị trường mua bán gạo, bao gồm tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Minh, 2015) Đã có nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành lúa gạo khu vực ĐBSCL.
Các nghiên cứu cho thấy thương lái và công ty xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị gạo tại ĐBSCL Các công ty xuất khẩu quyết định giá bán gạo trên thị trường quốc tế, từ đó truyền tín hiệu giá xuống toàn bộ chuỗi giá trị qua thương lái, nhà máy xay xát và môi giới Chỉ một số ít nông dân có mối quan hệ trực tiếp với công ty xuất khẩu, trong khi hơn 90% sản lượng gạo của họ được bán trực tiếp cho thương lái.
Thương lái cũng đóng vai trò quan trọng không chỉ trong khâu mua bán lúa, mà cả trong khâu mua bán gạo.
Nguồ n Nông cung dân cấp Tổ hợp đầu tác vào: Câu
Hình 2.1: Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL, 2010
Nguồn: Tác giả Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011)
Theo OECD (2001), thay đổi công nghệ là yếu tố chính thúc đẩy năng suất và sự phát triển nông nghiệp tại các nước OECD Việc lựa chọn và ứng dụng công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sản xuất, năng suất và thu nhập cho nông hộ Trong nhiều thập kỷ qua, các chính sách liên quan đến nông nghiệp, thương mại, nghiên cứu và phát triển, giáo dục, đào tạo và tư vấn đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lựa chọn công nghệ, trình độ sản xuất nông nghiệp và tình hình thực tế của nông hộ.
Ngày nay, nông hộ, chuyên gia tư vấn và nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với nhiều lựa chọn phức tạp liên quan đến công nghệ hiện có và công nghệ mới Họ cần ứng phó với sự không chắc chắn do ảnh hưởng của công nghệ mới trong chuỗi thực phẩm nông nghiệp, đồng thời xem xét tác động của các chính sách bền vững đối với hệ thống canh tác.
Hệ thống canh tác bền vững là khái niệm liên quan đến khả năng của nông nghiệp trong việc đóng góp vào phúc lợi tổng thể, thông qua việc cung cấp đủ lương thực và hàng hóa Điều này được thực hiện bằng cách tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, đảm bảo lợi nhuận và trách nhiệm xã hội, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường (OECD, 2001).
Công nghệ nông nghiệp bền vững bao gồm tất cả các hệ thống canh tác nhằm đạt được sự bền vững tại địa phương, từ canh tác chuyên sâu đến canh tác cơ bản Nông hộ cần áp dụng công nghệ và quản lý phù hợp với môi trường sinh thái theo quy định của chính sách Không có hệ thống nào được xác định là duy nhất trong lĩnh vực này (OECD, 2001).
Sự đổi mới trong nông nghiệp được hiểu là quá trình mà những nông dân có tay nghề cao và kinh nghiệm chấp nhận và áp dụng công nghệ mới, sau đó lan tỏa đến những nông dân ít kinh nghiệm hơn thông qua việc tích lũy kiến thức trong cộng đồng.
Cuộc cách mạng trong nông nghiệp vùng nhiệt đới đã khởi đầu với sự phát triển của các giống lúa năng suất cao, không đổ ngã và phản ứng tốt với phân bón, giúp nông dân theo kịp năng suất của nông dân vùng ôn đới Việc chọn tạo giống đã chứng minh là phương pháp hiệu quả để cải thiện năng suất lúa, nhưng ban đầu tập trung vào các đặc điểm hình thái của cây Tuy nhiên, với sự phát triển của sâu bệnh và điều kiện môi trường khắc nghiệt, các mục tiêu chọn tạo giống đã mở rộng để bao gồm khả năng thích nghi và kháng sâu bệnh Khi năng suất đã đạt mức ổn định, mục tiêu chọn tạo giống được nâng cao dựa trên cơ sở sinh lý và sinh hóa của cây lúa, nhằm tối ưu hóa tiềm năng năng suất và cải thiện chất lượng hạt gạo.
Các phương pháp cải tiến giống lúa là phục tráng giống, lai tạo, sử dụng lúa ưu thế lai, gây đột biến, cấy mô (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
2.4.4 Sự liên kết và sản xuất
Hiện nay, sản xuất được định nghĩa là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, theo quan điểm phổ biến trên thế giới.
Sản xuất là quá trình chuyển đổi các đầu vào như tài nguyên và yếu tố sản xuất thành sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ đầu ra.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất bao gồm nhiều thành phần tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm phục vụ lợi ích con người Những thành phần này được gọi là yếu tố đầu vào, trong khi sản phẩm cuối cùng được xem là yếu tố đầu ra.
Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động cần thiết để chuyển đổi một sản phẩm hoặc dịch vụ từ ý tưởng đến tay người tiêu dùng, bao gồm các công đoạn sản xuất và dịch vụ liên quan Để tạo ra giá trị tối đa, tất cả các bên tham gia trong chuỗi cần hợp tác, chia sẻ tầm nhìn, chiến lược, cũng như lợi nhuận và rủi ro Mục tiêu của chuỗi giá trị không phải là phục vụ tất cả nhu cầu của người tiêu dùng trên mọi phân khúc thị trường, mà là đáp ứng nhu cầu cụ thể của một nhóm người tiêu dùng nhất định.
Các nghiên cứu trước liên quan
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Cúc (2016) về "Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng mía ở tỉnh Long An" đã xác định bốn nhóm yếu tố chính tác động đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ Các nhóm này bao gồm: điều kiện của hộ, công nghệ và thông tin công nghệ, vốn xã hội, và yếu tố thị trường Từ những phân tích này, tác giả đã đề xuất một mô hình nghiên cứu với 14 biến độc lập có ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng mía của nông hộ tại Long An.
Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thu thập sơ cấp thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn, với 198 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích Phương pháp nghiên cứu kết hợp cả định tính và định lượng, và kết quả được phân tích thông qua thống kê mô tả cùng mô hình hồi quy Binary Logistic.
Kết quả phân tích thống kê mô tả cho thấy hộ chuyển đổi cơ cấu cây trồng chủ yếu vì mong muốn cây trồng mới mang lại lợi nhuận cao hơn, dễ chăm sóc hơn, và có giá cả cũng như đầu ra ổn định hơn từ thương lái Các lý do này bao gồm khả năng tiêu thụ sản phẩm cây trồng mới dễ dàng hơn trên thị trường và điều kiện tự nhiên thuận lợi.
Để phát triển cây trồng mới, cần lựa chọn những yếu tố như đất đai, nguồn nước và thời tiết phù hợp Thời gian thu hoạch ngắn hơn giúp tăng hiệu quả sản xuất, đồng thời tham gia vào phong trào giảm tỷ lệ sử dụng tài nguyên một cách bền vững và hợp lý.
Kết quả hồi quy Binary Logistic cho thấy có 08 nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cây trồng của nông hộ tại tỉnh Long An, bao gồm: dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tiếp cận tín dụng, tham gia cộng đồng nắm giữ công nghệ, trình độ học vấn, lợi nhuận kỳ vọng, quy mô vốn lưu động của hộ, tuổi chủ hộ và quy mô hộ, với mức ý nghĩa thống kê 1% và 10%.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Sáng (2009) tập trung vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tác giả đã áp dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp về khí hậu, đất đai, và kinh tế xã hội, cùng với các kết quả nghiên cứu trước đó Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tiến hành điều tra sản xuất kinh tế hộ nông dân để hiểu rõ hơn về lý do lựa chọn hệ thống trồng trọt của nông dân và xác định hiệu quả kinh tế của các hệ thống sử dụng đất Thông tin sơ cấp được thu thập qua khảo sát trực tiếp 135 hộ nông dân tại 3 xã, bao gồm các yếu tố như diện tích đất, thành phần cơ giới, năng suất cây trồng, giống, chi phí, và nguồn nước, nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan của dữ liệu.
Bài viết đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, bao gồm các yếu tố tự nhiên như đất, nước, khí hậu, các yếu tố sinh vật như cây trồng và vật nuôi, cùng với các yếu tố kinh tế xã hội như cơ chế chính sách, thị trường, dịch vụ, và điều kiện cơ sở hạ tầng Đinh Ngọc Lan (2013) đã áp dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và một số phương pháp phân tích kinh tế lượng để kiểm định giá trị và tính toán hiệu quả kinh tế trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại thành phố Lạng Sơn Nghiên cứu tập trung vào ba xã Mai Pha, Quảng Lạc, và Hoàng Đồng, nhằm phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của hộ gia đình, khả năng tiếp cận thông tin kỹ thuật, và giá cả thị trường.
Nghiên cứu chỉ ra rằng nông dân gặp phải nhiều trở ngại trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bao gồm điều kiện sản xuất khó khăn như thiếu hệ thống thủy lợi, giống chất lượng kém, và thiếu thông tin về đầu vào, đầu ra Họ cũng thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật, trong khi trình độ học vấn còn thấp Mặc dù 82% nông dân cho rằng việc chuyển đổi là cần thiết để tăng thu nhập, quyết định chuyển đổi phụ thuộc vào điều kiện đất đai, nguồn lực gia đình và yếu tố thị trường Thông tin thị trường và lợi nhuận có ảnh hưởng lớn đến quyết định sản xuất và mức độ đầu tư của nông hộ.
Thông tin thị trường đến với nông dân hiện còn hạn chế, chủ yếu qua các kênh không chính thức như bạn bè, láng giềng và lái buôn, trong khi việc tiếp nhận thông tin từ cán bộ khuyến nông chưa được đầy đủ Theo khảo sát, 100% hộ gia đình tham gia đều bán sản phẩm nông nghiệp của mình, và phần lớn giao dịch mua bán diễn ra tại các chợ tự do.
Nghiên cứu của Lê Xuân Thái (2014) về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại tỉnh Vĩnh Long chỉ ra rằng diện tích canh tác, chi phí đầu tư sản xuất và việc tham gia tổ chức địa phương là những yếu tố quan trọng làm tăng thu nhập bình quân của mỗi hộ Các biến độc lập được khảo sát bao gồm số người trong hộ, tuổi chủ hộ, số năm học của lao động, số ngày công lao động gia đình tham gia sản xuất, chi phí sản xuất, doanh thu, lợi nhuận trong năm và nguồn thu nhập của nông hộ.
Một nghiên cứu năm 2016 về “Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân trong hoạt động sản xuất lúa giống cộng đồng huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang” của các tác giả Phạm Ngọc Nhàn, Hồ Hoàng Chinh và Trần Thị Linka cho thấy rằng yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự tham gia của nông dân là Nhận thức xã hội Tiếp theo là Năng lực cá nhân, cùng với Sự chấp thuận của thị trường và người tiêu dùng Ngược lại, các yếu tố như chính sách nhà nước, hoạt động hỗ trợ, và lợi ích cá nhân cũng như xã hội không có ý nghĩa đáng kể.
Mỗi nghiên cứu nông nghiệp tại các địa phương khác nhau đều cho thấy rằng các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng có sự khác biệt, tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia và loại cây trồng Dựa trên lý thuyết và nghiên cứu trước đây, có những yếu tố quan trọng giúp quá trình chuyển đổi cây trồng diễn ra thuận lợi, bao gồm khả năng tiêu thụ, sự phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu và thời tiết, cùng với sự hỗ trợ trong quá trình chuyển đổi.
Mô hình nghiên cứu
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), hồi quy Logistic nhị phân là phương pháp sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng xác suất xảy ra của một sự kiện dựa trên thông tin từ các biến độc lập.
Mô hình hàm Binary Logistic có dạng sau:
Trong công thức P i = E(Y = 1/ X), P i đại diện cho xác suất xảy ra việc quyết định chuyển đổi cây trồng của hộ (Y = 1) khi biến độc lập có giá trị cụ thể là Xi Bằng cách áp dụng phương pháp tuyến tính hóa, mô hình có thể được diễn đạt một cách rõ ràng hơn.
Li là tỷ số giữa xác suất Y = 1 và Y = 0 Dạng tổng quát của mô hình Binary Logistic:
P(Y=0) = 1- P 0 : Xác suất hộ quyết định không chuyển đổi cơ cấu giống; β 0 , β 1 , … , β k : Tham số chưa biết cần được ước lượng;
0 Gọi hệ số Odds quyết định chuyển đổi giống lúa ban đầu, trong đó P0 là xác suất hộ quyết định chuyển đổi ban đầu.
Từ phương trình suy ra: O Giả định rằng các yếu tố khác không đổi, khi tăng Xk chênh lệch hộ quyết định chuyển đổi mới là (O1) là:
Suy ra: O Công thức trên có thể được viết lại như sau:
2.6.2 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Mô hình hồi quy logit như sau:
Y = a0 + b1* TUOI + b2* GIOITINH + b3* HOCVAN + b4* QUYMOHO + b5* QUYMODAT + b6* VONSH + b7* TGTCCTXH + b8* SANCODVHOTROCONGNGHE + b9 * TINDUNG + b10* HTDTSXTT + b11* LOINHUANKYVONG + b 12 * TIEUTHUSP + b 13 * MSX + b 14 * DATDAIKHTT + ε
Từ mô hình hồi quy logit (3.1), quy ước các biến như sau:
Y là biến phụ thuộc (biến dummy) thể hiện quyết định của nông hộ trong việc chuyển đổi sang giống cây trồng khác ở niên vụ năm sau so với năm trước hoặc năm gần nhất Giá trị của Y là 1 nếu nông hộ chọn chuyển đổi giống, và 0 nếu không.
+ a0: Hằng số; b1, b2, …, b14: Hệ số của biến độc lập; ε: Sai số.
+ Các biến độc lập, cụ thể như sau:
Quy mô hộ gia đình
Quy mô đất canh tác
Quy mô sở hữu của hộ gia đình
Tham gia tổ chức chính trị xã hội của địa phương
Nhóm hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển và chuyển đổi
Sự sẵn có về các dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ (công ty, trung tâm khuyến nông …)
Hỗ trợ đầu tư sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm
Lợi nhuận kỳ vọng của giống mới
Tên biến Đất đai, khí hậu, thời tiết
Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống
X4: Quy mô hộ gia đình
X5: Quy mô đất canh tác
X6: Quy mô vốn sở hữu của hộ gia đình
X7: Tham gia tổ chức xã hội của địa phương
X8: Sự sẵn có về các dịch vụ chuyển giao công nghệ
X10: Hỗ trợ đầu tư sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm
X11: Lợi nhuận kỳ vọng của giống mới
X14: Đất đai, khí hậu, thời tiết
Chuyển đổi cơ cấu giống lúa
(Nguồn: Các nghiên cứu trước và đề xuất của tác giả)
2.6.3 Điểm mới của mô hình nghiên cứu
Sự khác biệt của mô hình nghiên cứu đề xuất so với các mô hình nghiên cứu trước ở chỗ:
- Tác giả sử dụng mô hình logit (biến phụ thuộc định tính là chuyển đổi hay không chuyển đổi giống lúa trên đất trồng lúa).
Trong nghiên cứu này, tác giả đã tổng hợp kết quả từ nhiều nghiên cứu trước có tính chất tương tự để xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài.
Nghiên cứu này nổi bật với việc tác giả đưa ra các biến mới, dựa trên quan sát thực tế mà các nghiên cứu trước chưa đề cập, nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu giống lúa tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An Cụ thể, hai biến quan trọng được xem xét là Hỗ trợ đầu tư sản xuất hoặc tiêu thụ và Mùa vụ sản xuất.
- Đề tài này là nghiên cứu mới, hiện chưa nghiên cứu nào thực hiện trên địa bàn huyện Tân Hưng, tỉnh Long An và các tỉnh khác.
Chương 2 tác giả trình bày một số khái niệm, cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài như khái niệm về cơ cấu giống lúa, chuyển đổi giống lúa, vai trò của chuyển đổi; lý thuyết về thay đổi công nghệ, sự cải tiến, chấp nhận công nghệ, yếu tố quyết định mức độ chấp nhận hành vi của nông hộ, sử dụng đầu vào tối ưu và lợi nhuận thu được từ đầu vào Đề tài căn cứ vào các nghiên cứu trước, tác giả tổng hợp đưa ra các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi giống lúa của nông hộ gồm:Nhóm điều kiện của hộ, Nhóm hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển và chuyển đổi,Nhóm yếu tố thị trường, Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên.