Nghiên cứu các quan điểm khoa học, khoa học pháp lý, khoa học kinh tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh đến hoạt động của doanh nghiệp c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nay còn khá mới mẻ, nó được hiểu theo nghĩa chuyển ngữ chính xác từ cụm từ “Corporate Social Responsibility (CSR)” Hiện nay CSR được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam vào những năm 90 của Thế kỷ XX Khái niệm này đến cùng với các tập đoàn đa quốc gia, công ty nước ngoài đến Việt Nam đầu tư, kinh doanh bằng các quy định trong
bộ tiêu chuẩn, bộ quy tắc ứng xử nội bộ, yêu cầu áp dụng cho nhà cung cấp, doanh nghiệp sản xuất,kinh doanh, nhận gia công phải thực hiện áp dụng, thông qua việc tuân thủ pháp luật, bộ tiêu chuẩn, bộ quy tắc ứng xử này để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm với xã hội
Qua thực tiễn cho thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu, được
áp dụng, tuân thủ không thống nhất, không có tính bắt buộc, không thường xuyên, mới chỉ là sự tự nguyện thực hiện trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh, sự cam kết về chất lượng sản phẩm, tính trung thực trong quảng bá sản phẩm, cũng như bảo đảm an toàn cho người sử dụng từ phía doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được xem như là một trong những chiến lược kinh doanh hàng đầu, quảng bá thương hiệu hơn là những quy định hay bắt buộc của luật pháp Bên cạnh đó việc nghiên cứu một cách đầy đủ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mực, hệ thống văn bản pháp luật chưa quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc tuân thủ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việc hiểu rõ, đầy đủ, nâng cao ý thức thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay là việc làm vô cùng quan trọng và cấp thiết
Trước các yêu cầu điều kiện để gia nhập các tổ chức thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã phải sửa đổi một số các Bộ luật Kết quả nghiên cứu,
đề xuất các giải pháp trong quá trình nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã được cơ quan thẩm quyền lập pháp tiếp thu và đưa vào các quy định của nhiều đạo luật trong thời gian gần đây Tuy nhiên thực tế áp dụng vẫn tồn tại các hạn chế, chính vì vậy Đề tài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” cần tiếp tục được nghiên cứu Qua việc nghiên cứu chỉ ra những hạn
Trang 5chế, bất cập, chưa đồng bộ, chưa thống nhất của quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, từ đó đề xuất ý kiến, giải pháp, định hướng, hướng dẫn,… nhằm đề xuất giải pháp hoàn chỉnh hệ thống quy định pháp luật, khuyến khích, nâng cao hiệu quả thực trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về cả mặt lý luận và thực tiễn Hướng đến kết quả tích cực là các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội một cách tự nguyện, có hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đông đảo giới nghiên cứu, học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, nhà quản trị, quản trị doanh nghiệp đều tham gia nghiên cứu Ở mỗi cấp độ nghiên cứu và lĩnh vực khác nhau trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp được phân tích và có nhiều góc nhìn khác nhau Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã là môn học trong trương trình định khung của khoa luật, khoa quản trị, kinh tế,… trong trường đại học
Nghiên cứu về CSR trong khoảng nhưng năm 2005 đến 2015 hầu như không còn nhiều giá trị nghiên cứu nên tác giả Luận văn chỉ nêu một vài công trình nghiên cứu những năm gần đây gồm các nghiên cứu sau:
- Lê Phước Hương, Lưu tiến Thuận “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Tổng kết một số chủ đề và định hướng nghiên cứu” Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần thơ 28/6/ 2017
- My Ngân “ CSR - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Báo Đầu tư
online ngày 26/2/2019
- Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Anh, Phạm Thị Thuý An
“Tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lên danh tiếng, niềm tin, lòng trung thành của khách hàng trong ngành ngân hàng - một nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Lạt” Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Kinh tế - Luật và Quản lý, tháng 3/92019
- Nguyễn Hoàng Khởi, Dương Ngọc Thành “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hành vi tiêu dùng: Nghiên cứu định tính trong ngành nước
Trang 6uống giải khát đóng chai không cồn tại thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Số 55/2019.
- Lưu Ngọc Liêm “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay”, Trường Đại học Lạc Hồng, Tạp chí Tài chính tháng 1/2020
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài Luận văn là trên cơ sở những đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong thời gian qua đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu các quan điểm khoa học, khoa học pháp lý, khoa học kinh tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh đến hoạt động của doanh nghiệp có liên quan;
Nghiên cứu những quy định, lý luận pháp lý về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo hệ thống pháp luật quốc gia; pháp luật quốc tế;
Quy định của các Bộ tiêu chuẩn quốc tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
Quy định của các Bộ quy tắc ứng xử điển hình quy định về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
Phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đánh giá thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai;
Kết quả thực tiễn thực hiện pháp luật về thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại địa phương, qua đó thấy được các tồn tại, hạn chế và đưa ra đề xuất các giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trách nhiệm xã hội đến doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Căn cứ trên các dữ liệu thu thập từ các công trình nghiên cứu, bài viết, số liệu thống kê, tài liệu tham khảo, cáo báo cáo thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp địa phương, tình hình thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai được công bố gần đây
Trang 7Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được quy định rộng, dàn trải trong nhiều lĩnh vực Do giới hạn và cấp độ nghiên cứu nên nội dung Luận văn này giới hạn nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong hai lĩnh vực pháp luật lao động và bảo vệ môi trường Thời điểm thực hiện Luận văn là thời gian chuyển tiếp của 02 Bộ Luật Lao động 2019 và Luật Bảo vệ Môi trường 2020 có hiệu lực nên các quy định của 02 Luật này được nghiên cứu, phân tích và trích dẫn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chủ nghĩa biện chứng duy vật sử dụng trong nghiên cứu các sự vật, hiện tượng liên quan có mối liên hệ biện chứng trong việc doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm với xã hội
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để phân tích, lập luận và tổng hợp những vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Phương pháp so sánh: Thực hiện so quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo luật pháp Việt Nam với luật pháp quốc tế về trách nhiệm
xã hội
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Nghiên cứu phân tích từ dữ liệu báo cáo trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp tại địa phương để đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong thời gian gần đây
- Phương pháp hệ thống, logic, tổng hợp: Hệ thống, liên kết, toàn bộ các kết quả nghiên cứu có liên quan và tổng hợp nhằm tìm ra kết quả nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Nội dung Luận văn này là nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở trình độ thạc sỹ Kết quả nghiên cứu (sau khi được Hội đồng thông qua) sẽ
là tài liệu cho đối tượng có nhu cầu tham khảo, tìm hiểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về lao động và bảo vệ môi trường dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý
Khả năng ứng dụng thực tiễn: Góp phần nâng cáo ý thức thực hành về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lao động và bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn Đồng Nai nói riêng, Việt Nam nói chung Tăng cường đảm bảo
Trang 8quyền con người về lao động và quyền được sống trong môi trường trong lành, đạt mục tiêu chung là xã hội và doanh nghiệp phát triển bền vững
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có 03 Chương, nội dung các Chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và tình hình thực hiện tại tỉnh Đồng Nai
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và bản chất của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Corporate Social Responsibilities (CSR) là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu luật học, kinh tế học, học sinh, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng như nhà quản lý doanh nghiệp (DN) Tuy nhiên đến nay, khó có thể tìm thấy một định nghĩa duy nhất về CSR Hơn nữa, trong các ngành nghề khác nhau, ở các quốc gia khác nhau, các khái niệm và thực hiện về CSR cũng rất khác nhau Thực tế cho thấy khái niệm CSR ngày càng được mở rộng để đáp ứng nhiều bên liên quan của
DN trên phạm vi toàn cầu (Bên hữu quan) Bên cạnh đó, các hoạt động thực hiện CSR của DN đa dạng hơn cũng là xu thế thực hiện quản trị chiến lược kinh doanh
và quản trị DN của các công ty, tập đoàn hiện nay [1]
Theo từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm có nghĩa là điều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình, là sự ràng buộc về lời nói, hành vi của mình, bảo đảm điều mình làm là đúng đắn và phải chịu phần hậu quả
Xã hội là một nhóm những cá nhân liên quan đến tương tác xã hội một cách thường xuyên hoặc một nhóm xã hội lớn hơn có chung lãnh thổ không gian hoặc xã hội, thường chịu cùng thẩm quyền chính trị và các kỳ vọng văn hóa chi phối Các xã hội được đặc trưng bởi các mô hình mối quan hệ (quan hệ xã hội) giữa cá nhân có chung một nền văn hóa và thể chế đặc biệt Một xã hội nhất định có thể được mô tả
là tổng số các mối quan hệ như vậy giữa các thành phần của nó
Theo nội dung Luật doanh nghiệp 2020 thì doanh nghiệp được hiểu là: Một
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [2]
Trang 10Trong hoạt động của mình, DN cần sử dụng lao động, các nguồn tài nguyên, khoáng sản, môi trường tự nhiên, có tác động qua lại Tác động này có thể tạo ra các ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đều do ý thức của DN Chính vì thế DN phải có
ý thức về những tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm về hành vi của mình đối với xã hội và môi trường DN cần dung hòa cả hai mục tiêu này là DN tìm kiếm lợi nhuận cao nhất DN thực hiện CSR để phát triển lâu dài, bền vững
Như vậy khái niệm CSR được hiểu là DN thực hiện một số trách nhiệm cụ thể với xã hội nói chung, là một loại cam kết của DN đóng góp cho sự phát triển kinh tế bền vững thông qua tuân thủ một số các chuẩn mực về: Bảo vệ môi trường; trả lương công bằng; không phân biệt đối xử và bình đẳng giới; tạo sự ổn định và phát triển cá nhân cho người lao động (NLĐ); phát triển cộng đồng, xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp và sự phát triển chung của xã hội, tạo sự phát triển
DN và xã hội một cách hiệu quả, bền vững; cam kết của DN đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của NLĐ, thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội
1.1.2 Lịnh sử hình thành, phát triển và đặc điểm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.2.1 Lịch sử hình thành, phát triển của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Những năm gần đây CSR đã trở thành một chủ đề nghiên cứu cho tất cả các học giả, nhà nghiên cứu kinh tế, pháp luật, chính trị gia và học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển trách nhiệm xã hội cổ xưa đến hiện tại để thấy vì sao trách nhiệm xã hội có ý nghĩa tích cực, vai trò quan trọng được đông đảo đối tượng nghiên cứu
Trách nhiệm xã hội thời cổ đại
Giai đoạn này SCR được nhận diện qua các chuyện kể, nó chỉ là sự hỗ trợ qua lại giữa những nhà buôn khi gặp khó khăn như câu chuyện của nhà buôn bông nước Anh; Đạo Hindu có những lời răn dạy đạo đức về việc cho vay nặng lãi; chính
Trang 11sách “Zakat” của Hồi Giáo là một hình thức bắt bố thí và đóng thuế tôn giáo bắt buộc, đó là khoản tiền bằng 2,5% tổng thu nhập mà người giàu phải đóng góp để giúp đỡ cho người nghèo [3]
Trách nhiệm xã hội khoảng những năm 1800
Giai đoạn này có hai học giả nghiên cứa về CSR là: John H Patterson và tỷ phú John D Rockefeller
- John H Patterson đưa ra khái niệm về phúc lợi xã hội trong ngành công nghiệp
- John D Rockefeller lập nên một quỹ từ thiện [4]
Trách nhiệm xã hội khoảng năm 1950 đến năm 1970 của thế kỷ XX
Giai đoạn này CSR được nhận diện dưới góc độ đạo đức của doanh nhân, thương nhân Trách nhiệm xã hội của người làm kinh doanh, trách nhiệm của doanh nhân, thương nhân đối với xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của mình
Giai đoạn này có các học giả nghiên cứu về CSR như:
- Howard R Bowen tác giả cuốn sách “Social Responsibilities of the Businessmen - trách nhiệm xã hội của doanh nhân”;
- M Friedman, 1962;
- Hayek, 1944;
- Levitt, 1958;
- Mc Guire, 1963;
- Eells & Walton, 1963
- Manne & Wallich, 1972
Khái niệm CSR ở giai đoạn này dựa trên hai cơ sở đó là: Cơ sở khế ước xã hội (Social Contract Theory) và tác nhân đạo đức (Moral Agency Theory)
Khoảng năm 1970 đến 1990 của thế kỷ XX
CSR ở giai đoạn này được nghiên cứu sâu rộng hơn, là một học thuyết được
xã hội quan tâm CSR ở giai đoạn này đã được giáo sư Archie Carroll đã lồng ghép vào đó 04 đặc điểm: “ kinh tế; đạo đức; pháp lý và từ thiện, sau đó ông phát triển thành mô hình Kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của DN [5]
Trang 12Có những điều luật về CSR đầu tiên trên thế giới như: Sullivan Code [6].
Năm 1986, điều luật về đảm bảo sức khỏe và an toàn lao động được giới thiệu tới công chúng Responsible Care [7]
Trong giai đoạn này có các học giả nghiên cứu về CSR:
- Preston & Post, 1975;
Khoảng năm 1990 đến 2010
Giai đoạn này khái niệm về các Bên hữu quan - stakeholders [8] được đề cập Bên hữu quan là một cá nhân hoặc nhóm cá nhân có thể gây ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của DN, là bên mà DN phải có trách nhiệm
Vào những năm 1990, CSR đã được hệ thống hóa thành các tiêu chuẩn như ISO 14001 và SA 8000, ISO26000, những bản hướng dẫn như Hướng dẫn chủ động báo cáo toàn cầu (Global Reporting Initiative - GRI) hay những điều lệ quản trị công ty như Cadbury và King và những Bộ quy tắc ứng xử (BQT) của các tập đoàn, công ty đa quốc gia [9]
Khoảng thời gian này thế giới xuất hiện hàng loạt các chỉ dẫn, quy định, điều
lệ, tiêu chuẩn về CSR được ban hành, hơn 100 bộ tiêu chuẩn (BTC), BQT về CSR, trong số đó có thể tìm thấy trong cuốn: “Từ A đến Z những điều cần biết về CSR”
(The A to Z of corporate social responsibilities)
Từ năm 2010 đến nay
Giai đoạn này nổi bật có khái niệm mới về CSR là CSV - Create the value share - Creating Shared Value - Tạo lập giá trị chia sẻ được hai giáo sư Mark
Trang 13Kramer và Michael Porter (2011) đưa ra đã chứng minh được tính hiệu quả CSV là cách tiếp cận mới trong việc thực hiện CSR, giúp tăng cường vai trò của DN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cường khả năng cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ của những điều kiện kinh tế xã hội, đem lại lợi ích cho cả cộng đồng
và DN một cách bền vững Một số tập đoàn như dược phẩm Novartis, IBM, Nestle, Google, … đã thực hiện CSR theo mô hình này [10]
Đặc biệt hơn đã bắt đầu xuất hiện khái niệm CSR mới - CSR 2.0 (Corporate Sustainability Responsibility - trách nhiệm bền vững của doanh nghiệp) trên cơ sở
kế thừa và phát triển khái niệm CSR 1.0 của John D Rockefeller
Như vậy CSR đã không ngừng phát triển từ sơ khai, trở thành một hình thức thiện nguyện, hỗ trợ người lao động, cộng đồng đến học thuyết về quản trị kinh doanh, quản trị DN CSR như một làn sóng mạnh mẽ đang trỗi dậy trên thế giới trong học thuyết về quản trị DN, triết lý kinh doanh của các công ty, tập đoàn suốt nhiều thập kỷ qua CSR đã được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện từ học thuyết đến thực hành trên thực tế áp dụng Kết quả CSR đã mang lại hiệu quả cao cho DN và
xã hội
1.1.2.2 Nhân tố tác động đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu và thực tiễn cho thấy các nhân tố tác động đến CSR gồm:
- Nhận thức về sự hữu ích của CSR
Nhân tố nhận thức về sự hữu ích của CSR có nghĩa là khi có được sự hiểu biết về CSR cũng như các lợi ích mà nó mang lại cho DN và xã hội sẽ làm tăng khả năng thực hiện CSR trong DN
- Sự tham gia của các Bên hữu quan
Nhân tố sự tham gia của các Bên hữu quan có nghĩa là ngoài ý chí chủ quan của mình, DN còn chịu sự ảnh hưởng từ Bên hữu quan trong quá trình hoạt động của mình Theo đó, để tranh thủ được sự chấp nhận và ủng hộ của xã hội, việc áp dụng CSR sẽ là một trong những công cụ hữu hiệu giúp DN quản trị các mối quan
hệ với các Bên hữu quan
- Đặc điểm của DN, nhu cầu phát hành báo cáo CSR
Trang 14Các yếu tố thuộc về đặc điểm DN cũng là các tác nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR trong DN theo hướng DN càng lớn, càng có khả năng áp dụng cao hoặc các DN hoạt động trong các lĩnh vực sử dụng càng nhiều tài nguyên, ảnh hưởng môi trường càng chịu nhiều áp lực thực hiện CSR hơn
Nhân tố nhu cầu phát hành báo cáo CSR của DN có nghĩa là: Để đảm bảo mục tiêu hoạt động của DN là phù hợp với các yêu cầu của xã hội, các DN cần phải công bố các thông tin trong hoạt động của mình với xã hội đặc biệt là các thông tin
về CSR Nhu cầu phát hành các báo cáo CSR sẽ thúc đẩy, ràng buộc các DN thực hiện CSR trong DN
- Tác động của các quy định pháp lý
Nhân tố các quy chuẩn pháp lý có nghĩa là sự có sẵn của các hướng dẫn, quy định pháp lý sẽ là ràng buộc để các DN tuân thủ trong quá trình hoạt động của mình, từ đó thúc đẩy DN quan tâm hơn đến việc thực hiện CSR trong DN để kiểm soát và đảm bảo các hoạt động của mình là phù hợp và tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn đó
1.1.3 Bản chất, vai trò và lợi ích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Bản chất trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Bản chất CSR là một cam kết đơn phương của DN Thông qua việc thực hiện các trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện, DN thực thi CSR DN khi thiếu một trong các trách nhiệm này thì DN sẽ không được xem là DN có trách nhiệm với xã hội, không thực hiện CSR
Kim tự tháp CSR được thiết lập theo quan điểm của giáo sư Archie Carroll công bố vào năm 1991, theo mô hình Kim tự tháp này CSR có các loại trách nhiệm nằm ở các tầng khác nhau và thứ tự ưu tiên thực hiện sẽ lần lượt từ dưới đáy lên đỉnh Kim tự tháp CSR được và trở thành công cụ được sử dụng rộng rãi
Trang 15Kim tự tháp mô tả một trật tự các trách nhiệm cùng nhau tạo nên CSR theo
lý thuyết của Caroll
Trách nhiệm kinh tế của DN là sản xuất, kinh doanh, tìm lợi nhuận Đây là trách nhiệm nền tảng, quan trọng nhất của DN và là cơ sở, khả năng để DN thực hiện các trách nhiệm còn lại trên Kim tự tháp CSR
Trách nhiệm pháp lý là DN phải thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của DN DN tuân thủ pháp luật là yêu cầu cơ bản nhất của CSR, bên cạnh đó DN còn phải tự nguyện thực thi các cam kết đơn phương của mình mà luật pháp không quy định, không bắt buộc DN thực hiện trách nhiệm pháp
lý hình sự, dân sự, hành chính và các trách nhiệm pháp lý khác
Trách nhiệm đạo đức của DN là những hành vi, hoạt động của DN được xã hội kỳ vọng, mong đợi, nó không phải là quy định pháp luật, không phải là nghĩa vụ pháp lý của DN, nó có giá trị cao hơn mặc dù không phải là quy định bắt buộc trách nhiệm đạo đức chính là nền tảng của DN thực hiện nghĩa vụ pháp lý, DN thực trách nhiệm vụ đạo đức là để DN có thể được xã hội tôn trọng và được chấp nhận Trong thực tế trách nhiệm đạo đức được hiểu đồng nghĩa với đạo đức kinh doanh, cam kết của DN đối với xã hội
Trang 16Trách nhiệm từ thiện của DN bao gồm những hành vi, hoạt động của DN mang tính hỗ trợ, nhân văn, từ thiện Trách nhiệm từ thiện thể hiện mong muốn cống hiến cho xã hội của DN DN ngoài tìm kiếm lợi nhuận còn có trách nhiệm mang lại điều tốt đẹp, nhân văn cho xã hội
Vai trò trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Vai trò của CSR gồm: Vai trò kinh tế, vai trò xã hội và điều chỉnh luật pháp Vai trò kinh tế của CSR
CSR góp phần điều chỉnh hành vi của DN khi thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, sẽ cải thiện tình hình tài chính, giảm chi phí hoạt động, nâng cao uy tín, quản lý rủi ro và giải quyết khủng hoảng tốt hơn, thúc đẩy cam kết với NLĐ, quan hệ tốt với cộng đồng, tăng năng suất…, tạo điều kiện cho DN tiếp cận, mở rộng với thị trường thế giới, giúp nâng cao uy tín DN CSR giúp DN tăng giá trị thương hiệu, tăng doanh thu, thu hút các đối tác, nhà đầu tư
CSR có mối liên hệ tích cực đến lãi đầu tư, tài sản và mức tăng doanh thu CSR sẽ tạo ra cơ sở thành công cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của
tổ chức CSR giúp các DN giảm thiểu chi phí sản xuất thông qua các phương pháp sản xuất an toàn, tiết kiệm, nguồn nhân lực ổn định DN thành công nhất chính là các DN nhận thấy được vai trò quan trọng của CSR và áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh
Vai trò xã hội của CSR
CSR cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động, gia đình họ, đồng thời nó mang lại các chính sách an sinh, phúc lợi, từ thiện cho cộng đồng, xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, năng lượng, giúp xã hội
ổn định và phát triển bền vững
Vai trò của CSR đến điều chỉnh pháp luật
Qua việc thực hiện CSR, chính sách CSR trở thành một nội dung quan trọng
để tham chiếu cho xây dựng, điều chỉnh chính sách pháp luật, dẫn đường, định hướng cho các sửa đổi, bổ sung của pháp luật Chính phủ thúc đẩy thực hiện CSR tạo ra môi trường pháp luật hoàn chỉnh, một sân chơi bình đẳng cho các DN về: Cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến
Trang 17khích, tạo điều kiện cho các DN thực hiện tốt hơn các yêu cầu của Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; Luật Bảo vệ môi trường,
Lợi ích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
DN thực hiện CSR có được danh tiếng bên trong lẫn bên ngoài Cả chính phủ
và DN đều cần đảm bảo tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên để có thể đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay nhưng không gây hại cho thế hệ sau CSR không chỉ là đạo đức kinh doanh mà còn là cam kết của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức nhằm góp phần cải thiện cộng đồng nơi họ sinh sống, hoạt động
Tăng lợi nhuận, tính bền vững, mang lại lợi ích tài chính trực tiếp thông qua cắt giảm chi phí năng lượng, năng lượng thay thế, nguyên vật liệu, nâng cao tính hiệu quả của quá trình sản xuất, chuỗi cung ứng, giảm thuế, duy trì năng suất và tăng trưởng
Xây dựng thương hiệu, danh tiếng, được khách hàng công nhận DN có trách nhiệm đạo đức hay từ thiện với thông điệp rằng bạn cam kết thực hiện trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội như đã hứa Từ đó xây dựng sự tin tưởng cho khách hàng
về sản phẩm của mình, có lợi thế hơn đối thủ cạnh tranh, sẽ khẳng định thương hiệu
DN và gia tăng lợi nhuận
Thu hút và giữ chân nhân tài Thực hiện CSR sẽ tạo ấn tượng cho NLĐ là một “nhà tuyển dụng được yêu thích” Mọi người sẽ muốn làm việc cho DN khi tham gia, họ sẽ cảm thấy tự hào, có mục đích, muốn được cống hiến, gắn bó và muốn ở lại Điều đó có nghĩa là DN có quyền lựa chọn những ứng viên tốt nhất cho
vị trí tuyển dụng
1.1.4 Các khía cạnh trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khía cạnh kinh tế
Khía cạnh kinh tế của DN trong thực hiện CSR là: Sản xuất hàng hóa, dịch
vụ mà xã hội cần, với một mức giá có thể duy trì tồn tại DN; làm thỏa mãn nghĩa vụ của DN với các nhà đầu tư; tìm kiếm nguồn cung ứng lao động; phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ trong hệ thống xã hội với lợi ích kinh
tế cao nhất, đạt lợi nhuận cho DN cao nhất
Trang 18Khía cạnh kinh tế của DN đối với NLĐ là đảm bảo quyền con người về lao động, được tự do, bình đẳng, công bằng trong việc tìm việc làm; nhận thù lao; cơ hội việc làm, phát triển nghề; chuyên môn; môi trường lao động an toàn, vệ sinh; đảm bảo quyền con người tại nơi làm việc
Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của DN là cung cấp hàng hoá
và dịch vụ, chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng
Khía cạnh đạo đức của một DN thường được thể hiện và DN cam kết thực hiện trong: Triết lý kinh doanh; giá trị đạo đức; sứ mệnh và chiến lược của DN
Khía cạnh từ thiện
Đây là những trách nhiệm điều chỉnh bằng lương tâm Đối với khía cạnh này
là những hành vi, hoạt động thể hiện những mong muốn đóng góp, cống hiến cho cộng đồng xã hội cụ thể trên những phương diện:
- Nâng cao chất lượng cuộc sống; tăng phúc lợi, đảm bảo an sinh;
- San sẻ gánh nặng, cứu trợ kịp thời,
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và phát triển nhân cách NLĐ
1.2 Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trang 19CSR là cam kết đơn phương của DN, là hoạt động tự nguyện có tầm nhìn về phát triển bền vững cho DN và xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, nếu DN Việt Nam không tuân thủ trách nhiệm xã hội thì sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới Việt Nam gần đây đã sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường, Bộ Luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, nhằm có sự quy định tương đối đồng bộ với tiêu chuẩn quốc tế về CSR
Về cơ bản các quy định về CSR đã được tiếp thu và quy định cụ thể trong từng lĩnh vực nhằm bảo đảm CSR được thực thi, gồm:
- Các quy định pháp luật bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến CSR
- Các cam kết đơn phương về trách nhiệm xã hội của DN thể hiện trong bộ
quy tắc ứng xử và tuân thủ các bộ tiêu chuẩn quốc tế về CSR
Như vậy cho thấy nguồn của CSR bao gồm: Hệ thống pháp luật quốc gia; các
bộ tiêu chuẩn quốc tế về CSR (BTC); bộ quy tắc ứng xử (BQT) của DN
1.2.1 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo pháp luật quốc gia
DN thực hiện CSR trước hết là phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan, tự nguyện thực hiện các cam kết đơn phương của DN DN thực hiện CSR trong một khuôn khổ thể hiện ở cụm từ “ được pháp luật qui định” trong phạm vi quốc gia, địa phương có trụ sở DN hoạt động Pháp luật mà DN tuân thủ bao gồm: Văn bản luật, nghị định, thông tư, văn bản quy phạm pháp luật của địa phương nơi
DN có trụ sở Vì thế nội dung về trách nhiệm của DN trong hệ thống pháp luật gồm:
- Nhóm Luật liên quan đến hoạt động của DN gồm: Luật Doanh nghiệp; Luật Thuế; Luật Kế toán; Luật Đầu tư,
- Nhóm luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của DN trong lĩnh vực lao động: Bộ Luật Lao động; Luật Bảo Hiểm xã hội; Luật An toàn vệ sinh lao động; Luật Việc làm; Luật Học nghề;
- Nhóm quyền và nghĩa vụ của DN đối với người tiêu dùng: Luật Cạnh tranh; Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Thương mại; Luật Bảo vệ môi trường;
- Nhóm khác quy định đối với từng lĩnh vực kinh doanh đặc thù của DN; Bên cạnh đó pháp luật qui định trách nhiệm pháp lý của DN bao gồm:
Trang 20- Trách nhiệm về dân sự;
- Trách nhiệm về hành chính;
- Trách nhiệm về hình sự;
- Trách nhiệm pháp lý khác theo pháp luật quy định
Khi DN vi phạm, phải chịu trách nhiệm pháp lý bằng các chế tài do luật quy định
Thực tế pháp luật Việt Nam hiện hành đã tiếp thu, sửa đổi, bổ sung nhiều CSR vào quy định pháp luật, cụ thể gần đây Việt Nam đã sửa đổi bổ sung nhiều đạo luật: Bộ Luât Lao động, Luật bảo vệ môi trường 2020, Bộ Luật Hình sự 2017, Bộ Luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2020, Quy định trực tiếp có nội dung quy định tại Mục II Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định 81/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 09 năm 2015 thì trách nhiệm xã hội của DN (có vốn nhà nước và vốn góp chi phối) được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, như:
- Bảo vệ môi trường;
- Đóng góp cho cộng đồng xã hội;
- Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp;
- Bảo đảm lợi ích, an toàn cho người tiêu dùng;
- Quan hệ tốt với người lao động
DN thực hiện CSR là các nội dung cam kết mà pháp luật không quy định, nó
là các cam kết đơn phương của DN, DN cam kết tuân thủ các BTC quốc tế, BQT nội bộ
1.2.2 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế
Các bộ chỉ dẫn, BTC về CSR tuy không phải là quy định pháp luật quốc gia nhưng lại có tính áp dụng và tuân thủ tuyệt đối tại các DN, tập đoàn, công ty hiện nay tham gia sản xuất, kinh doanh, xuất hàng đến các quốc gia thành viên của AFTA, CPTTP, Tùy ngành nghề sản xuất, quốc gia, loại ngành hàng sản xuất, gia công, loại hình, quy mô, sản phẩm, dịch vụ cung cấp, yêu cầu kiểm toán, công khai thông tin, yêu cầu của khách hàng mà DN áp dụng BTC, BQT khác nhau
Các BTC quốc tế thường có nội dung mở và chi tiết, có lợi cho NLĐ hơn so với quy định của pháp luật quốc gia, chủ yếu quy định về: Kinh tế; đạo đức; quyền
Trang 21con người về lao động; quyền con người sống trong môi trường trong lành; bảo tồn, bảo vệ môi trường; sử dụng nguyên tài nguyên thay thế; điều kiện làm việc; các quy tắc ứng xử nơi làm việc; an sinh xã hội; không phân biệt, đối xử; các hành vi bị nghiêm cấm…Các quy định này thực tế không phải là luật nhưng được DN tuân thủ như luật định
Ngoài ra DN có thể thực hiện CSR của mình bằng cách đạt được các chứng chỉ quốc tế do tuân thủ, áp dụng hiệu quả các quy định của BTC, BQT Hiện nay có khoảng hơn 100 bộ tiêu chuẩn về CSR Dưới đây là một số BTC tiêu biểu, điển hình, phổ biến mà các DN đang áp dụng tại Việt Nam
- Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) - Organization for Economic Co-operation and Development OCDE là một diễn đàn dành cho chính phủ của các nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cùng nhau bàn bạc giải quyết các vấn đề kinh tế của bản thân họ và của thế giới [11] Tổ chức này có Bộ chỉ dẫn về quản trị DN (xuất bản lần đầu vào năm 1976 và gần đây nhất được cập nhật vào năm 1999, 2011, 2013) bao gồm có các khuyến nghị về CSR
- Các công ước về lao động của Tổ chức lao động quốc tế -ILO -
International Labour Organization [12] Đến nay Việt Nam đã phê chuẩn 25 công ước của ILO bao gồm 7/8 (Công ước số: 29, 98, 100, 105,111, 138,182) Công ước
cơ bản về lao động của ILO và theo lộ trình đàm phán của Chính phủ Việt Nam sẽ phê chuẩn công ước thứ 87 vào năm 2023
- Hướng dẫn GRI G4 [13] là Bộ tiêu chuẩn báo cáo phát triển bền vững hợp nhất GRI 2016 của Tổ chức Sáng kiến báo cáo toàn cầu (GRI - Global Reorting Initiative) gồm các tiêu chí: Kinh tế; môi trường và tiêu chí xã hội
+ Tiêu chí về kinh tế: Hiệu quả hoạt động kinh tế; sự hiện diện trên thị trường; tác động gián tiếp, thông lệ mua sắm, chống tham nhũng, hành vi cản trở cạnh tranh
+ Tiêu chí về môi trường: Vật liệu; năng lượng; nước; đa dạng sinh học; chất thải; nước thải; khí thải; đánh giá của nhà cung cấp về vấn đề môi trường; tuân thủ về môi trường
Trang 22+ Tiêu chí xã hội gồm: Việc làm; mối quan hệ quân hệ quản trị, lao động; đa dạng và cơ hội bình đẳng; không phân biệt đối xử; tự do lập hội và thương lượng tập thể; thông lệ về an ninh; quyền của người bản địa; đánh giá về Quyền con người; cộng đồng địa phương; đánh giá nhà cung cấp về mặt xã hội; chính sách công; an toàn và sức khỏe của khách hàng; tiếp thị và nhãn hàng; quyền bảo mật thông tin khách hàng; đối xử với NLĐ; việc làm bền vững; trách nhiệm đối với sản phẩm
Hiện nay còn có hơn 100 Bộ tiêu chuẩn về CSR, có thể kế đến các bộ tiêu chuẩn điển hình được DN áp dụng tuân thủ nhiều nhất gồm: ISO 14000 về môi trường, ISO 22000, ISO 9001, ISO 45001 về an toàn thực phẩm, chế biến thủy sản Các bộ tiêu chuẩn về CSR áp dụng chung cho mọi loại hình DN như: ISO 9000, ISO 26000, hoặc các quy định chung về hướng dẫn thực hành CSR như: SA 8000, BSCI, ISO 2600, ETI, ECOVADIS, C-TPAT, WRAP, EICC-RBA, FAIRTRADE
1.2.3 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp
Bên cạnh các BTC về CSR thì còn có các BQT được nhiều DN áp dụng, tuân thủ BQT là những cam kết tự nguyện của DN Một DN muốn kiến tạo, duy trì, quản trị văn hóa ứng xử nơi công cộng có hiệu quả và bền vững thì nhất định phải có quy định hệ thống, có hiệu lực cao, được NLĐ chấp nhận một cách tự giác BQT thường chứa đựng chi tiết các nội dung như một luật nội bộ của DN, nội dung gồm: Quan hệ lao động, môi trường; bảo vệ người tiêu dùng, đối với khách hàng; đảm bảo tuân thủ pháp luật; văn hóa nội bộ; chế độ đãi ngộ nhân viên; đảm bảo tiêu chuẩn xã hội; hành vi đúng đạo đức; chống tham nhũng; sản phẩm của DN,
BQT là các tuyên bố về chính sách hành động, tiêu chuẩn đạo đức mà DN cam kết thực hiện BQT thường được xây dựng thành các bộ quy chế áp dụng trong phạm vi nội bộ DN hoặc cũng có thể là các điều khoản được quy định lồng ghép vào các hợp đồng của DN khi tham gia thị trường, ràng buộc đối tác của mình thực hiện
Trang 23Tùy vào loại hình DN sản xuất, lĩnh vực kinh doanh, cung cấp dịch vụ, yêu cầu của đối tác, mà DN tuân thủ các BQT điển hình cho từng lĩnh vực
Các BQT điển hình về CSR phổ biến được nhiều DN áp dụng và tuân thủ hiện nay như: BQT MANGO (quy định về xã hội, lao động, môi trường cho DN may của tập đoàn Mango; BQT H&M; BQT PRIMARK 2019, MSC CoC, cùng nhiều BQT nội bộ khác của DN ban hành hoặc từ khách hàng yêu cầu xây dựng và yêu cầu DN tuân thủ, Bên hữu quan thực hiện giám sát
Đặc điểm chung nhất của các Bộ Tiêu chuẩn, BQT về CSR này thường bao gồm các nội dung chi tiết: Lao động trẻ em, không thuê mướn lao động trẻ em; lao động cưỡng bức, sức khỏe; an toàn - vệ sinh lao động; tự do lập hội và thương lượng tập thể; phân biệt đối xử; thực hành kỷ luật lao động; giờ làm và tiền công; nhân quyền; chính sách lao động, luật pháp và quy tắc nơi làm việc; môi trường; chính sách cạnh tranh lành mạnh; các vấn đề về người tiêu dùng; sự tham gia phát triển cộng đồng; ngăn cấm quấy rối tình dục và ngược đãi; bồi thường và phúc lợi; thực hiện đúng quy định về thuế quan
BQT là các cam kết đơn phương của DN có tính áp dụng, tuân thủ cao nhưng lại hạn chế về giá trị pháp lý, vì các lý do sau:
- BQT có giá trị như là bộ cẩm nang hướng dẫn nội bộ, luật lệ, cam kết áp dụng, tuân thủ trong phạm vi nội bộ của DN
- BQT là một tuyên bố đơn phương của DN đến xã hội, đến cộng đồng, đối tác, khách hành các giá trị của mình Khi DN thực hiện tốt BQT sẽ nhận được các hiệu quả tích cực từ xã hội như: Nâng cao hình ảnh, giá trị thương hiệu của DN; đề cao giá trị tư cách DN của mình; trở thành công cụ tiếp thị hiệu quả khi giá trị của
DN đến với người tiêu dùng, xã hội; giảm thiểu rủi ro tài chính gắn liền với các khoản phạt hành chính hoặc chi phí tố tụng khi DN vô tình vi phạm Khi DN thực hiện các cam kết đơn phương trong BQT có chứa đựng các quy định về đạo đức là
đã thực hiện CSR Nó mang tính tự giác thực hiện của DN, chưa có cơ chế giám sát việc thực hiện hay các quy định chế tài nếu không thực hiện
1.3 Phát triển bền vững và cách tiếp cận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trang 24Chúng ta đang ở năm đầu Thập kỷ thứ ba của Thế kỷ 21, chưa bao giờ tương lai phát triển kinh tế thế giới lại phụ thuộc nhiều vào những gì mà DN đang làm ngày hôm nay CSR gắn bó chặt chẽ với nguyên tắc phát triển bền vững, DN đưa ra quyết định không chỉ dựa trên các yếu tố tài chính như lợi nhuận hay cổ tức
mà còn dựa trên hệ quả xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài CSR có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các nguy cơ phát triển ngoài tầm dự báo, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại, đồng thời đảm bảo rằng các nguồn lực của các thế hệ tương lai không bị đe dọa
CSR ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững của
DN đảm bảo tính hiệu quả, tuân thủ pháp luật và thực hiện đạo dức kinh doanh ở các nền kinh tế khác nhau Ở Việt Nam, mục tiêu phát triển bền vững ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt, trở thành yêu cầu cấp thiết của DN và xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII [14] với quan điểm phát triển bền vững Trách nhiệm xã hội của DN Việt Nam hiện nay cần hướng về những mục đích phát triển bền vững này của đất nước
Chính phủ và DN đều cần đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững trên cơ sở
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên để có thể đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay nhưng không gây hại cho thế hệ mai sau Trong xu hướng toàn cầu hóa, phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế mà còn là vừa phát triển vừa giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Nên có thể nói DN phát triển bền vững là cách tiếp cận CSR, thông qua thực hiện CSR hiệu quả giúp DN phát triển bền vững Vì DN hoạt động, phát triển không thể tách rời môi trường, có sự tương quan tỷ lệ thuận trong phát triển bền vững của DN và hiệu quả của hoạt động bảo tồn, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, đối xử tốt, có chế độ chăm lo đời sống NLĐ,
Các tập đoàn đa quốc gia (multi-national corporation) hay các DN có thương hiệu mạnh đều áp dụng một cách có hệ thống BTC, BQT về CSR và coi đó như một sự cam kết của DN đối với cộng đồng, với người tiêu dùng DN tuân thủ thực hiện CSR để trở thành một hình mẫu kinh doanh lí tưởng để đảm bảo trở
Trang 25thành một hệ thống có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững DN phát triển bền vững để tiếp cận CSR hay DN thực hiện SCR để phát triển bền vững đều là tất yếu
Đối với DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ muốn phát triển bền vững có cơ hội tiếp cận CSR, có thể thực hiện được các bộ tiêu chuẩn, BQT là rất khó Vậy những DN nhỏ, vừa, siêu nhỏ có nên thực hiện CSR? Câu trả lời là nên! Bởi những DN không tuân thủ CSR sẽ có thể kém cạnh tranh trong tiếp cận thị trường quốc tế nhất là các thị trường phát triển.Thực hiện CSR về trung hạn và dài hạn sẽ đạt được những lợi ích: Giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ
lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất, thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới, tạo dựng hình ảnh với khách hàng, sự gắn bó, hài lòng của NLĐ, thu hút lao động
có chuyên môn cao
Trong quá phát triển bền vững đó, CSR sẽ tập trung vào 2 xu hướng:
- Doanh nghiệp cần thông qua sản phẩm, dịch vụ của mình tạo ra những xu thế, hành vi và phong cách sống bền vững trong xã hội
- Đổi mới, sáng tạo trong quá trình thích nghi với môi trường kinh doanh Thay đổi, sáng tạo sẽ tạo ra những nguồn lực dồi dào và bền vững cho DN
Trong quá trình phát triển bền vững tiếp cận CSR đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của Chính phủ, của các tổ chức xã hội, người tiêu dùng, của các nhà khoa học và đặc biệt là sự đóng góp của cộng đồng DN trong và ngoài nước Nhận thức rõ vấn
đề này Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã thành lập Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam Một trong những nội dung cơ bản của Hội đồng là phát triển bền vững thông qua việc thực hiện CSR
1.3.1 Tiếp cận quyền con người về lao động
Quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của con người Việc đảm bảo quyền lao động cho công dân là một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của chế độ xã hội
Trong pháp luật quốc tế về quyền con người có hai Công ước chủ chốt: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước về quyền kinh tế, xã hội văn hóa (ICESCR) [15] chứa đựng những nội dung cơ bản,
Trang 26bao trùm về quyền con người trong lĩnh vực lao động, việc làm, quyền lao động Hầu hết quyền con người trong lĩnh vực lao động, việc làm của ICCPR và ICESCR đều được tái khẳng định ở các công ước liên quan khác của Liên Hợp quốc Đó là sự khái quát hóa các tiêu chuẩn tương ứng đã được thể hiện trong các công ước của ILO
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc, tăng cường hợp tác quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã tham gia phê chuẩn 21/189 công ước của ILO liên quan đến việc đảm bảo quyền của NLĐ Đây là mức độ cam kết cao, thể hiện nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn Quyền con người về lao động trong các Công ước về lao động của ILO, BTC, BQT, Bộ chỉ dẫn nhìn chung đều có 6 nguyên tắc chung cần đảm bảo gồm:
- Quyền tự do lập hội; công nhận quyền, giá trị của thương lượng tập thể;
- Loại trừ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức;
- Xóa bỏ lao động trẻ em;
- Xóa bỏ phân biệt đối xử về việc làm;
- Khuyến khích hình thành nguồn nhân lực;
- Chấp hành các qui định sức khỏe và an toàn lao động;
- Nghiêm cấm các hành vi lạm dụng trong lao động
Theo đó NLĐ có quyền: Có việc làm; được tự do lựa chọn việc làm; được hưởng thù lao công bằng, hợp lý; quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp; được đảm bảo điều kiện lao động hợp lý; được trả thù lao hợp lý; được đình công; quyền được nghỉ ngơi; tự do lập hội; không bị lạm dụng, đã được Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể và được các Bộ Luật Lao động, Luật Việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động, Luật Học nghề, Bộ Luật Dân sự; Luật Doanh nghiệp; triển khai chi tiết, đảm bảo quyền lao động của con người được thực thi, được bảo vệ
Mục tiêu thực hành CSR là loại bỏ các chính sách thiếu dân chủ, thiếu nhân đạo, thiếu văn minh tiến bộ Hiện nay hệ thống pháp luật Việt Nam đã quy định và đảm bảo thực hiện đầy đủ vấn đề bảo vệ quyền con người về lao động
1.3.2 Bảo vệ môi trường
Trang 27Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ hết sức quan trọng của toàn nhân loại Bảo vệ môi trường bao gồm các hoạt động: Gìn giữ, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, sử dụng nguồn tài nguyên, vật liệu thay thế nhằm giữ giữ môi trường, giảm tác hại tiêu cực đến môi trường [16].
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề môi trường trong phát triển bền vững của đất nước, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm tăng cường vấn đề bảo vệ môi trường gồm: Môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học,…Trước thảm họa về môi trường như hiện nay mỗi cá nhân, mỗi DN, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường DN công bằng với các chủ thể khác trong
xã hội nên DN phải thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường DN phải tuân thủ
pháp luật quốc gia quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường dựa trên 07 nguyên tắc gồm:
- Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân
- Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển
- Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản
lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, cơ chế thị trường, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trang 28- Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân được hưởng lợi
từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; gây
ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục,
xử lý và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
- Hoạt động bảo vệ môi trường bảo đảm không gây phương hại chủ quyền,
an ninh và lợi ích quốc gia, gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu
Theo yêu cầu của một số BTC, ISO về CSR về bảo vệ môi trường có các tiêu chí: Phòng ngừa ô nhiễm; sử dụng tài nguyên bền vững; giảm nhẹ và thích nghi với biến đổi khí hậu; bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và khắc phục môi trường sống tự nhiên
Trong các BQT cũng chứa đựng các yêu cầu về bảo vệ môi trường cụ thể và đặc biệt chi tiết như: Môi trường làm việc, môi trường sản xuất, môi trường sống,
1.3.3 Ràng buộc thực hiện trách nhiệm tự cam kết
CSR là những cam kết tự nguyện đơn phương của DN không phải là quy định của pháp luật CSR không phải là quy định bắt buộc của pháp luật nên cơ sở để
DN thực hiện CSR là rất quan trọng, chính vì thế phải có cơ chế bảo đảm gồm: Đảm bảo thực thi CSR bằng pháp luật quy định; ý thức tự thân của DN; vai trò giám sát của các tổ chức phi nhà nước
Bảo đảm thực thi bằng pháp luật
CSR được DN tự nguyện cam kết thông qua các quy định khi đăng ký với cơ quan quản lý, thông qua các chính sách nội bộ của DN, hay trong các thỏa thuận tập thể, hợp đồng, thì DN phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhưng cam kết này, tự nguyện thực thi các cam kết đơn phương chứa các nội dung về CSR Tất cả các cam kết đơn phương từ DN đều có giá trị điều chỉnh bởi pháp luật và DN phải
có nghĩa vụ thi hành
Các cơ chế tự thân của DN
- Cơ chế tự thân của DN thể hiện bởi các quy định đối với nội bộ DN, nó được hiểu như luật riêng của DN, tự DN quy định, tự đưa ra các cam kết, tự chịu trách nhiệm thực hiện các cam kết này (thể hiện trong điều lệ DN, các quy chế nội
bộ, nội quy, BQT của DN) Qua đó, DN một mặt muốn cam kết với NLĐ, Bên hữu
Trang 29quan về CSR của mình, mặt khác cũng là một sự công bố cho bên ngoài các giá trị CSR của DN, thể hiện tinh thần và văn hóa, triết lý kinh doanh của DN
- Cơ chế tự thân của DN qua chế độ báo cáo Trong hoạt động của DN phải thực hiện nhiều các loại báo cáo cho: Cơ quan quản lý, khách hàng, Bên hữu quan, Thường là các báo cáo về: Hoạt động kinh doanh; báo cáo về tài chính; sử dụng lao động; bảo vệ môi trường; thông tin sản phẩm, đây là các báo cáo được pháp luật quy định Bên cạnh đó DN còn phải thực hiện các báo cáo theo tiêu chí của Bên hữu quan, khách hàng, bên thứ 3 được thuê giám sát, báo cáo được lập dựa trên các tiêu chí trong các quy tắc, các bộ chỉ dẫn quốc tế, báo cáo này được công khai nhằm thông báo ra ngoài các cam kết của DN đến nguời tiêu dùng về DN, sản phẩm của DN được tạo ra rất nhân văn, điều mà người tiêu dùng và cộng đồng quan tâm
- Cơ chế tự thân của DN qua quảng cáo tiếp thị sản phẩm của DN Thông qua quảng cáo, tiếp thị DN cam kết về sản phẩm của mình Người tiêu dùng tiến bộ ngày nay ngoài việc quan tâm đến chất lượng sản phẩm họ còn quan tâm đến điều kiện của NLĐ đã tạo ra sản phẩm đó như thế nào, NLĐ có bị cưỡng ép lao động, sản phẩm có ảnh hưởng gì đến môi trường không? Chính vì qua chiến lược quảng cáo, tiếp thị, DN có thể công bố CSR của mình, cam kết thực hiện CSR được người tiêu dùng, cộng đồng giám sát
Vai trò của các tổ chức phi nhà nước
Trong đảm bảo thực hiện các bộ quy tắc: Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các tiêu chí thực hành CSR, đánh giá báo cáo cũng như thúc đẩy việc thực hiện CSR ở DN Ngoài ra, một số tổ chức xã hội dân sự trong nước đại diện cho các Bên hữu quan để thương lượng và giám sát
DN thực hiện các cam kết
Kết luận Chương 1
Như vậy CSR được hiểu là sự cam kết của DN đóng góp vào việc phát triển kinh tế, xã hội bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của NLĐ, thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả DN cũng như phát triển chung của xã hội CSR bao gồm các trách
Trang 30nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp luật, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện của DN Trước xu thế, yêu cầu tiêu dùng, điều kiện xã hội, điều kiện cạnh tranh, điều kiện môi trường, phát triển bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế, DN thực hiện CSR là một hoạt động không thể tách rời trong các hoạt động của mình CSR là các nghĩa vụ của DN phải thực hiện, có trách nhiệm với xã hội CSR tăng đến mức tối
đa các tác dụng tích cực, giảm tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với xã hội CSR có lợi cho cả DN và có lợi cho sự phát triển bền vững chung của xã hội Thực hiện CSR đã góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh, chủ DN; góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của DN; tăng lợi nhuận cho DN; thu hút nguồn lao động giỏi, trình độ tay nghề cao, NLĐ gắn bó; góp phần nâng cao giá trị, hình ảnh quốc gia; tạo ra thế mạnh cạnh tranh trong khu vực; hình thành văn hóa, bản sắc thương hiệu riêng, khác biệt, ưu việt, nhân văn của DN trên thị trường quốc
tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tế DN thực hiện CSR là vấn đề phức tạp vì nó bao gồm các khía cạnh kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện thực hiện cùng một lúc trong hoạt động của
DN, có thể làm tăng chi phí hoạt động của DN Vì vậy để đảm bảo CSR được thực hiện tốt, bản thân DN cần hiểu rõ, quyết tâm thực hiện, DN còn cần có sự đóng góp phản biện của toàn xã hội, hỗ trợ của nhà nước Nhà nước giám sát việc tuân thủ pháp luật và thực hiện các quy định do DN đơn phương cam kết thực hiện về CSR
để kịp thời hỗ trợ DN nhận thức và thực hiện CSR hiệu quả
Với những cơ sở lý luận phân tích ở Chương 1, trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay, tương lai phát triển kinh tế, DN ở Việt Nam thực hiện CSR là một xu thế tất yếu Gần đây các quy định về CSR đã được tiếp thu, nâng lên thành quy định pháp luật, có giá trị bắt buộc DN thi hành Tuy nhiên CSR tại Việt Nam còn tương đối mới mẻ, không thống nhất trong các thực hiện vì vậy cần phải nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng CSR để có một đánh giá, kết luận cụ thể hơn
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam
Thực trạng thực hiện CSR ở Việt Nam hiện nay đang trở thành một nội dung được quan tâm, CSR đem lại cho xã hội và DN những lợi ích, cơ hội, năng lực và
uy tín DN được nâng cao,…là một công cụ đắc lực giúp cho DN nội địa chiếm được
ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường quốc tế, trong khu vực, đặc biệt
là nâng cao khả năng cạnh tranh của DN, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt hơn pháp luật lao động, pháp luật bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là cần phải hiểu đúng và thống nhất thế nào là CSR Trên thực tế rất dễ hiểu lầm khái niệm CSR theo nghĩa DN thực hiện CSR như là một hoạt động tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính đạo đức, nhân đạo, từ thiện
Đến thời điểm này Việt Nam đã tham gia phê chuẩn 7/8 Công ước về lao động, tham gia và ký kết nhiều điều ước, công ước quốc tế có liên quan đến CSR Trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng các cam kết chuẩn mực pháp lý quốc tế, Chính phủ
đã đưa các nội dung của Công ước, Điều ước vào các quy định cụ thể, chi tiết của
hệ thống pháp luật quốc gia hiện nay như: Bộ Luật Dân sự 2015; Bộ Luật hình sự 2017; Luật Doanh nghiệp 2020; Bộ Luật Lao động 2019; Luật Bảo vệ môi trường 2020; Luật Đầu tư Trong thời gian sắp tới, một số luật như: Luật Công đoàn 2012; Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2012 và một số luật khác có liên quan CSR phải tiếp tục được sửa đổi, bổ sung
DN thực hiện CSR bao gồm các quy định pháp luật buộc DN thực hiện, một phần còn lại của CSR là các cam kết đơn phương do DN cam kết thực hiện nên khi đánh giá thực trạng thực hiện CSR của DN tại Việt Nam cũng cần đánh giá đồng bộ
02 yếu tố này Thực tế về CSR rất đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực, trong giới hạn nghiên cứu, Luận văn này chỉ đề cập đến các quy định CSR về lao động và bảo vệ
Trang 32môi trường theo quy định của Bộ Luật lao động 2019, Luật bảo vệ môi trường
DN tuân thủ quy định pháp luật là cùng lúc thực hiện trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm xã hội, đảm bảo cho các trật tự xã hội ổn định và phát triển bền vững
Về tuân thủ pháp luật lao động, tại Khoản 5, Điều 8, Luật Doanh nghiệp
2020 quy định về nghĩa vụ của DN với vai trò là người sử dụng lao động
Về tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường Luật Doanh nghiệp 2020 đã bãi bỏ Khoản 8, Điều 8 về nghĩa vụ của DN về bảo vệ môi trường (Luật Doanh nghiệp 2014) và đã bổ sung một quy định mở với phạm vi rất rộng đó là Khoản 6, Điều 8 như sau: “6 Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”, điều này được hiểu là DN cũng có trách nhiệm bảo vệ môi trường vì Luật Bảo vệ Môi trường 2020 có quy định dàn trải trong nhiều điều, khoản quy định cụ thể các nghĩa vụ của DN thực hiện quy định để bảo vệ môi trường
Từ đó cho thấy DN có nghĩa vụ thực hiện CSR về lao động và môi trường
2.1.1.1 Quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lao động
Bảo đảm các quyền lao động
Tại Điều 35, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam [17] quy định quyền lao động của công dân, được đảm bảo các điều kiện làm việc Đây là một trong những quyền con người về lao động Để thực hiện quyền con người về lao động phải giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc là trách nhiệm của nhà nước, DN và toàn xã hội
Để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền được lao động của người dân, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định NLĐ có quyền làm việc, tự do
Trang 33lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp Đồng thời, Bộ Luật Lao động cũng là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền làm việc, lợi ích, các quyền, nghĩa vụ khác của NLĐ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho quan hệ lao động được hài hòa và ổn định Đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ; khuyến khích những thỏa thuận đảm bảo cho NLĐ có những điều kiện, thỏa thuận có lợi hơn so với qui định của pháp luật về lao động; tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo ra việc làm,
tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động; hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc ít người, lao động lớn tuổi Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, Bộ luật Lao động cũng đưa
ra các qui định về hợp đồng lao động, hình thức hợp đồng lao động, nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động, nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng lao động và phương pháp giải quyết tranh chấp lao động,…
Đảm bảo an sinh xã hội, an toàn, vệ sinh lao động
Tại Điều 34, Hiến pháp năm 2013 [18] lần đầu tiên khẳng định quyền an sinh
xã hội cơ bản của công dân Bên cạnh đó có chính sách an xã hội sinh đảm cuộc sống của NLĐ về BHXH, BHYT, BHTN, hỗ trợ học nghề, tìm việc làm, hỗ trợ cho vay ưu đãi việc làm, hỗ trợ giảm nghèo, cũng được luật pháp quy định đầy đủ, cụ thể Nhà nước cũng đề ra hàng loạt các chương trình kinh tế - xã hội như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm (với những hoạt động: Thực hiện quỹ quốc gia tạo việc làm; thành lập các ngân hàng xã hội: giao đất, giao khoán để trồng rừng, chương trình hỗ trợ đánh bắt xa bờ…) Đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh để tạo việc làm cho NLĐ Nhà nước cũng ban hành một hệ thống chủ trương, chính sách thông thoáng thu hút sự đầu tư của nhiều DN, tổ chức kinh tế nước ngoài nhằm tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ, tạo điều kiện cho những người trong độ tuổi lao động đều có thể thực hiện quyền lao động của mình DN đa quốc gia, DN liên doanh xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam, giải quyết việc làm cho hàng triệu NLĐ, giúp NLĐ có thu nhập ổn định cuộc sống cho bản thân và
Trang 34đóng góp công sức cho sự phát triển kinh tế đất nước… Tăng cường cơ hội có việc làm; bảo đảm thu nhập tối thiểu thông qua hỗ trợ việc làm; kết nối thông tin thị trường lao động; mở rộng cơ hội cho NLĐ Nhân dân tham gia hệ thống chính sách BHXH, BHYT, BHTN để chủ động đối phó khi thu nhập của NLĐ bị suy giảm hoặc bị mất nguồn thu nhập, do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già
Quyền thành lập tổ chức của NLĐ, tổ chức đại diện NLĐ, sức khỏe, tính mạng NLĐ được bảo vệ
Đảm bảo dân chủ trong lao động thể hiện ở việc NLĐ được tham gia thỏa ước lao động tập thể, thương lượng tập thể, thành lập tổ chức của NLĐ, thành lập
và tham gia tổ chức người đại diện cho NLĐ, quyền được đình công theo quy định của pháp luật, đối thoại, tổ chức hội nghị NLĐ tại nơi làm việc Hiện nay NLĐ thực hiện các quyền này thông qua việc tổ chức công đoàn cơ sở tại DN trước khi có hướng dẫn cụ thể về tổ chức đại diện cho NLĐ vừa được Bộ Luật Lao động 2019 quy định
Các hành vi bị cấm trong pháp luật lao động
Hệ thống pháp luật Việt Nam gần đây đã tiếp thu các quy định nội dung các Công ước, hiệp ước mà Việt Nam đã ký kết vào hệ thống pháp luật quốc gia trong
đó có các hành vi nghiêm cấm trong lao động Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định bao gồm:
- Nghiêm cấm phân biệt đối xử;
- Cưỡng bức lao động;
- Sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu
Những nội dung đã này được quy định chi tiết, cụ thể tại Điều 8 Bộ Luật Lao động 2019 như sau:
Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động:
- Phân biệt đối xử trong lao động
- Ngược đãi người lao động, cưỡng bức lao động
- Quấy rối tình dục tại nơi làm việc
Trang 35- Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật
- Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải
có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
- Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật
- Sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật
Phát triển nguồn nhân lực
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nguồn nhân lực chất lượng cao Hiện nay Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu ” [19] Bên cạnh đó cũng đưa ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới, đòi hỏi cần phải: Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất, kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành
Hệ thống chính sách, pháp luật về lao động, đào tạo, dạy nghề, phát triển công nghệ cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với chủ trương, đường lối của
Trang 36Đảng, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các tiêu chuẩn, yêu cầu của thực tiễn Tuy nhiên hiện nay số lượng cán bộ khoa học, chuyên gia trong các lĩnh vực còn thiếu, còn chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, công trình khoa học có chất lượng cao, được tôn vinh, ghi nhận, có thể ứng dụng thực tiễn, chất lượng còn thấp
Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi phải đổi mới trên nhiều phương diện, phải có chiến lược cụ thể và môi trường công bằng, kỷ cương, đạo đức, thượng tôn pháp luật được coi làm chuẩn mực; tạo ra một môi trường văn hóa dẫn dắt sự phát triển nguồn nhân lực
2.1.1.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm của xã hội của doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường
Quyền con người về môi trường đã được quy định tại Điều 43 Hiến pháp 2013: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, quyền được sống trong môi trường trong lành cũng như nghĩa
vụ bảo vệ môi trường của mọi người Khi Nhà nước ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người cũng có nghĩa là Nhà nước ghi nhận trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường Như vậy, từ quy định của Hiến pháp cho thấy Nhà nước ta đã và đang đánh giá cao tầm quan trọng của bảo vệ môi trường Việc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội phát triển bền vững song song với đảm bảo việc bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại khi tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về vấn đề bảo vệ môi trường, từ các quy định về phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường cho đến các quy định về khai thác
sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học; trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ
Trang 37tài nguyên, môi trường,… trong nhiều văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Thủy sản 2003, Luật Bảo
vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Khoáng sản… và văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành
Nội dung pháp luật quy định thực hiện CSR về bảo vệ môi trường rất dàn trải Trong giới hạn nghiên cứu CSR về vấn đề bảo vệ môi trường bao gồm: Trách nhiệm tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường và sử dụng khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường
Quy định bảo vệ môi trường
Trách nhiệm DN tuân thủ các quy định tại các Điều 28, 29, 30, 31,32, 33 Luật Bảo vệ môi trường 2020 DN có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc tiến hành đánh giá tác động môi trường đối với các dự án có quy mô được quy định tại Điều 28, 29, 30 Luật Bảo vệ môi trường 2020 nhằm đánh giá những tác động xấu mà dự án có thể gây ra cho môi trường khu vực và đưa ra những biện pháp giảm thiểu Tất cả các dự án phát triển kinh tế - xã hội đều có những tác động đến tình trạng tài nguyên thiên nhiên, môi trường tại nơi thực hiện dự án và qua đó đến đời sống vật chất và tinh thần, hoạt động sản xuất, kinh doanh của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn tác động của của dự án Để hạn chế các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực, pháp luật về môi trường quy định rằng trong hồ
sơ trình duyệt các dự án phát triển kinh tế xã hội phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án Báo cáo tác động môi trường chính là lời cam kết của chủ dự
án trước các cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư liên quan đến dự án về việc phát huy các tác động tốt và khắc phục các tác động xấu về tài nguyên môi trường của
dự án DN phải có trách nhiệm công bố nội dung các cam kết của DN về bảo vệ môi trường với các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm, và cộng đồng dân cư
để được phản biện, kiểm tra việc thực hiện và góp phần tham gia thực hiện Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 2020, đối tượng tham vấn không chỉ bao gồm cộng đồng mà còn các cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp bởi dự án Bên cạnh
đó, vai trò của cộng đồng và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, xã hội
Trang 38nghề nghiệp trong phản biện và giám sát các vấn đề môi trường của dự án cũng được tăng cường [20]
Các nguyên tắc và quy định chung trong Luật bảo vệ Môi trường 2020 về sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội
DN có trách nhiệm phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường
từ hoạt động của mình và khắc phục ô nhiễm do hoạt động của mình gây ra và thực hiện các nghĩa vụ bảo vệ môi trường theo quy định (Chương V) DN phải xây dựng các hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn, khí thải để khi thải ra môi trường, ngoài đáp ứng đủ điều kiện tiêu chuẩn môi trường theo quy định và đăng ký sổ chủ nguồn thải đối với DN có phát sinh chất thải nguy hại theo quy định, DN phải đảm bảo rằng trong quá trình hoạt động tuân thủ đúng theo những gì đã cam kết trong các hồ
sơ môi trường (báo cáo tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường, đề án bảo
vệ môi trường) để bảo vệ môi trường và thực hiện lập Báo cáo giám sát môi trường định kỳ DN phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí môi trường theo Luật Thuế bảo
vệ môi trường Ngoài ra, đối với các DN hoạt động trong các ngành nghề đặc thù còn phải thực hiện các quy định về môi trường theo các Luật chuyên ngành, các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn DN không tuân thủ quy định Pháp luật về môi trường sẽ bị
xử lý hành chính hoặc hình sự
Sử dụng khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường
Công nghệ được xem là “chìa khóa” trong bảo vệ môi trường Trong xu thế hội nhập hiện nay, khoa học và công nghệ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế thành công của đất nước
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng xác định 1 trong 5 giải pháp để thực hiện Nghị quyết là “Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” Trên cơ sở đó, nhà nước khuyến khích DN với tiềm lực về khoa học kỹ thuật đầu tư vào các ngành khoa học công nghệ cao để phát triển các sản phẩm mới, vật liệu mới thân thiện với môi trường
Trang 39Trong việc khuyến khích các DN phát triển khoa học công nghệ bảo vệ môi trường, nhà nước cũng có các quy định rất đồng bộ tập trung vào: huy động các nguồn lực đầu tư; áp dụng đồng bộ các cơ chế, biện pháp khuyến khích, ưu đãi ở mức cao nhất về đất đai, thuế và ưu đãi khác cho hoạt động công nghệ cao nhằm phát huy vai trò chủ đạo của công nghệ cao trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân [21]
Theo Điều 10, Luật Công nghệ cao thì các tổ chức, DN, cá nhân khi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ mới, sẽ được ưu tiên vay vốn từ các quỹ bảo vệ môi trường; được xem xét hỗ trợ chi phí từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao và kinh phí khác có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; trường hợp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để đầu tư bảo vệ môi trường thì được xem xét hỗ trợ lãi suất sau đầu
tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư theo điều lệ của quỹ bảo vệ môi trường Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân khi có dự án đầu tư nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường sẽ được ưu đãi hỗ trợ về đất đai, vốn, miễn hoặc giảm thuế thu nhập DN, hưởng mức
ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm,…
Khoản 5, 6,7, Điều 5 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 quy định:
- Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách nhà nước với tỷ lệ tăng dần theo khả năng của ngân sách nhà nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường; ưu tiên nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ trọng điểm về bảo vệ môi trường;
- Bảo đảm quyền lợi của tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường; ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường; thúc đẩy sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường;
- Tăng cường nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ xử lý ô nhiễm, tái chế, xử lý chất thải; ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ