1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở việt nam

84 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua kiểm định đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả dựa trên mô hình hiệu chỉnh sai số ECM Error Correction Model, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cân bằng dài hạn g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

DƯƠNG THỊ KIM HUỆ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ MỞ CỬA THƯƠNG MẠI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

DƯƠNG THỊ KIM HUỆ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ MỞ CỬA THƯƠNG MẠI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS TRẦN NGỌC THƠ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Nghiên cứu tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tác giả Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng và các kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy GS.TS Trần Ngọc Thơ TP.HCM, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Học viên

Dương Thị Kim Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Bố cục luận văn 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5

2.1 Các khái niệm 5

2.2 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 6

2.3 Mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế 20

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Mô hình nghiên cứu 30

3.1.1 Kiểm định tính dừng 30

3.2.2 Kiểm định đồng liên kết 31

Trang 5

3.3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả 33

3.2 Dữ liệu và mô tả các biến 34

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 39

4.2 Hệ số tương quan 42

4.3 Kiểm định nghiệm đơn vị 43

4.4 Kiểm định đồng liên kết 44

4.4.1 Xác định độ trễ tối ưu 44

4.4.2 Kiểm định đồng liên kết 46

4.5 Kết quả từ mô hình ECM 51

4.6 Phân tích phản ứng xung 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 63 Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- ADF: Augmented Dickey Fuller

- BVAR: Bivariate Vector Autoregression Model

- ECM: Error Correction Model

- FM-OLS: Fully Modified - Ordinary Least Squares

- GDP: Gross Domestic Product

- GMM: Generalized Method of Moments

- IMF: International Monetary Fund

- VAR: Vector Autoregression Model

- VECM: Vector Error Correction Model

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của phát triển tài chính

đến tăng trưởng kinh tế 12

Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế 25

Bảng 3.1: Tóm tắt các biến nghiên cứu 34

Bảng 4.1: Các giá trị thống kê mô tả về các biến giai đoạn từ quý 1/1998 đến quý 1/2014 42

Bảng 4.2: Hệ số tương quan giữa các biến lrgdp, lrgdp_capita, lrm2/GDP, lrm2-currency/GDP, lrtotaltrade/GDP và lrtrade/GDP trong giai đoạn từ quý 1/1998 đến quý 1/2014 43

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF 44

Bảng 4.4: Xác định độ trễ tối ưu 45

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đồng liên kết 50

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả theo mô hình ECM 59

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Phản ứng của gdp trước cú sốc của biến phát triển tài chính 62 Hình 4.2: Phản ứng của gdp trước cú sốc của biến mở cửa thương mại 62

Trang 9

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xem xét tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Bên cạnh đó bài nghiên cứu còn xác định xem có tồn tại hay không mối quan hệ giữa phát triển tài chính và mở cửa thương mại với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong dài hạn Thông qua kiểm định đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả dựa trên mô hình hiệu chỉnh sai số ECM (Error Correction Model), kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa phát triển tài chính và mở cửa thương mại với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Thêm vào đó, kiểm định quan hệ nhân quả dựa trên

mô hình ECM cho thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính với tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại với tăng trưởng kinh tế Qua đó, bài nghiên cứu ủng hộ cho giả thuyết phát triển tài chính và mở cửa thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng không những phát triển tài chính và mở cửa thương mại tác động đến tăng trưởng kinh tế mà tăng trưởng kinh tế cũng có tác động ngược lại lên phát triển tài chính và mở cửa thương mại

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, khi mà xu hướng toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ thì mối liên hệ giữa tài chính và độ mở thương mại với tăng trưởng kinh tế lại càng trở nên sâu sắc Sự phát triển tài chính đã giúp cho nguồn lực kinh tế của các quốc gia vững mạnh hơn, thêm nữa, việc tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã góp phần làm cho các quốc gia đang phát triển gặt hái được những thành tựu về mở rộng thương mại để từ đó tạo nền tảng cho xây dựng một nền kinh tế phát triển

Đã có khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm của những nhà nghiên cứu kinh tế ghi nhận tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Phần lớn các nghiên cứu đều ủng hộ cho quan điểm phát triển tài chính có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Điển hình là các nghiên cứu của Goldsmith (1969), King và Levine (1993), Rajan và Zingale (1998), Beck và Levine (2004), Bittencourt (2010)

… Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng có ít hoặc không có bằng chứng về mối tương quan dương giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ví

dụ như là nghiên cứu của Shan và Morris (2002), Boulila và Trabelsi (2004), De Gregorio và Guidotti (1995) Tương tự như vậy, mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế cũng đã được phân tích và nghiên cứu, kết quả trong hầu hết các nghiên cứu đều ủng hộ quan điểm cho rằng việc tăng cường mở cửa thương mại có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điển hình như là các nghiên cứu của Edwards (1992), Rodriguez và Rodrik (2000), Yanikkaya (2003), Arif và Ahmad (2012)…

Việt Nam là một trong những quốc gia đổi mới thành công nền kinh tế Sau gần 30 năm, hệ thống tài chính của cơ chế kinh tế mới, nền kinh tế thị trường đã được tạo dựng, nước ta cũng đã hòa nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, theo đó

là quá trình mở cửa thương mại, tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO,

Trang 11

tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đạt được những thành quả rõ nét: giai đoạn

1986-1990, mặc dù là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, khủng hoảng liên tục và kéo dài nhưng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, GDP tăng 4,4%/năm; giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giai đoạn 1996-

2000 mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực, thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp nhưng chúng ta vẫn duy trì được tốc độ tăng GDP đạt 7%; bình quân từ năm 1991-2000 GDP tăng 7,6%/năm

Và vấn đề được đặt ra ở đây là có phải sự phát triển tài chính và mở cửa thương mại là những yếu tố đưa đến sự tăng trưởng kinh tế nhanh như hiện nay không? Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu và có những kết quả khác nhau, tuy nhiên ở Việt Nam lại vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, để có thể đánh giá được sự ảnh hưởng của phát triển tài chính và mở cửa thương mại tới tăng trưởng kinh tế; xem xét mối quan hệ trong dài hạn giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế

ở Việt Nam” để nghiên cứu trong luận văn của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xem xét tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

- Xem xét mối quan hệ trong dài hạn giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh

tế, giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

1.3 Bố cục luận văn

Cấu trúc của bài nghiên cứu được trình bày như sau:

 Chương 1: Giới thiệu

Giới thiệu lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 12

 Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

Trình bày cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trong chương này sẽ giới thiệu về mô hình nghiên cứu và phương pháp định lượng mà tác giả sử dụng

 Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Từ phương pháp nghiên cứu, mô hình định lượng được sử dụng, tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho mối quan hệ giữa quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

 Chương 5: Kết luận

Chương này sẽ tóm tắt lại toàn bộ các kết quả nghiên cứu chính của đề tài, nêu

ra hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Các khái niệm

(1) Tăng trưởng kinh tế

Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa hay GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội

Theo Kulkarni, Kishore G.(2008) trong chương 3 của tác phẩm “Principle of Macro-Monetary Economics”, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm

quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia tính bình quân trên đầu người (GDP bình quân đầu người) trong một thời gian nhất định

Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ…được khai thác và sử dụng có hiệu quả Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn…

Trang 14

McKinnon (1991) trong tác phẩm “The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy” đã đề cập đến thuật ngữ

“phát triển tài chính theo chiều sâu”, theo đó phát triển tài chính theo chiều sâu là sự gia tăng tỷ lệ giá trị các tài sản tài chính so với GDP

(3) Mở cửa thương mại

Có nhiều quan điểm về việc tính toán độ mở cửa thương mại của một quốc gia Có quan điểm cho rằng đó là việc loại bỏ hàng rào thuế quan và đưa ra các chính sách mở cửa thương mại Có một số nghiên cứu lại sử dụng công cụ là độ bóp méo thương mại, độ bóp méo thương mại càng ít thì độ mở thương mại càng tăng Hay một số nghiên cứu khác lại cho rằng mở cửa thương mại có thể đo lường bằng việc đánh giá độ chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực, hay sự chênh lệch giữa thị trường chính thức và thị trường phi chính thức Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến mở cửa thương mại có nghĩa là sự mở cửa của một quốc gia với quốc gia khác thể hiện trong việc thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

2.2 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được khởi xướng bởi Schumpeter (1912), Debreu (1959), Arrow (1964) Joseph

Schumpeter (1912) trong “The Theory of Economic Development” : lập luận rằng

một hệ thống tài chính vận hành tốt giúp đưa tiết kiệm vào đầu tư, thúc đẩy cải tiến

kỹ thuật và từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế Hệ thống tài chính phát triển sẽ tạo điều kiện đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro cho người gửi tiết kiệm,

và cung cấp nhiều sự lựa chọn cho nhà đầu tư gia tăng lợi nhuận Một chức năng quan trọng của hệ thống tài chính là thu thập và xử lý thông tin về dự án đầu tư một cách hiệu quả làm giảm chi phí đầu tư cho các nhà đầu tư cá nhân Thông qua việc giảm chi phí và tăng hiệu quả đầu tư, phát triển tài chính làm tăng tiết kiệm, quyết định đầu tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ từ đó làm cho kinh tế tăng trưởng Khi

Trang 15

kinh tế tăng trưởng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tiết kiệm và đầu tư tăng, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển

Một quan điểm ngược lại thì cho rằng hệ thống tài chính chỉ có một vai trò rất nhỏ trong quá trình phát triển của các khu vực sản xuất Quan điểm “sòng bạc” (casino hypothesis) cho rằng nhà nước hoàn toàn có thể không cần chú ý tới hệ thống tài chính hoặc thậm chí còn có thể coi đó là có hại cho tăng trưởng và phân phối thu nhập Điển hình là Keynes, ông cho rằng nếu không quản lý tiền thận trọng thì có thể sẽ gây ra phá hủy nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế

Vai trò quan trọng của phát triển tài chính trong bất kỳ quá trình nào của phát triển kinh tế đã được đề cập đến trong rất nhiều cuộc tranh luận về kinh tế và nghiên cứu tài chính Các quan điểm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được đưa ra trong các nghiên cứu thực nghiệm như sau:

Trước hết, Goldsmith (1969) là người đầu tiên tìm thấy mối tương quan dương giữa tăng trưởng và các chỉ số phát triển tài chính Phù hợp với nghiên cứu của Goldsmith, King và Levine ( 1993) đã chứng minh rằng hệ thống tài chính tốt

sẽ góp phần tạo ra các cải tiến kỹ thuật và phát triển tài chính, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế King và Levine đã xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bốn thước đo phát triển tài chính ở 80 quốc gia trong giai đoạn 1960 – 1989 Bốn thước đo tài chính đó là: (1) LLY là tỷ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP, (2) Ngân hàng là tỷ lệ tài sản ngân hàng với tài sản ngân hàng cộng tài sản ngân hàng trung ương, (3) Tư nhân là tỷ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính với tổng tín dụng nội địa (4) PRIVY là tỷ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính trên GDP Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trung gian tài chính sẽ thúc đẩy tích lũy vốn và cải tiến kỹ thuật góp phần làm tăng năng suất các thành phần kinh tế, điều này dẫn đến tăng trưởng kinh tế đặc biệt là với các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển

Trang 16

Murinde và Eng (1994), nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Singapore cho giai đoạn 1979-1990 Nghiên cứu sử dụng 3 nhóm biến tài chính bao gồm Mi, Hi, Vi với i =1,2,3 Đầu tiên là Mi đại diện cho tổng cung tiền bao gồm M1, M2 và M3; thứ hai là Hi đại diện cho tỷ lệ tiền tệ với H1 = ACC/M1, H2 = ACC/M2, H3 = ACC/M3 (ACC là tiền đang lưu thông); thứ

ba là Vi đại diện cho biến lưu hành tiền tệ: V1 = M1/ GNP, V2 = M2/GNP, V3 = M3/GNP Thông qua kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết, kiểm định quan

hệ nhân quả và sử dụng mô hình BVAR, bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ sự phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế, điều này chứng minh cho chính sách tái cơ cấu tài chính được thực hiện bởi chính phủ của quốc gia này trong những năm 1980

Rajan và Zingales (1998), sử dụng dữ liệu ngành để nghiên cứu tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu cho rằng phát triển tài chính có ảnh hưởng ổn định đến tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng ngành công nghiệp ở những nước có thị trường tài chính phát triển tốt thì tăng trưởng nhanh hơn so với các ngành tương đương ở các thị trường tài chính kém phát triển

Darrat (1999), sử dụng kiểm định nhân quả Granger đa biến để điều tra mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở 3 quốc gia Trung Đông bao gồm Ả Rập Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển tài chính là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng kinh tế

Beck và Levine (2004), nghiên cứu tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán và sự phát triển của các ngân hàng, hai thành phần chủ đạo đến tăng trưởng kinh tế Bằng cách sử dụng dữ liệu bảng được tổng hợp từ 40 quốc gia cho giai đoạn 1976-1998 và kỹ thuật GMM, bài nghiên cứu tìm thấy rằng cả thị trường chứng khoán và các ngân hàng đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Trang 17

Christopoulos and Tsionas (2004), nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở 10 quốc gia đang phát triển Tác giả sử dụng kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng kiểm định đồng liên kết ngưỡng, và dữ liệu bảng năng động cho mô hình vector sửa lỗi (VECM) Mối quan hệ trong dài hạn được kiểm tra bằng cách sử dụng hồi quy FM-OLS Các kết quả thực nghiệm hỗ trợ giả thuyết cho rằng

có một mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng

và kết quả đồng liên kết cho thấy có mối quan hệ nhân quả một chiều từ chiều sâu tài chính đến tăng trưởng kinh tế

Chang và Caudill (2005), nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính

và tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan từ năm 1962-1998 Nghiên cứu sử dụng mô hình vector tự hồi quy VAR để kiểm định giả thuyết nguồn cung dẫn dắt (supply-leading) với nguồn cầu phụ thuộc (demand-following) Kết quả kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình VECM cho thấy quan hệ nhân quả một chiều từ phát triển tài chính ( được đo lường bằng tỷ lệ M2 so với GDP) đến tăng trưởng kinh tế Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của phát triển tài chính trong sự phát triển của Đài Loan, đặc biệt là trong những năm 1990

Seetanah và cộng sự (2008), nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm tra giả thuyết rằng có một mối liên hệ tích cực và đáng kể giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong các nền kinh tế đảo Bài nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (GMM) cho một mẫu bao gồm 20 nền kinh tế đảo trong khoảng thời gian 22 năm (từ 1980 đến 2002) Kết quả hiệu ứng “fix-effect” cho thấy phát triển tài chính

có đóng góp tích cực vào mức tăng sản lượng của các nền kinh tế đảo

Yucel (2009), nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ cho giai đoạn 1989-2007 Nghiên cứu sử dụng tỷ lệ M2 so với GDP làm thước đo phát triển tài chính Thông qua kiểm định nghiệm đơn

vị ADF, kiểm định đồng liên kết Johansen and Juselius (JJ) và kiểm định nhân quả Granger , bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát

Trang 18

triển tài chính, độ mở cửa thương mại và tăng trưởng, phát triển tài chính và độ mở

cửa thương mại có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế

Bittencourt (2010) nghiên cứu vai trò của phát triển tài chính trong việc thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế ở bốn quốc gia châu Mỹ La tinh bao gồm Argentina,

Bolivia, Brazil và Peru, thời gian nghiên cứu từ năm 1980 đến năm 2007 Bài

nghiên cứu sử dụng hai tỷ lệ cung tiền M2 so với GDP và tỷ lệ vốn hóa thị trường

chứng khoán so với GDP làm thước đo cho sự phát triển tài chính Dựa trên phân

tích bảng dữ liệu theo chuỗi thời gian cho thấy phát triển tài chính dẫn đến việc các

doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự ổn định kinh tế vĩ mô như là một điều

kiện cần thiết cho sự phát triển tài chính

Khadraoui (2012), nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét lại mối

quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các cách tiếp cận kinh tế

khác nhau Nghiên cứu tiến hành với một bảng dữ liệu của 70 quốc gia trong giai

đoạn từ 1970 đến 2009 để điều tra vai trò của phát triển tài chính (được đo bằng tỷ

lệ tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP) trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế cho các nhóm nước khác nhau Tác giả đã sử dụng cả LS (hiệu ứng cố định), ước

lượng GMM-Difference và GMM-System cho dữ liệu bảng năng động Kết quả tìm

thấy có một mối tương quan tích cực giữa các chỉ số phát triển tài chính và tăng

trưởng kinh tế Tập hợp dữ liệu xuyên quốc gia tập hợp lớn với thời gian dài đã giúp

các nhà nghiên cứu khám phá một cách chặt chẽ mối quan hệ giữa tài chính phát

triển và tăng trưởng kinh tế Kết quả thực nghiệm củng cố ý tưởng rằng phát triển

tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh đó cũng có các nghiên cứu tìm thấy ít hoặc không có bằng chứng

về mối tương quan giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế:

De Gregorio và Guidotti (1995) nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa tăng

trưởng và phát triển tài chính đại diện bởi tỷ lệ giữa tín dụng tư nhân so với GDP

Trang 19

Họ thấy rằng đại lượng này tương quan cùng chiều với tăng trưởng trong một mẫu

dữ liệu chéo các quốc gia, nhưng tác động của nó thay đổi giữa các quốc gia, và có tương quan âm trong bảng dữ liệu cho châu Mỹ La tinh Điều này được lý giải rằng đây là kết quả của tự do hóa tài chính trong một môi trường pháp lý kém

Demetriades và Hussein (1996) kiểm định mối quan hệ hai chiều giữa phát triển tài chính và GDP thực Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, mẫu được chọn gồm 16 quốc gia từ dữ liệu IMF Tác giả sử dụng lý thuyết đồng liên kết

và cơ chế hiệu chỉnh sai số (ECM) với 2 biến tài chính là tỷ lệ tiền gửi ngân hàng trên GDP và tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP Tác giả cũng sử dụng phương pháp Engle và Granger 2 giai đoạn và phương pháp Johasen (1988) để kiểm định sự tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính Kết quả kiểm định cung cấp rất ít bằng chứng về vai trò của tài chính trong quá trình phát triển kinh tế( tỷ lệ số lượng quốc gia trong 16 quốc gia quan sát được tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế là rất thấp)

Shan và Morris (2002), sử dụng kỹ thuật kiểm tra quan hệ nhân quả Toda & Yamamoto nghiên cứu các mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, dữ liệu được lấy theo quý từ 19 quốc gia OECD và Trung Quốc Nghiên cứu tìm thấy bằng chứng ít ỏi về tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Điều này cũng dẫn đến nghi ngờ về tuyên bố rằng phát triển tài chính là điều cần thiết để tăng trưởng kinh tế

Boulila và Trabelsi (2004), nghiên cứu quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi Bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật kiểm định đồng liên kết hoặc kiểm định nhân quả Granger, kết quả là tìm thấy ít bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm rằng tài chính là một lĩnh vực trong việc thúc đẩy tăng trưởng dài hạn ở các nước trong khu vực Kết quả này có thể liên quan đến các vấn đề sau: (1) sự kiểm soát tài chính chặt chẽ trong thời gian dài của các nước trong khu vực; (2) sự chậm trễ trong việc thực hiện cải cách tài chính tại các quốc gia; (3) những khoản cho vay không hiệu quả trong việc thực hiện cải

Trang 20

cách; (4) chi phí thông tin và giao dịch cao, ngăn chặn việc thúc đẩy phát triển tài chính theo chiều sâu

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của phát triển tài chính

đến tăng trưởng kinh tế

nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu Nghiên cứu cho rằng phát triển tài chính có tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế

Levine

1993 Finance,

entrepreneurship, and growth:

Theory and evidence

Sử dụng hồi quy

dữ liệu chéo giữa các quốc gia để xem xét mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bốn thước đo phát triển tài chính

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trung gian tài chính sẽ thúc đẩy tích lũy vốn và cải tiến

kỹ thuật góp phần làm tăng năng suất các thành phần kinh tế tích lũy vốn và tăng năng suất các thành phần kinh tế, dẫn đến tăng trưởng kinh tế đặc biệt

là với các quốc gia có hệ thống tài chính phát

Trang 21

growth in Singapore:

demand-following

or supply-leading?

Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế thông qua kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả

và sử dụng mô hình BVAR

Tìm thấy mối quan hệ nhân quả một chiều

từ sự phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế

Rajan và

Zingales

1998 Financial

Dependence and Growth

Sử dụng dữ liệu bảng và kỹ thuật GMM, nghiên cứu tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán và sự phát triển của các ngân hàng đến tăng trưởng kinh tế

Cả thị trường chứng khoán

và các ngân hàng đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Darrat 1999 Are financial

deepening and economic growth causally related?

Sử dụng kiểm định nhân quả Granger

đa biến để điều tra mối quan hệ giữa phát triển tài chính

và tăng trưởng kinh tế ở 3 quốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển tài chính là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng

Trang 22

gia Trung Đông kinh tế

nghiên cứu tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán và sự phát triển của các ngân hàng, hai thành phần chủ đạo đến tăng trưởng kinh tế

Tìm thấy rằng

cả thị trường chứng khoán

và các ngân hàng đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Christopoulos

and Tsionas

2004 Financial

development and economic growth:

evidence from panel unit root and cointegration tests

Nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở 10 quốc gia đang phát triển Tác giả sử dụng kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết

dữ liệu bảng

Kết quả thực nghiệm hỗ trợ giả thuyết cho rằng có một mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng và có mối quan hệ

Trang 23

Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng kiểm định đồng liên kết ngưỡng, và dữ liệu bảng năng động cho mô hình vector tự sửa lỗi (VECM) Mối quan hệ trong dài hạn được kiểm tra bằng cách sử dụng hồi quy FM-OLS

nhân quả một chiều từ chiều sâu tài chính đến tăng trưởng kinh tế

Chang và

Caudill

2005 Financial

development and economic growth:

the case of Taiwan

Sử dụng mô hình vector tự hồi quy VAR và kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình VECM để nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan

Kết quả cho thấy quan hệ nhân quả một chiều từ phát triển tài chính ( được đo lường bằng tỷ lệ M2

so với GDP) đến tăng trưởng kinh tế

Seetanah và

cộng sự

2009 Financial

development and economic growth New evidence from

a sample of island

Bài nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (GMM)

để kiểm tra giả thuyết rằng có một

Kết quả hiệu ứng “fix-effect” cho thấy phát triển tài chính có

Trang 24

economies mối liên hệ tích

cực và đáng kể giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong các nền kinh

tế đảo

đóng góp tích cực vào mức tăng sản lượng của các nền kinh tế đảo

Yucel 2009 Causal

Relationships between Financial Development, Trade

Openness and Economic Growth:

The Case of Turkey

Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế thông qua kiểm định nghiệm đơn

vị ADF, kiểm định đồng liên kết Johansen and Juselius (JJ) và kiểm định nhân quả Granger

Tìm thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

Bittencourt 2010 Financial

Development and Economic Growth

in Latin America:

Schumpeter is Right!

Phân tích bảng dữ liệu theo chuỗi thời gian để nghiên cứu vai trò của phát triển tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Phát triển tài chính dẫn đến việc các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất và do

đó thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế

Khadraoui 2012 Financial Nghiên cứu được Kết quả tìm

Trang 25

Development and Economic Growth:

Static and Dynamic Panel Data

Analysis

tiến hành với một bảng dữ liệu của

70 quốc gia trong giai đoạn từ 1970 đến 2009 để điều tra vai trò của phát triển tài chính (được đo bằng tỷ

lệ tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP) trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các nhóm nước khác nhau Tác giả

đã sử dụng cả LS (hiệu ứng cố định), ước lượng GMM-Difference và ước lượng GMM-System

thấy có một mối tương quan tích cực giữa các chỉ số phát triển tài chính

và tăng trưởng kinh tế Tập hợp dữ liệu xuyên quốc gia tập hợp lớn với thời gian dài đã giúp các nhà nghiên cứu khám phá một cách chặt chẽ mối quan hệ giữa tài chính phát triển và tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu tìm thấy ít hoặc không có bằng chứng về mối tương quan giữa

phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

De Gregorio

và Guidotti

1995 Financial

Development and Economic Growth

Sử dụng phân tích

dữ liệu xuyên quốc gia để nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng và phát

Nghiên cứu tìm thấy rằng phát triển tài chính tương quan cùng chiều với tăng trưởng

Trang 26

triển tài chính đại diện bởi tỷ lệ giữa tín dụng tư nhân so với GDP

trong một mẫu

dữ liệu chéo các quốc gia, nhưng tác động của nó thay đổi giữa các quốc gia, và có tương quan âm trong bảng dữ liệu cho châu

Mỹ La tinh Demetriades

và Hussein

1996 Does financial

development cause economic growth?

Time-series evidence from 16 countries

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, mẫu được chọn gồm 16 quốc gia từ dữ liệu IMF Tác giả sử dụng lý thuyết đồng liên kết và cơ chế hiệu chỉnh sai

số (ECM) với 2 biến tài chính là tỷ

lệ tiền gửi ngân hàng trên GDP và

tỷ lệ tín dụng tư nhân trên GDP

Tác giả cũng sử dụng phương pháp Engle và Granger

Kết quả kiểm định cung cấp rất ít bằng chứng về vai trò của tài chính trong quá trình phát triển kinh tế( tỷ lệ số lượng quốc gia trong 16 quốc gia quan sát được tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế là rất thấp)

Trang 27

2 giai đoạn và phương pháp Johasen (1988)

Morris

2002 Does Financial

Development 'Lead' Economic Growth?

Sử dụng kỹ thuật kiểm tra quan hệ nhân quả Toda &

Yamamoto nghiên cứu các mối quan

hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu tìm thấy bằng chứng ít ỏi về tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế Điều này cũng dẫn đến nghi ngờ

về tuyên bố rằng phát triển tài chính là điều cần thiết

để tăng trưởng kinh tế

Boulila và

Trabelsi

2004 The causality issue

in the finance and growth nexus:

empirical evidence from Middle East and North African countries

Bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật kiểm định đồng liên kết hoặc kiểm định nhân quả Granger để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và

Kết quả là tìm thấy ít bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm rằng tài chính

là một lĩnh vực trong việc thúc đẩy tăng trưởng dài hạn ở các

Trang 28

2.3 Mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế

Nguồn gốc của thương mại có thể phát sinh từ lý thuyết về lợi thế tuyệt đối

và lợi thế so sánh cũng như mô hình của Hecksher Ohlin (2001) Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được thiết lập bởi Adam Smith trong cuốn sách nổi tiếng của ông :

“Inquiry into the nature and the wealth of nation” năm 1776 Smith cho rằng

thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên lợi thế so sánh tuyệt đối Khi một quốc gia sản xuất một hàng hóa có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hóa thứ hai, hai quốc gia có thể thu lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hóa mà họ không có lợi thế Vào năm 1817, tác phẩm

“The Principles of Political Economy” của David Ricardo đã được xuất bản Lý

thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo cho thấy mỗi nước nên chuyên môn hóa việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà các quốc gia khác có lợi thế so sánh thì tất cả các quốc gia đều có lợi

Lý thuyết này đã chứng minh sự tồn tại lợi ích mậu dịch quốc tế cho tất cả các quốc gia tham gia, thậm chí đối với các quốc gia không có lợi thế tuyệt đối về tất cả các sản phẩm

Lợi ích từ mở cửa có thể lớn hơn nhiều Tuy nhiên để xác định và đo lường chúng thì đòi hỏi phải có một sự thay thế cách tiếp cận lý thuyết Mô hình tăng trưởng Solow cho rằng việc mở cửa thương mại sẽ giúp cho quốc gia đó thu hút vốn đầu tư và tiếp cận công nghệ từ các nước tiên tiến, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh

Trang 29

Nhiều nghiên cứu kinh tế đã được thực hiện nhằm phân tích tác động của mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế Các bài nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các kết quả khác nhau về tác động của mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế Trước hết là các nghiên cứu cho rằng mở cửa thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế:

Edwards (1992), sử dụng một dữ liệu xuyên quốc gia để phân tích mối quan

hệ giữa thương mại và tăng trưởng GDP của 30 nước đang phát triển trong giai đoạn 1970 đến năm 1982 Tác giả sử dụng 9 chỉ số khác nhau về xu hướng thương mại để tìm kiếm các dữ liệu hỗ trợ quan điểm cho rằng nền kinh tế mở có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các nền kinh tế đóng Các kết quả của mô hình bằng ước lượng bằng OLS tìm thấy rằng các chỉ số mở cửa thương mại có tương quan cùng chiều với mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người thực tế Kết quả nghiên cứu này ủng hộ giả thuyết rằng các quốc gia có một chế độ thương mại cởi mở hơn có

xu hướng phát triển nhanh hơn, và quốc gia có một chế độ thương mại bị hạn chế sẽ

có xu hướng phát triển chậm hơn

Levine và Renelt (1992), sử dụng hồi quy xuyên quốc gia để tìm kiếm các mối quan hệ thực nghiệm giữa tốc độ tăng trưởng dài hạn với các chính sách kinh

tế, chính trị Kết quả nghiên cứu xác định một sự tương quan dương mạnh mẽ giữa tăng trưởng và tỷ lệ đầu tư trên GDP, và giữa các cổ phiếu đầu tư và tỷ lệ thương mại quốc tế so với GDP Như vậy, tự do hóa tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tế là thông qua ảnh hưởng tích cực của nó đến sự tăng trưởng của đầu tư

Frankel và Romer (1999), phân tích sự khác biệt trong mức độ phát triển của

150 quốc gia, được đo lường bởi chỉ số GDP bình quân đầu người, nghiên cứu sử dụng biến địa lý như là một công cụ ngoại sinh để kiểm soát sự nội sinh trong biến thương mại Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi thương mại tăng lên 10% sẽ dẫn đến thu nhập bình quân đầu người tăng 20%

Trang 30

Rodriguez and Rodrik (2000) đã đặt câu hỏi liệu tự do hóa thương mại có tạo

ra tác động lan tỏa tích cực đến công nghệ và các phần còn lại của nền kinh tế hay không Họ nhấn mạnh rằng trong một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng các công ty thu được nhiều lợi ích từ phát triển công nghệ và lợi ích từ xuất khẩu Hai tác giả này kết luận rằng chính sách mở cửa thương mại (có nghĩa là các rào cản thuế quan và phi thuế quan thấp hơn) có liên quan đáng kể với tăng trưởng kinh tế

Emmanuel Anoruo and Yusuf Ahmad (2000), nghiên cứu mối quan hệ trong dài hạn giữa tăng trưởng GDP và mở cửa thương mại ở 5 nước Đông Nam Á bao gồm: Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1997 Tác giả sử dụng tỷ lệ tăng trưởng mậu dịch (xuất khẩu cộng nhập khẩu) đại diện cho mở cửa thương mại Kết quả ước lượng Johansen bác

bỏ giả thuyết rằng không có đồng liên kết giữa tăng trưởng kinh tế (GDP) và mở cửa thương mại, kết quả từ mô hình VECM cho thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại

Yanikkaya (2003), sử dụng ước lượng GMM để phân tích tác động của tự

do hóa thương mại đến tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người của 120 quốc gia cho giai đoạn từ 1970 đến 1997 Bài nghiên cứu sử dụng 2 loại thước đo

độ mở thương mại: thước đo độ mở thứ nhất được ước tính bằng việc sử dụng khối lượng thương mại trong đó bao gồm các tỷ lệ khác nhau của biến thương mại (xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu cộng nhập khẩu và thương mại với các quốc gia phát triển) so với GDP; thước đo thứ hai dựa trên các hạn chế thương mại bằng cách tính toán các hạn chế về ngoại hối của các khoản thanh toán song phương và các giao dịch hiện tại Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng độ mở dựa trên khối lượng thương mại thì có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa với tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người

Utkulu and Özdemir (2004), dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh, bài nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn giữa tự do hóa thương mại và thu nhập bình quân đầu người ở Thổ Nhĩ Kỳ Với dữ liệu được thu

Trang 31

thập hàng năm cho giai đoạn từ năm 1950-2000, tác giả sử dụng phân tích đồng liên kết đa biến và mô hình ECM để kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế Và phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu này đó là hạn chế thương mại có liên quan đến sự phát triển, điều này nêu bật tầm quan trọng của chính sách thương mại đối với các hoạt động kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ

Barahom và các cộng sự (2008), nghiên cứu về vai trò của mở cửa thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế tại Malaysia trong giai đoạn 1975-2005, bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận Bounds được đề xuất bởi Pesaran và các cộng sự (2001) Các kết quả thực nghiệm chứng minh rằng mở cửa thương mại có quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng cả trong ngắn hạn và dài hạn

Arif và Ahmad (2012), phân tích mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở Pakistan, nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng năm từ năm 1972 đến năm 2010 Bài nghiên cứu này sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số để phân tích mối quan hệ dài hạn giữa hai biến Kết quả cho thấy mở cửa thương mại và phát triển tài chính có mối quan

hệ cùng chiều trong dài hạn Nghiên cứu này cũng đã phân tích quan hệ nhân quả giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng bằng cách sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả Granger, kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger chỉ ra rằng có mối quan

hệ hai chiều giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế

Ngoài ra còn có các nghiên cứu cho rằng mở cửa thương mại ít có tác động hoặc tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế:

Jung và Marshall (1985) là một trong những người đầu tiên đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng Nghiên cứu này thực hiện kiểm định quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng cho 37 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1950-1981 Kết quả tìm thấy hướng quan hệ nhân quả giữa

Trang 32

xuất khẩu và tăng trưởng là không thuyết phục cho một tập hợp các quốc gia châu

Á

Vamvakidis (2002) sử dụng dữ liệu chéo để kiểm định mối quan hệ giữa

mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn từ 1920-1990 Kết quả chỉ ra rằng không có mối quan hệ cùng chiều giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế trước năm 1970

Siddiqui và Iqbal (2005) nghiên cứu tác động của chính sách tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế ở Pakistan giai đoạn 1972 –2002 Thông qua kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger , kết quả nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng GDP

Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của mở cửa thương mại

đến tăng trưởng kinh tế

nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu Nghiên cứu cho rằng mở cửa thương mại có tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế

Edwards 1992 Trade orientation,

distortions and growth in developing countries

Sử dụng một dữ liệu xuyên quốc gia để phân tích mối quan

hệ giữa thương mại

và tăng trưởng GDP

Kết quả nghiên cứu này ủng hộ giả thuyết rằng các quốc gia có một chế độ thương mại cởi

mở hơn có xu hướng phát triển nhanh hơn, và quốc gia có một chế độ thương

Trang 33

mại bị hạn chế

sẽ có xu hướng phát triển chậm hơn

Levine và

Renelt

1992 A Sensitivity Analysis

of Cross-Country Growth Regressions

Sử dụng hồi quy xuyên quốc gia để tìm kiếm các mối quan hệ thực nghiệm giữa tốc độ tăng trưởng dài hạn với các chính sách kinh

tế, chính trị

Kết quả nghiên cứu xác định một sự tương quan dương mạnh mẽ giữa tăng trưởng và

tỷ lệ đầu tư trên GDP, và giữa các cổ phiếu đầu tư và tỷ lệ thương mại quốc tế so với GDP Như vậy,

tự do hóa tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tế là thông qua ảnh hưởng tích cực của nó đến sự tăng trưởng của đầu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi thương

Trang 34

quốc gia, được đo lường bởi chỉ số GDP bình quân đầu người, nghiên cứu sử dụng biến địa lý như là một công cụ ngoại sinh để kiểm soát sự nội sinh trong biến thương mại

mại tăng lên 10% sẽ dẫn đến thu nhập bình quân đầu người tăng 20%

Sử dụng kiểm định đồng liên kết Johasen

và mô hình VECM

để nghiên cứu mối quan hệ trong dài hạn giữa tăng trưởng GDP và mở cửa thương mại

Kết quả tìm thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế

và mở cửa thương mại

Yanikkaya 2003 Trade openness and

economic growth:

a cross-country empirical investigation

Sử dụng ước lượng GMM để phân tích tác động của tự do hóa thương mại đến tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng

độ mở dựa trên khối lượng thương mại thì

có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa với tăng trưởng sản lượng bình quân đầu người

Trang 35

Utkulu and

Özdemir

2004 Does trade

liberalization cause a long run economic growth

in Turkey

Nghiên cứu nhằm kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn giữa tự

do hóa thương mại và thu nhập bình quân đầu người ở Thổ Nhĩ

Kỳ dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh

Tác giả sử dụng phân tích đồng liên kết đa biến và mô hình ECM

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế

Và phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu này đó là hạn chế thương mại

có liên quan đến

sự phát triển, điều này nêu bật tầm quan trọng của chính sách thương mại đối với các hoạt động kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ Baharom và

các cộng sự

2008 The relationship

between trade openness, foreign direct investment and growth: Case of Malaysia

Bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận Bounds được đề xuất bởi Pesaran và các cộng sự (2001)

Các kết quả thực nghiệm chứng minh rằng mở cửa thương mại có quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê

Trang 36

đến tăng trưởng

cả trong ngắn hạn và dài hạn

Arif và

Ahmad

2012 Impact of Trade

Openness on Output Growth:

Cointegration and Error Correction Model Approach

Bài nghiên cứu này

sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số

để phân tích mối quan hệ dài hạn giữa

mở cửa thương mại

và tăng trưởng kinh

tế ở Pakistan, nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng năm từ năm 1972 đến năm 2010.Nghiên cứu này cũng phân tích quan hệ nhân quả giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng bằng cách sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả Granger

Kết quả cho thấy mở cửa thương mại và phát triển tài chính có mối quan hệ cùng chiều trong dài hạn., kết quả kiểm định quan

hệ nhân quả Granger chỉ ra rằng có mối quan hệ hai chiều giữa mở cửa thương mại

và tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu cho rằng mở cửa thương mại ít có tác động hoặc tác động ngược

chiều đến tăng trưởng kinh tế

Jung và

Marshall

1985 Exports, growth and

causality in developing

Thực hiện kiểm định quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và

Kết quả tìm thấy hướng quan hệ nhân

Trang 37

Countries tăng trưởng cho 37

quốc gia đang phát triển

quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng là không thuyết phục cho một tập hợp các quốc gia châu

Á

Vamvakidis 2002 How Robust is

Growth Openness Connection?

Historical Evidence?

Sử dụng dữ liệu chéo để kiểm định mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia phát triển và đang phát triển

Kết quả chỉ ra rằng không có mối quan hệ cùng chiều giữa

mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế trước năm

an empirical investigation

Sử dụng kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger để nghiên cứu tác động của chính sách tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế

Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng GDP

Trang 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

Trong bài luận văn này, tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả dựa trên mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để kiểm định tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế dựa trên dữ liệu theo chuỗi thời gian (time series) như nghiên cứu của Antonio N.Bojanic

(2012) Mô hình hiệu chỉnh lỗi ECM như sau:

∆𝑌1𝑡 = 𝜃11𝑚(𝐿)∆𝑌1𝑡 + 𝜃12𝑚(𝐿)∆𝑌2𝑡+ 𝛼𝐸𝐶𝑇1𝑡−1+ 𝑎 + 𝜇1𝑡 (1)

∆𝑌2𝑡 = 𝜃21𝑚(𝐿)∆𝑌1𝑡+ 𝜃22𝑚(𝐿)∆𝑌2𝑡+ 𝛽𝐸𝐶𝑇2𝑡−1+ 𝑏 + 𝜈2𝑡 (2)

Trong đó: 𝜃𝑖𝑗𝑚(𝐿) = ∑𝑀𝑖𝑗𝑙=1𝜃𝑖𝑗𝑙𝑛 𝐿𝑙 và 𝜃𝑖𝑗𝑛(𝐿) = ∑𝑁𝑖𝑗𝑙=1𝜃𝑖𝑗𝑙𝑛 𝐿𝑙

Trong đó, Y1t và Y2t là GDP thực (GDP thực bình quân đầu người) và chỉ số phát

triển tài chính hoặc chỉ số mở cửa thương mại; α và β là hệ số điều chỉnh, ECT1t-1 và ECT2t-1 là phần dư của phương trình đồng liên kết hay còn gọi là số hạng hiệu chỉnh sai số, ∆ là sai phân bậc 1; L là độ trễ;

3.1.1 Kiểm định tính dừng

Trong nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, chuỗi dừng đóng vai trò rất quan trọng Nếu chúng ta tiến hành hồi quy với chuỗi dữ liệu thời gian không dừng thì sẽ dẫn đến kết quả hồi quy giả mạo Việc hồi quy biến số này đối với biến số còn lại có thể cho ra giá trị R2 rất cao nhưng giữa các biến số này có thể không tương quan gì với nhau, vì lúc đó R2 cao là do các chuỗi đều thể hiện xu hướng mạnh (xu hướng lên hoặc xu hướng xuống) Ngoài ra, nếu các biến số trong

mô hình hồi quy là không dừng, thì khi đó “t-ratio” sẽ không còn tuân theo phân phối t và chúng ta sẽ không thể thực hiện kiểm định giả thiết về giá trị của các hệ số hồi quy

Trang 39

Do đó, bước đầu tiên trước khi xây dựng và phân tích mô hình là phải kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu Để kiểm định tính dừng cho các biến, tác giả dựa vào kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Augmented Dickey – Fuller) với giả thuyết kiểm định như sau:

H0: chuỗi có nghiệm đơn vị (chuỗi không dừng)

H1: chuỗi không có nghiệm đơn vị (chuỗi dừng) 3.2.2 Kiểm định đồng liên kết

Lý thuyết đồng liên kết được phát triển bởi Granger (1981) và hoàn thiện bởi Engle và Granger (1987) Theo Engle và Granger (1987), tập hợp các biến Yt được gọi là đồng liên kết với bậc (d,b) nếu:

i) Tất cả các biến số thành phần của Yt là I(d)

ii) Có ít nhất 1 vector của hệ số β sao cho βYt ~ I(d-b)

Nếu kết hợp tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết Và nếu phần

dư trong mô hình hồi quy không dừng là một chuỗi dừng thì kết quả hồi quy là thực

và thể hiện mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình Nói cách khác, nếu tồn tại một cặp chuỗi dữ liệu đồng liên kết, thì sự thay đổi trong một biến phụ thuộc sẽ kéo theo sự thay đổi trong một biến giải thích khác và nếu tồn tại mối quan hệ đồng liên kết thì chúng sẽ có khuynh hướng cùng tìm đến trạng thái cân bằng trong dài hạn

Mục đích của kiểm định đồng liên kết là để xác định xem có tồn tại mối quan

hệ dài hạn giữa các biến đang xem xét hay không Để thực hiện điều này, tác giả sử dụng phương pháp của Johansen (1988) và Johansen và Juselius (1990) cho từng cặp biến Mô hình vector tự hồi quy (2x1) được biểu diễn như sau:

𝑌𝑡 = 𝐴1𝑌𝑡−1+ 𝐴2𝑌𝑡−2+ ⋯ + 𝐴𝑘𝑌𝑡−𝑘+ 𝜇 + 𝜀𝑡, 𝑇 = 1,2 … , 𝑇 (3)

Trang 40

Với: Yt lần lượt là GDP thực (GDP bình quân đầu người thực) với các chỉ số phát

triển tài chính hoặc chỉ số mở cửa thương mại;

Trong đó, Yt, Yt-1,…,Yt-k là các vector của các giá trị hiện tại và trễ từ một độ trễ

đến t-k độ trễ; A1,…,Ak là ma trận các hệ số; μ là hệ số chặn và εt là sai số ngẫu

Ma trận Π chuyển tải thông tin về mối quan hệ dài hạn giữa các biến Yt, và hạng

của Π là “tổ hợp tuyến tính dừng” của GDP thực (GDP thực bình quân đầu người)

với chỉ số phát triển tài chính và chỉ số mở cửa thương mại

Kiểm định đồng liên kết được tính toán bằng cách xác định hạng r của ma trận 𝛱,

thông qua tính toán các giá trị eigenvalues của ma trận 𝛱 là có ý nghĩa thống kê

khác zero Kiểm định có thể xảy ra các kết quả sau:

(a) Ma trận 𝛱 là full rank: điều này có nghĩa biến gốc Yt là dừng

(b) Hạng ma trận 𝛱 là zero: đây là trường hợp của mô hình VAR truyền thống,

khi đó ta phân tích trường hợp đơn biến, Δyt sẽ chỉ phụ thuộc vào Δyt-k

nhưng không phụ thuộc vào yt-1 sao cho không có mối quan hệ dài hạn giữa

các phần tử của vector yt-1 Và do đó không có mối quan hệ đồng liên kết

(c) Hạng ma trận 𝛱 là 0 < r < 2, điều này có nghĩa là tồn tại r kết hợp tuyến tính

là đồng liên kết

Johansen (1988) và Johansen và Juselius (1990) đề xuất 2 dạng thống kê để

xác định số lượng các vector đồng liên kết: thống kê Trace (Tr) và giá trị riêng cực

Ngày đăng: 03/07/2021, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w