Khái niệm về gia đình có rất nhiều định nghĩa khác nhau, sau đây chúng tôi sẽ đưa ra một số định nghĩa chính. + Theo từ điển Việt Nam (Đào Văn Tập): Gia đình chỉ mọi người quen thuộc trong gia đình. + Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành đơn vị nhỏ nhất trong xã hội. Họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân cùng dòng máu, thường là gồm vợ chồng cha mẹ và con cái. + Theo từ điển Tâm lý của BS.Nguyễn Khắc Viện: Gia đình gồm bố mẹ con và có hay không một số người khác cùng chung sống trong một nhà. +Theo Littré: Gia đình là một tập hợp người có cùng huyết thống, sống chung trong một nhà và chủ yếu là gồm cha mẹ và con cái.
Trang 1TỔNG QUAN VỀ GIA ĐÌNH VÀ TRỊ LIỆU HỆ THỐNG
MỘT CÁI NHÌN VỀ GIA ĐÌNH NHƯ MỘT HỆ THỐNG
Khái niệm về gia đình
Khái niệm về gia đình có rất nhiều định nghĩa khác nhau, sau đây chúng tôi sẽ đưa ra một số định nghĩa chính
+ Theo từ điển Việt Nam (Đào Văn Tập): Gia đình chỉ mọi người quen thuộc trong gia đình
+ Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành đơn vị nhỏ nhất trong xã hội Họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân cùng dòng máu, thường là gồm vợ chồng cha mẹ và con cái
+ Theo từ điển Tâm lý của BS.Nguyễn Khắc Viện: Gia đình gồm bố mẹ con và có hay không một số người khác cùng chung sống trong một nhà
+Theo Littré: Gia đình là một tập hợp người có cùng huyết thống, sống chung trong một nhà và chủ yếu là gồm cha mẹ và con cái
+ Theo ý kiến của nhà sử học – nhân chủng học, Louis Henry Morgan (1818 – 1881) Gia đình là một cơ cấu năng động, nó không bao giờ đứng yên một chỗ mà chuyển từ hình thức thấp lên hình thức cao, khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp sang một giai đoạn cao hơn
Tuy nhiên, trong bài viết này thì khái niệm về gia đình được định nghĩa như sau:
Theo truyền thống, gia đình được định nghĩa như là một nhóm người, có cùng quan
hệ dòng máu hoặc cùng huyết thống và cùng cư trú Định nghĩa này được mở rộng
Trang 2bao gồm những người có cùng cảm nhận về một gia đình tương lai, hoà hợp bởi hôn nhân, dòng máu, cư trú và người làm con nuôi
Nói chung, sự kết hợp các thành viên trong một gia đình có thể do hai yếu tố chính:
(1) Những người cùng huyết thống (cha mẹ–con cái, ông bà–cháu, anh chị em ruột
…)
(2) Yếu tố luật định (kết hôn, nuôi con…) Một số gia đình được tạo lập không tuân theo cách thức truyền thống hoặc không được luật pháp hoặc đạo đức xã hội thừa nhận (ví dụ sống chung không hôn thú, hôn nhân giữa những người đồng tính…)
Khái niệm về hệ thống
Học thuyết hệ thống được bắt nguồn và vận dụng trong nhiều lĩnh vực, cơ khí hay tin học, sinh học hay kinh tế xã hội Một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau.Và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng có thể tác động lên toàn bộ hệ thống Một hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời lại là một bộ phận của một hệ thống khác lớn hơn Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với xung quanh và cũng
có những hệ thống mở Hệ thống khép kín chỉ gặp trong ngành vật lý, còn các hệ thống sinh học hay xã hội đa phần là hệ thống mở
Một hệ thống không chỉ là một tập hợp gồm nhiều bộ phận khác nhau, mà là một tổng thể có những đặc tính không hoàn toàn do những đặc trưng của các bộ phận khác cộng lại
Mối liên quan ở đây không phải đơn tuyến một chiều, mà các yếu tố tác động lẫn nhau theo những mối liên quan chằng chịt đặc biệt là mối liên hệ tác động qua lại
theo mạch phản hồi (feedback–rétroaction) Sơ đồ nhân quả đơn tuyến (linear
causality) theo đường thẳng A B C được thay thế bằng sơ đồ nhân quả xoay vòng
(circular causality)
Trang 3A
Những tác động qua lại giữa các bộ phận tạo ra một thế nhất định Mỗi sự kiện gây ra một tác động đồng thời cũng gây ra những phản ứng ngược lại tạo ra xu thế lập lại
trạng thái cân bằng nội tại (homeostasis) Tuy nhiên mọi hệ thống lành mạnh vẫn giữ
được bản sắc trong lúc tạo ra những thay đổi cơ cấu để thích nghi với những biến động của môi trường
Có những hệ thống linh hoạt có khả năng điều chỉnh những mối quan hệ bên trong và bên ngoài một cách dễ dàng để tồn tại lâu dài Có những hệ thống cứng nhắc khi gặp biến động mạnh trong môi trường thì không giữ được cân bằng dễ bị tan rã
Hệ thống nào cũng có một bờ rào, một đường biên giới phân cách với môi trường chung quanh, có qui định đầu vào và đầu ra, cụ thể hoá mối liên quan giữa hệ thống
và môi trường, đồng thời được bố cục theo những cơ cấu và hoạt động theo cơ chế nhất định
Những hệ thống khép kín sẽ mất dần năng lượng dẫn tới tiêu vong (entropie), còn
những hệ thống mở có khả năng tiếp nhận năng lượng từ bên ngoài tồn tại lâu dài Nhờ có sự liên quan với nhau mà những hệ thống tồn tại được nhưng cũng vì vậy gây
ra rối loạn cho nó
Theo phương pháp Decartes cần phân chia những sự vật phức tạp thành những yếu tố đơn giản Còn trong quan điểm hệ thống lại cần nhìn thấy hết tính phức tạp của sự vật
Khái niệm gia đình như một hệ thống
Trang 4Gia đình như một hệ thống mở, gồm nhiều thành viên với những mối liên hệ qua lại chằng chịt Những tác động qua lại này nhằm duy trì sự cân bằng của hệ thống gia đình Trong nội bộ gia đình, những mối tình cảm, lòng ham, xung năng, và quan hệ
uy quyền tạo ra những luồng thông tin truyền dẫn giữa những thành viên Mỗi gia đình tạo ra một mối liên quan riêng tuỳ thuộc vào văn hóa xã hội, lịch sử và những tính chất riêng của gia đình đó
Những mối liên quan này có thể linh hoạt hoặc cứng nhắc giữa các thành viên với nhau, giữa các tiểu hệ thống bên trong gia đình, và giữa gia đình với các hệ thống lớn hơn bên ngoài (làng xóm, phố phường…) mà ranh giới giữa gia đình và bên ngoài có thể bịt kín hay mở rộng
Gia đình là một giao diện (interface) giữa cá nhân và xã hội, là một thể chế thiết yếu
làm trung gian giữa mục tiêu sinh lý và văn hoá xã hội trong sự hình thành nhân cách Ranh giới giữa các thành viên với nhau cũng như giữa gia đình và môi trường chung quanh là một vấn đề rất quan trọng Bản thân cơ cấu gia đình không phức tạp lắm, nhưng mỗi thành viên là một tiểu hệ phức tạp, và phức tạp hơn nữa là một hệ thống lớn xã hội xung quanh
Sự ảnh hưởng lẫn nhau trong gia đình đi theo một vòng cung phản hồi của mối quan
hệ nhân quả mà trong đó những sự kiện đơn lẻ được quan niệm vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, và có sự tác động hỗ tương giữa các sự kiện với nhau
Gia đình bao gồm nhiều tiểu hệ thống phụ thuộc lẫn nhau, mỗi tiểu hệ thống thực hiện những chức năng đặc biệt để duy trì bản thân tiểu hệ thống và bảo vệ duy trì cả
hệ thống như một tổng thể
Mỗi cá nhân cũng là một tiểu hệ thống bên trong gia đình Cá nhân có liên hệ về mặt chức năng và thứ bậc với các tiểu hệ thống và các cá nhân thành viên khác trong gia đình Tiểu hệ thống có thể được thành lập dựa trên các thứ bậc (như vợ chồng, anh chị em…), hoặc theo chức năng (cha mẹ, ông bà, con cái ), hoặc theo phái tính (mẹ
và các con gái…)
Trang 5Đến luợt gia đình cũng là một tiểu hệ thống, khi mở rộng giao tiếp với thế giới bên ngoài
Các tiểu hệ thống được phân chia bằng những đường biên giới Đường biên giới bảo
vệ tiểu hệ thống và cho phép tác động qua lại giữa những tiểu hệ thống
Đường biên giới có thể lỏng lẻo hoặc cứng nhắc (mở rộng hoặc khép kín) và thích nghi với thay đổi cần thiết của hệ thống gia đình Bệnh lý thích nghi xuất hiện nếu đường biên giới quá cứng nhắc không cho phép giao tiếp thích hợp giữa hai tiểu hệ hoặc đường biên giới quá lỏng lẻo khiến có sự dính chặt, hoà lẫn chức năng giữa các tiểu hệ thống
Gia đình lành mạnh cần có những đường biên giới uyển chuyển giữa các cá nhân thành viên và các tiểu hệ, vừa không quá cứng nhắc để có thể duy trì chức năng trao đổi, gắn bó giữa các thành viên, vừa không quá lỏng lẻo để duy trì sự độc lập, trưởng thành của từng thành viên Hệ thống gia đình có những qui luật, những nguyên tắc cho phép thực hiện những nhiệm vụ trong cuộc sống hằng ngày và duy trì cấu trúc của nó Một vài qui luật được công khai và không giấu diếm nhưng trái lại những qui luật khác là không được bộc lộ công khai (qui luật ngấm ngầm)
Gia đình lành mạnh có những qui luật kiên định, được nêu rõ và có thể uyển chuyển thích nghi với sự thay đổi Mỗi thành viên trong gia đình có một số vai trò, mà vai trò này liên kết các vị thế và chức năng của người ấy trong gia đình
Vai trò có thể theo vị trí, thứ bậc trong gia đình như: bố mẹ, con cái, anh chị em …
Vai trò có thể theo chức năng mà thành viên đảm nhận như nạn nhân (victim), người chịu tội thay (scapegoat), hoặc thánh tử đạo (martyr), v.v
Theo quan điểm hệ thống tất cả những hành vi (ví dụ: vai trò, những triệu chứng và những hình thức giao tiếp) đều có một ý nghĩa Ví dụ một người kém thích nghi có thể tác động để giữ gia đình được cân bằng Đặc biệt một người ở tuổi vị thành niên rối loạn trong vấn đề ăn uống có thể ngày càng dẫn đến việc gia đình quan tâm những
Trang 6khó khăn mà thiếu niên đó đang gặp phải Rối loạn ăn uống có thể là chỉ báo cho thấy quá trình cá biệt hoá kém
Sự phát triển của gia đình (family development)
Sự phát triển gia đình liên quan đến sự trưởng thành của các thành viên trong gia đình, thay đổi cấu trúc nhiệm vụ và quá trình tác động qua lại của đơn vị gia đình với bên ngoài, hỗ trợ việc liên kết những tiểu hệ thống
Chu trình đời sống gia đình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn mang một tính chất khác nhau Các giai đoạn phát triển của gia đình có được vượt qua một cách thành công hay không là phụ thuộc vào hiệu lực phát triển gia đình thông qua việc điều chỉnh nhiệm vụ của các thành viên trong gia đình phù hợp với từng giai đoạn phát triển Các biến cố đột xuất và thời điểm chuyển tiếp giữa các giai đoạn phát triển
có tính thách thức cao đối với khả năng thích nghi của gia đình
Betty Carter và Monica Mc Goldrick (1988) đã mô tả sáu giai đoạn trong chu trình đời sống gia đình như sau:
Giai đoạn 1: Cá nhân trưởng thành, rời khỏi gia đình gốc
Nguyên lý cơ bản trong quá trình chuyển tiếp: Cá nhân đó dần dần có được các trách nhiệm đối với bản thân
Các thay đổi:
+ Cá biệt hoá chủ thể từ gia đình gốc
+ Phát triển mối quan hệ với người đồng trang lứa
+ Trở nên độc lập về tài chính và quyết định công việc
Giai đoạn 2: Lập gia đình
Nguyên lý chuyển tiếp: Tham gia tạo lập một hệ thống mới
Trang 7Các thay đổi:
+ Có gia đình riêng
+ Sắp xếp mối quan hệ với hai họ và với người ngoài (có xem xét tương quan với người đồng hôn phối)
Giai đoạn 3: Gia đình có con nhỏ
Nguyên lý chuyển tiếp: Chấp nhận những thành viên mới xuất hiện trong hệ thống Các thay đổi:
+ Điều chỉnh hệ thống sao cho có “chỗ” dành cho sự chăm sóc con cái
+ Đảm đương các công việc gia đình, kiếm tiền, nuôi con
+ Sắp xếp lại các chức năng, vai trò đối với gia đình hai họ (bao gồm ông bà nội, ngoại)
Giai đoạn 4: Gia đình có con vị thành niên (thiếu niên)
Nguyên lý chuyển tiếp: Ranh giới gia đình cần uyển chuyển, chấp nhận dần tính độc lập của các con và thực trạng sức khoẻ yếu kém của ông bà
Các thay đổi:
+ Cho phép đứa con vị thành niên độc lập hơn Hệ thống gia đình cũng “mở” hơn ra thế giới bên ngoài khi đứa con vị thành niên “đi đi, về về”
+ Vợ chồng có thể quan tâm trở lại đối vơi nhau và với công việc của mình
+ Chia sẻ trách nhiệm chăm sóc sức khỏe ông bà nội ngoại
Giai đoạn 5: Gia đình có con trưởng thành
Trang 8Nguyên lý chuyển tiếp: Chấp nhận những thay đổi lớn trong cơ cấu gia đình, có những người rời đi và có những người mới tiếp nhận vào hệ thống
Các thay đổi:
+ Tái sắp xếp lại đời sống vợ chồng khi các con đã lớn
+ Đối xử với con cái như những người lớn với nhau
+ Sắp xếp lại các mối quan hệ bao gồm cả việc trở thành thông gia, ông bà, v.v… + Đối đầu với sức khoẻ kém hoặc cái chết của ông bà nội, ngoại
Giai đoạn 6: Gia đình lúc cuối đời (later life)
Nguyên lý chuyển tiếp: Chấp nhận sự chuyển đổi vai trò của các thế hệ
Các thay đổi:
+ Sức khoẻ bản thân giảm sút
+ Hỗ trợ cho thế hệ con trẻ
+ Có vị trí trong hệ thống dành cho người cao tuổi, truyền lại hiểu biết và kinh nghiệm cho thế hệ sau ( mà không làm thay chức năng con cháu)
+ Đối diện với cái chết của bạn đời, bạn bè, chuẩn bị cho cái chết của chính mình + Nghiệm lại chuyện đời …
Khái niệm về chức năng gia đình lành mạnh (normal family functioning)
Wamboldt và Reiss (1991) đã đặt câu hỏi: Khi một thành viên trong gia đình có triệu chứng thì gia đình đó có được miêu tả là gia đình lành mạnh hay không? Ngược lại, một cá nhân có thể đánh giá là lành mạnh nếu cô ấy hoặc anh ấy trưởng thành trong một gia đình bệnh lý không, trừ khi đó là bệnh lý về sự thích nghi?
Trang 9Sự lành mạnh gia đình có thể được đánh giá dựa trên các yếu tố: không có triệu chứng rối loạn chức năng được vận hành tốt và gia đình thích ứng được với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội
Một vài tác giả khác (tiêu biểu như Satir và Baldwin, 1983) mô tả gia đình lành mạnh
là bao gồm những cá nhân lành mạnh Sự lành mạnh có thể thấy được qua các bình diện sức khoẻ thể chất, tinh thần, bối cảnh sống, dinh dưỡng, cảm xúc, trí năng và các mối quan hệ Các thành tố chức năng ấy ở mỗi thành viên lại tạo nên cảm nhận về bản thân của riêng người ấy Và tất cả những cảm nhận về bản thân của các thành viên sẻ góp phần tạo nên sự lành mạnh chung cho cả hệ thống gia đình
Những gia đình tốt nhất thường là gia đình có sự gắn bó, rõ ràng và có cấu trúc linh
hoạt (flexible) Đường biên giới các thế hệ và cá nhân là có sự trao đổi qua lại để hiểu
nhau, thừa nhận một cảm giác gần gũi và chung sống với nhau lâu dài nhưng vẫn thể hiện được sự tôn trọng tính riêng tư của cá nhân và tiểu hệ thống
Sự lành mạnh gia đình khuyến khích sự tự chủ cho tất cả những thành viên ở độ tuổi thích hợp Gia đình lành mạnh thích nghi với cấu trúc bên trong của họ, vai trò mối quan hệ và những qui tắc phản ứng đối với tình huống, phát triển những yêu cầu và những thông tin mới từ môi trường
Một khả năng thứ bậc rõ ràng tồn tại giữa tiểu hệ thống bố mẹ và con cái Việc điều khiển uy quyền đến tất cả các thành viên trong gia đình một cách rõ ràng Trong phạm vi truyền đạt, gia đình lành mạnh truyền đạt rõ ràng và có hiệu quả về cảm nghĩ của họ, thích hợp với điệu bộ tự nhiên và thái độ cảm xúc đang diễn đạt, không có
các thông tin “nhập nhằng – nước đôi” (double-bind)
Khái niệm về gia đình bệnh lý (pathological or dysfunctional family)
Gia đình bệnh lý có tính chất không linh hoạt và không có khả năng thích nghi trước
sự phản ứng của môi trường, hoặc tình huống yêu cầu sự thay đổi
Trang 10Những gia đình này có khuynh hướng không phân hoá, có đường biên giới không tốt, thất bại trong việc hỗ trợ phát triển sự lành mạnh cho mỗi cá nhân và thiết lập sự tin cậy trong mối quan hệ Gia đình bệnh lý không linh hoạt, được định nghĩa là cấu trúc
có khả năng không tốt, có sự giao tiếp yếu kém (tiêu biểu đó là sự giao tiếp không nhất quán), không có khả năng thương lượng và giải quyết vấn đề, cảm xúc được thể hiện bằng những cách thức tiêu cực, thiếu quan tâm và chăm sóc
Theo Obson và những cộng sự (1983), khả năng thích nghi của gia đình có liên quan với chức năng hệ thống gia đình linh hoạt và có khả năng thay đổi Nó còn có khả năng cấu trúc vai trò mối quan hệ và những qui tắc phản ứng trước tình huống và phát triển những yêu cầu Ngược lại gia đình không lành mạnh thì bám vào các thông
lệ cứng nhắc và không có khả năng thay đổi linh hoạt
GIỚI THIỆU MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRỊ LIỆU HỆ THỐNG
Có rất nhiều trường phái trong quan điểm hệ thống, tuy nhiên trong khoá luận này chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến quan điểm của ba tác giả đó là: Salvador Minuchin, Murray Bowen và Ivan Boszormenyi – Nagy
Liệu pháp Bối cảnh - Xuyên thế hệ (Intergenerational–Contextual Family Therapy)
Liệu pháp này gắn với tên tuổi của Ivan Boszormenyi – Nagy và các tác giả khác như Sperk, Grunebaum và Ulrich, là sự phát triển của trị liệu gia đình theo định hướng phân tâm học
Liệu pháp này nhấn mạnh đến các cơ chế động năng cả trong nội tâm cá nhân lẫn trong mối quan hệ liên cá nhân, và trong khi đã nhấn mạnh đến những gì đã xảy ra trong quá khứ nó vẫn chú tâm xem xét những vấn đề trong hiện tại
Liệu pháp này được vận dụng trong một khung đạo đức–hiện sinh (ethical– existential framework) và xem gia đình gốc là trung tâm