Hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập. Ở các giai đoạn phát triển khác nhau, mỗi giai đoạn tuổi và lĩnh vực riêng, hoạt động con người được tập trung vào một lĩnh vực nhất định. Ở đó, chúng ta dành thời gian và sự tâm huyết nhiều nhất cho lĩnh vực hoạt động này. Trong tâm lý học gọi kiểu hoạt động đó là hoạt động chủ đạo.
Trang 12 Điều kiện tâm lý - sư phạm nâng cao chất lượng
hoạt động học tập của học viên ở các trường sĩ
2.1 Nhóm điều kiện thuộc về học viên
112.2 Nhóm điều kiện thuộc về giảng viên 192.3 Nhóm điều kiện thuộc về môi trường sư phạm 21
Trang 2đoạn tuổi và lĩnh vực riêng, hoạt động con người được tập trung vào một lĩnhvực nhất định Ở đó, chúng ta dành thời gian và sự tâm huyết nhiều nhất cholĩnh vực hoạt động này Trong tâm lý học gọi kiểu hoạt động đó là hoạt độngchủ đạo.
Hoạt động chủ đạo được hiểu là kiểu hoạt động mà sự phát triển của nóquy định những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý và trong cácđặc điểm tâm lý của nhân cách ở một giai đoạn phát triển nhất định Đối vớihọc viên đào tạo ở các trường sĩ quan quân đội, hoạt động học tập và rènluyện chính là hoạt động chủ đạo của họ Chất lượng hoạt động này do chínhngười học quyết định chứ không ai làm thay Muốn nâng cao chất lượng hoạtđộng học tập và rèn luyện của học viên cần phải có các điều kiện tâm lý - sưphạm, như: Động cơ, mục đích học tập đúng đắn; phương pháp học tập phùhợp; các kỹ năng tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện… Nghiên cứu những vấn đề
về hoạt động chủ đạo trong tâm lý học và vận dụng đưa ra các biện pháp tâm
lý sư phạm nâng cao chất lượng hoạt động học tập cho học viên ở các trường
sĩ quan quân đội có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần trực tiếp nâng cao chấtlượng giáo dục, đào tạo chung ở các trường sĩ quan quân đội Với ý nghĩa đó,
tác giả lựa chọn nội dung: “Hoạt động chủ đạo và việc hình thành các điều kiện tâm lý - sư pham nâng cao chất lượng hoạt động học tập cho học viên
ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay” làm chủ đề của tiểu luận.
NỘI DUNG
1 Khái quát chung về hoạt động chủ đạo trong tâm lý học.
1.1 Hoạt động chủ đạo
Trang 3Công lao phát hiện ra hoạt động chủ đạo và sử dụng nó để phân chia vàđiều khiển các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em thuộc về A.N.Lêônchev vàĐ.B.Encônhin, người cộng sự và học trò của ông A.N.Lêônchev cho rằng,mỗi giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em đặc trưng bởi một quan hệ nhất địnhcủa trẻ với thực tại có tính chất chủ đạo trong một giai đoạn nhất định, bởimột kiểu hoạt động nhất định - hoạt động chủ đạo.
Dấu hiệu để xác định chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khácchính là sự thay đổi kiểu hoạt động chủ đạo, thay đổi quan hệ chủ đạo của đứatrẻ với thực tế
Hoạt động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của nó quy địnhnhững biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý và trong các đặc điểmtâm lý của nhân cách trẻ em ở giai đoạn phát triển nhất định của nó
Có thể căn cứ vào tính chất biểu hiện của đối tượng hoạt động để phânloại hoạt động vui chơi, học tập, lao động sản xuất, hoạt động chính trị xã hội,sáng tạo khoa học, nghệ thuật, v.v… Một trong cách phân chia phổ biến làcăn cứ vào vai trò của nó trong việc hình thành và phát triển các chức nhữngtâm lý cá nhân trong từng giai đoạn nhất định: hoạt động chủ đạo và hoạtđộng thứ yếu, phụ thuộc
1.2 Đặc điểm của hoạt động chủ đạo
Hoạt động chủ đạo có 3 đặc điểm:
Thứ nhất: là hoạt động mà trong đó làm nảy sinh và diễn ra sự phân
hoá thành những dạng hoạt động mới khác Chẳng hạn, trong hoạt động vuichơi của trẻ em mẫu giáo (với tư cách là hoạt động chủ đạo của giai đoạn lứatuổi này), lần đầu tiên làm xuất hiện hoạt động học tập của các em (theo nghĩahẹp của từ này) Khi chơi, các em đã bắt đầu học
Thứ hai: là hoạt động mà trong đó các quá trình tâm lý riêng biệt được
hình thành hay được tổ chức lại Trong chơi đùa trẻ em hình thành các quátrình tưởng tượng tích cực, trong học tập hình thành quá trình tư duy trừu
Trang 4tượng v.v… Ở đây cần lưu ý, không nên hiểu máy móc tất cả quá trình tâm lýtrong mỗi giai đoạn nào đó đều được nảy sinh trong hoạt động chủ đạo Cónhiều quá trình tâm lý được hình thành và được tổ chức lại không trực tiếp ởngay bên trong hoạt động chủ đạo, nhưng về cơ bản, những quá trình đó cótrong các dạng hoạt động khác về nguồn gốc, gắn với hoạt động chủ đạo củagiai đoạn hiện thời.
Thứ ba: là hoạt động mà những biến đổi tâm lý cơ bản của nhân cách
trẻ em trong giai đoạn đó, phụ thuộc chặt chẽ vào nó Chẳng hạn, các khảnăng ứng xử của trẻ phù hợp các chuẩn mực xã hội ở tuổi mẫu giáo, đượchình thành thông qua hoạt động chơi của chúng
Như vậy, dấu hiệu để xác định hoạt động chủ đạo không phải là nhữngchỉ số đơn thuần về số lượng Nó không phải là hoạt động hay gặp nhất tronggiai đoạn phát triền nào đó cũng không phải là hoạt động đứa trẻ giành nhiềuthời gian vào đó Hoạt động chủ đạo là hoạt động chi phối các hoạt độngkhác, tạo nên cấu trúc đặc trưng của nhân cách và định hướng sự phát triểncủa nhân cách đó
Như đã biết, khi phân tích cấu trúc hoạt động lao động sản xuất, hoạtđộng thực tiễn, Các Mác đã chỉ rõ, hoạt động hiện tại của cá nhân không phải
là cái gì đó độc lập Ngược lại nó bị quy định bởi những điều kiện sống của cánhân, bởi những thành quả của hoạt động trước đó "Do sự việc đơn giản làmỗi thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng sản xuất do những thế hệ trước đâyxây dựng lên và được thế hệ mới dùng làm nguyên liệu cho sự sản xuất mới".Chuyển vào trong lĩnh vực tâm lý học, ta thấy, hoạt động chỉ đạo cung cấp nộidung chủ yếu cho sự phát triển trong mỗi giai đoạn nhất định Vấn đề đặt ra lànội dung đó do đâu mà có? Dĩ nhiên nó phải tồn tại trong môi trường xã hội
đã có Vả lại, môi trường xã hội không phải là cái bất biến, nó thường xuyênthay đổi theo sự phát triển của xã hội Thành ra, nội dung hoạt động của cánhân trẻ em phụ thuộc vào nội dung xã hội và phụ thuộc vào sự biến đổi của
Trang 5nội dung đó Về phía nhân cách trẻ em ta thấy, nó mang bản chất của xã hội
và mang tính chất lịch sử Điều này do chính nội dung của hoạt động tạo
ra, trong sự chế ước của hoàn cảnh xã hội Ai cũng biết rằng trẻ em trongcác giai đoạn xã hội khác nhau, trong các dân tộc khác nhau, các quốc gia
có trình độ phát triển khác muốn sẽ được tạo ra nội dung cụ thể cho sự pháttriển khác nhau
1.3 Sự thay thế hoạt động chủ đạo trong các giai đoạn phát triển của trẻ em.
Trong các công trình lý luận của A.N.Lêônchev, không tìm thấy ôngtrực tiếp khẳng định trong mỗi giai đoạn phát triển của trẻ em có bao nhiêuhoạt động chủ đạo Tuy nhiên, qua các nghiên cứu có tính chất thực tiễn như:
"cơ sở tâm lý học của trò chơi ở tuổi mẫu giáo", A.N.Lêônchev đã xác địnhhoạt động chủ đạo trong sự phát triển của trẻ em giai đoạn này là hoạt độngvui chơi Khi phân tích điều kiện quy định một hành động chủ đạo, ông cũngxác lập lôgíc chuyển hoá các hoạt động chủ đạo tương ứng với từng giai đoạn:hoạt động vui chơi - tuổi mẫu giáo, việc học tập có hệ thống trong nhà trường
tuổi học sinh, hoạt đông chuẩn bị chuyên môn hay lao đông sản xuất, v.v… tuổi trưởng thành Từ những công trình nghiên cứu trên, có thể hướng đếnquan điểm của ông, cho rằng trong mỗi giai đoạn phát triển có một hoạt độngchủ đạo tương ứng
-Phát triển theo hướng này, trong các công trình nghiên cứu của mình,Đ.B.Encônhin đã dựa trên các lớp đối tượng mà trẻ em hướng tới để xác địnhhình thái hoạt động Từ đó, ông chia đối tượng thành hai lớp: lớp A, gồmnhững quan hệ giữa trẻ em với người lớn, với xã hội nói chung Nói vắn tắt,
đó là quan hệ người - người theo nghĩa hẹp của nó Lớp B, gồm quan hệ củatrẻ em với thế giới vật thể có trong thiên nhiên và do con người sáng tạo ra
Từ giả thuyết này, Encônhin cho rằng, trong mỗi giai đoạn phát triển của trẻ
em có một hoạt động chủ đạo và các giai đoạn này chuyển tiếp cho nhau do
Trang 6sự thay thế một hoạt động chủ đạo này bằng một hoạt động chủ đạo khác.Chẳng hạn, theo Đ.B.Encônhin, từ lúc mới sinh đến khi 7 tuổi, trẻ em trải qua
ba giai đoạn phát triển với các lớp quan hệ khác nhau: giai đoạn sơ sinh: từlúc mới sinh đến một tuổi; giai đoạn tuổi thơ: từ 1 đến 3 tuổi; giai đoạn mẫugiáo: từ 3 đến 7 tuổi
Sự thay thế từ hoạt động chủ đạo này sang hoạt động chủ đạo kháccủa giai đoạn tiếp theo chiếm vị trí trung tâm của lý thuyết về hoạt độngchủ đạo Đồng thời là một trong những đóng góp to lớn của A.N.Lêônchev
về lĩnh vực này
A.N.Lêônchev cho rằng, thời điểm xác định sự thay thế từ hoạt độngchủ đạo này sang hoạt động khác được đặc trưng bởi vị trí của đứa trẻ trongmối quan hệ giữa nó với thực tại xung quanh Theo ông, quá trình phát triểndẫn trẻ đến chỗ nhận thức vị trí mà nó đang chiếm trong thế giới quan hệ vôimọi người xung quanh không còn phù hợp với khả năng của nó, đứa trẻ xuấthiện nhu cầu muốn thay đổi vị trí hiện tại của mình Từ đó, nảy sinh mâuthuẫn giữa khả năng của sự phát triển của trẻ với chính mức phát triển mà đứatrẻ đang có do hoạt động hiện thời tạo ra Việc giải quyết mâu thuẫn này tấtyếu dẫn đến thay thế hoạt động chủ đạo này bằng hoạt động chủ đạo kháctrong các giai đoạn phát triển, trước hết phải nắm được cơ chế chuyển hoá từhoạt động này sang hoạt động khác Cũng tức là cơ chế hình thành hoạt động
từ hành động và ngược lại Đây chính là chìa khoá để ta hiểu được toàn bộvấn đề chuyển hoá của các loại hoạt động tâm lý nói chung, hoạt động chủđạo nói riêng Để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải quay lại cấu trúc hoạtđộng do Lêônchev xác định
Chúng ta nhớ lại, A.N.Lêônchev luôn luôn gắn hoạt động của cá nhânvới động cơ của nó Đồng thời động cơ luôn được hiểu là đối tượng hoá củanhu cầu nào đó, rốt cuộc hoạt động, về bản chất là hướng tới thoả mãn nhucầu Trong khi đó, hành động có ý nghĩa khác Đó là quá trình mà đối tượng
Trang 7của nó không trực tiếp trùng với động cơ, không trực tiếp thoả mãn nhu cầu.Đối tượng của hành động không tự nó thúc đẩy chủ thể hành động (vì nókhông trực tiếp gắn với nhu cầu) Vì thế, muốn hành động xuất hiện, chủ thểphải ý thức được quan hệ của đối tượng đó với động cơ hoạt động mà hànhđộng đó tham gia, tức là ý thức về đối tượng hành động như một mục đíchhướng tới động cơ Như vậy, mục đích dẫn đến động cơ, còn bản thân nókhông phải là động cơ Nó không phải là hiện thân của nhu cầu vào thực thể
mà là thực thể dẫn đến đối tượng của nhu cầu Vì vậy, mục đích bao giờ cũng
có chức năng trung gian giữa chủ thể với động cơ Việc phân biệt giữa hoạtđộng và hành động phải dựa vào đối tượng của nó có chức năng nào: mụcđích hay động cơ Hành vi học tập của trẻ em có thể là hoạt động học tập nếu
nó được thúc đẩy bởi động cơ chiếm lĩnh tri thức, thoả mãn nhu cầu nhậnthức của cá nhân Nhưng nó có thể là hành động học, nếu được thực hiện vớithục đích làm hài lòng cha mẹ và đằng sau sự hài lòng đó là các phần thưởng
mà cha mẹ giành cho Ở đây, mục đích học là phương tiện để đạt được động
cơ khác, động cơ phần thưởng, nhu cầu được thưởng
Giữa hoạt động và hành động có mối quan hệ đặc biệt, chuyển hoácho nhau Động cơ có thể chuyển thành mục đích, do đó, hoạt động chuyểnthành hành động Ngược lại, mục đích có thể phát triển thành động cơ, khi
đó hành động là hoạt động Sự chuyển hoá này là yếu tố cực kỳ quan trọng.Chỉ có bằng con đường chuyển hoá này, mới làm nảy sinh hoạt động mới,làm xuất hiện quan hệ mới giữa trẻ em với thực tại, từ đó làm xuất hiệnhoạt động chủ đạo
“Cơ chế” tâm lý của sự chuyển hoá này chính là sự hình thành động cơmới trên cơ sở mục đích của hành động đã có Để minh hoạ cho quá trình này,A.N.Lêônchev phân tích sự hình thành động cơ học tập của học sinh
Giả sử, có một học sinh phải ngồi học bài ở nhà một cách không tựgiác Mặc dù nó ý thức được trách nhiệm của mình và những hậu quả xấu của
Trang 8việc không làm bài ở nhà (bị điểm kém, bị cha mẹ, cô giáo trách phạt v.v…).Nhưng sự ý thức đó vẫn chưa đủ để nó tự giác làm bài Nó muốn được đichơi, đi đá bóng Bây giờ, cha mẹ nó ra điều kiện: làm xong bài mới được đichơi, vì thế đứa trẻ ngồi vào bàn học Về mặt tâm lý học, A.N.Lêônchev nhậnthấy ở đây có hai động cơ thúc đẩy đứa trẻ ngồi học: loại thứ nhất: ý thứctrách nhiệm và nhu cầu được điểm tốt và loại thứ hai: được đi đá bóng Trongtrường hợp này loại thứ nhất không có hiệu lực thúc đẩy đứa trẻ tự giác họcbài, vì vậy, nó là loại động cơ chỉ được hiểu, còn loại thứ hai, có hiệu lực,Lêônchev gọi là "động cơ tác động thực tế" Về phía chủ thể hành vi học bàicủa đứa trẻ là hành động học (chưa phải là hoạt động học) Vấn đề quyết địnhtiếp theo là làm thế nàọ để động cơ chỉ được hiểu có thể trở thành động cơ cóhiệu lực, khi đó ta chuyển được hành động lên hoạt động TheoA.N.Lêônchev sự chuyển hoá này có thể diễn ra trong điều kiện kết quả củahành động có ý nghĩa hơn so với động cơ thực sự thúc đẩy hành động ấy.Trong minh hoạ trên, kết quả về điểm tốt, về lời khen do việc làm bài manglại có ý nghĩa hơn so với động cơ được đi đá bóng của đứa trẻ, dẫn đến đứatrẻ tự giác làm bài không phải chỉ vì được đi chơi mà vì điều có ý nghĩa hơn:được đi chơi và được điểm tốt Ở đây xuất hiện sự "đối tượng hoá" mới nhữngnhu cầu của đứa trẻ, đưa những nhu cầu này từ mức được ý thức lên mức caohơn, mức có hiệu lực Việc chuyển sang hoạt động chủ đạo mới giống với quátrình chuyển hoá trên Điểm khác ở đây chỉ là “động cơ được hiểu” trở thành
"động cơ hiệu lực" trong trường hợp chúng không ở trong lĩnh vực các quan
hệ đứa trẻ hiện đang tham gia, mà nằm trong những quan hệ đặc trưng cho vịtrí mà nó sẽ có trong giai đoạn phát triển cao hơn Chẳng hạn, hành động họctập sau khi trở thành hoạt động học tập độc lập ở học sinh Nó quy định vữngchắc quan hệ của trẻ với thế giới xung quanh và dưới ảnh hưởng của nhàtrường theo nhịp độ ngày càng tăng, nó sẽ vượt qua sự phát triển của nhữngdạng hoạt động khác của trẻ Dẫn đến những kết quả mới, những quá trình
Trang 9tâm lý mới của trẻ lần đầu tiên được xuất hiện trong hoạt động này và điều đó
có nghĩa là hoạt động học tập bắt đầu đóng vai trò của hoạt động chủ đạotrong giai đoạn lứa tuổi học sinh
Khi hoạt động và hoạt động chủ đạo đã được xác lập, tức là quan hệ cơbản giữa trẻ em với hiện thức đã được triển khai và ổn định thì đồng thời xuấthiện quan hệ chi phối hoạt động - hành động Trong các hoàn cảnh khác nhau,tùy theo hành động tham gia vào hoạt động nào, nó sẽ mang đặc tính tâm lýphù hợp với động cơ tương ứng của hoạt động đó Hiển nhiên là cùng mộthành động giải bài tập, với mục đích khách quan là giải bài tập, nhưng hànhđộng này tham gia vào hoạt động học với động cơ tri thức sẽ khác với việckhi hành động này tham gia vào hoạt động học với động cơ quan hệ xã hội
Như vậy, theo quan điểm hoạt động, sự phát triển của trẻ em diễn ratheo hai hướng, hướng cơ bản, quyết định sự phát triển là những biến đổitrong phạm vi quan hệ hiện thực của trẻ em với đời sống xã hội thông quahoạt động dẫn đến biến đổi hành động, thao tác, chức năng Hướng thứ hai là
từ sự xắp xếp lại các chức năng, thao tác, phụ thuộc vào sự phát triển của hoạtđộng Cùng với sự biến đổi thực tế vị trí của trẻ em trong quan hệ hiện thực, ýthức của nó cũng được biến đổi biểu hiện ở sự biến đổi động cơ hoạt động.Những động cơ mới luôn được nảy sinh, dẫn đến sự cải tổ các hành độngtrước đó của nó Các hoạt động mà trước đó đóng vai trò chủ đạo được thaythế và trở thành hoạt động thứ yếu, làm nảy sinh hoạt động chủ đạo mới, trẻ
em bước vào giai đoạn phát triển mới, cao hơn
Việc đưa khái niệm hoạt động chủ đạo vào giáo dục có ý nghĩa thựctiễn to lớn; mỗi hoạt động chủ đạo sẽ mang lại một thành tựu mới, một cấutrúc tâm lý đặc trưng và từ đó, chủ thể sử dụng nó như là phương tiện để thựchiện các hoạt động của mình Do đó, rốt cục, nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là
tổ chức quá trình hình thành các hoạt động chủ đạo của học sinh trong suốt
Trang 10quá trình phát triển từ sơ sinh đến trưởng thành, qua các giai đoạn khác nhau.Mỗi giai đoạn sẽ được đặc trưng bởi một kiểu hoạt động chủ đạo riêng.
Học viên đào tạo bậc đại học ở các trường sĩ quan quân đội về cơ bản
có tuổi đời từ 18 đến 22 tuổi Đây có thể coi là giai đoạn vàng cho quá trìnhphát triển các quá trình, thuộc tính, phẩm chất tâm lý Xuất phát từ những đòihỏi đặc thù của lĩnh vực hoạt đông quân sự Ở giai đoạn này, đối với họ, hoạtđộng học tập và rèn luyện theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo chính là hoạt độngchủ đạo Chất lượng hoạt động này do chính bản thân người học viên tự quyếtđịnh chứ không ai làm thay Muốn nâng cao chất lượng hoạt động học tập vàrèn luyện của học viên quá trình giáo dục phải cần tác động vào các yếu tốtâm lý như: Động cơ, mục đích học tập; phương pháp học tập; các kỹ năng tựhọc, tự tu dưỡng, rèn luyện… Để nâng cao chất lượng hoạt động học tập với
tư cách là hoạt động chủ đạo của học viên đào tạo ở các trường sĩ quan quânđội hiện nay cần quan tâm tới các điều kiện tâm lý - sư phạm sau:
2 Điều kiện tâm lý - sư phạm nâng cao chất lượng hoạt động học tập của học viên ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay
2.1 Nhóm điều kiện thuộc về học viên
Hoạt động học là hoạt động của người học, do đó chất lượng hoạt độnghọc phải do chính người học quyết định chứ không ai làm thay, người thầychỉ đóng vai trò chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn người học Vì vậy, muốnnâng cao chất lượng hoạt động học, người học cần phải có các điều kiện tâm
lý - sư phạm, như: Động cơ, mục đích học tập đúng đắn; phương pháp học tậpphù hợp; các kỹ năng tự học, tự tu dưỡng, rèn luyện…
Động cơ và mục đích học tập đúng đắn của học viên là một trong cácđiều kiện tâm lý - sư phạm cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động học của họcviên Muốn học có kết quả, trước hết người học phải có động cơ, mục đích họctập đúng đắn
Trang 11Động cơ học tập đúng đắn của học viên
Động cơ học tập đúng đắn của học viên là các động lực thúc đẩy học viêntrong quá trình học tập tại trường nhằm thoả mãn nhu cầu mong muốn được họctập, rèn luyện, được tiến bộ trưởng thành, hoàn thiện phát triển, mong muốn đượclàm chủ tri thức…
Hoạt động học của học viên có rất nhiều động cơ khác nhau, có thể chiathành bốn loại sau:
Các động cơ chính trị - xã hội: Gắn liền với việc thoả mãn các nhu
cầu mong muốn được tiến bộ, trưởng thành; muốn được phát triển nhâncách, được kết nạp vào Đảng, được phong cấp, được tốt nghiệp ra trường trởthành sĩ quan; nhu cầu sống chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp xây dựng quânđội và bảo vệ Tổ quốc
Các động cơ nhận thức khoa học: Động cơ này thể hiện tập trung nhất của
động cơ học tập, là nhân tố kích thích học viên hăng say học tập, kích thích tính tò
mò, ham hiểu biết, say mê tìm tòi nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học.Động cơ này được hình thành trên cơ sở học viên có nhu cầu được hoàn thiện trithức, được làm chủ tri thức khoa học của từng môn học
Các động cơ nghề nghiệp quân sự: Trên cơ sở học viên hiểu ý nghĩa và giá trị
cao cả của nghề nghiệp quân sự, có hứng thú với hoạt động quân sự, từ đó có nhu cầuhoàn thiện bản thân, muốn được nâng cao tri thức, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng hoạtđộng quân sự và muốn đảm nhiệm tốt cương vị sĩ quan chỉ huy sau này Đây chính lànguồn gốc, động lực quan trọng thúc đẩy học viên trong quá trình học tập, rèn luyện,kích thích sự say mê, hứng thú trong việc tìm tòi, khám phá tri thức khoa học, khoa họcquân sự, rèn luyện các kỹ xảo, kỹ năng hoạt động quân sự và phẩm chất nhân cách củangười sĩ quan chỉ huy tham mưu lục quân đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Ngoài những động cơ trên, hoạt động học của học viên còn được thúc đẩybởi các động cơ khác, như: sự động viên, khích lệ từ phía gia đình, bạn bè…
Trang 12Mục đích học tập đúng đắn của học viên
Mục đích học tập đúng đắn của học viên là hệ thống tri thức, kỹ xảo, kỹnăng hoạt động quân sự cần phải có theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo, có khả năngthực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, giáo dục chiến sĩ và chỉ huy đơn vị hoàn thànhtốt mọi nhiệm vụ được giao
Mục đích học tập chính là sự cụ thể hoá động cơ học tập và xét đến cùng
là sự cụ thể hoá những đòi hỏi của xã hội ở người học; có vai trò quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng học tập của học viên Khi học viên xác địnhđược mục đích học tập một cách rõ ràng, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đàotạo, điều kiện học tập và khả năng của bản thân sẽ giúp họ định ra cách thứchành động, đánh giá kết quả đúng đắn hơn; thấy rõ hơn những gì làm được vàcần phải làm gì, từ đó thúc đẩy tính tích cực học tập của học viên Ngược lại, khihọc viên nhận thức mục đích học tập không cụ thể, rõ ràng thì khó mà xác địnhđược cần phải làm gì, đặt kế hoạch cho những hành động của mình ra sao, dễ bịchệch khỏi con đường đã định và dễ hài lòng với bất kỳ kết quả nào đạt được.Như vậy, mục đích học tập được xác định đúng đắn sẽ giúp học viên ý thức được
về đối tượng tri thức, kỹ xảo, kỹ năng mà mình cần chiếm lĩnh, hình thành; đồngthời, học viên nhận thấy rõ những thuận lợi và khó khăn đặt ra trong học tập Trên
cơ sở đó, học viên xác định các nhiệm vụ học tập, cách thức học tập phù hợp Khihọc viên hoàn thành được các nhiệm vụ học tập của mình, biến hệ thống tri thức,
kỹ xảo, kỹ năng hoạt động quân sự thành vốn kinh nghiệm hoạt động quân sự củabản thân thì khi đó học viên đạt được mục đích học tập
Xác định động cơ, mục đích học tập đúng đắn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy,định hướng thái độ, hành vi, ý chí quyết tâm học tập của học viên nhằm nâng caochất lượng học tập của họ Vì vậy, việc quan tâm giáo dục hình thành động cơ, mụcđích học tập đúng đắn cho học viên là cơ sở bảo đảm nâng cao chất lượng hoạtđộng học của chính họ