1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị và độ tin cậy của thang đo phq 9 phiên bản tiếng việt trên đối tượng sinh viên y khoa

122 166 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

78 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: Tuyên bố của Pfizer về bản quyền thang đo PHQ-9 PHỤ LỤC 2: Danh sách người tham gia chuyển ngữ PHỤ LỤC 3: Bản thu thập số liệu nghiên cứu PHỤ LỤC

Trang 1

-NGUYỄN TRUNG NGHĨA

GIÁ TRỊ VÀ ĐỘ TIN CẬY

CỦA THANG ĐO PHQ-9

PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT TRÊN ĐỐI TƢỢNG SINH VIÊN Y KHOA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ

Trang 2

-NGUYỄN TRUNG NGHĨA

GIÁ TRỊ VÀ ĐỘ TIN CẬY

CỦA THANG ĐO PHQ-9

PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT TRÊN ĐỐI TƢỢNG SINH VIÊN Y KHOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học củariêng tôi Các số liệu kết quả nghiên cứu chưa từng được ai kháccông bố trong bất kỳ công trình nào trước đó hay được báo cáotrong bất kỳ luận văn tốt nghiệp đại học, sau đại học của Đại học

Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh hay trường đại học khác Các

số liệu kết quả trong luận văn được thu thập, nhập liệu và phântích một cách trung thực, rõ ràng, minh bạch

Nghiên cứu đã được chấp thuận về các khía cạnh đạo đức từHội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y DượcThành phố Hồ Chí Minh, số 476/ĐHYD-HĐĐĐ kí ngày11/10/2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Trung Nghĩa

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT iii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Trầm cảm và giai đoạn trầm cảm chủ yếu 3

1.2 Sinh viên y khoa và vấn đề trầm cảm 4

1.3 Công cụ nghiên cứu 6

1.3.1 Thang điểm PHQ-9 6

1.3.2 Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc MINI 9

1.4 Chuyển ngữ và thích ứng văn hóa 10

1.5 Sự tương đương của bản dịch và bản gốc 11

1.6 Các đặc tính tâm trắc của thang lượng giá tâm lý 14

1.6.1 Độ tin cậy 14

1.6.2 Tính giá trị 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

A Giai đoạn 1: chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho thang đo PHQ-9 21

B Giai đoạn 2: xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trên đối tượng sinh viên y khoa 24

2.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2 Địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Đối tượng nghiên cứu 24

2.3.1 Dân số mục tiêu 24

2.3.2 Dân số chọn mẫu 24

2.4 Mẫu nghiên cứu 25

Trang 5

2.4.1 Cỡ mẫu 25

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 26

2.4.3 Tiêu chí chọn mẫu 27

2.5 Phương tiện nghiên cứu 27

2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu 28

2.7 Phân tích số liệu 31

2.7.1 Thống kê mô tả 31

2.7.2 Thống kê phân tích 31

2.8 Liệt kê và định nghĩa các biến số 33

2.8.1 Biến số nền 33

2.8.2 Biến số thang đo PHQ-9: 34

2.8.3 Biến số bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc MINI 36

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Giai đoạn 1: chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho thang đo PHQ-9 37

3.1.1 Dịch xuôi từ tiếng Anh sang tiếng Việt 37

3.1.2 Dịch ngược từ tiếng Việt sang tiếng Anh 39

3.1.3 Thông qua hội đồng chuyên môn 39

3.1.4 Nghiên cứu thử bản dịch tiếng Việt thử nghiệm 42

3.2 Giai đoạn 2: xác định tính giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt 44

3.2.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 44

3.2.2 Độ tin cậy 47

3.2.3 Tính giá trị 50

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 56

4.1 Giai đoạn 1: chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho thang đo PHQ-9 56

4.1.1 Tiến trình thực hiện 56

4.1.2 Sự tương đương giữa bản dịch và bản gốc 58

4.1.3 Giá trị nội dung 61

Trang 6

4.2 Giai đoạn 2: xác định tính giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản

tiếng Việt 62

4.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và một số đặc điểm triển khai của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt 62

4.2.2 Độ tin cậy 64

4.2.3 Tính giá trị 66

4.3 Những điểm mạnh, điểm mới và tính ứng dụng của đề tài 72

4.4 Những hạn chế và giải pháp 74

KẾT LUẬN 76

KIẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Tuyên bố của Pfizer về bản quyền thang đo PHQ-9

PHỤ LỤC 2: Danh sách người tham gia chuyển ngữ

PHỤ LỤC 3: Bản thu thập số liệu nghiên cứu

PHỤ LỤC 4: Thang đo PHQ-9 phiên bản Tiếng Việt (chính thức)

PHỤ LỤC 5: Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc MINI phiên bản Tiếng Việt

PHỤ LỤC 6: Các phiên bản PHQ-9 trong tiến trình chuyển ngữ và thích ứng văn hóa

PHỤ LỤC 7: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu theo DSM-5

PHỤ LỤC 8: Bản thông tin và chấp thuận tham gia nghiên cứu

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÊN VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ - DỊCH NGHĨA TIẾNG VIỆT

APA

American Psychology Association

Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ

American Psychiatry Association

Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ

Diện tích dưới đường cong

CES-D The Center for Epidemiologic Studies Depression Scale

Thang đánh giá trầm cảm của trung tâm nghiên cứu dịch tễ

CFA Confirmatory Factor Analysis

Phân tích nhân tố xác định

CIDI Composite International Diagnostic Interview

Bộ phỏng vấn chẩn đoán quốc tế tích hợp

DASS-21 Depression Anxiety Stress Scale – 21

Thang đánh giá căng thẳng lo âu trầm cảm – 21 câu hỏi

ICD International Classification Diseases

Bảng phân loại bệnh tật quốc tế

MINI Mini International Neuropsychiatric Interview

Bộ câu hỏi phỏng vấn tâm thần kinh quốc tế bản thu gọn

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

(tiếp theo)

PHQ-9 Patient Health Questionnaire – 9

Bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân – 9 câu hỏi

ROC Receiver Operating Characteristic

Đặc trưng hoạt động của bộ thu nhiễu

Trang 9

DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT

Alpha when if item deleted Alpha khi bỏ đi câu hỏi

Average interitem correlation Trung bình tương quan giữa các câu

Equivalence

(conceptual, item, semantic,

operational, measurement)

Sự tương đương(khái niệm, hạng mục, ngữ nghĩa, triểnkhai, đo lường)

 Hệ số tải

 Phần dưItem-rest correlation Tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnhItem-test correlation Tương quan câu-tổng câu

Major depressive disorder Rối loạn trầm cảm chủ yếu

Reliability

(internal, test-retest, inter-rater)

Độ tin cậy(nội tại, đo-đo lại/giữa các lần đo, giữanhững người đánh giá)

Validity

(content, construct, criteria, convergent,

discriminant)

 (1) Accuracy, (2) sensitivity, (3)specificity, (4) positive

predictive value, (5) negativepredictive value

Giá trị(nội dung, cấu trúc, tiêu chuẩn, hội tụ,phân biệt)

 (1) Độ chính xác, (2) độ nhạy,(3) độ đặc hiệu, (4) giá trị tiênđoán dương, (5) giá trị tiên đoánâm

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Những tình huống cần thích ứng văn hóa khi sử dụng bộ câu hỏi đo lường

sức khỏe 10

Bảng 3.1 Kết quả thảo luận giữa hai người dịch xuôi 38

Bảng 3.2 Kết quả thảo luận của hội đồng chuyên môn 40

Bảng 3.3 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu thử (n=12) 43

Bảng 3.4 So sánh điểm số PHQ-9 giữa các nhóm ngôn ngữ vùng miền (N=400*) 45 Bảng 3.5 Độ tin cậy nội tại của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt (N=402) 48

Bảng 3.6 Hệ số tương quan hạng Spearman giữa hai lần trả lời bộ câu hỏi PHQ-9 phiên bản tiếng Việt (n=76) 49

Bảng 3.7 Kết quả phân tích thành phần chính để thăm dò nhân tố tiềm năng của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt (N=390*) 51

Bảng 3.8 Hệ số tải của các biến trong thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt (N=390*) 52

Bảng 3.9 Năng lực của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt ở các điểm cắt khác nhau (n=76) 55

Bảng 4.1 Các nghiên cứu thích ứng văn hóa bộ câu hỏi PHQ-9 57

Bảng 4.2 Các nghiên cứu phân tích nhân tố thang đo PHQ-9 68

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Tính toán cỡ mẫu nghiên cứu diện tích dưới đường cong ROC bằng phầnmềm MedCalc bvba 2019 26Hình 2.2 Sơ đồ các bước tiến hành giai đoạn hai của nghiên cứu 30Hình 3.1 Biểu đồ Scree mô tả giá trị riêng ứng với số nhân tố tiềm năng của thang

đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt (N=390) 51Hình 3.2 Biểu đồ đường cong ROC thể hiện giá trị của thang đo PHQ-9 phiên bảntiếng Việt so với tiêu chuẩn vàng là thăm khám bác sĩ chuyên khoa tâm thần (n=76) 54

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu trên toàn cầu Tổ chức Y tế Thếgiới ước tính có hơn 322 triệu người phải chịu đựng trầm cảm, với tỉ lệ hiện mắc từ2,6 đến 5,9% khác nhau giữa các vùng [76] So với dân số chung, sinh viên y khoa

có các triệu chứng trầm cảm cao hơn hẳn, ở mức 27% [63] Cũng trên nhóm cộngđồng này, trầm cảm và sự đau khổ về mặt tinh thần có liên quan đến các kết cụckhông mong muốn như kết quả học tập kém, không trung thực trong thi cử, thái độnghi ngờ, lạm dụng rượu, chất gây nghiện và ý tưởng tự sát [16]

Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh là một trong các trường đào tạo y khoachính tại Việt Nam, số lượng sinh viên năm học 2018-2019 là 9664, chỉ tiêu tuyểnmới năm 2019-2020 là 2250 sinh viên (theo phòng công tác sinh viên) Tỉ lệ sinhviên có triệu chứng rối loạn trầm cảm chủ yếu ở Đại học Y dược Thành phố Hồ ChíMinh cũng ở mức 28-50% tùy theo thang điểm tầm soát và thời điểm nghiên cứu[2],[4],[5] Như vậy, tính sơ bộ có thể có từ 2300 đến 4800 sinh viên có vấn đề trầmcảm đang theo học tại trường Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở các trường y khoalớn ở Việt Nam, trong đó có Đại học Y khoa Hà Nội, Đại học Y Dược Huế và Đạihọc Y Dược Cần Thơ [31],[60]

Thực tế trên cho thấy cần có một công cụ tầm soát chính xác, dễ sử dụng để đánhgiá vấn đề trầm cảm trên đối tượng sinh viên y khoa tại Đại học Y Dược thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng và sinh viên y khoa Việt Nam nói chung Kết quả tầm soátkhi sử dụng công cụ sẽ là cơ sở cho việc lưu trữ hồ sơ theo dõi sức khỏe, hỗ trợ điềutrị cá nhân sớm và can thiệp cộng đồng kịp thời [25] Thang điểm Patient HealthQuestionnaire 9 items (PHQ-9) thường được sử dụng để tầm soát trầm cảm trêncộng đồng với tính giá trị, độ tin cậy (Cronbach’s alpha ở mức 0,74-0,81), độ nhạy,

độ đặc hiệu cao (trên 80%) và thời gian khảo sát ngắn (ước lượng khoảng 01 phút)[20],[37],[51] Tuy nhiên, bởi vì PHQ-9 được thiết kế để sử dụng trong bối cảnhchăm sóc sức khỏe ban đầu trên dân số chung nên trước khi sử dụng trên sinh viên y

Trang 13

khoa, thang đo này cần được xác định lại các thuộc tính tâm trắc cũng như sự khảthi trong quá trình tiến hành [8],[71].

Trong y văn chúng tôi tiếp cận được, thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt tuy đãtừng được sử dụng trong các nghiên cứu nhưng chưa được chuẩn hóa trên đối tượngsinh viên Y khoa Hơn nữa, cho tới thời điểm tiến hành nghiên cứu, chúng tôi chưatìm thấy nghiên cứu nào đã được công bố có mục tiêu xác định giá trị và độ tin cậycủa thang đo PHQ-9 trên nhóm đối tượng cụ thể này Chúng tôi kỳ vọng rằng kếtquả của nghiên cứu của chúng tôi sẽ là cơ sở khoa học cho việc sử dụng thang đoPHQ-9 để tầm soát và nghiên cứu các rối loạn trầm cảm và các vấn đề liên quan đếntrầm cảm trên đối tượng sinh viên y khoa

Như vậy, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là thang đo PHQ-9 có giá trị và độ tin

cậy phù hợp để ứng dụng trong thực tế tầm soát và mô tả vấn đề trầm cảm ở sinh viên y khoa hay không?

Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu này, mục tiêu chính của nghiên cứu của chúngtôi là xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trênđối tượng sinh viên y khoa Việt Nam Đối tượng cụ thể của nghiên cứu là nhómsinh viên y khoa năm nhất tại Việt Nam (sau đây gọi ngắn gọn là sinh viên y khoa).Nhằm thực hiện mục tiêu chính đó, chúng tôi có các mục tiêu chuyên biệt:

1 Chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho thang đoPHQ-9 phiên bản tiếng Việt trên đối tượng sinh viên y khoa

2 Xác định độ tin cậy của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trong đo lườngtrầm cảm ở sinh viên y khoa

3 Xác định giá trị cấu trúc của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trong đolường trầm cảm ở sinh viên y khoa

4 Xác định giá trị tiêu chuẩn của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trong tầmsoát và mô tả trầm cảm ở sinh viên y khoa

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Trầm cảm và giai đoạn trầm cảm chủ yếu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm là một trong hai nhóm rối loạn sức khỏetâm thần thường gặp nhất trên toàn cầu Năm 2017, số liệu thống kê của tổ chức nàycho thấy có khoảng 322 triệu người – tương đương 4,4% dân số thế giới – đang phảichịu đựng các rối loạn trầm cảm Trong đó, tại Việt Nam có 3,5 triệu trường hợpvới tỉ lệ trầm cảm trong dân số chung ở khoảng 4% [76]

Hai bộ tiêu chí để định nghĩa và chẩn đoán trầm cảm được sử dụng rộng rãi nhấthiện nay là Sổ tay chẩn đoán và thống kê bản số 5 (DSM-5) của Hiệp hội Tâm thầnhọc Hoa kỳ và Phân loại quốc tế về bệnh tật bản số 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tếthế giới Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng DSM-5 để định nghĩa chẩn đoán vàcũng là tiêu chuẩn vàng để so sánh với kết quả của thang đo PHQ-9 Theo DSM-5,các rối loạn trầm cảm đặc trưng ở (1) khí sắc trầm buồn, (2) cảm giác mất hứng thú,(3) rối loạn giấc ngủ và (4) rối loạn ăn uống, (5) cảm giác mệt mỏi mất năng lượng,(6) chậm chạp hoặc bứt rứt tâm thần vận động, (7) khó tập trung, (8) cảm thấy tộilỗi và/hoặc hình ảnh bản thân thấp, (9) suy nghĩ và/hoặc hành vi lặp đi lặp lại về cáichết Tình trạng này có thể kéo dài mạn tính hoặc có đợt tăng giảm, làm giảm chấtlượng cuộc sống, suy giảm chức năng làm việc, học tập hay các lĩnh vực quan trọngkhác trong đời sống [9]

Về mặt thuật ngữ, từ “trầm cảm” thường được dùng với nghĩa rất rộng: mô tảmột cảm xúc, chỉ một triệu chứng, một hội chứng, một giai đoạn khí sắc (giai đoạntrầm cảm chủ yếu) hoặc một “bệnh” (rối loạn trầm cảm chủ yếu) Để phù hợp vớimục tiêu nghiên cứu là xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9, khái niệm

“trầm cảm” trong nghiên cứu của chúng tôi sẽ chỉ bao gồm “giai đoạn trầm cảm chủyếu” và “giai đoạn giống trầm cảm chủ yếu”

Trong đó, “giai đoạn trầm cảm chủ yếu” được chẩn đoán khi trong ít nhất 2 tuầnqua, đối tượng có ít nhất 5 trên 9 triệu chứng thuộc hội chứng trầm cảm hiện diện

Trang 15

trong hầu như cả ngày, hầu như mọi ngày, trong đó bắt buộc có triệu chứng khí sắctrầm hoặc giảm hứng thú (tiêu chuẩn A) Các triệu chứng này gây ra sự đau khổ khóchịu đáng kể trên lâm sàng hoặc gây suy giảm đáng kể các chức năng xã hội quantrọng của người bệnh (tiêu chuẩn B) Bên cạnh đó, cần loại trừ tình trạng trầm cảmnày là hậu quả của việc sử dụng chất, thuốc, hoặc do mắc phải tình trạng y khoakhác (tiêu chuẩn C) “Giai đoạn giống trầm cảm chủ yếu” bao gồm các tiêu chuẩnchẩn đoán của “giai đoạn trầm cảm chủ yếu”, trừ tiêu chuẩn C [9] Các tiêu chuẩnnày được chúng tôi trích nguyên văn, chuyển ngữ và trình bày ở Phụ lục số 7.

1.2 Sinh viên y khoa và vấn đề trầm cảm

So với dân số chung, đối tượng sinh viên y khoa có các triệu chứng trầm cảm caohơn hẳn, ở mức 27% [21],[63] So với các sinh viên khác cùng lứa tuổi, trầm cảm ởsinh viên y khoa cũng cao hơn [4],[10] Các nghiên cứu trong năm 2012 (thangDASS-21), 2018 (thang PHQ-9 với điểm cắt ≥10), 2019 (thang CESD với điểm cắt

≥16) trên đối tượng sinh viên ở Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ

lệ sinh viên có triệu chứng trầm cảm lần lượt là 28,8%, 30,6% và 50,3% [5],[4],[2].Các tỉ lệ này có nghĩa rằng luôn có hơn 2300 sinh viên có các triệu chứng của rốiloạn trầm cảm đang theo học tại trường

Một số nghiên cứu cũng đặt ra vấn đề xác định nguyên nhân hoặc yếu tố liênquan đến tỉ lệ trầm cảm cao ở sinh viên y khoa Điểm chung của các các kết quảnghiên cứu xoay quanh việc Y khoa là ngành học đặc thù với khối lượng kiến thứclớn, các kỳ thi căng thẳng, áp lực cạnh tranh và yêu cầu chuyên môn cao[11],[43],[64] Bên cạnh đó, sinh viên y khoa còn phải đối mặt với khối lượng côngviệc quá tải, khó khăn trong cân bằng học tập – công việc – cuộc sống và nhữngmối quan hệ, tương tác với các bạn đồng học, các vấn đề sức khỏe và tài chính [28].Trong thực hành lâm sàng, sinh viên y khoa còn phải đối mặt với các thách thức vềđạo đức, đồng thời phải chứng kiến nỗi đau và cái chết của bệnh nhân [16]

Trang 16

Mặc dù stress ở mức độ vừa phải có thể giúp sinh viên y khoa thể hiện tốt hơntrong môi trường học thuật, stress nặng và kéo dài về nhiều vấn đề kể trên có mốiliên quan đến trầm cảm và các vấn đề sức khỏe tâm thần khác [62],[69] Trầm cảm

ở sinh viên y khoa làm cho học tập sa sút, giảm sự thấu cảm với bệnh nhân và tăng

tỉ lệ bỏ học trường y [17],[43],[52],[67],[78] Bên cạnh đó, trầm cảm còn dẫn tới sựgãy đổ các mối quan hệ, lạm dụng rượu, chất kích thích và gia tăng hiện tượng tựsát [16]

Khi phân chia cộng đồng sinh viên y khoa theo các năm học, các nghiên cứu chỉ

ra rằng nhóm sinh viên y khoa năm nhất có ít khả năng phát hiện trầm cảm và ít kĩnăng đối phó với trầm cảm hơn sinh viên y khoa các năm trên Đồng thời, nhómsinh viên này có nhiều nguy cơ có suy nghĩ hay hành vi tự sát cao hơn các sinh viênnăm trên [48] Nguyên nhân vẫn chưa được xác định rõ, một số tác giả đặt ra giảthiết rằng các sinh viên năm trên học được kỹ năng chăm sóc sức khỏe tinh thần từquá trình đào tạo y khoa hoặc có thể chỉ là sự trưởng thành tự nhiên theo lứa tuổi,trong khi sinh viên y khoa năm nhất chưa có đủ cả hai yếu tố trên

Như vậy, xét trên quy mô của thực trạng và hậu quả của vấn đề, trầm cảm ở sinhviên y khoa đã và đang là vấn đề nghiêm trọng cần nhận được sự quan tâm hỗ trợ,đặc biệt là trong nhóm sinh viên y khoa năm nhất Thực tế này đặt ra yêu cầu cần cómột thang đo dễ sử dụng nhưng có tính tin cậy và giá trị tốt nhằm phát hiện sớmvấn đề trầm cảm và mô tả đúng thực trạng trầm cảm trên sinh viên y khoa ViệtNam Một thang đo tốt có thể mang đến lợi ích cho sinh viên y khoa ở cả hai mặt cánhân và cộng đồng Thứ nhất, việc phát hiện sớm, điều trị sớm và theo dõi tích cực

là một phần quan trọng giúp cá nhân cải thiện tình trạng trầm cảm và duy trì cuộcsống tinh thần khỏe mạnh [25],[48].Thứ hai, việc sử dụng thang đo có giá trị và độtin cậy đảm bảo giúp tăng độ chính xác của các nghiên cứu mô tả thực trạng hoặcphân tích mối liên quan giữa trầm cảm và các yếu tố khác trong cộng đồng sinh viên

y khoa Kết quả từ những nghiên cứu này là thông tin hữu ích để cải thiện chương

Trang 17

trình giáo dục và tiến hành những chiến lược can thiệp cộng đồng thích hợp chosinh viên [48].

1.3 Công cụ nghiên cứu

Hiện tại có nhiều thang điểm được đồng thuận sử dụng trong lượng giá trầm cảmnhư HAM-D, BECK, PHQ-9, CES-D, DASS-21… Trong số đó, PHQ-9 được lựachọn cho nghiên cứu này vì thích hợp hơn cả cho mục đích tầm soát trên cộng đồnglớn vì vừa là một thang điểm tự đánh giá (người làm khảo sát tự đọc hiểu và trả lờicâu hỏi thay vì cần có bác sĩ hay người phỏng vấn đọc câu hỏi và ghi nhận lại câutrả lời), vừa ngắn gọn tốn ít thời gian để hoàn thành [37] Ngoài ra, để xác định giátrị tiêu chuẩn của PHQ-9, chúng tôi để các bác sĩ chuyên khoa tâm thần thăm khámtrực tiếp cho các sinh viên và chẩn đoán trầm cảm theo bộ tiêu chuẩn DSM-5 Ởbước này, bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc MINI được sử dụng như một công cụ ghinhận kết quả và chuẩn hóa quá trình thăm khám của các bác sĩ Bộ câu hỏi này đượcchọn vì có lợi điểm là ngắn gọn, diễn đạt dễ hiểu và đã được sử dụng trong nhiềunghiên cứu xác định giá trị của thang đo PHQ-9 [42]

[3],[7],[20],[44],[51],[74] Tại Việt Nam, chúng tôi ghi nhận đã có nhiều nghiên cứu

đã sử dụng thang đo này trên các đối tượng đa dạng: công nhân, sinh viên, bệnhnhân tại phòng khám tâm thần ngoại trú [3],[4],[53],[58],[73] Trong đó có nghiên

Trang 18

cứu tiến hành trên đối tượng sinh viên y khoa nhưng chỉ ứng dụng để thu số liệuchứ không đặt mục tiêu xác định độ tin cậy và tính giá trị của thang đo [4],[53],[60].Toàn bộ thang điểm gồm 9 câu hỏi chính, mỗi câu hỏi có 4 đáp án theo thangLikert (Phụ lục 4) Người làm khảo sát chọn một giá trị từ 0 (không chút nào) đến 3(gần như mọi ngày) để đánh giá mức độ thường xuyên họ gặp phải các triệu chứngtrong vòng 2 tuần vừa qua Tổng điểm có giá trị từ 0 đến 27 được dùng để tầm soát

và đánh giá độ nặng của tình trạng trầm cảm, điểm càng cao thì càng nặng Các mốcđiểm được tác giả đề nghị là 5-10-15 tương ứng với trầm cảm nhẹ - trung bình –nặng [37] Các triệu chứng được đánh giá bao gồm: giảm hứng thú (câu 1), khí sắctrầm (câu 2), thay đổi giấc ngủ (câu 3), mệt mỏi (câu 4), thay đổi ăn uống (câu 5),suy nghĩ tự ti và mặc cảm tội lỗi (câu 6), khó tập trung (câu 7), chậm chạp hoặc bứt

rứt tâm thần vận động (câu 8) và suy nghĩ về cái chết (câu 9) Câu hỏi số 10 giúp

đánh giá mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng này đến các chức năng trong đờisống

Về giá trị nội dung, các câu hỏi của thang điểm cung cấp đủ thông tin để đánh

giá “giai đoạn trầm cảm chủ yếu” hay “giai đoạn giống trầm cảm chủ yếu” Chíncâu hỏi đầu tiên của PHQ-9 bao phủ mục A của tiêu chuẩn chẩn đoán các giai đoạntrên Tuy bản hỏi được xây dựng dựa trên Sổ tay chẩn đoán và thống kê bản thứ tư(DSM-IV) nhưng các triệu chứng này không có sự thay đổi trong bản thứ năm(DSM-5) nên giá trị nội dung không thay đổi [9] Ở một khía cạnh khác, thang đokhông có các câu hỏi để loại trừ việc sử dụng chất/thuốc/trình trạng y khoa khác,tiền sử hưng cảm, các bệnh lý tâm thần khác có triệu chứng trầm cảm Vì thế, khôngthể dùng kết quả của thang đo để phân biệt “giai đoạn trầm cảm chủ yếu” với “giaiđoạn giống trầm cảm chủ yếu” hay để chẩn đoán “rối loạn trầm cảm chủ yếu” Kếtquả của thang đo chỉ giúp tầm soát, gợi ý chẩn đoán, theo dõi diễn tiến điều trị rốiloạn trầm cảm chủ yếu hay các bệnh lý khác có giai đoạn trầm cảm Việc chẩn đoán

sơ bộ hay xác định vẫn phải dựa vào các buổi thăm khám với bác sĩ lâm sàng

Trang 19

Trong các nghiên cứu từng sử dụng PHQ-9 phiên bản tiếng Việt, các tác giả sửdụng phiên bản tự dịch hoặc bản dịch của công ty Pfizer Theo đại diện mảng ykhoa của công ty, bản dịch này chỉ mới được chuyển ngữ bởi một công ty dịchthuật, chưa có sự tham gia của hội đồng chuyên môn, đặc biệt là thiếu ý kiến củachuyên gia tâm thần Trong khi đó, theo các hướng dẫn được chấp thuận rộng rãitrong cộng đồng chuyên môn, thang điểm chỉ trải qua dịch thuật đơn thuần thì chưa

đủ điều kiện và cơ sở để sử dụng thực tế [18],[23],[49] Các khoảng cách khác biệt

về văn hóa và ngôn ngữ có thể khiến cho nội dung đo lường bị sai lệch Như vậy,giá trị nội dung của thang điểm chưa được đảm bảo Kết quả của các nghiên cứutrước đây có thể chưa phản ánh chính xác tình hình thực tế

Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện đúng quy trình khuyến cáo của WHO, trong

đó có bước thông qua hội đồng chuyên môn, để phát triển được phiên bản PHQ-9tiếng Việt hoàn chỉnh Chúng tôi kỳ vọng rằng điều này giúp phiên bản tiếng Việtcủa PHQ-9 đảm bảo được tính tương đương với bản gốc, đảm bảo được giá trị nộidung cũng như phù hợp về mặt văn hoá với đối tượng người Việt Nam nói chung vàsinh viên y khoa Việt Nam nói riêng

Về giá trị tiêu chuẩn, các tác giả của PHQ-9 gợi ý lấy giá trị điểm 10 trở lên làm

mốc tầm soát trầm cảm (độ nhạy và độ đặc hiệu đều ở mức 88%) [37] Tuy nhiên,thực tế cho thấy mỗi nhóm đối tượng khác nhau sẽ có các mốc điểm tầm soát khácnhau Điểm cắt là 5 và 6 lần lượt được đề nghị cho các bệnh nhân ở Uganda và cácbệnh nhân ở Hà Lan [50],[80] Một nghiên cứu phân tích gộp khác liệt kê các điểmcắt được đề nghị từ 8 đến 10 [45] Sự khác biệt này đến từ bối cảnh, đối tượng vàmục đích sử dụng thang điểm khác nhau giữa các nghiên cứu [20] Như vậy, trướckhi sử dụng thang điểm này ở đối tượng sinh viên y khoa, cần thiết phải có nghiêncứu để xác định giá trị điểm cắt PHQ-9 phù hợp với tầm soát và mô tả trầm cảmtrên nhóm đối tượng cụ thể này [8]

Về tính khả thi, các thang điểm có tính ứng dụng càng cao khi thời gian để hoàn

thành thang điểm càng ngắn [39] Chúng tôi chưa ghi nhận được nghiên cứu nào

Trang 20

báo cáo thời gian làm thang đo PHQ-9 Tuy nhiên, trong nghiên cứu gốc, tác giảbáo cáo thời gian cần để hoàn thành toàn bộ thang điểm PHQ với 28 câu trung bình

là 3 phút, nên thời gian để hoàn thành 9 câu của PHQ-9 được ước tính xấp xỉ mộtphút [37] Thời khoản này phù hợp với một bài khảo sát ngắn dùng để tầm soát tầmcảm thường quy trên diện rộng

Dựa trên y văn chúng tôi tìm kiếm được, chưa có nghiên cứu nào xác định tínhgiá trị, độ tin cậy cũng như độ nhạy, độ đặc hiệu và thời gian thực hiện của thangPHQ-9 trên đối tượng sinh viên y khoa Việt Nam Vì vậy, bên cạnh việc chuyểnngữ và thích ứng văn hóa theo phương pháp được khuyến nghị, nghiên cứu củachúng tôi còn có mục tiêu xác định các chỉ số tâm trắc cần thiết của PHQ-9 phiênbản tiếng Việt trước khi đưa vào sử dụng trên nhóm đối tượng này

1.3.2 Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc MINI

The Mini International Neuropsychiatric Interview (MINI) là bộ câu hỏi phỏngvấn cấu trúc để chẩn đoán các rối loạn tâm thần [66] Các câu hỏi của MINI đượcthiết kế dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV Tuy nhiên, tiêu chuẩn chẩn đoángiai đoạn trầm cảm chủ yếu trong bản DSM-5 không có thay đổi về các triệu chứng

so với phiên bản trước nên nghiên cứu này vẫn có thể sử dụng MINI như một công

cụ để ghi nhận và đồng nhất kết quả thăm khám Phỏng vấn cấu trúc bằng thangMINI có nhiều phần dành cho các rối loạn tâm thần khác nhau, chỉ có kết quảphỏng vấn của phần trầm cảm được trình bày trong nhiên cứu này để phù hợp vớimục tiêu nghiên cứu MINI cho thấy có độ tin cậy và giá trị tốt so với bộ câu hỏiphỏng vấn cấu trúc CIDI sử dụng trước đó [41] MINI cũng đã được sử dụng trongnhiều nghiên cứu xác định giá trị tiêu chuẩn của PHQ-9 [20],[42],[44],[74] Chúngtôi dịch và thích ứng văn hóa cho bộ câu hỏi này cùng lúc và cùng quy trình vớithang PHQ-9

Trang 21

1.4 Chuyển ngữ và thích ứng văn hóa

Trong trường hợp mong muốn lượng giá một khái niệm tâm lý nhưng chưa có bộcông cụ đo lường thích hợp với ngôn ngữ của đất nước mình thì nhà nghiên cứu cóhai lựa chọn:

(1) Phát triển một công cụ đo lường mới(2) Chuẩn hóa một công cụ đã được xác định giá trị trước đó trong một ngôn ngữkhác thông qua quá trình thích ứng văn hóa

Phát triển công cụ đo lường mới tốn nhiều thời gian, công sức cũng như ngânsách nên cách này thường ít được lựa chọn Hiện nay, phần lớn các nghiên cứu đều

Bảng 1.1 Những tình huống cần thích ứng văn hóa khi sử dụng bộ câu hỏi

đo lường sức khỏe

(Nguồn: Guillemin, [23])

Sử dụng bộ câu hỏi

Có sự thay đổi trong Yêu cầu

Văn hóa Ngôn

ngữ

Đất nước

Chuyển ngữ

Thích ứng văn hóa

A Sử dụng trong cùng một dân số

Trang 22

ngữ hoặc quốc gia.

sẽ được mô tả trong phần phương pháp nghiên cứu Mục đích của quá trình này làgiúp tạo phiên bản tiếng Việt thỏa mãn các yêu cầu: tương đương với bản gốc, diễnđạt tự nhiên và có tính ứng dụng thực tế Quá trình chuyển ngữ và thích ứng tậptrung vào mối tương quan về mặt khái niệm và văn hóa nhiều hơn là sự đồng nhấtrập khuôn về từ ngữ, ngữ pháp

1.5 Sự tương đương của bản dịch và bản gốc

Sau khi chuyển ngữ một thang đo, điều cần thiết là đảm bảo rằng sản phẩm mới(thang đo ở ngôn ngữ mới) có sự tương đương với sản phẩm gốc (thang đo ở ngôn

Trang 23

ngữ gốc) hay không Các phương diện của sự tương đương nhận được sự đồngthuận nhiều nhất từ các tác giả bao gồm: sự tương đương về mặt khái niệm(conceptual equivalance), từng hạng mục (item equivalance), ngữ nghĩa (semanticequivalence), triển khai (operational equivalance), đo lường (measurementequivalance) [27],[71].

Sự tương đương về mặt khái niệm yêu cầu chuyển tải chính xác những khái

niệm cốt lõi trong thang đo sang ngôn ngữ và nền văn hóa mới Trong nền văn hóa

và ngôn ngữ đích có thể không tồn tại khái niệm hay hình ảnh với cùng ý nghĩa nhưtrong ngôn ngữ và nền văn hóa gốc Hay nói cách khác, với cùng một khái niệm,nếu được dịch theo nghĩa đen từng từ từng chữ, người sử dụng bảng câu hỏi ở ngônngữ mới có thể không hiểu hoặc có cách hiểu không giống với ngôn ngữ gốc Ví dụtrong một nghiên cứu về lạm dụng trẻ em, tác giả gặp khó khăn khi dịch khái niệm

“child abuse” (lạm dụng trẻ em) từ thang điểm gốc tiếng Anh (sử dụng trên ngườiMỹ) sang tiếng Tây Ban Nha (sử dụng ở Chile) Có một số hành động bị người Mỹcho là xâm hại và lạm dụng trẻ nhưng đối với người Chile, đó là việc chăm sóc vàtiếp xúc bình thường Điều đó có nghĩa là thang điểm được sử dụng ở Chile cần bỏ

đi một số câu hỏi so với bản gốc vì không phù hợp với khái niệm của người Chile

về lạm dụng trẻ em Ở một ví dụ khác, những người phụ nữ sống ở mức nghèo vàcận nghèo ở Ai Cập gặp khó khăn trong việc trả lời các câu hỏi về “hưởng thụ cuộcsống” (enjoy themselves), vì cuộc sống của họ chỉ quẩn quanh lao động, kiếm thức

ăn, làm việc nhà và không có thời gian cho việc hưởng thụ hay tận hưởng [30] Đểđảm bảo tính tương đương về khái niệm, người dịch xuôi từ ngôn ngữ gốc sangngôn ngữ đích cần am hiểu nền văn hóa và các đặc điểm của đối tượng sẽ sử dụngthang điểm Dịch giả thường được chọn là người bản địa và thông thạo cả hai ngônngữ Trong các nghiên cứu, sự tương đương về mặt khái niệm được đánh giá bằngnhiều cách: xem xét tổng quan các tài liệu về nhân chủng học và dân tộc học, phỏngvấn nhóm và tham vấn hội đồng chuyên gia từ nhiều lĩnh vực [71]

Sự tương đương của từng hạng mục yêu cầu từng mục hỏi có liên quan và

chấp nhận được ở dân số đích Các câu hỏi về mức độ gắng sức khi chạy lên cầu

Trang 24

thang sẽ không phù hợp để áp dụng trên nhóm người khuyết tật chi dưới Việc đềcập đến các hành vi tình dục của hoặc cảm nhận tiêu cực về những người khác tronggia đình được xem là chủ đề nhạy cảm và mang tính xúc phạm Các câu hỏi vướngphải tình huống này cần phải được thay thế hoặc diễn đạt lại bằng từ ngữ khác trongbản dịch [71].

Sự tương đương về mặt ngữ nghĩa yêu cầu các từ, cụm từ tương đương ở hai

ngôn ngữ phải được hiểu theo cùng một cách Trong mỗi ngôn ngữ, cùng một từngữ có thể có nhiều ý nghĩa Người dịch xuôi cần lựa chọn ý nghĩa phù hợp vớihoàn cảnh ở ngôn ngữ gốc, đồng thời lựa chọn từ ngữ phù hợp ở ngôn ngữ đíchnhằm đảm bảo rằng người đọc hiểu đúng ngữ nghĩa muốn nói đến trong bối cảnhcủa thang đo Ví dụ: trong tiếng Anh có từ “blue” vừa có nghĩa là “màu xanhdương”, nhưng cũng có nghĩa là “cảm giác buồn man mác” Khi dịch ra tiếng Việt,nếu người dịch chọn ý nghĩa “màu xanh dương” thì người đọc sẽ không thể hiểuđược vì sao trong thang điểm đánh giá trầm cảm lại có nhắc đến màu sắc, và “cảmthấy màu xanh dương” là cụm từ không có ý nghĩa trong bối cảnh này Tương tự,trong cùng một hệ ngôn ngữ, cùng một từ có thể được hiểu khác nhau ở những vùngmiền khác nhau Ví dụ từ “chìm xuồng” có thể hiểu là sự kiện chiếc xuồng bị đắmxuống mặt nước, nhưng trong phương ngữ miền Nam còn có nghĩa là sự lãng quênmột sự kiện nào đó [1]; hoặc cụm từ “mild physical discomfort” (hơi khó chịu vềmặt cơ thể) được người Anh hiểu là vấn đề dạ dày, người Pháp hiểu là vấn đề liênquan đến gan và người Đức hiểu là vấn đề của hệ tim mạch [71] Sự tương đương

về ngữ nghĩa thường được đảm bảo bằng bước dịch ngược từ bản dịch ngôn ngữđích trở về ngôn ngữ gốc Người dịch ngược là người thông thạo cả hai ngôn ngữ,

am hiểu văn hóa của ngôn ngữ gốc và tốt nhất là chưa từng biết về thang đo và mụcđích của nó Bản dịch ngược sau đó sẽ được so sánh đối chiếu với bản gốc Vì vậy,việc tác giả đã từng biết tới thang đo trước đó có thể làm chệch mục đích của bướcdịch ngược, vì dịch giả có khả năng chọn từ ngữ mình nhớ từ bản gốc thay vì chọn

từ ngữ theo vốn từ và cách hiểu của mình Tiến trình so sánh này có thể được thựchiện bởi tác giả thang đo hoặc hội đồng chuyên môn phù hợp Ngoài ra, sự tương

Trang 25

đương về mặt ngữ nghĩa còn được xác nhận bởi tiến trình phỏng vấn nhận thức,trong đó người sử dụng thang đo ngôn ngữ đích được yêu cầu diễn đạt lại bằng lờicách hiểu của họ đối với các câu hỏi trong thang đo [71].

Sự tương đương về mặt triển khai là khái niệm xoay quanh việc hai phiên bản

thang đo tương tự nhau về hình thức trình bày, hướng dẫn thực hiện và cách thứctriển khai Ví dụ, nếu thang đo gốc được triển khai dưới hình thức bảng hỏi đểngười đọc tự đọc hiểu và trả lời thì thang đo sau phiên dịch cũng được tiến hành vớicùng cách thức, thay vì có một người phỏng vấn hỏi và ghi nhận câu trả lời Trongbối cảnh văn hóa xã hội cụ thể, cách thức triển khai của thang đo gốc có thể khôngphù hợp với thang đo đích Ví dụ việc một người trẻ tuổi đặt câu hỏi trực tiếp chobậc cao niên là một điều thất lễ ở một số cộng đồng châu Á và châu Phi; việc yêucầu tự đọc và trả lời câu hỏi là bất khả thi trên nhóm đối tượng mù chữ; các bàikiểm trên máy tính không phù hợp ở vùng thiếu thốn cơ sở vật chất Mặt khác, kiểuđịnh dạng ngày/tháng/năm cũng được hiểu khác nhau ở các khu vực dân cư khácnhau, nên cần hướng dẫn cụ thể và chi tiết về các điểm khác biệt này trong thang đo[71]

Cuối cùng, sự tương đương về mặt đo lường sẽ được đánh giá thông qua sự so

sánh các đặc tính tâm trắc của thang đo gốc và bản dịch Quá trình xác định độ tincậy và tính giá trị của thang đo phiên bản mới trên nhóm đối tượng cụ thể là điềucần thiết Trong nghiên cứu của chúng tôi, các đặc tính đo lường được đánh giá sẽbao gồm: độ tin cậy (nội tại và giữa hai lần đo) và tính giá trị (nội dung, cấu trúc vàtiêu chuẩn)

1.6 Các đặc tính tâm trắc của thang lượng giá tâm lý

1.6.1 Độ tin cậy

Độ tin cậy mô tả mức độ không phụ thuộc của điểm số đo lường vào sai số [71].

Nói cách khác, độ tin cậy càng cao thì phép đo càng có ít sai số ngẫu nhiên và sai số

hệ thống Một phép đo tốt nên cho ra giá trị như nhau nếu được áp dụng nhiều lầnkhác nhau trong những hoàn cảnh có những đặc điểm cơ bản được cho là giống

Trang 26

nhau Độ tin cậy của một bộ câu hỏi thường được đánh giá ở hai mặt: (1) độ tin cậynội tại (internal reliability - thể hiện tính nhất quán bên trong) và (2) độ tin cậy giữacác lần đo (test-retest reliability - thể hiện tính nhất quán giữa kết quả của các lần đokhác nhau) Ngoài ra, các thang đo có kết quả phụ thuộc vào người quan sát (khôngphải đối tượng làm thang đo) thì có thêm thông số độ tin cậy giữa những ngườiquan sát (inter-rater reliability).

1.6.1.1 Độ tin cậy nội tại

Độ tin cậy nội tại cho biết mức độ tương quan giữa các câu hỏi trong cùng một

bộ câu hỏi Độ tin cậy nội tại thấp cho thấy các câu hỏi đo lường các khái niệm khácnhau hoặc các câu trả lời của đối tượng không nhất quán Có nhiều thông số đượcchọn để thể hiện độ tin cậy, trong đó hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng rộng rãi.Nhà nghiên cứu không dùng Cronbach’s alpha để so sánh giữa các công cụ vớinhau, mà chỉ để xét xem công cụ đang sử dụng trên nhóm đối tượng cụ thể với cáchtiến hành cụ thể đáng tin cậy ở mức nào Vì công thức tính của Cronbach’s alphaphụ thuộc vào số lượng câu hỏi và cỡ mẫu nên đã có nhiều mức giá trị alpha được

đề nghị để đánh giá thang đo “đủ tốt” Nhìn chung, mức 0,7 trở lên được cho là

“chấp nhận được”, 0,8 trở lên là “tốt” và 0,9 trở lên là “xuất sắc” [22],[70],[71]Cronbach’s alpha đôi khi không đủ để gợi ý câu hỏi nào bị dư thừa nên cần đánhgiá thêm các chỉ số khác như tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh (item-restcorrelation) và trung bình tương quan giữa các câu (average inter-item correlation).Tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh là mối tương quan giữa một câu trong bảnghỏi với các thành phần còn lại của bảng hỏi (trừ câu đó ra) Trong khi đó, trung bìnhtương quan giữa các câu là mối tương quan giữa câu đó và toàn bộ bảng hỏi (baogồm cả câu đó) Nếu Cronbach’s alpha khi bỏ đi câu hỏi tăng lên so với Cronbach’salpha chung thì gợi ý việc bỏ đi câu hỏi có thể tăng độ tin cậy cho thang điểm [59].Một câu hỏi nên có hệ số tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh nằm trong khoảng 0,3đến 0,7 và trung bình tương quan giữa các câu từ 0,2 đến 0,4 Nếu thấp hơn các giớihạn dưới, nên loại câu hỏi đó ra khỏi thang đo vì nó không đánh giá cùng một lĩnh

Trang 27

vực thang đo đang hướng tới [33],[59] Ngược lại, nếu các chỉ số cao hơn các giớihạn trên, thang đo có vẻ đang quá hẹp và chuyên biệt, với các câu hỏi chỉ là cáchdiễn đạt khác nhau của cùng vấn đề [32],[59].

1.6.1.2 Độ tin cậy giữa các lần đo

Độ tin cậy giữa các lần đo được thể hiện bằng mức độ tương quan của kết quả

các lần đo khác nhau trên cùng một đối tượng Đối với các thang đo có người quansát (người phỏng vấn), độ tin cậy lập lại có thể được đánh giá dựa vào mức độtương quan giữa kết quả của những người quan sát khác nhau trên cùng một đốitượng, hoặc mức độ tương quan giữa các lần đo khác nhau của cùng một ngườiquan sát Còn đối với các thang đo do người dùng tự đọc và trả lời như PHQ-9, độtin cậy lặp lại được đánh giá dựa trên sự tương quan giữa các lần đo cách nhau mộtkhoảng thời gian hợp lý tùy theo tính chất của từng loại công cụ Khoảng thời giannày phải không quá dài vì vấn đề đánh giá có thể bị thay đổi, và không quá ngắn vìnhư vậy người dùng còn nhớ câu trả lời của mình trong lần trước Độ tin cậy giữahai lần đo (hay còn gọi là độ tin cậy đo – đo lại) này thể hiện độ ổn định theo thờigian của kết quả đo ở những người được cho là không có sự thay đổi ở lĩnh vựcđược đánh giá Độ tin cậy giữa hai lần đo thấp thể hiện rằng: (1) công cụ có thểđáng tin cậy, nhưng hiện tượng đang được đánh giá thay đổi nhanh theo thời gian,

ví dụ như cơn đau khớp hay cảm giác hài lòng; hoặc (2) thang đo không đáng tin;hoặc (3) lần làm thang đo đầu tiên có thể ảnh hưởng đáng kể đến lần tiếp theo Độtin cậy giữa hai lần đo thường được thể hiện bằng hệ số tương quan Pearson hoặcSpearman (dành cho biến định lượng, một người quan sát), Cohen’s Kappa (dànhcho biến định tính) hoặc hệ số tương quan nội lớp (ICC) và phương pháp Bland-Altman [71]

1.6.2 Tính giá trị

Giá trị là mức độ mà một công cụ đo lường được những gì mà nó muốn đo [71].

Nói cách khác, các thông tin trong tiến trình xác định giá trị một công cụ cho phépchúng ta tự tin hơn trong khi đưa ra tuyên bố diễn dịch từ kết quả đo Trong lịch sử

Trang 28

phát triển của ngành thống kê và lượng giá tâm lý, nhiều loại thông số và khái niệm

đã được đề xuất để biểu hiện giá trị của một thang đo Cho tới hiện nay, quan điểmđược chấp nhận rộng rãi nhất cho rằng các loại giá trị chính yếu của thang đo lượnggiá tâm lý bao gồm: giá trị nội dung (content validity), giá trị cấu trúc (constructvalidity) và giá trị tiêu chuẩn (criteria validity) [40],[71]

1.6.2.1 Giá trị nội dung

Một thang điểm có giá trị nội dung khi đánh giá đầy đủ các thuộc tính của một

vấn đề mà thang điểm đó muốn hướng tới Các thông tin thu thập được từ các câuhỏi càng đầy đủ thì những thông tin suy ra được từ kết quả thang đo mới càng gầnvới sự chính xác Ví dụ, theo DSM-5, cả hai trường hợp tăng hay giảm cảm giácthèm ăn, tăng hay giảm cân đáng kể đều được tính là triệu chứng của trầm cảm [9].Nếu thang đo chỉ hỏi về mức độ chán ăn hay sụt cân của người được khảo sát thì sẽđánh giá không đầy đủ và bỏ qua triệu chứng ở những người ăn nhiều hơn bìnhthường hoặc tăng cân Suy luận về trầm cảm từ kết quả thang đo này, từ đó cũngkhông chính xác và không đảm bảo giá trị nội dung Một ví dụ khác, thang GAD-7của cùng nhóm tác giả với PHQ-9 được xây dựng nhằm tầm soát rối loạn lo âu lantỏa Tuy nhiên do sự thay đổi trong tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn này trong DSM-5

so với DSM-IV nên 7 câu hỏi của thang đo GAD-7 hiện nay chỉ đánh giá được 4trên 6 triệu chứng cơ thể của rối loạn lo âu lan tỏa theo DSM-5, thiếu 2 triệu chứng.Như vậy, thang GAD-7 cũng được nhận định là chưa đảm bảo giá trị nội dung đểđánh giá rối loạn lo âu lan tỏa theo DSM-5

Giá trị nội dung không được đánh giá dựa trên số liệu khảo sát mà dựa trên ýkiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực cần đo lường và có hiểu biết

về tiến trình lượng giá tâm lý Sau khi được tạo ra hay được dịch sang một ngônngữ mới, một thang đo cần nhận được sự đánh giá của các chuyên gia về nội dungcủa cả thang đo và từng thành phần trong đó [71]

Trang 29

1.6.2.2 Giá trị cấu trúc

Giá trị cấu trúc mô tả các kết quả có được khi sử dụng công cụ phù hợp như thế

nào với khái niệm lý thuyết mà công cụ đó muốn đo lường Nói cách khác, tiếntrình xác định cấu trúc là một tiến trình kiểm tra giả thiết Bởi vì có số lượng khônggiới hạn các giả thiết được đặt ra trong các khái niệm tâm lý, nên giá trị cấu trúc làmột khái niệm mang nghĩa rộng và tiến trình xác định giá trị cấu trúc dường nhưkhông có điểm dừng Trong lịch sử, đã có nhiều loại giá trị cấu trúc được đề nghịnhư giá trị phân biệt, giá trị hội tụ, giá trị xu hướng,… được đánh giá thông qua sosánh tương quan giữa kết quả thang đo với các thang đo khác [47] Ví dụ, trongnghiên cứu gốc, tác giả mô tả giá trị cấu trúc của PHQ-9 thông qua mối tương quannghịch với thang đo SF-20 đánh giá các chức năng quan trọng trong học tập, nghềnghiệp và xã hội [37] Trong một nghiên cứu khác tiến hành năm 2019, PHQ-9 thểhiện giá trị hội tụ với các thang đánh giá rối loạn căng thẳng sau sang chấn, phơinhiễm trực tiếp với sang chấn và các suy nghĩ nghiền ngẫm; trong khi giá trị phânbiệt được xem xét qua mối liên hệ với các thang đánh giá hỗ trợ xã hội và tiếp xúcgián tiếp với sự kiện sang chấn [20]

Bên cạnh đó, giá trị cấu trúc của thang đo cũng có thể được mô tả bằng kết quả

của chính thang đo đó thông qua tiến trình phân tích nhân tố khám phá (exploratory factor analysis) và phân tích nhân tố xác định (confirmatory factor

analysis) Trong đó, phân tích nhân tố khám phá được tiến hành lần đầu khi thang

đo (1) mới được tạo ra hoặc (2) mới được chuyển ngữ hoặc (3) mới được áp dụngtrên một dân số nhiều khác biệt so với dân số gốc Mục đích của tiến trình này nhằm

đề nghị mô hình nhân tố phù hợp của thang đo mới, hoặc phù hợp với thang đo cũkhi áp dụng trên nhóm dân số mới hay ngôn ngữ mới Sau đó, tiến trình phân tíchnhân tố xác định được tiến hành nhằm xác định lại xem mô hình đã được nêu ra dựavào thực nghiệm trước đó hay dựa vào giả thiết lý thuyết có phù hợp với bộ số liệutrong nghiên cứu lần này hay không [71] Trong phân tích nhân tố khám phá, giá trịhội tụ là xu hướng các biến quan sát có cùng tính chất hội tụ về cùng một nhân tố vàgiá trị phân biệt là xu hướng các biến quan sát hội tụ ở nhân tố này phân biệt với các

Trang 30

biến quan sát hội tụ ở nhân tố khác Khi biểu diễn trong ma trận kiểu mẫu (patternmatrix), tính hội tụ thể hiện ở các biến cùng tính chất nằm chung một cột nhân tốvới hệ số tải phù hợp; tính phân biệt thể hiện ở các biến khác tính chất tách thànhcác cột nhân tố riêng biệt, không có các biến tải nhiều hơn một nhân tố hoặc khi cóthì hệ số tải của biến ở nhân tố chính lớn hơn đáng kể so với hệ số tải ở nhân tố phụ[54].

1.6.2.3 Giá trị tiêu chuẩn

Giá trị tiêu chuẩn là mối tương quan giữa kết quả thang đo với một hoặc vài

phương pháp chẩn đoán khác được xem là “tiêu chuẩn vàng” Các “tiêu chuẩnvàng” này là các phương pháp đã được sử dụng trước đây, được chấp nhận rộng rãi

và thường phức tạp hơn về mặt triển khai hay tốn chi phí nhiều hơn so với thang đomới đang được phát triển Ví dụ đối với trầm cảm, tiêu chuẩn vàng thường được lựachọn là thăm khám phỏng vấn trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa tâm thần và chẩnđoán dựa trên bộ tiêu chuẩn chẩn đoán được chấp nhận rộng rãi là DSM-5 hay ICD-

10 Có hai loại giá trị tiêu chuẩn: giá trị đồng thời và giá trị tiên đoán Khi thang đo

và tiêu chuẩn vàng được đánh giá trong cùng thời điểm hoặc hai thời điểm gần

nhau, giá trị tiêu chuẩn của thang đo được gọi là giá trị đồng thời Ví dụ như khảo

sát bằng PHQ-9 và phỏng vấn với bác sĩ chuyên khoa được tiến hành trong cùngmột buổi nghiên cứu Trong khi đó, nếu tiêu chuẩn vàng chỉ có thể cho kết quả vào

một thời điểm nào đó trong tương lai thì giá trị tiêu chuẩn khi đó là giá trị tiên

đoán Ví dụ về khái niệm này là một thang đo đánh giá đầu vào của tân sinh viên

dùng để dự đoán kết quả đầu ra sau 4 năm học của chính các em ấy [71]

Trong trường hợp thang đo dùng để chẩn đoán hay tầm soát, với kết quả thang đo

là định lượng và kết quả tiêu chuẩn vàng là định tính, giá trị tiêu chuẩn được thể

hiện qua các thông số là độ nhạy và độ đặc hiệu Trong đó độ nhạy, còn được gọi

là dương tính thật, là tỉ lệ người được thang đo cho kết quả dương tính trong sốnhững người có bệnh Khi độ nhạy cao, nghĩa là dương tính thật cao, âm tính giả sẽthấp, nghĩa là ít người có bệnh bị bỏ sót hơn Vì vậy, các chương trình tầm soát

Trang 31

cộng đồng sẽ ưu tiên chọn thang đo hoặc điểm cắt có độ nhạy cao và độ đặc hiệu

cao hoặc chấp nhận được Bên cạnh đó, độ đặc hiệu, còn được gọi là âm tính thật,

là tỉ lệ người thang đo cho kết quả âm tính trong số những người không có bệnh.Khi độ đặc hiệu hay âm tính thật cao thì dương tính giả thấp, sẽ có ít trường hợpthực tế không mắc bệnh nhưng bị chẩn đoán nhầm là mắc bệnh Các thang đo hoặcđiểm cắt có độ đặc hiệu cao thường được dùng trong các bước kiểm có tính xácnhận (như trong lần xét nghiệm thứ hai của HIV) hoặc khi cần mô tả chính xác thựctrạng của các vấn đề cần lượng giá trong dân số Ngoài độ nhạy và độ đặc hiệu, cácthông số khác góp phần mô tả giá trị tiêu chuẩn của thang đo còn bao gồm giá trịtiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác và diện tích dưới đường cong[71]

Như vậy, tính giá trị và độ tin cậy của một thang lượng giá tâm lý được thể hiệnqua nhiều khái niệm khác nhau Ở nghiên cứu này, chúng tôi quan tâm đến giá trịnội dung, giá trị cấu trúc, giá trị tiêu chuẩn, đồng thời cũng đánh giá độ tin cậy nộitại và độ tin cậy giữa hai lần đo của thang PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trên đốitượng cụ thể là sinh viên y khoa Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho

thang đo PHQ-9

Giai đoạn 2: xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng

Việt trên đối tượng sinh viên y khoa

A Giai đoạn 1: chuyển ngữ, thích ứng văn hóa và đảm bảo giá trị nội dung cho thang đo PHQ-9

Thang điểm gốc tiếng Anh được tải về miễn phí từ trang webhttps://www.phqscreeners.com/ Theo thông báo của đơn vị sở hữu bản quyền,thang điểm có thể được sử dụng để dịch thuật và thực hiện nghiên cứu mà khôngcần xin phép (Phụ lục 1) Trên trang web này cũng chưa có PHQ-9 phiên bản tiếngViệt

Quy trình chuyển ngữ và chuẩn hóa thang điểm PHQ-9 trong nghiên cứu củachúng tôi được thiết kế dựa trên “Tiến trình chuẩn hóa và chỉnh sửa công cụ nghiêncứu” do Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị [77] Quy trình này gồm 5 bước: dịchxuôi – dịch ngược – trình với hội đồng chuyên môn – phỏng vấn nhận thức vànghiên cứu thử – hoàn thành bản dịch tiếng Việt chính thức

Quy trình 5 bước được mô tả cụ thể như sau:

Bước 1: Dịch xuôi

Chúng tôi mời 2 người biết song ngữ, với tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt và thông thạotiếng Anh, dịch bộ câu hỏi PHQ-9 từ Anh sang Việt Hai người được mời dịch gồmmột giảng viên bộ môn Ngoại Ngữ của Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

(đang là nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ học) và một thạc sĩ - bác sĩ chuyên ngànhtâm thần đang là giảng viên bộ môn Tâm Thần Đại học Y Dược Cần Thơ (Phụ lục2) Hai dịch giả này làm việc một cách độc lập với nhau.

Chúng tôi nhấn mạnh với các dịch giả rằng việc chuyển ngữ này tập trung vàongữ nghĩa hơn là dịch sát từng từ từng chữ Người dịch cần định hướng đối tượng

sử dụng bộ câu hỏi là sinh viên y khoa từ năm thứ nhất để lựa chọn ngôn từ phùhợp Ngoài ra, mỗi người dịch được yêu cầu ghi nhận lại những cụm từ khó dịchtrong bộ câu hỏi

Sau đó, hai người dịch và người thực hiện nghiên cứu sẽ gặp nhau để so sánh bảndịch tiếng Việt và bản gốc Tiếng Anh Bản dịch sau khi đi đến thống nhất được gọi

là “bản dịch xuôi hợp nhất” Kết quả thảo luận được nghiên cứu viên ghi nhận lại.

Bước 2: Dịch ngược

“Bản dịch xuôi hợp nhất” được chuyển ngữ lại sang tiếng Anh bởi hai người

dịch độc lập chưa từng biết về thang điểm này Hai người này cần có tiếng mẹ đẻ làTiếng Anh hoặc thông thạo tiếng Anh như người bản xứ Trong nghiên cứu này,bản dịch ngược được thực hiện bởi một nghiên cứu sinh người Việt đang theo họcngành Tâm lý học tại Mỹ và một bác sĩ - giảng viên gốc Việt đang giảng dạy tạitrường đại học Úc (Phụ lục 2) Cả hai người lần lượt có 5 năm và 10 năm sinh sống,học tập và làm việc tại bản xứ

Sau đó, hai dịch giả sẽ họp với nhau để so sánh hai bản dịch ngược, thống nhất

và tạo ra “bản dịch ngược hợp nhất”.

Bước 3: Trình với hội đồng chuyên môn

Theo quy định, sự khác biệt giữa bản dịch ngược và bản gốc sẽ được trao đổi vàchỉnh sửa theo ý kiến của tác giả bản gốc và/hoặc hội đồng chuyên môn cho tới khiđạt được bản dịch tương đương với bản gốc [77]

Thang điểm PHQ-9 không có thông tin liên lạc của người chịu trách nhiệm cụ thểnên chúng tôi thông qua hội đồng chuyên môn để hoàn thiện quá trình chuyển ngữ

Trang 34

đồng thời tiến hành thích ứng văn hóa cho thang điểm Hội đồng chuyên môn gồmcác chuyên gia của nhiều lĩnh vực khác nhau, tất cả đều phải thông thạo tiếng Anh.Trong nghiên cứu của chúng tôi, hội đồng chuyên môn gồm có 4 người: một giáosư-bác sĩ tâm thần, một tâm lý gia, một giáo sư-bác sĩ gia đình-chuyên gia chuẩnhóa thang điểm, một giảng viên Tiếng Anh chuyên ngành y khoa (Phụ lục 2).

Hình thức làm việc của hội đồng là thảo luận bàn tròn Các thành viên hội đồng

sẽ so sánh sự tương đương giữa “bản dịch ngược hợp nhất” (tiếng Anh) với “bản

gốc” (tiếng Anh), xem xét tính phù hợp của “bản dịch xuôi hợp nhất” về mặt câu

từ, ngữ nghĩa, khái niệm và văn hóa, từ đó đề ra các chỉnh sửa cần thiết Mục đíchcủa buổi làm việc là thống nhất được phiên bản tiếng Việt gần chính thức, được đặt

tên là “bản dịch tiếng Việt thử nghiệm” (pre-final).

Hội đồng sẽ đánh giá quá trình chuyển ngữ dựa trên 4 tiêu chí: (1) – Tính rõràng: sử dụng câu từ đơn giản, trực tiếp; (2) – Tính phổ cập: dùng cách diễn đạt phổthông dễ hiểu thay vì các thuật ngữ chuyên ngành; (3) – Tính tương đương về kháiniệm, ngữ nghĩa, từng hạng mục và triển khai; (4) – Giá trị nội dung của thang đophiên bản tiếng Việt [23],[71],[77] Hội đồng cũng có thể đề nghị thay đổi các từngữ và cách diễn đạt trong thang điểm để phù hợp với văn hóa Việt Nam và bốicảnh người sử dụng bảng câu hỏi là sinh viên y khoa Ý kiến, quyết định của hộiđồng trong cuộc họp được ghi nhận đầy đủ bằng văn bản và tập tin ghi âm

Bước 4: Phỏng vấn nhận thức về thang điểm

Một nhóm 10 sinh viên y khoa có đa dạng điểm về giới tính, ngành học, địaphương sinh sống được tập hợp cho buổi phỏng vấn nhận thức về thang điểm

Trong buổi phỏng vấn, các sinh viên sẽ được làm khảo sát bằng “bản dịch tiếng Việt

thử nghiệm” Sau đó, các sinh viên được hỏi yêu cầu: (1) lặp lại câu hỏi bằng lối

diễn đạt của chính mình; (2) cho biết cách họ hiểu các câu hỏi, từ và khái niệm cótrong thang đo; (3) mô tả cách họ ra quyết định khi lựa chọn câu trả lời Nếu các câuhỏi khó hiểu hay khó trả lời thì chúng tôi hỏi rằng liệu sinh viên có đề xuất thay đổi

gì để bộ câu hỏi dễ hiểu hơn Người phỏng vấn cũng sẽ ghi nhận các cách hiểu khác

Trang 35

nhau của cùng một khái niệm, các từ ngữ đối tượng không hiểu hoặc làm cho đốitượng cảm thấy bị xúc phạm, không chấp nhận được Nếu có nhiều cách diễn đạtkhác thay thế cho cùng một khái niệm, các đối tượng được hỏi rằng họ cảm thấycách diễn đạt nào sẽ phù hợp hơn trong ngôn ngữ bình thường của số đông sinhviên y khoa.

Bước 5: Hoàn thành bản dịch tiếng Việt chính thức

Sau buổi phỏng vấn ở bước 4, bản dịch tiếng Việt được chỉnh sửa một lần nữa đểđảm bảo tính dễ hiểu và thống nhất đối với sinh viên Y khoa Sản phẩm của bước 5

này là “bản dịch tiếng Việt chính thức” (final) – tức là bảng câu hỏi được dùng

trong nghiên cứu ở giai đoạn 2

B Giai đoạn 2: xác định giá trị và độ tin cậy của thang đo PHQ-9 phiên bản tiếng Việt trên đối tượng sinh viên y khoa

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này được thiết kế theo mô hình cắt ngang mô tả có phân tích

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại cơ sở chính của Đại học Y Dược Thành phố HồChí Minh – 217 Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Trang 36

2.4 Mẫu nghiên cứu

2.4.1 Cỡ mẫu

Ở đây chúng tôi xét đến hai cách tính cỡ mẫu:

(1) Nếu tính cỡ mẫu theo công thức của nghiên cứu so sánh bắt cặp hai trungbình:

Chọn α = 0,05; β = 0,2; trung bình của khác biệt = 0,15, độ lệch chuẩn của khác

biệt = 0,25 thì n = 46 Trung bình của khác biệt và độ lệch chuẩn của khác biệt được

dựa trên một nghiên cứu trước đây đã sử dụng thang PHQ-9 [7] Như vậy, mẫu cầnthiết để nghiên cứu có giá trị là 46 người

(2) Nếu tính cỡ mẫu theo công thức của nghiên cứu diện tích dưới đường congROC [55], ta có các công thức và kết

quả sau:

Chọn α = 0,05, β = 0,2, zα/2 = 1,96, L =

A là tham số của phân phốibinomial

k là tỉ số giữa nhóm chứng vànhóm bệnh

AUC là diện tích dưới đường

Trang 37

Hình 2.1 Tính toán cỡ mẫu nghiên cứu diện tích dưới đường cong ROC

Trang 38

2.4.3 Tiêu chí chọn mẫu

Nghiên cứu của chúng tôi có các tiêu chuẩn nhận vào bao gồm:

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu - thể hiện qua văn bản cung cấp thông tinnghiên cứu và đồng thuận

- Là sinh viên y khoa năm thứ nhất

- Đang theo học tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh trong thời giantham gia nghiên cứu

- Từ đủ 18 đến đủ 30 tuổi tính tới ngày làm khảo sátBên cạnh đó các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm:

- Không thông hiểu tiếng Việt

- Đang có biểu hiện loạn thần, đang được chẩn đoán và điều trị ít nhất mộtbệnh trong nhóm rối loạn loạn thần

- Đang ở trong trạng thái không phù hợp để tham gia trả lời bộ câu hỏi hayphỏng vấn, ví dụ như bồn chồn, bứt rứt, kích động, gây hấn… (do nghiên cứuviên đánh giá tại thời điểm lấy mẫu)

- Không thể tập trung để đọc hiểu bộ câu hỏi hay trả lời phỏng vấn (do nghiêncứu viên đánh giá tại thời điểm lấy mẫu)

- Không thể dành đủ thời gian cho việc làm bảng câu hỏi PHQ-9 và phỏng vấncấu trúc (do nghiên cứu viên đánh giá tại thời điểm lấy mẫu)

2.5 Phương tiện nghiên cứu

Các bộ câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: phiếu thu thập thông tinchung (Phụ lục 3), thang đo tầm soát trầm cảm PHQ-9 phiên bản tiếng Việt (Phụlục 4), bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc MINI (Phụ lục 5)

Quy trình tập huấn sử dụng phương tiện nghiên cứu

Sinh viên được hướng dẫn các điền bộ câu hỏi PHQ-9 tại giảng đường, trước khilấy số liệu Trong qua trình làm khảo sát, thắc mắc của sinh viên và cách làm thang

đo được các nghiên cứu viên giải đáp trực tiếp

Trang 39

Các bác sĩ chuyên khoa tâm thần được tập huấn thăm khám và ghi nhận kết quảphỏng vấn bằng bộ câu hỏi MINI Buổi tập huấn kéo dài 01 giờ, trong đó 05 bác sĩthống nhất cách tiếp cận của từng câu hỏi trong bảng hỏi Các thành viên nêu rathắc mắc của mình và thống nhất phương án xử trí Sau đó, mỗi bác sĩ sẽ thực thànhtiếp cận bằng bộ câu hỏi MINI trên 2 bác sĩ khác, các thành viên còn lại quan sátquá trình và góp ý Ngoài ra, các tình huống phát sinh trong khi thăm khám thực tế

sẽ được giải quyết qua thông qua tham khảo ý kiến của nghiên cứu viên

2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu

Bước 1: mời tham gia nghiên cứu lần thứ nhất

Người nghiên cứu liên hệ với ban đào tạo khoa Y để xin phép thực hiện nghiêncứu và nhận danh sách các sinh viên y khoa năm thứ nhất năm học 2019-2020 (dựkiến khoảng 400 sinh viên) Thông qua các kênh liên lạc giữa ban đào tạo khoa vàkhối lớp, sinh viên được báo trước 01 tuần về mục đích, nội dung, hình thức tiếnhành nghiên cứu

Bước 2: làm khảo sát lần thứ nhất

Sinh viên tập trung trên giảng đường và thực hiện bài khảo sát trên giấy Buổi

khảo sát được tiến hành vào buổi chiều, sau giờ học lý thuyết Trước khi bắt đầukhảo sát, nghiên cứu viên trình bày các thông tin về mục đích, cách thức tiến hành

và ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời giải đáp các thắc mắc (nếu có) Sinh viên đọchiểu, đồng ý và ký vào văn bản đồng thuận tham gia nghiên cứu Các sinh viênkhông đồng thuận được yêu cầu nghiên cứu viên giải thích thêm hoặc từ chối thamgia nghiên cứu

Sinh viên đọc bảng câu hỏi được in trên giấy và chọn các câu trả lời phù hợp vớitình trạng của mình Trên màn hình của giảng đường có chiếu một đồng hồ đếmgiây đang chạy Khi bắt đầu và kết thúc làm thang điểm, sinh viên nhìn lên đồng hồnày và ghi lại thời điểm đang hiển thị Thao tác này giúp xác định thời gian sinhviên cần để hoàn thành thang điểm PHQ-9

Trang 40

Sau khi hoàn thành lần thứ nhất, sinh viên được tặng phần quà cảm ơn trị giá5.000 VNĐ Chúng tôi cũng giải thích về việc sẽ mời các sinh viên tham gia nghiêncứu lần thứ hai dựa trên lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách.

Bước 3: mời tham gia nghiên cứu lần thứ hai

Từ danh sách tham gia nghiên cứu lần thứ nhất, nghiên cứu viên dùng công cụtrên trang random.org để chọn ra danh sách ngẫu nhiên 90 sinh viên Nhóm nghiêncứu liên lạc với từng sinh viên trong danh sách này qua email và điện thoại để mờitham gia nghiên cứu lần thứ hai

Bước 4: làm khảo sát lần thứ hai và phỏng vấn cấu trúc

Lần thứ hai cách lần thứ nhất 10 ngày, với cùng điều kiện tại giảng đường và bàikhảo sát trên giấy như lần thứ nhất Trong buổi này, sinh viên thực hiện khảo sátbằng thang điểm và tham gia phỏng vấn cấu trúc cùng các bác sĩ chuyên khoa tâmthần Các bác sĩ này hoàn toàn không biết về kết quả PHQ-9 của sinh viên

Sinh viên được chia làm hai nhóm cùng số lượng nhưng khác nhau về trình tựthực hiện nghiên cứu Nhóm A được làm thang điểm PHQ-9 trước và phỏng vấncấu trúc sau Nhóm B tiến hành theo trình tự ngược lại

- Khảo sát lần hai cũng bao gồm giải thích quy trình, mục đích, giải đáp thắcmắc, làm thang điểm, ghi thời gian… tương tự như ở bước 2

- Phỏng vấn cấu trúc bao gồm việc bác sĩ chuyên khoa tâm thần dựa vào bộ câuhỏi MINI để phỏng vấn sinh viên nhằm chẩn đoán trầm cảm theo tiêu chuẩnDSM-5

Sau khi tham gia lần thứ hai, sinh viên được nhận thư cảm ơn kèm với phần quàtặng và hiện kim trị giá 50.000 VNĐ

Bước 5: nhập liệu và phân tích số liệu

Hình sau đây tóm tắt các bước tiến hành giai đoạn hai của nghiên cứu

Ngày đăng: 03/07/2021, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w