1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê tại huyện cư m’gar, tỉnh đắk lắk

105 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nghiên cứu, đề tài đạt được một số kết quả như sau: - Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: Huyện Cư M’gar có tổng diện tích tự nhiên là 82.450,14 ha, trong đó có 69.426,72 ha đất đỏ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÂM VĂN MẠNH

THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR,

TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

HUẾ - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÂM VĂN MẠNH

THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR,

TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số 8850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS HOÀNG THỊ THÁI HÒA

HUẾ - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng dùng bảo vệ để lấy

bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Huế, ngày 19 tháng 5 năm 2020

Tác giả luận văn

Lâm Văn Mạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân, tập thể và cá nhân trong và ngoài ngành Tôi xin

bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

Cô giáo GS.TS Hoàng Thị Thái Hòa người hướng dẫn hết mực, nhiệt tình chỉ dạy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Ban Giám hiệu nhà trường, tập thể lãnh đạo và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế; Khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp; Phòng

Đào tạo và Công tác sinh viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời

gian học tập và viết luận văn tốt nghiệp

Có được những thành quả trong luận văn là được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và cán bộ: UBND huyện Cư M’gar, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao

động - Thương binh xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Cư

M’gar, Chi cục Thống kê huyện Cư M’gar, UBND các xã thuộc địa bàn nghiên cứu đã

cung cấp số liệu cho luận văn, các hộ gia đình chọn phỏng vấn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp cơ quan đã động viên, giúp đỡ

và tạo mọi điều kiện về vật chất lẫn tinh thần để tôi nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Huế, ngày 19 tháng 5 năm 2020

Tác giả luận văn

Lâm Văn Mạnh

Trang 5

TÓM TẮT

Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai còn là

tư liệu không thể thay thể được Do vậy, việc sử dụng hợp lý đất sản xuất nông nghiệp

để đạt được hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường là một trong những vấn đề rất

cấp bách hiện nay Đề tài “Thực trạng và hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê tại

huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk” với mục tiêu nghiên cứu thực trạng và hiệu quả sử

dụng đất trồng cà phê và đề xuất định hướng sử dụng đất hợp lý tại huyện Cư Mgar,

tỉnh Đắk Lăk góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng đất và sản xuất cà

phê của huyện trên địa bàn 15 xã, 02 thị trấn

Để thực hiện, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: thu thập số liệu

sơ cấp, thứ cấp; thống kê, xử lý số liệu Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng hệ thống

các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường Trong

quá trình nghiên cứu, đề tài đã lập phiếu điều tra nông hộ và tổng số hộ được phỏng

vấn là 90 hộ

Qua nghiên cứu, đề tài đạt được một số kết quả như sau:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: Huyện Cư M’gar có tổng diện tích tự

nhiên là 82.450,14 ha, trong đó có 69.426,72 ha đất đỏ vàng, chiếm 84,20% tổng diện

tích đất tự nhiên của huyện; huyện trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối

thuận lợi cho việc phát triển một số cây công nghiệp như cà phê, tiêu, bơ, sầu riêng,

cao su, …Nhiệt độ trung bình năm là 23,430C, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5

đến tháng 9, nguồn lao động dồi dào, người dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất

nông nghiệp và canh tác cây cà phê Tuy nhiên, khí hậu thời tiết trong những năm gần

đây diễn biến bất thường, mùa khô kéo dài hơn, cùng với đó là xu hướng suy giảm

nguồn nước ngầm đã ảnh hưởng đến sản xuất cà phê của người dân trong huyện

- Loại hình sử dụng đất trồng cà phê: có ý nghĩa rất lớn trong đời sống xã hội của người nông dân trên địa bàn huyện Nó không chỉ đảm bảo về hiệu quả kinh tế mà

còn gia tăng lợi ích cho người dân, góp phần xói đói giảm nghèo, tạo thêm công ăn

việc làm Về hiệu quả môi trường, quá trình nghiên cứu cho thấy mức đầu tư phân bón,

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, số lần tưới nước trong năm của người dân cho các loại

hình sử dụng đất cây cà phê tại thời điểm nghiên cứu chưa ảnh hưởng đến môi trường

- Đề xuất: Nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

cà phê hợp lý trên địa bàn huyện đề tài đề xuất các giải pháp đó là tăng cường công tác

quản lý Nhà nước đối với đất trồng cà phê, rà soát tổng hợp diện tích cần tái canh; có các

chính sách tín dụng phù hợp hỗ trợ người trồng cà phê, hỗ trợ đối với các thị trường xuất

khẩu mới, tiềm năng, phát triển thương hiệu sản phẩm mới; tạo điều kiện thuận lợi cho

việc vay vốn trồng cà phê; ưu tiên vốn cho việc mở rộng, nâng cấp công trình thủy lợi; tập

huấn kỹ thuật và hỗ trợ chọn giống cây trồng có chất lượng phục vụ tái canh cà phê

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1

2.1 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 1

2.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

3.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC 2

3.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.1 Khái niệm về đất đai 3

1.1.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 4

1.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 5

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất 7

1.1.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 11

1.2 CƠ SỞ THỰC TẾ 13

1.2.1 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê trên thế giới 13

1.2.2 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê tại Việt Nam và Đắk Lắk 15

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 17

1.3.1 Trên thế giới 17

Trang 7

1.3.2 Ở Việt Nam 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 21

2.3.2 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng đất 22

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê so sánh 26

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 39

3.1.3 Đánh giá chung 42

3.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK 43

3.2.1 Hiện trạng sử dụng và tình hình biến động sử dụng đất trồng cà phê của huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 43

3.2.2 Thực trạng canh tác cà phê tại huyện Cư M’gar 51

3.2.3 Thực trạng canh tác và tái canh cây cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 52

3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK 56

3.3.1 Các loại hình sử dụng đất trồng cà phê 56

3.3.2 Hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê 56

3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ HỢP LÝ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK 74

3.4.1 Cơ sở đề xuất 74

Trang 8

3.4.2 Quan điểm phát triển và sử dụng đất trồng cà phê 75

3.4.3 Đề xuất giải pháp sử dụng đất trồng cà phê hợp lý tại địa phương 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 KẾT LUẬN 79

2 KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 85

Trang 9

GTSX Giá trị sản xuất IRR

ICO IPM

Tỷ suất hoàn vốn nội tại

Tổ chức cà phê thế giới Quản lý dịch hại tổng hợp

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê Việt Nam giai đoạn 2016-2019 15

Bảng 2.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê 24

Bảng 2.2 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa xã hội của các LUT cà phê 25

Bảng 2.3 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa môi trường của các LUT cà phê 26

Bảng 3.1 Thống kê diện tích tự nhiên theo độ dốc huyện Cư M’gar 28

Bảng 3.2 Tổng hợp các loại đất của huyện Cư M’gar 31

Bảng 3.3 Hiện trạng dân số huyện Cư M’gar năm 2019 41

Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Cư M’gar năm 2019 44

Bảng 3.5 Hiện trạng các LUT cà phê huyện Cư M’gar năm 2019 47

Bảng 3.6 Diện tích cà phê tại huyện Cư M’gar phân theo độ tuổi 49

Bảng 3.7 Biến động diện tích cà phê huyện Cư M’gar giai đoạn 2016-2019 49

Bảng 3.8 Hiện trạng sử dụng đất trồng cà phê tại 3 xã điều tra năm 2019 50

Bảng 3.9 Diện tích tái canh cà phê huyện Cư M’gar năm 2016-2019 54

Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế trên 1 ha của cây cà phê tại các tiểu vùng nghiên cứu 57

Bảng 3.11 Đánh giá hiệu quả kinh tế các LUT cà phê tại huyện Cư M’gar 61

Bảng 3.12 Đánh giá hiệu quả xã hội các LUT cà phê tại huyện Cư M’gar 66

Bảng 3.13 Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất trồng cây cà phê 70

Bảng 3.14 Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 72

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ bản đồ hành chính huyện Cư M’gar 27

Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Cư M’gar năm 2019 39

Hình 3.4 Cơ cấu sử dụng đất huyện Cư M’gar năm 2019 44

Hình 3.3 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất trồng cà phê năm 2019 huyện Cư M’gar 46

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đắk Lắk là tỉnh nằm ở trung tâm cao nguyên Trung bộ, nổi tiếng với dải đất đỏ bazan màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như cà phê,

hồ tiêu, cao su,… đặc biệt cây cà phê trở thành thương hiệu của tỉnh Diện tích trồng

cà phê của Đắk Lắk tăng lên hằng năm đưa tổng diện tích trồng cà phê hiện nay lên

203.063 ha và sản lượng bình quân toàn tỉnh đạt 478.083 tấn được phân bổ tất cả các

huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh và chiếm 29,50% diện tích cà phê của cả

nước (Cục thống kê tỉnh Đắk Lắk, năm 2019)

Huyện Cư M’gar nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 18 km về phía Bắc có tổng diện tích tự nhiên là 82.450,14 ha (Phòng Tài nguyên và Môi

trường huyện Cư M’gar, 2019), chiếm 6,28% diện tích đất tự nhiên tỉnh Đắk Lắk Là

huyện có diện tích đất trồng cà phê lớn nhất so với các địa phương khác trong tỉnh

với diện tích hiện có là 37.726 ha và được phân bổ ở tất cả các xã Cà phê đã có

những đóng góp nhất định trong cơ cấu nền nông nghiệp của huyện tạo cho sự phát

triển vượt bậc về giá trị sản xuất và giá trị gia tăng liên tục trong thời gian dài, sản

lượng hàng hóa xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ cao thu nhập và đời sống của dân

cư nông thôn ngày càng được cải thiện

Tuy nhiên, việc gia tăng diện tích trong những năm qua đã gây áp lực trong việc quản lý sử dụng đất và quy hoạch cũng như đảm bảo phát triển bền vững Việc gia

tăng diện tích đã phá vỡ mối cung, cầu gây mất ổn định thị trường làm rớt giá cà phê,

do đó nhiều hộ dân lại phải phá cà phê trồng tiêu và các loại cây trồng khác Để duy trì

phát triển cây cà phê bền vững đồng thời giúp người dân lựa chọn được phương thức

sản xuất phù hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cây cà phê, đáp ứng yêu cầu

phát triền nền nông nghiệp ổn định là việc hết sức quan trọng và cần thiết

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Thực trạng và hiệu quả sử dụng

đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk” được thực hiện

2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Đề xuất được giải pháp sử dụng đất trồng cà phê hợp lý tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

2.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Nêu được thực trạng sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Phân tích được hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

Trang 13

- Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê tại huyện

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các

cơ quan chức năng trong việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch nông

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Khái niệm về đất đai

Theo V.V.Đôcutraiep (1846-1903), đất trên bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: sinh vật,

đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương Sau V.V Đôcutraiep, các nhà thổ nhưỡng

học bổ sung thêm các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để

hoàn chỉnh khái niệm về đất Học giả người Anh, Wiliam lại cho rằng: “Đất là lớp mặt

tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm từ cây trồng” Về vấn đề này C.Mác

viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông

nghiệp”, đất là “điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và sinh sống của loài người”

Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được xem là một nhân tố sinh thái,

bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng sử

dụng đất

Các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của

vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng:

“Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu

thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết,

thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và

khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết

quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” (Trần Thị Minh Châu, 2007)

Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: Khí hậu, lớp đất

bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong

lòng đất Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ

văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to

lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người

Đất đai được xem vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động vì nó là nơi để con người thực hiện

các hoạt động như: xây dựng làm nhà ở, bố trí máy móc, làm đất Bên cạnh đó, đất

đai còn là phương tiện lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã

biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh

vật học và các tính chất khác để tác động vào đất như dùng để gieo trồng, nuôi gia súc,

mặt bằng sản xuất (Phạm Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001)

Theo Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng đất, đất đai được phân loại thành 3 nhóm đất chính: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp,

Trang 15

nhóm đất chưa sử dụng Trong đó, nhóm đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích

sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm

muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng

năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất

rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản; đất làm

muối; đất nông nghiệp khác Đất trồng cây cà phê là đất trồng cây lâu năm thuộc nhóm

đất nông nghiệp

1.1.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Đất là một tài nguyên có hạn và mỗi quốc gia có một quỹ đất khác nhau về tính chất và quy mô Hiện nay diện tích đất nông nghiệp ở nước ta đang bị thu hẹp dần qua

từng năm Tính riêng giai đoạn 2014-2018 giảm hơn 11.451 ha diện tích đất nông

nghiệp, diện tích đất canh tác Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới chỉ khoảng

0,12% Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như: Do quá trình đô thị hóa,

công nghiệp hóa diễn ra quá nhanh Ngoài ra do nhu cầu về sử dụng năng lượng trong

những năm qua đã xuất hiện hàng loạt các công trình thủy điện, hồ tích nước làm ảnh

hưởng đến diện tích đất nông nghiệp đang canh tác, đặc biệt là làm ngập diện tích đất

canh tác ở các thung lũng

Thực trạng sử dụng đất hiện nay đã làm cho đất đai có nguy cơ thoái hóa nghiêm trọng, giảm sức sản xuất của đất đai rất lớn đặc biệt là những vùng đất đai

màu mỡ, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước,

những hiện tượng thiên tai bất thường… Chính vì thế, để đảm bảo cuộc sống của con

người ở hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không

những duy trì khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất của

đất trong tương lai Do vậy khi sử dụng đất phải tiết kiệm đảm bảo tính hiệu quả, tính

bền vững Tại Điều 6, Luật đất đai 2013 có 03 nguyên tắc sử dụng đất: (i) Đúng quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (ii) Tiết kiệm, có hiệu

quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử

dụng đất xung quanh; (iii) Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp

luật có liên quan

Đối với đất nông nghiệp ngoài 03 nguyên tắc trên, khi sử dụng đất cần bổ sung nguyên tắc: đầy đủ, hợp lý, hiệu quả, bền vững và phải có các quan điểm đúng đắn

theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương

để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh tế, xã hội,

môi trường và đảm bảo tính bền vững

- Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý: Sử dụng đầy đủ và hợp

lý đất đai có nghĩa là toàn bộ diện tích được sử dụng hết vào sản xuất và việc bố trí cây

Trang 16

trồng, vật nuôi phải trên cơ sở phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại

đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đồng thời giữ gìn và bảo vệ độ phì

của đất

Việc thực hiện nguyên tắc này là cần thiết vì: quỹ đất nông nghiệp có hạn về diện tích, trong khi đó sức ép về đô thị hóa, công nghiệp hóa, gia tăng dân số, biến

đổi khí hậu cùng với đó là nhu cầu về nông sản ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu

về nông sản phẩm phục vụ xã hội và nâng cao độ phì cho đất thì bên cạnh việc sử

dụng tiết kiệm đất đai, hợp lý, cần phải cải tạo, bồi dưỡng đất và có chế độ canh tác

thích hợp

- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả: đây là kết quả của việc sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng

loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá

sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất, v.v Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện

tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo

an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và

nông lâm sản cho xuất khẩu

- Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững trong sử dụng đất đai có nghĩa là cả về số lượng và chất lượng đất đai phải được

bảo tồn không những đáp ứng được mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà phải

đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất

đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường vì vậy quá trình sử dụng đất phải bảo

đảm hài hoà các phương thức sử dụng đất, gắn liền với bảo vệ môi trường vì lợi ích

trước mắt kết hợp với lợi ích lâu dài (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997)

1.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, trước đây người ta quan niệm hiệu quả chính là kết quả Sau này người ta nhận thấy sự khác nhau giữa hiệu quả và kết

quả Nói chung nhất hiệu quả chính là kết quả mà yêu cầu của công việc mang lại

(Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, 1992)

Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; với những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu

suất là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói

chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian

hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản

xuất ra trong một đơn vị thời gian

Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa

Trang 17

nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết

quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích

hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không

chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản

phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá

hiệu quả

Các nhà kinh tế thường phân loại hiệu quả theo các tiêu thức sau đây:

- Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng

- Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm: hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế

đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới

Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách,

các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người

trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Đào Châu Thu, 1999)

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của vùng, từ đó nghiên cứu áp dụng các biện

pháp thâm canh nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp có tính cạnh tranh cao Đó là một

trong những điều tiên quyết để phát triển được một nền nông nghiệp có tính ổn định và

bền vững

Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một khía cạnh nào đó mà phải đánh giá xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: Hiệu

quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về mặt môi trường

- Hiệu quả về kinh tế:

Hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí kinh tế đã bỏ ra để đạt được kết quả đó

trên một đơn vị diện tích nông nghiệp được sử dụng trong một thời kỳ nhất định

Hiệu quả kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như giá trị tổng sản phẩm;

thu nhập và thu nhập thuần trên một đơn vị diện tích gieo trồng hoặc canh tác; tỷ suất

Trang 18

đồng vốn (tỷ lệ lãi/chi phí); giá trị ngày công lao động… Và để có được chỉ tiêu này,

nhất thiết phải điều tra, xác định xuất đầu tư của từng loại sử dụng trên một đơn vị

diện tích tương ứng, cụ thể là: tổng chi chí (chi phí vật chất; chi phí lao động và chi

phí khác)

- Hiệu quả xã hội:

Hiệu quả xã hội được xác định bằng khả năng cung cấp nông sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng, cho công nghiệp chế biến, yêu cầu sử dụng lao động trên một đơn vị

diện tích canh tác cũng như khả năng giải quyết việc làm của mỗi loại hình sử dụng

đất đai Căn cứ vào yêu cầu sử dụng lao động của các loại sử dụng đất ở từng vùng

lãnh thổ, người ta tính toán, cân đối được lực lượng lao động cần thiết trong sản xuất

nông, lâm, ngư nghiệp, qua đó bố trí lao động cho khu vực ngành nghề, dịch vụ và

cuối cùng cân đối được về nhu cầu sử dụng lao động cũng như khả năng cung ứng lao

động cho các khu vực, ngành nghề khác

- Hiệu quả môi trường:

Hiệu quả về môi trường của các loại hình sử dụng đất được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: mức độ ô nhiễm đất và nước do sử dụng thuốc hóa học phòng trừ

dịch bệnh, bón quá nhiều một loại phân hóa học gây phú dưỡng nguồn nước, lượng đất

mất do xói mòn, rửa trôi qua quá trình canh tác…

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất

1.1.4.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

Với bất kỳ hoạt động sản xuất nào đều phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp thì sự tác động của yếu tố tự nhiên lại càng mạnh mẽ,

đây là nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, quyết định đến

hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất

Điều kiện tự nhiên bao gồm khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước Chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông

nghiệp, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất Do vậy, cần đánh giá

đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định loại hình sử dụng đất cho phù hợp

đồng thời định hướng được đầu tư thâm canh

- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông nghiệp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất lượng

đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến

Trang 19

- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: Điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì của đất có ảnh hưởng đến sinh

trưởng phát triển và năng suất cây trồng, vật nuôi

- Vị trí địa lý: Vị trí địa lý của từng vùng quy định về điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, giao thông, giao lưu hàng hóa của vùng đó… Vì vậy, để

đạt được hiệu quả tốt nhất trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cần nắm rõ và tuân

thủ các quy luật của vị trí địa lý, tận dụng được những lợi thế có sẵn của vùng

- Điều kiện khí hậu: Các yếu tố khí hậu bao gồm tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và

điều kiện sinh hoạt của con người Ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển

của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ

ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của

cây trồng và vật nuôi

Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch Theo N

Borlang – người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho

rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới của

các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của đất Và sản

xuất nông nghiệp được coi là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt trời dựa trên

các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác

Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi đồng thời lợi dụng được những mặt có

lợi của các nhân tố tự nhiên sẽ mang lại hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

1.1.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, tổ chức

Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu

cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng,

phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo

tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp hàng hoá Đó là cơ sở để phát triển hệ

thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều

kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện

đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp và phát triển

sản xuất hàng hoá

Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần

phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ

thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp, giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản

Trang 20

xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá Nhóm yếu tố hình thức tổ chức có tác

động lớn đến tiêu thụ hàng hoá của nông hộ, cụ thể là việc tổ chức dịch vụ đầu vào

và đầu ra cho sản phẩm

Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản

xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng

nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm

1.1.4.3 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: các yếu tố về chế độ xã hội; cơ sở hạ tầng; dân

số và lao động; thông tin và chính sách; trình độ dân trí; yêu cầu quốc phòng - an ninh;

sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hóa; cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất;

các điều kiện phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mai; sự phát triển của khoa học

kỹ thuật; trình độ quản lý sử dụng lao động; điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác

phát triển nguồn nhân lực, … Các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết

quả và hiệu quả sử dụng đất

Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp: Trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc

trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ, những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các

yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ nông nghiệp đều có sự ảnh

hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất Trong đó, thuỷ lợi là yếu tố không thể

thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp

hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu chịu sự ảnh

hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn, thị

trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản

Thị trường là nhân tố quan trọng vì dựa vào nhân tố này người sản xuất lựa chọn được một trong những loại hình sử dụng đất thích hợp để sản xuất Theo Nguyễn

Duy Tính (1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

là năng suất cây trồng, hệ số sử dụng đất và thị trường cung ứng đầu vào, tiêu thụ đầu

ra Trong cơ chế thị trường các nông hộ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để

sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ…có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hóa của nông dân Chính sách đất đai nước ta thể hiện thông qua

Hiến pháp, hệ thống đất đai qua các kỳ, hệ thống các văn bản dưới luật có liên quan

đến khai thác và sử dụng đất được quy định một cách thích hợp cho những đối tượng,

Trang 21

những vùng khác nhau; các chính sách đất đai hiện nay đã khuyến khích người nông

dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất

hàng hoá một cách có hiệu quả Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật

công nhận quyền sử dụng ổn định đối với đất đai thông qua nhiều hình thức khác nhau

Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nó làm cho

người dân yên tâm đầu tư vào đất sử dụng đất một cách chủ động và hiệu quả, phát

huy được lợi thế so sánh của từng vùng - miền

Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của nước ta Cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp,

trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản xuất

nông nghiệp hàng hoá

Trong quá trình nông nghiệp chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hoá hội nhập quốc tế thì nguồn động lực quan trọng trước hết vẫn là những lợi ích chính đáng của

nông dân được bảo vệ bằng các chính sách đã ban hành, đồng thời tiếp tục hoàn thiện,

xây dựng các chính sách mới (Lê Khả Phiêu, 1998)

1.1.4.4 Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng

các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục

tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Theo Frank Ellis và

Douglass C North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống

mới, thuỷ lợi, phân bón có hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử

dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất

cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất Cho

đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến

30% của năng suất kinh tế (Đường Hồng Dật, 1994).Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ

thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và

nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Khoa học - công nghệ: là một nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển từ nền nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa Một nhân tố quan trọng

đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp Đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có

thể hướng vào việc tiết kiệm nguồn nhân lực, phát triển công nghệ mà ở đó đòi hỏi

mức đầu tư thấp, ít sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất nhưng mang lại hiệu quả

cao, nâng cao được chất lượng sản phẩm và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học Công

nghệ được áp dụng trong sản xuất có tính quyết định đến nguồn lực sử dụng trong

nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Đôi khi cùng chủng loại và số

lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay

đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế (Lê Huy Bá và cs, 2009)

Trang 22

1.1.4.5 Nhóm nhân tố về vốn

Vốn là nhân tố quan trọng và cần thiết để người sản xuất đầu tư thâm canh nông nghiệp Nếu thiếu vốn hiệu quả kinh tế sử dụng đất sẽ không đạt được tốt nhất Vì vậy,

vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất

Tóm lại, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thường quan tâm quá mức đến hiệu

quả kinh tế luôn chi phối quá trình sử dụng và hiệu quả đất nông nghiệp Hiện nay,

dưới sức ép của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đất đai nhìn chung đang bị khai

thác một cách quá mức, vượt qua khả năng mang tải của đất, làm cho chất lượng và số

lượng của đất nông nghiệp bị giảm sút Do đó, cần dựa vào quy luật tự nhiên và quy

luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã

hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong sử

dụng đất nông nghiệp Cần căn cứ vào yêu cầu của thị trường của xã hội để xác định

hướng sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài

nguyên của đất đai nhằm đạt tới cơ cấu hợp lý nhất với diện tích đất nông nghiệp có

hạn, mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cũng như hiệu quả về môi trường,

đồng thời nên có chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng đất nông nghiệp

(Nguyễn Đình Bồng, 2005)

1.1.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

1.1.5.1 Hiệu quả kinh tế

- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp, được đánh giá dựa trên

các chỉ tiêu như sau:

+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm) Đối với cây nông nghiệp ngắn ngày

và dài ngày được tính bằng sản lượng nhân với giá bán

+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê, mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng

trong quá trình sản xuất

+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,

là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT = GTSX – CPTG

- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,

GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các

chi phí biến đổi và thu dịch vụ

- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng

đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

Trang 23

- Chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các

chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng nhỏ

1.1.5.2 Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là so sánh mối tương quan giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với

nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất Hiệu quả xã hội phản

ánh những khía cạnh và mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề

việc làm, xói đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội

Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Thu hút được nhiều lao

động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng

lợi ích của người nông dân Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội

của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đang được nhiều nhà khoa học đặc biệt

quan tâm

Theo Hội khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;

+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;

+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;

+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật;

+ Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu

1.1.5.3 Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh

thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học

biểu hiện qua thành phần loài (Nguyễn Văn Bộ và Bùi Huy Hiền, 2001)

Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả

hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999)

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng và tác động của các hóa chất trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng

phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh

trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường

Trang 24

Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua, mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng trong mối tương tác với các đối tượng sinh học có lợi và

có hại khác nhằm đảm bảo tính đa dạng mà vẫn đạt được yêu cầu đặt ra

Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt

được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí năng lượng đầu vào

Theo Đỗ Nguyên Hải (1999), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong

quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:

+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;

+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;

+ Đánh giá quản lý đất đai;

+ Đánh giá hệ thống cây trồng;

+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ

cây trồng;

+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;

+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiển sử dụng đất

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp

là rất phức tạp, rất khó định lượng nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời

gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả

môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của cây trồng đối với đất đai hiện tại,

thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, số lần tưới

nước trong năm và kết quả phỏng vấn nông hộ về nhận xét của họ đối với các loại hình

sử dụng đất hiện tại

1.2 CƠ SỞ THỰC TẾ

1.2.1 Tì nh hì nh sử dụng đất trồng cà phê trên thế giới

Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị cao trên thế giới, với diện tích trên 10 triệu ha Trong nhiều năm qua, cây cà phê đã đóng góp không nhỏ đến sự phát

triển kinh tế - xã hội của các nước trồng cà phê Theo số liệu của Tổ chức cà phê thế giới

(ICO), hiện nay có 54 nước sản xuất cà phê, tập trung chủ yếu vào các khu vực là Châu

Mỹ, Châu Phi và Châu Á-Thái Bình Dương Tuy nhiên sản lượng cà phê của thế giới qua

các năm cũng không ổn định, nguyên nhân chủ yếu là do nhiều các yếu tố như biến đổi

khí hậu, hạn hán, bị bệnh, già cỗi, phải tiến hành tái canh,… nhưng nhìn chung sản lượng

cà phê trên thế giới vẫn theo chiều hướng ngày càng tăng

Trang 25

Hiện nay, có 10 nước hiện đang đứng đầu về sản lượng cà phê của thế giới theo thứ tự là Brazil, Việt Nam, Comlombia, Indonesia, Ethiopia, Ấn Độ, Honduras,

Uganda, Guatemala và Peru

Brazil là quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới với diện tích 2,3 triệu ha, trong đó có 80% là cà phê chè (ICO, 2016) Qua 5 niên vụ cà phê gần đây cho thấy

Brazil vẫn là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng cà phê Riêng sản lượng cà phê

của Brazil từ niên vụ 2011-2012 đến niên vụ 2015-2016 chiếm từ 34,18% đến 38,81%

tổng sản lượng cà phê của thế giới Brazil là nước xuất khẩu cà phê số một thế giới

nhưng cũng chủ yếu là xuất khẩu thô, nhưng giá cà phê nhân của Brazil luôn cao hơn

Việt Nam do chất lượng tốt hơn (Đỗ Thị Nga, 2012)

Colombia là nước có sản lượng cà phê đứng thứ 3 thế giới, với diện tích gần 1 triệu ha Sản lượng cà phê của Colombia từ niên vụ 2010-2011 đến niên vụ 2014-2015

chiếm từ 5,32% đến 8,34% tổng sản lượng cà phê của thế giới Trong 3 niên vụ gần

đây sản lượng cà phê của Colombia liên tục tăng Colombia là một quốc gia điển hình

về phát triển sản xuất cà phê bền vững Chiến lược về phát triển bền vững ngành cà

phê được vạch ra trong kế hoạch phát triển quốc gia và được công nhận ở cả ba khía

cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó khả năng sinh lợi về kinh tế là nền tảng

cho sự bền vững về môi trường và xã hội Theo ICO, các nước nhập khẩu cà phê lớn

của Colombia là Mỹ, Đức, Nhật, Ý và các nước châu Âu khác Cà phê xuất khẩu của

Colombia luôn giữ mức giá cao nhất so với các nước sản xuất cà phê trên thế giới nhờ

chất lượng và uy tín sản xuất cà phê của quốc gia

Indonesia là nước có sản lượng cà phê lớn thứ 4 trên thế giới với diện tích khoảng 1,2 triệu ha Qua 5 niên vụ cà phê gần đây cho thấy Indonesia cũng là quốc gia

luôn nằm trong danh sách 4 quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng cà phê Sản lượng

cà phê của Indonesia giảm trong những năm gần đây vì nhiều lý do nhưng nguyên

nhân chủ yếu là Indonesia đang phải trồng tái canh cà phê trên diện rộng do ảnh hưởng

của tuyến trùng gây bệnh Mặc dù vậy, sản lượng cà phê của Indonesia từ niên vụ

2011-2012 đến niên vụ 2015-2016 cũng chiếm từ 5,77% đến 6,78% tổng sản lượng cà

phê của thế giới Năng suất cà phê của Indonesia thấp hơn Việt Nam rất nhiều (chỉ đạt

trung bình khoảng 700-800 kg/ha nhưng giá cà phê vối của Indonesia luôn cao hơn

Việt Nam do Indonesia có những vùng chuyên trồng cà phê theo phương pháp hữu cơ,

được thị trường thế giới ưa chuộng vì bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Sản xuất cà

phê của Indonesia được phân bố ở các trang trại quy mô lớn và các nông hộ có diện

tích bình quân từ 2 đến 3 ha, gấp hơn 2 lần so với Việt Nam Hiện nay, uy tín và sức

cạnh tranh của cà phê Indonesia trên thị trường thế giới ngày càng được khẳng định,

đặc biệt ở các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản Để tăng năng lực

cạnh tranh của ngành cà phê, Indonesia đã và đang tập trung vào các chiến lược dài

hạn nhằm tăng chất lượng, giá trị gia tăng và giá trị xuất khẩu cho cà phê

Trang 26

Ngoài ra, các nước còn lại như Gabon, Nepal, Ethiopia, Ấn Độ, Honduras,

Uganda, Guatemala,… cũng có sản lượng cà phê đạt từ 60 tấn đến 402.000 tấn

1.2.2 Tì nh hì nh sử dụng đất trồng cà phê tại Việt Nam và Đắk Lắk

1.2.2.1 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê tại Việt Nam

Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố thì: Tổng diện tích tự nhiên nước ta là 33.123.597 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 27.289.454 ha,

chiếm 82,38% tổng diện tích tự nhiên cả nước, trong đó đất có khả năng cho sản xuất

nông nghiệp chỉ 11.508.010 ha

Do sự phân hoá về điều kiện tự nhiên nên Việt Nam trồng được nhiều loại cà phê đó là cà phê vối, cà phê chè, cà phê mít,…nhưng có hai loại chính đó là cà phê vối

và cà phê chè Riêng diện tích cà phê vối chiếm tới hơn 95% tổng diện tích trồng cà

phê của cả nước Cà phê vối được trồng chủ yếu tại các tỉnh Tây Nguyên như các tỉnh

Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng

Tàu,… cà phê chè trồng chủ yếu ở Lâm Đồng, Sơn La, Điện Biên, Còn cà phê mít

được trồng rãi rác tại một số tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên (Nguyễn Văn Thái, 2012)

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cà phê được trồng tại 19 tỉnh trên địa bàn

cả nước, với tổng diện tích là 688.400 ha Trong đó Đắk Lắk là tỉnh trồng cà phê nhiều

nhất với diện tích 203.063 ha, chiếm 29,50% tổng diện tích cà phê cả nước Tiếp đó

theo thứ tự là các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai, Đồng Nai, Bình Phước, Kon

Tum, Sơn La, Bà Rịa - Vũng Tàu Các tỉnh còn lại có trồng cà phê nhưng diện tích

Sản lượng (tấn)

“Nguồn: Tổng cục Thống kê từ năm 2016-2019”

Trong những năm gần đây, diện tích trồng cà phê cả nước ngày càng tăng, năng suất và sản lượng có biến động nhẹ nguyên nhân là do các yếu tố như khí hậu thời tiết,

cà phê già cỗi, sâu bệnh Năm 2016 diện tích cà phê là 650.600 ha, với tổng sản lượng

1.460.800 tấn và đến năm 2019 đã có 688.300 ha, với tổng sản lượng 1.657.000 tấn

Trang 27

(Tổng cục Thống kê từ năm 2016 đến năm 2019) Như vậy, từ năm 2016 đến năm

2019, diện tích cà phê cả nước đã tăng lên 37.700 ha, trung bình mỗi năm tăng 9.425

ha Sự gia tăng nhanh chóng diện tích cà phê trong những năm qua đã khẳng định

được lợi thế về điều kiện tự nhiên và lợi thế về kinh tế đối với loại cây trồng này

Theo Đỗ Thị Nga (2012), Việt Nam có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lợi thế

về văn hóa để phát triển ngành cà phê, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên So với các

nước sản xuất cà phê hàng đầu khác trên thế giới, năng suất cà phê của Việt Nam là

cao nhất (Colombia đạt 1.220 kg/ha, Brazil đạt 1.000 kg/ha, Indonesia đạt 792 kg/ha)

So với một số nước cho thấy Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn về năng suất

Năng suất cà phê vối của Việt Nam cao gấp hơn 2 lần so với Ấn Độ và gần gấp 3 lần

so với Indonesia Hai lý do dẫn đến cà phê vối của Việt Nam đạt năng suất cao, đó là

ưu thế nổi trội về điều kiện tự nhiên (đất đai, địa hình, khí hậu) và thâm canh cao dựa

vào đầu tư phân bón Cục Trồng trọt (2014a), cũng đã khẳng định vùng Tây Nguyên

hội đủ các điều kiện xây dựng những vùng chuyên canh cà phê năng suất, chất lượng

cao Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy cà phê được trồng ở các tỉnh

thuộc vùng Tây Nguyên hầu hết cho năng suất cao hơn năng suất bình quân chung của

cả nước

Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm là để đạt mức năng suất cao, người dân đã tập trung đầu tư phân bón và nước tưới quá mức Kết quả nghiên cứu của Viện

Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, chi phí phân bón của nông

dân trồng cà phê tại các vùng chuyên canh tập trung ở Việt Nam cao hơn quy trình

khuyến cáo từ 10-23% (Lê Ngọc Báu, 2007) Phương thức canh tác không hợp lý là

những nguyên nhân ảnh hưởng đến suy thoái nhanh vườn cà phê đang kinh doanh

Đó cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng suy kiệt đất đai, ảnh hưởng đến sử dụng

đất cà phê bền vững (Cục Trồng trọt, 2014b) Thực tế cho thấy trong thời gian qua

nhiều địa phương phát triển diện tích cà phê ồ ạt, không theo qui hoạch, kế hoạch

Nghiêm trọng hơn là phần lớn diện tích cà phê mới phát triển sau này đều được

trồng ở những vùng không có, hoặc thiếu nguồn nước tưới, đất trồng cà phê không

đủ tiêu chuẩn (nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng, đất dốc), vi phạm các quy trình

kỹ thuật trồng, chăm sóc ngay từ khâu khai hoang, làm đất, cây trồng xen che

phủ,…Việc tăng nhanh diện tích cà phê này không những không mang lại hiệu quả

kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến tài nguyên môi trường

1.2.2.2 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê tại Đắk Lắk

Đắk Lắk có tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.303.049,5 ha trong đó đất nông nghiệp: 1.151.481,23 ha chiếm 88,37% diện tích đất tự nhiên (Niên giám thống

kê tỉnh Đắk Lắk năm 2019) Hiện nay tỉnh có 15 đơn vị hành chính cấp huyện thì tất

cả đều có trồng cà phê Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 28

tỉnh Đắk Lắk có đến 85% diện tích cà phê trên địa bàn tỉnh là của nông hộ, còn lại

15% của các doanh nghiệp sản xuất cà phê

Cây cà phê có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk Theo Cục thống kê tỉnh Đắk Lắk, Niên giám thống kê tỉnh Đắk lắk (2019)

tỉnh Đắk Lắk có 203.063 ha cà phê; trong đó: có 187.940 ha cà phê cho thu hoạch và

15.123 ha cà phê là mới trồng tái canh đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.3.1 Trên thế giới

Theo Raju et al (1982), trên thế giới cà phê được trồng trên nhiều loại đất khác

nhau như đất phát triển trên phiến sét, đá vôi, bazan, diệp thạch, gơnai, granit,… trong

đó đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan được xem là thích hợp nhất Những nước có

diện tích cà phê trên đất đỏ bazan nhiều là Indonesia, Costa Rica, Ethiopia, Colombia,

Nicaragoa, Philippines, Việt Nam

Nghiên cứu của Wrigley (1986), tưới nước đã làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón dẫn đến năng suất cà phê tăng đáng kể Tổng kết của Ấn Độ cho thấy áp dụng kỹ

thuật tưới phun mưa đã có tác dụng cải thiện được điều kiện dinh dưỡng trong cây, giúp

quả chín tập trung, chiều dài cành tăng gấp đôi và năng suất tăng từ 85-95% so với vườn

không được tưới (Naidu, 2000) Kumar (1982), khuyến nghị các vườn cà phê ở Kenya

cần bổ sung khi lượng nước thiếu hụt lên đến 150 mm và lượng nước tưới là 100 mm

cộng thêm từ 5-15 mm do tổn thất vì sự bốc hơi trong quá trình tưới phun mưa Tại

Zimbabwe cây cà phê được tưới với lượng nước từ 50 - 65 mm, chu kỳ tưới là 2-3 tuần

(Mitchell, 1998)

Theo Krisnamurthy and Ramaiah (1985) và Ramaiah (1985), đất trồng cà phê

Ấn Độ gồm đất phát triển trên đá diệp thạch, gơnai, granit và một số loại đất khác có

thành phần cơ giới từ sét pha đến sét nặng Kết cấu đất và độ dày tầng đất có tầm quan

trọng rất lớn vì cây cà phê có năng lực phát triển bộ rễ rất mạnh Ở Brazil, tại những

vùng đất có độ màu mỡ dưới trung bình, nhưng có lý tính đặc biệt, đã tạo điều kiện

cho rễ của cây cà phê phát triển mạnh Ở những vùng đất chặt, bí hoặc nông, rễ cọc bị

ngắn, các rễ khác chỉ lan rộng ở tầng đất mặt và không sâu quá 30 cm

Đất thích hợp để trồng cà phê là đất có độ dày tầng đất mịn sâu (thích hợp là >

100 cm, không thích hợp ở những đất < 50 cm), hơi chua, tơi xốp, khả năng thấm,

thoát nước tốt, đất có thành phần cơ giới từ thịt pha sét tới sét, có hàm lượng mùn từ

khá trở lên Hệ thống rễ của cây cà phê có nhu cầu oxy cao, vì vậy ở những loại đất có

thành phần cơ giới sét nặng và những nơi thoát nước kém thì cần hạn chế trồng cà phê

(Sys et al., 1993)

Trang 29

Nghiên cứu của Wallis (1960) cho thấy vỏ cà phê là nguyên liệu tốt để tủ gốc ở những nơi gần nhà máy chế biến Rơm rạ, thân cây ngô, lá chuối hay các tàn dư thực

vật cũng có thể dùng để tủ gốc Trên vườn cà phê kinh doanh nên tủ xen kẽ giữa các

hàng cà phê (một hàng tủ, một hàng không tủ và ngược lại trong năm kế tiếp) để tránh

tác động bất lợi đối với đất

1.3.2 Ở Việt Nam

Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau vì yêu cầu cơ bản của đất trồng cà phê là có tầng sâu từ 70 cm trở lên, có độ thoát nước tốt (không bị úng, lầy)

Thực tế ở Việt Nam cho thấy các vùng đất bazan, granit, sa phiến thạch, phù sa cổ,

gơnai, đá vôi, dốc tụ, đều trồng được cà phê

Theo Vũ Cao Thái (1989), các cao nguyên đất bazan thuộc vùng Tây Nguyên nước ta có tầng đất dày, kết cấu tốt, tơi xốp, độ phì cao nên cây cà phê nơi đây sinh trưởng,

phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn những nơi khác, do vậy người

ta mệnh danh chúng là “thiên đường” của cây cà phê

So với nhiều loại đất trồng khác nhau, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng trong đất bazan thường không cao, đặc biệt là lân và kali dễ tiêu thấp, nhưng đất

bazan có chứa hàm lượng các nguyên tố vi lượng như Bo, Fe, Zn, Cu,… khá phong

phú rất cần cho cây cà phê để tạo ra chất lượng cao (Hoàng Thanh Tiệm và cs., 1999)

Đứng sau đất bazan là loại đất đỏ phún xuất khác như đất phát triển trên đá pocfia

cũng thích hợp cho việc trồng cà phê Đất phát triển trên đá pocfia thường chặt,

không tơi xốp bằng đất đỏ bazan, khả năng giữ nước kém hơn, nhưng nếu có các

biện pháp canh tác thích hợp thì cây cà phê vẫn có khả năng sinh trưởng tốt và cho

năng suất cao Một số loại đất khác như đất phát triển trên diệp thạch, diệp thạch

mica, diệp thạch vôi,… tuy không có tính chất vật lý, lý tưởng như đất đỏ phát triển

trên đá bazan hoặc đất phát triển trên đá pocfia nhưng vẫn có thể trồng cà phê được

(Hoàng Thanh Tiệm và cs., 1999)

Theo Đoàn Triệu Nhạn (1990), cây cà phê có thể được trồng trên các loại đất hình thành trên các loại đá mẹ khác nhau: đất phát triển trên đá bazan, gơnai, granit,

phiến sét, đá vôi, dung nham và tro núi lửa,… Điểm cốt yếu của những loại đất này là

phải có tầng đất dày, kết cấu tốt, tơi xốp, thoáng và đủ ẩm Đất trồng cà phê có thể có

nguồn gốc địa chất khác nhau

Theo kết quả phân loại đất vùng Tây Nguyên có 13 nhóm đất chính, với 55 loại đất phân bố xen kẻ, rải rác khắp các tỉnh Trong 13 nhóm đất ở vùng Tây Nguyên thì

nhóm đất đỏ có 1.349.112 ha, chiếm 24,69% diện tích tự nhiên của vùng Nhóm đất đỏ

chủ yếu là các loại đất được hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá bazan vốn

được coi là các loại đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế

cao như cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, dâu tằm, Diện tích các loại đất đỏ thích hợp cho

Trang 30

phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả khoảng 730.000 ha, tập trung chủ

yếu ở các cao nguyên Buôn Ma Thuột, Đắk Nông, Pleiku, Kon Hà Nừng, Di Linh-Bảo

Lộc (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2000)

Theo Nguyễn Thế Đặng và cs (2003), đất đỏ có tổng diện tích 3.014.954 ha, chủ yếu đất vùng đồi núi, chiếm gần 10% diện tích tự nhiên toàn quốc Tây Nguyên

có quỹ đất đỏ bazan lớn nhất nước với diện tích khoảng 1,4 triệu ha Đây là loại đất

thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, tiêu, điều,…

Theo Nguyễn Văn Toàn (2005), đất đỏ bazan hiện đang trồng cà phê ở Tây Nguyên có 405.284 ha, chiếm 26,2% tổng quỹ đất bazan và chiếm 92,6% tổng diện

tích cà phê toàn vùng, phân bố tập trung ở các tỉnh Đắk Lắk 157.814 ha, Lâm Đồng

106.935 ha, Gia Lai 76.058 ha, Đắk Nông 64.406 ha và Kon Tum 71 ha Hầu hết cà

phê ở các tỉnh này đều được trồng trên đất đỏ (Ferralsols-FR) 396.336 ha, chiếm

97,8%; trên đất đen (Luvisols-LV) có 8.468 ha và rải rác ở đất nâu thẫm

(Phaeozems-PH) 480 ha Như vậy, xét về điều kiện đất (độ dốc, tầng dày) về cơ bản đất đang trồng

cà phê là hợp lý

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2013), ở nước ta đất đỏ bazan là loại đất rất thích hợp để trồng cà phê Loại đất này có nhiều nhất ở vùng Tây

Nguyên khoảng 1,4 triệu ha, sau đó là miền Đông Nam bộ 0,7 triệu ha, ngoài ra còn ở

vùng Phủ Quỳ (Nghệ An), Hưng Hóa (Quảng Trị) và một phần vùng núi phía Bắc Ở

những vùng này ngoài đất đai tốt thì điều kiện khí hậu cũng thích hợp, là vùng trồng cà

phê chủ yếu của nước ta, năng suất và chất lượng cao

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hóa (2014) cho thấy thu nhập cà phê trong niên vụ 2010/2011 của tỉnh Đắk Lắk cho thu nhập hỗn hợp (MI) đạt 74,57 triệu đồng/ha, lợi

nhuận kinh tế đạt 64,76 triệu đồng/ha, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí là 1,08 lần (108%),

lợi nhuận kinh tế trên một tấn cà phê nhân đạt 24,67 triệu đồng

Theo Phạm Thế Trịnh (2014), cũng đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sử dụng đất trồng cà phê trên địa bàn huyện Krông Năng của tỉnh Đắk Lắk cho thấy đối với các

vườn trồng cà phê thuần lợi nhuận trung bình từ 37,34 triệu đồng/ha/năm đến 99,91

triệu đồng/ha/năm Cụ thể là với năng suất cà phê đạt 4,3 tấn nhân/ha sẽ cho lợi nhuận

đạt 99,91 triệu đồng/ha/năm, nếu năng suất cà phê đạt 3,05 tấn nhân/ha sẽ cho lợi

nhuận đạt 69,80 triệu đồng/ha/năm, còn nếu năng suất cà phê đạt 1,85 tấn nhân/ha thì

lợi nhuận đạt 37,34 triệu đồng/ha/năm Đặc biệt là mô hình cà phê trồng xen mắc ca

năm thứ 9 cho lợi nhuận 294,47 triệu đồng/ha/năm Nghiên cứu cũng đã xác định được

khả năng thích hợp về điều kiện khí hậu và tính chất đất đỏ bazan đối với việc trồng cà

phê xen mắc ca

Theo tính toán của Cục Trồng Trọt (2014a), tính về giá trị, cà phê không thua kém mặt hàng nông sản chủ lực nào của Việt Nam, thậm chí còn có giá trị gia tăng lớn

hơn cả lúa gạo hay thủy sản

Trang 31

Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên năm 2016 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cho thấy cà phê trồng thuần với năng suất

4,2 tấn nhân/ha cho lợi nhuận 102 triệu đồng/ha/năm

Tóm lại, cây cà phê có thể được trồng trên nhiều vùng đất hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau: đất phát triển trên đá bazan, gơnai, granit, phiến sét, đá

vôi và tro núi lửa Trong đó đất phát triển trên đá bazan được coi là loại đất lý tưởng

nhất để trồng cà phê do không những có tầng đất dày mà còn có các tính chất vật lý,

hóa học thích hợp với yêu cầu của cây cà phê Tuy vậy, dù trồng ở trên loại đất nào

thì vai trò của con người cũng có tính quyết định trong việc duy trì, bảo vệ nâng cao

độ phì nhiêu của đất Đất bazan là một trong những loại đất lý tưởng để trồng cà phê,

vì các đặc điểm lý hóa tính tốt và tầng dày của loại đất này Tuy vậy, ngay cả trên đất

bazan, nếu cà phê không được chăm sóc tốt vẫn dẫn tới hiện tượng cây mọc còi cọc,

năng suất thấp Ngược lại ở những nơi không phải là đất bazan nếu đảm bảo được đủ

lượng phân hữu cơ, vô cơ, giải quyết tốt cây đậu đỗ, phân xanh trồng xen, tủ gốc tốt

cùng các biện pháp thâm canh tổng hợp khác như tưới nước vẫn có khả năng tạo nên

các vườn cà phê có năng suất cao

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Các hộ gia đình, cá nhân trồng cà phê

- Các chính sách và văn bản pháp lý liên quan đến phát triển cây cà phê tại Việt Nam

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Số liệu được thu thập, tổng hợp đánh giá từ năm 2016-2019

- Không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại 03 xã: Cư Dilê Mnông, Ea M’nang và Ea Kuêh, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

Xã Cư Dliê Mnông có diện tích đất trồng cà phê chiếm 80,58% đất sản xuất nông nghiệp lớn nhất trong ba xã nghiên cứu, là tiểu vùng có diện tích thuộc nhóm đất

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Thực trạng sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê tại

huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp từ các Niên giám thống kê cấp huyện, các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội và các báo cáo liên quan khác tại các cơ

quan như: Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, Phòng Lao động-Thương binh xã hội huyện, UBND huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk

Lắk, Chi cục thống kê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, UBND các xã, thị trấn nằm trên

địa bàn nghiên cứu

Trang 33

- Số liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát thực địa, điều tra có sự tham gia của người dân theo câu hỏi chuẩn bị sẵn, tổ chức thảo luận nhóm Đề tài chọn hộ điều tra được

tiến hành chọn ngẫu nhiên của 03 xã Cư Dilê M’nông, Ea M’nang và Ea Kuêh để chọn

30 hộ ở mỗi xã Các hộ được chọn điều tra phải có diện tích đất trồng cà phê từ 2 ha

trở lên và cà phê đang cho thu hoạch Tổng số hộ điều tra phục vụ nghiên cứu của đề

tài là 90 hộ (3 xã), các thông tin điều tra được thể hiện trong phiếu điều tra nông hộ tại

phụ lục 2

2.3.2 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng đất

Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tổ thành nhiều loại khác nhau: các khoản chi phí, tình hình tiêu thụ Dựa trên cơ sở các

chỉ tiêu:

* Hiệu quả kinh tế:

Đối với đất trồng cà phê thường với chu kỳ kinh doanh nhiều năm, tùy theo đặc điểm sinh trưởng và phát triển của mỗi loại cây trồng mà chu kỳ từ khi bắt đầu trồng

đến thu hoạch là khác nhau Do đó, để đánh giá hiệu quả kinh tế của cây cà phê đề tài

sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:

- Giá trị sản xuất (GTSX): Là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (thường một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức

luân canh hay hệ thống sử dụng đất) Trong đề tài, tính giá trị sản xuất trung bình cho

chu kỳ kinh doanh của cây cà phê là 15 năm

- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ,

nhiên liệu, nguyên liệu,…) Tính tổng chi phí 3 năm kiến thiết cơ bản và chi phí của

thời kỳ kinh doanh là 15 năm, sau đó tính mức chi trung bình cho từng năm

- Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,

là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

- Chỉ tiêu tỷ số lợi ích - chi phí (BCR-Benefit/cost ratio): Chỉ tiêu BCR phản ánh tính hiệu quả kinh tế đầu tư tính theo số tương đối Phản ánh tính hiệu quả kinh tế

của một đồng vốn đầu tư bình quân trong quá trình đầu tư Do đó, BCR là chỉ tiêu

phản ánh tính hiệu quả kinh tế đầu tư về mặt chất lượng cho biết được mức độ thu

nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

Chỉ tiêu này cho phép so sánh và lựa chọn các phương án có quy mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án nào có BCR lớn thì được lựa chọn

Trang 34

Công thức như sau:

Đối với việc sử dụng chỉ tiêu BCR trong đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trông cây lâu năm cho phép ta nhận định như sau:

& BCR > 1 có nghĩa là dự án đầu tư có tổng thu nhập đã chiết khấu > tổng chi phí đã chiết khấu, phương án đầu tư có lãi và chấp nhận tốt

& BCR < 1 phương án đầu tư bị thua lỗ và không chấp nhận được, bởi vì tổng thu nhập đã chiết khấu nhỏ hơn tổng chi phí đã chiết khấu

& BCR = 1 tổng thu nhập đã chiết khấu bằng tổng chi phí đã chiết khấu, dự án

có lãi thông thường bằng lãi suất thanh toán

- Hiệu quả kinh tế tính trên ngày công lao động thực chất là đánh giá kết quả lao động sống cho từng loại hình sử dụng đất và từng loại cây trồng, để so sánh chi phí

cơ hội của từng người lao động GTNC = GTGT/LĐ

- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,

GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các

chi phí biến đổi và thu dịch vụ

- Chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các

chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng nhỏ

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng bằng tiền theo thời gian, giá hiện hành năm 2019 Các chỉ tiêu đạt giá trị càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

Trên cơ sở tình hình thực tế tại huyện Cư M’gar nghiên cứu đã xây dựng bảng phân cấp về các hiệu quả như sau:

Trang 35

Bảng 2.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê

LUT đạt hiệu quả thấp < 5*

* Hiệu quả xã hội: Chỉ tiêu về mặt xã hội là một chỉ tiêu khó định lượng được, trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:

- Mức độ chấp nhận của nông hộ dựa trên diện tích mà nông hộ mong muốn tăng lên, ổn định hoặc giảm xuống đối với mỗi loại sử dụng đất trồng cà phê khi

phẩm cho xã hội được tính dựa trên số loại sản phẩm có được trên cùng một đơn vị

diện tích đất Trong nghiên cứu đưa ra 3 mức độ đánh giá như sau:

Trang 36

Bảng 2.2 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa xã hội của các LUT cà phê

* Hiệu quả môi trường:

Đánh giá hiệu quả môi trường dựa trên các tiêu chí như lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây trồng, số lần tưới nước trong năm của từng loại hình sử dụng

đất, mức độ đa dạng hóa cây trồng trên cùng một đơn vị diện tích đất, khả năng thích

ứng với những thay đổi của thời tiết, khí hậu của mỗi loại sử dụng đất trồng cà phê,

nước (đặc biệt là những khu vực đất dốc)

- Khả năng thích ứng với những thay đổi của thời tiết, khí hậu của mỗi loại sử dụng đất cà phê thể hiện ở khả năng che bóng, chắn gió, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm,…

của cây trồng xen cho cây cà phê Chỉ tiêu này có ý nghĩa đối với việc lựa chọn loại sử

dụng đất trong điều kiện yếu tố môi trường khí hậu bị biến đổi

Trang 37

- Khả năng che phủ đất của mỗi loại sử dụng đất cà phê thể hiện ở khả năng che bóng, chắn gió, giảm thiểu xói mòn và bảo vệ nguồn nước Chỉ tiêu này có ý nghĩa chống

xói mòn đất, hạn chế bốc hơi bề mặt, giữ ẩm cho đất

Bảng 2.3 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa môi trường của các LUT cà phê

Thích ứng

Thích ứng cao

Thích ứng

TB

Thích ứng thấp

5 Khả năng che phủ đất % > 80 70-80 < 70 Tổng hợp mức đánh giá (*) của 3 chỉ tiêu xác định hiệu quả xã hội cho mỗi LUT gồm: LUT đạt hiệu quả cao > 10*, LUT đạt hiệu quả trung bình từ 8 đến  10* và

LUT đạt hiệu quả thấp < 8*

2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tí ch, thống kê so sánh

Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tổ thành nhiều loại khác nhau Dựa trên cơ sở các chỉ tiêu: số bình quân, phân tích so sánh để

biết được sự biến động qua các năm để rút ra kết luận

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được thống kê được xử lý bằng phần mềm EXCEL Kết quả được trình bày bằng các bảng biểu số liệu, bản đồ và biểu đồ

Trang 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN CƯ

Đông Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:

Phía Đông giáp huyện Krông Búk và thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk

Phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk

Phía Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột và huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk

Phía Bắc giáp với huyện Ea H’Leo và huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk

Hì nh 3.1 Sơ đồ bản đồ hành chính huyện Cư M’gar

Nguồn: http//cumgar.daklak.gov.vn

Trang 39

Huyện có 17 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 15 xã và 2 thị trấn Huyện nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thành phố Buôn Ma Thuột thông qua đường Tỉnh lộ 8

nối liền thành phố Buôn Ma Thuột - Cư M’gar - thị xã Buôn Hồ Phía Đông Nam của

huyện có tuyến Quốc lộ 14 đi qua Trung tâm huyện nằm cách sân bay thành phố

Buôn Ma Thuột khoảng 28 Km Vì vậy vị trí địa lý của huyện có lợi thế về nhiều mặt

để mở rộng giao lưu văn hóa, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội đối với thành phố

Buôn Ma Thuột, các huyện trong tỉnh Đắk Lắk và các tỉnh trong vùng Tây Nguyên,

duyên hải Miền trung

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Huyện Cư M’gar nằm trên cao nguyên Buôn Ma Thuột nên nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, có xu hướng thấp dần từ Đông sang Tây Nhiều nơi mạng lưới

sông, suối chia cắt bề mặt thành nhiều đồi dốc thoải, mức độ chia cắt bình quân

khoảng 7,5 km/km2 Độ cao trung bình của huyện từ 300 m đến 800 m so với mặt

nước biển và có 5 cấp độ dốc (Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền

“Nguồn: Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung, 2005”

Địa hình của huyện được chia thành các dạng chính như sau:

- Dạng địa hình đồi lượn sóng: diện tích 48.722,02 ha, chiếm 59,09% diện tích

tự nhiên Địa hình bị chia cắt từ nhẹ đến trung bình, có dạng dốc thoải, có nơi tương

đối bằng phẳng xen kẹp giữa các dãy núi Độ dốc chủ yếu từ >30 – 150 Đất đai phân

bố trên dạng địa hình này chủ yếu là đất nâu đỏ trên đá bazan và đất đen có tầng canh

tác khá dày thích hợp cho nhiều loại cây trồng Các loại đất này hầu như đã được khai

thác triệt để cho phát triển sản xuất nông nghiệp, chủ yếu cho các loại cây công nghiệp

có giá trị như cà phê, cao su, các loại ngô, đậu, đỗ và bông vải

Trang 40

- Dạng địa hình thung lũng hẹp: có diện tích 9.342,68 ha, chiếm 11,33% diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố dọc theo các nhánh sông, suối, độ dốc từ 0 – 3o Đất

trên địa hình này được cấu tạo bởi các sản phẩm bồi tụ, thường bị úng ngập vào mùa

mưa Đây là dạng địa hình thấp và tương đối bằng phẳng, hầu hết đã được khai thác

trồng lúa nước, rau màu và các loại cây ngắn ngày khác

- Địa hình đồi núi, dốc: diện tích 24.385,43 ha, chiếm 29,58% diện tích tự nhiên, phân bổ tập trung chủ yếu ở phía Bắc, giáp với khu vực bán bình nguyên Ea Súp, và

một phần nhỏ tại rìa phía Tây và phía Đông của huyện, độ dốc từ >150 – 250 Đất hình

thành trên dạng địa hình này có tầng canh tác mỏng, thảm thực vật chủ yếu là rừng tự

nhiên tập trung với chủng loại rừng cây lá rộng, tuy nhiên vài năm trở lại đây do khai

phá mở rộng đất canh tác nên diện tích rừng bị giảm khá nhiều

Mặc dù là huyện miền núi nhưng diện tích đất có độ dốc từ 30 đến 150 chiếm diện tích khá lớn, bề mặt thoáng, ít bị chia cắt, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất cà phê

3.1.1.3 Khí hậu thời tiết

Huyện Cư M’gar nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng cho khí hậu của vùng cao nguyên Nam Trung Bộ Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và

mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô kéo dài từ

tháng 11 đến tháng 4 năm sau Cây cà phê rất thích hợp với kiểu khí hậu này, mùa mưa

thích hợp cho sự phát triển của thân, cành, lá, rễ và quả; mùa khô thích hợp cho giai

đoạn tượng hoa, hoa phát triển, nở hoa và đậu quả (Nguyễn Văn Thái, 2012) Theo

Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Đắk Lắk thì huyện Cư M’gar có các đặc điểm khí

hậu thời tiết cụ thể như sau:

- Lượng mưa Tổng lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.700-1.800 mm/năm Lượng mưa nhiều tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9, dao động từ 210,48 mm đến

348,45 mm Lượng mưa của các tháng này chiếm 85% lượng mưa của cả năm Lượng

mưa trong mùa khô chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm và chỉ có những cơn mưa

nhỏ rải rác vào thời gian đầu và cuối mùa khô Đặc biệt thời kỳ giữa mùa khô từ tháng

01 đến tháng 3 hầu như không có mưa, lượng mưa trung bình của tháng 01 là 6,30 mm,

tháng 02 là 0,47 mm và tháng 3 là 8,83 mm Thông thường thì ngay cuối vụ thu hoạch

(tháng 01), cây cà phê đã bắt đầu phân hóa mầm hoa và tiếp tục phân hóa hoàn chỉnh,

khi đó hoa sẽ có dạng mỏ sẻ, lúc này cần cung cấp nước đầy đủ cho hoa, lượng mưa

đạt trên 15 mm sẽ giúp cây có đủ nước để phân hóa mầm Do tính thụ phấn chéo nên

cần cung cấp nước đầy đủ để cây cà phê vối có thể giao phấn và thụ tinh với nhau

cùng đợt để có năng suất cao Vì lượng mưa từ tháng 01 đến tháng 3 ít nên nông hộ

thường phải tưới nước cho cây cà phê

Ngày đăng: 04/07/2021, 05:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w