Đời sống tâm lí của con người vô cùng phong phú, đa dạng và sinh động, được thể hiện ra bằng những hiện tượng tâm lí. Để nghiên cứu những hiện tượng tâm lí, nhiều nhà khoa học đã chia chúng thành 3 loại: Các quá trình tâm lí Các trạng thái tâm lí Các thuộc tính tâm lí.
Trang 1Chuyên đề
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÁC THUỘC TÍNH TÂM LÍ CỦA NHÂN CÁCH
I Các phương pháp tiếp cận thuộc tính nhân cách
Đời sống tâm lí của con người vô cùng phong phú, đa dạng và sinh động, được thể hiện ra bằng những hiện tượng tâm lí Để nghiên cứu những hiện tượng tâm lí, nhiều nhà khoa học đã chia chúng thành 3 loại:
- Các quá trình tâm lí
- Các trạng thái tâm lí
- Các thuộc tính tâm lí
Thuộc tính tâm lí xuất hiện là do tác động qua lại của các quá trình và trạng thái tâm lí nào đó sau khi đã được lặp đi lặp lại nhiều lần và một khi đã hình thành thì các thuộc tính tâm lí sẽ có ảnh hưởng trở lại tới các quá trình và trạng thái tâm lí một cách đáng kể Mỗi người trưởng thành, mỗi nhân cách đều đã hình thành được nhiều thuộc tính tâm lí, trong số đó có vài thuộc tính tâm lí điển hình, có ảnh hưởng to lớn tới bộ mặt tâm lí của mỗi người
Thuộc tính tâm lí điển hình của nhân cách là những thuộc tính tâm lí tương đối ổn định của một cá nhân và những đặc điểm này đem lại cho những hành vi và hoạt động của cá nhân đó một sắc thái cá nhân Tạo nên các thuộc tính nhân cách: Do tính nhiều vẻ của các cá nhân, nhóm xã hội khác nhau, với những thể chế xã hội khác nhau quy định, do cấu trúc quan hệ liên nhân cách
Có nhiều tiếp cận khác nhau về các thuộc tính tâm lí của nhân cách:
Cách tiếp thứ nhất: Tiếp cận cấu trúc - hệ thống.
- Nguyên tắc cơ bản của cấu trúc - hệ thống là quan niệm nhân cách như là con người với hệ thống mở và đóng.
+ Khi gọi nhân cách là hệ thống mở có nghĩa là các thuộc tính phẩm chất của nhân cách được qui định bởi các tác động bên ngoài
+ Nói tới hệ thống đóng của con người là nói đến kết quả của các mối quan hệ bên trong giữa các thuộc tính, phẩm chất của con người vừa như nhân cách, vừa như là cá thể và chủ thể Nhờ có ý thức và tự ý thức mà con người mang tính chất hệ thống đóng này
Trang 2- Nhiệm vụ cơ bản của cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống là nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của con người với tư cách là chủ thể của hoạt động
- Cách tiếp cận thứ hai : Xem xét nguồn gốc các thuộc tính tâm lí của
nhân cách? nền tảng khách quan của chúng là gì? những gì quyết định việc hình thành, phát triển chúng? do những nguyên nhân nào và trong những hoàn cảnh nào mà một cấu trúc các thuộc tính nhân cách nhất định của cá nhân này hay cá nhân khác được hình thành, và do đâu nó lại bị biến đổi?
Ngoài ra, từng thuộc tính nhân cách khác nhau cũng có cách tiếp cận riêng của nó
1 Phương pháp tiếp cận các thuộc tính nhân cách của TLH phi Mác xít.
Với cách tiếp cận thứ nhất, đề cập vấn đề cấu trúc nhân cách không thể
không đề cập tới học thuyết Phân tâm học của S Freud về nhân cách
- Theo S Freud, con người được tạo bởi ba khối:
+ Vô thức (cái nó)(Id)
+ Tiền ý thức (cái tôi)( Ego)
+ Y thức (siêu tôi)(SuperEgo)
Vai trò:
Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí
trung tâm Nguồn năng lượng libiđô chi phối toàn bộ hoạt động đời sống tinh thần
Khối tiền ý thức giữ vai quá độ từ khối vô thức tới khối ý thức.
Khối ý thức bao gồm những cái mà con người biết được một cách công
khai, rõ ràng Nó bao gồm những thể chế chuẩn mực xã hội, đòi hỏi con người phải tuân theo, phải thực hiện
Tương ứng với ba khối này cấu trúc nhân cách có ba thành phần: cái nó( Id), cái tôi( Ego), siêu tôi( SuperEgo).
+ Id là cái thùng chứa năng lượng tâm thần, là cái chảo sục sôi những khát vọng, bản năng, hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm, nghĩa là yêu cầu được thoả mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng
+ Ego được hình thành do áp lực của thực tại bên ngoài tới toàn bộ khối bản năng và ham mê Ego tuân theo nguyên tắc của nhu cầu thực tại Con
Trang 3người phải dùng một năng lượng đáng kể để kiềm chế và kiểm soát những phi
lí của Id
+ SuperEgo được hình thành do kết quả nhập tâm của những lời dạy bảo của gia đình, những ảnh hưởng của nền giáo dục, nền văn hoá Siêu tôi hoạt
động theo nguyên tắc “phê phán và kiểm duyệt”.
Cả ba khối này nếu được chuẩn mực phải ở trạng thái cân bằng tương đối Lúc ấy nhân cách phát triển bình thường Nhưng cả ba khối này luôn luôn
xung đột và mâu thuẫn với nhau Sự xung đột này chính là cơ chế hoạt động tinh
thần con người Từ đó, ông nêu ra 4 cơ chế hoạt động tâm lí con người, đó là:
1 - Cơ chế kiểm duyệt, chèn ép
2 - Cơ chế biến dạng
3 - Cơ chế bốc hơi (siêu thăng)
4 - Cơ chế suy thoái (siêu giáng)
Nhận xét:
Về mặt tâm lí học, S.Freud đã nêu ra các thành phần vô thức, tiền ý thức,
ý thức là những mặt đời sống tâm hồn của con người Tuy nhiên, phân tâm học
đã đối lập hoàn toàn với các nguyên tắc của tâm lí học Mác xít Nó tách rời điều kiện xã hội với việc hình thành nhân cách S.Freud đã tuyệt đối hoá bản năng tình dục của con người, coi sự thoả mãn tình dục là động cơ của hoạt động, động lực của nhân cách Cách sắp xếp các thành phần của nhân cách như vậy và đặc biệt là coi trọng thành phần vô thức, coi nó là thành phần quyết định trong đời sống tâm hồn con người là không phù hợp thực tế những hiểu biết thông thường của chúng ta
- TLH phân tích của C Jung.
TLH phân tích của C Jung đã chia nhân cách thành: Cái tôi (nguyên ngã) và vô thức tập thể
- Lý thuyết nét nhân cách của G.Allport.
Nét nhân cách là một hệ thống tâm lý thần kinh khái quát và tập trung tạo điều kiện đáp lại nhiều kích thích như nhau về mặt chức năng, gây ra và định hướng các hình thức thích nghi và hành vi biểu hiện tương ứng Có 3 loại nét nhân cách:
+ Nét nhân cách chủ yếu
+ Nét nhân cách trọng tâm
Trang 4+ Nét nhân cách thứ yếu.
Các nét nhân cách được tổ chức trong một cấu trúc thứ bậc Đó là, trình độ tích hợp cao nhất (Triết lý sống duy nhất, cái tôi, các nét nhân cách, tâm thế, thói quen), trình độ tích hợp thống nhất (Phản xạ)
- Thuyết hành vi (J.Watson)
Nhân cách là tập hợp các phản ứng hành vi của một người, là một hệ thống có tổ chức và tương đối bền vững của các kĩ xảo
- Lý thuyết nhận thức về nhân cách (J.Piaget, Zimbardo…).
Hành vi con người gồm: tự hành động - ý nghĩ - những cảm xúc được trải nghiệm thông qua việc thực hiện những hành động xác định
- TLH nhân văn và thứ bậc các nhu cầu của A.Maslow
Theo A.Maslow, cấu trúc của nhân cách là cấu trúc thứ bậc của các nhu cầu, bao gồm:
- Nhu cầu sinh lý cơ bản
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu tự khảng định
- Nhu cầu ngưỡng mộ
- Nhu cầu phát huy bản ngã
Ngoài những lí thuyết trên, trong TLH phi Mác xít, cấu trúc nhân cách
còn được thể hiện trong lí luận hai thành phần trong sự phát triển tâm lí.
Trong cấu trúc nhân cách hai thành phần này bao gồm hai cấu trúc nhỏ:
- Nội tâm lí
- Ngoại tâm lí
+ Những yếu tố sinh vật là cơ chế nội tâm lí Cơ chế bên trong của các thành phần tâm lí bao gồm: các quá trình, các chức năng và trạng thái Đây là cái khung bên trong của cấu trúc nhân cách
+ Tất cả các quan hệ bên ngoài của nhân cách, tất cả các hình thức của mối quan hệ này tác động với thế giới bên ngoài, với hoàn cảnh xã hội thuộc ngoại tâm lí Tiểu cấu trúc này có tất cả nội dung xã hội của nhân cách
Nếu như nội tâm lí mang những đặc điểm của các quá trình tâm lí như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng thì trong thành phần của ngoại tâm lí bao gồm
tình cảm, lí tưởng, năng lực, hứng thú, khuynh hướng Đây là quan điểm siêu hình về nhân cách Sự thật, việc phân chia hai thành phần sinh vật và xã hội
Trang 5trong cấu trúc nhân cách song song tồn tại là không hợp lí, bởi vì ngay cả yếu tố sinh vật của con người cũng mang tính xã hội
Ở cách tiếp cận thứ hai thì nghiên cứu của các nhà tâm lí học phi Mác
xít cũng được coi là tự nhiên chủ nghĩa Ở đây họ cố gắng tìm hiểu nền tảng
các thuộc tính tâm lí nhân cách cũng như nền tảng các hiện tượng tâm lí xã hội trong một số đặc điểm riêng là thuộc tính tự nhiên phát sinh từ cấu trúc sinh học của cá nhân hay là đặc điểm bị chế định bởi cá nhân thuộc về sinh học
- Chẳng hạn trong cuốn sách “Cẩm nang tâm lí học” xuất bản ở Mĩ, bao gồm 5 tập, do G.Lindsley và E.Aronson chủ biên, đã khảng định rằng nhiệm
vụ cơ bản của TLHXH là ở chỗ hiểu và giải thích được sự có mặt của những người khác ảnh hưởng đến tư duy, tình cảm và hành vi cá nhân…như là một tập hợp các tác nhân kích thích mang tính xã hội bao quanh mỗi người và tác động lên người đó Nhưng thế nào là “các tác nhân kích thích có tính chất xã hội bao quanh cá nhân”? “ảnh hưởng” và “tác động” có nghĩa gì? Mỗi thuật ngữ này trong tâm lí học Mĩ có một ý nghĩa nhất định được hình thành trong lịch sử, một quan niệm và phương pháp phân tích nhất định về mối quan hệ “
cá nhân - xã hội” và tương ứng là phương diện tâm lí của vấn đề nhân cách
- Sơ đồ chung của cách tiếp cận này (được hình thành chủ yếu ảnh
hưởng của thuyết hành vi đã được biến thể) tổng thể như sau:
+ Mỗi cá nhân phát triển trong một môi trường nào đó bằng cách thích nghi với nó Đối với cá nhân, môi trường này là tập hợp các tác nhân kích thích: mang tính vật lí, kĩ thuật, xã hội Trong mối quan hệ cá nhân, những người khác cũng được coi như là các yếu tố của môi trường, về thực chất, mối liên hệ “cá nhân - xã hội” không có gì khác biệt với liên hệ “cơ thể - môi trường” Ở đây cũng có các qui luật và các nguyên tắc: thích nghi, cân bằng, củng cố…
+ Quan niệm được phổ biến sâu rộng nhất trong TLH của Mĩ là quan
niệm: nhân cách là tập hợp các hình thức ổn định của hành vi và các phương pháp tư duy, tập hợp này tạo nên sự thích nghi của cá nhân với môi trường.
Quan hệ “cá nhân - xã hội” theo cách tiếp cận này, được đề cập đến như là mối liên hệ “hệ thống - môi trường”, mà không phải là “thành phần - hệ thống
mà cá nhân bị lệ thuộc”
Trang 6Với quan niệm này thì đặc thù đời sống xã hội của cá nhân với tư cách
là thành viên của xã hội bị xoá mờ, các nhân tố quyết định xã hội được qui về các tác nhân kích thích để tạo nên các phản ứng khác nhau của cá nhân, vấn
đề tính tích cực xã hội của cá nhân bị xoá bỏ Hơn nữa cách tiếp cận trên khẳng định sự đối lập giữa cá nhân và xã hội
+ Phương pháp tiếp cận vấn đề nhân cách và nhóm theo chủ nghĩa tự
nhiên thể hiện qua các thuyết cho rằng: xã hội là kết quả rút gọn của những hành vi của các cá nhân Mối tương tác đó được xem như kết quả sự phối hợp
khác thường các “nhân tố” tâm lí và các đơn vị, về thực chất là phủ định các qui luật khách quan của phát triển xã hội Mặt xã hội được suy ra từ mặt tâm lí: các đặc điểm xã hội được suy diễn từ đặc điểm của nhóm nhỏ, mà đặc điểm của nhóm thì lại từ đặc điểm của các cá nhân Việc phân tích đi từ cá nhân tới nhóm nhỏ, rồi mở rộng ra xã hội là không khoa học
Tóm lại, có các khảo sát khá hấp dẫn, tinh tế và một loạt phương pháp
tương đối chuẩn mực được soạn thảo trong nhiều công trình TLHXH phương Tây, nhưng các quan điểm lí thuyết (dựa trên công thức “cơ thể - môi trường”) không làm sáng tỏ được những cơ sở khách quan thực sự của các hiện tượng tâm lí nói chung, thuộc tính tâm lí của nhân cách nói riêng
2 Phương pháp tiếp cận các thuộc tính nhân cách của TLH Mác xít.
* Cơ sở xuất phát:
- Xem xét nhân cách trong quá trình hoạt động hiện thời thì cấu trúc của nhân cách với tư cách là yếu tố chủ thể hoạt động có tính quyết định ảnh hưởng đến sự thúc đẩy hành vi, hình thức giao tiếp, đến hoạt động nói chung
và ảnh hưởng đến các trạng thái của nhân cách
- Xác lập cấu trúc nhân cách trên cơ sở cuộc sống thực và hoạt động thực của con người Cấu trúc của nhân cách không phải là tổng hợp những quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lí mà là sự hình thành trọn vẹn những thành phần tâm lí trong mối quan hệ lẫn nhau Nghiên cứu về cấu trúc nhân cách đã trở thành nhiệm vụ trung tâm của TLH Xô viết
* Quan điểm của TLH Xô viết, tiêu biểu là các nhà TLH sau:
Trong lịch sử phát triển của tâm lí học Xô viết, một số nhà tâm lí học đã hiểu và nghiên cứu nhân cách theo cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống Điển hình theo kiểu cấu trúc - hệ thống là các nhà tâm lí học tiêu biểu sau đây:
Trang 7Ananhiev đã dày công xây dựng những tiền đề phương pháp luận
-phương pháp nghiên cứu về cấu trúc nhân cách
- B.Ph.Lomov đi sâu nghiên cứu nền tảng cơ bản của các thuộc tính
tâm lí nhân cách
- Norakie cho rằng, ngay khi xuất hiện khoa học tâm lí đã nhận ra nhân
cách không chỉ biểu hiện một số lượng mà đồng thời còn biểu hiện một cấu trúc Cấu trúc này chứa đựng những quy luật chung, điều mà TLH phương Tây không thể đạt tới
- A.G.Côvaliov: Nhân cách là sự liên kết của những tiểu cấu trúc phức
hợp:
+ Khí chất (Tiểu cấu trúc các thuộc tính tự nhiên)
+ Xu hướng theo nghĩa tính định hướng (Hệ thống nhu cầu, hứng thú,
lý tưởng)
+ Năng lực (Hệ thống các thuộc tính trí tuệ, ý chí, xúc cảm)
+ Tính cách (Hệ thống thái độ)
- V.N.Miasisep: Vấn đề cấu trúc, đó là vấn đề phù hợp của những
khuynh hướng nội dung, được thực hiện trong những dạng hoạt động khác nhau gắn liền với điều kiện sống trong thời gian lịch sử phù hợp xuất phát từ những thái độ cơ bản như: nguyện vọng, những yêu cầu, những nguyên tắc, nhu cầu.v.v Cấu trúc được thể hiện chính xác hơn trong những vai trò nhất
định của các nhu cầu khác nhau.
- K.K.Platônov: Tiếp cận phức hợp đến cấu trúc nhân cách, ông đã nêu
lên 4 tiểu cấu trúc của nhân cách như sau:
+ Tiểu cấu trúc có nguồn gốc sinh học (bao gồm khí chất, giới tính, lứa tuổi và đôi khi cả những thuộc tính bệnh lí)
+ Tiểu cấu trúc về đặc điểm của các quá trình tâm lí (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy…)
+ Tiểu cấu trúc về vốn kinh nghiệm, tri thức, KN, KX, năng lực… + Tiểu cấu trúc xu hướng nhân cách: nhu cầu, hứng thú, lí tưởng, thế giới quan, niềm tin…
- B.X.Merlin cho rằng:
+ Trong tâm lí học Xô viết thường chia ra 3 nhóm thuộc tính nhân
cách: Khí chất, tính cách, năng lực Đôi khi người ta thêm thuộc tính thứ tư,
Trang 8đó là xu hướng” Theo Ông, khí chất không phải là thuộc tính nhân cách Các thuộc tính còn lại của nhân cách là những bộ phận hợp thành không thể tách rời
+ Mỗi một thuộc tính của nhân cách đồng thời là biểu hiện của xu hướng, vừa là biểu hiện của tính cách và năng lực Nó được hình thành trong hoạt động và ở mức độ nào đó tuỳ thuộc vào tư chất di truyền Vì thế khi nói đến cấu trúc của nhân cách thì phải hiểu đó là mối liên hệ qua lại và việc tổ chức các thuộc tính nhân cách
- B.G.Ananhiev xây dựng cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc:
nguyên tắc thứ bậc và nguyên tắc phối hợp
+ Nguyên tắc thứ bậc có nghĩa là những thuộc tính tâm sinh lí, những
thành phần xã hội phục tùng thuộc tính xã hội chung nhất, phức tạp nhất
+ Nguyên tắc phối hợp có nghĩa là nhiều mức độ của các thuộc tính tác
động qua lại lẫn nhau, phối hợp lẫn nhau
Theo ông, cấu trúc nhân cách ngoài ba thành phần cơ bản của hiện tượng tâm lí, cụ thể là các chức năng tâm sinh lí (cảm giác, trí nhớ…) và quá trình chung của sự hình thành động cơ hành động Trong nhóm cuối cùng này
có nhu cầu và tâm thế
- J Stêfanovic (Tiệp Khắc) : Cấu trúc nhân cách phải được hiểu như là
sự sắp xếp những đặc điểm của nhân cách vào cái toàn bộ trong mối tác động qua lại giữa chúng, từ đó ông đưa ra các đặc điểm của cấu trúc nhân cách như sau:
+ Đặc điểm tính tích cực - động cơ của nhân cách Đặc điểm này thể
hiện tính chất xu hướng của nhân cách bao gồm hứng thú, khuynh hướng, nguyện vọng, kế hoạch sống
+ Đặc điểm lập trường - quan hệ của nhân cách Đặc điểm này thể
hiện giá trị của nhân cách, bao gồm lập trường, lí tưởng, và quan hệ sống
+ Đặc điểm về mặt hành động của nhân cách Đặc điểm này thể hiện
khả năng hoạt động có thành tích của nhân cách, bao gồm tri thức, kĩ xảo, thói quen
+ Đặc điểm về tự điều chỉnh của nhân cách Đặc điểm này thể hiện sự
điều chỉnh và kiểm tra những rung cảm và hành vi của mình, bao gồm tự ý thức, tự đánh giá, tự phê bình của nhân cách
Trang 9+ Đặc điểm về động thái nhân cách Đặc điểm này thể hiện ở khí chất
của nhân cách
- A.I.Serbakov, cấu trúc nhân cách là tổng hoà những thuộc tính tâm lí
có ý nghĩa xã hội, thái độ và hành động của cá nhân thể hiện trong quá trình phát triển cá thể và quy định hành vi, hoạt động của cá thể Cấu trúc động lực chức năng của nhân cách gồm 4 hệ thống:
+ Hệ thống điều hoà, bao gồm cơ quan thụ cảm như: nghe, nhìn, sờ
mó v.v
+ Hệ thống kích thích, gồm: khí chất, trí tuệ, nhận thức, thái độ Đó là
những cơ cấu tâm lí bền vững, là sản phẩm của hoạt động với tư cách là chủ thể của nhận thức
+ Hệ thống ổn định của nhân cách, bao gồm: xu hướng, năng lực, tính
cách, tính tự chủ
+ Hệ thống mệnh lệnh, gồm những phẩm chất có ý nghĩa xã hội của
nhân cách qui định hành vi và hành động của con người cùng ý thức cao về sự phát triển xã hội Hệ thống này bao gồm: chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa lạc quan và tình yêu lao động
- A.V.Peterovxiki cho rằng:
+ Với quan điểm hoạt động, nhân cách có thể hiểu chỉ trong hệ thống
của mối liên hệ nhân cách bền vững Những mối liên hệ này tạo thành phẩm chất riêng của bản thân nhóm hoạt động Những hoạt động nhóm qui định những biểu hiện nhân cách, vị trí riêng của mỗi người trong hệ thống mối liên
hệ cá nhân và nói rộng trong hệ thống mối quan hệ xã hội
+ Những mối liên hệ liên nhân cách diễn ra vừa như mối quan hệ chủ thể - chủ thể (giao tiếp) hoặc như mối quan hệ chủ thể - khách thể (hoạt động
có đối tượng) và nhân cách là chủ thể của những mối liên hệ này Hoạt động
và giao tiếp với tư cách là hệ thống trọn vẹn của mối liên hệ cá nhân và hoàn cảnh xã hội của cá nhân đó thể hiện trong mối liên hệ nhân cách Trên cơ sở phân tích mối liên hệ liên nhân cách
A.V.Peterovxiki hiểu nhân cách là chủ thể của hệ thống bền vững tương đối của mối quan hệ chủ thể - khách thể - chủ thể và chủ thể - khách thể, thể hiện trong hoạt động và giao tiếp và có ảnh hưởng đến người khác Với quan niệm nhân cách như trên, A.V.Peterovxiki đã chia ra 3 loại tính chất
Trang 10của tồn tại cá nhân do thành phần khái quát xã hội, bản thân cá nhân và mối liên hệ giữa chúng đó là:
+ Thuộc tính nhân cách bên trong Nhân cách được xem xét với tư cách
là tồn tại cho bản thân của chủ thể, trong không gian bên trong của tồn tại cá nhân
+ Thuộc tính nhân cách ngoài cá nhân Hình thức tồn tại của nhân cách
và qui định nhân cách là không gian của mối liên hệ liên nhân cách Nhân cách diễn ra trong nhóm và phẩm chất nhóm diễn ra thông qua từng cá nhân Mặt này bao gồm những hoạt động và giao tiếp của cá nhân đối với sự vật và đối với người khác
+ Thuộc tính hệ thống cá nhân của nhân cách Hình thức tồn tại của
nhân cách cũng ở ngoài cá nhân, thể hiện sự đánh giá của xã hội, của người khác đối với nhân cách Ở mặt này, cá nhân dù chết đi nhân cách vẫn còn
Như vậy, với cách tiếp cận như trên, các tác giả cho rằng, việc nghiên
cứu nhân cách nói chung, các thuộc tính nhân cách nói riêng phải nghiên cứu
hệ thống mối quan hệ bên trong, bên ngoài cá nhân và mối quan hệ giữa các
cá nhân, trong nhóm, trong tập thể, trong xã hội, trong giai cấp, dân tộc, trong giới xã hội mà cá nhân sống, hoạt động và giao tiếp
Chú ý:
Ngoài cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống, theo B.Ph.Lomov, để khắc
phục khuynh hướng “tự nhiên chủ nghĩa” của TLH phi Mác xít khi bàn về nhân cách và nền tảng các thuộc tính tâm lí của nhân cách thì cần phải có phương pháp phân tích duy vật, khoa học triệt để, đòi hỏi hướng đi hoàn toàn ngược lại với tâm lí học phi Mác xít, tức là:
- Đi từ qui luật khách quan của sự phát triển xã hội tới việc làm sảng tỏ đặc điểm tâm lí xã hội của nhóm, rồi tới hành vi xã hội của cá nhân và thuộc tính nhân cách Ông cho rằng, nghiên cứu nhân cách đòi hỏi cần phải hiểu rõ
xã hội là gì? việc tâm lí học hiểu xã hội như thế nào thì sẽ có cách phân tích nhân cách tương ứng
- Nếu coi xã hội là một phép tính cộng giản đơn các cá nhân, là kết quả đơn giản của sự tác động qua lại, thì nó chỉ có nhiệm vụ tìm ra cơ sở các thuộc tính nhân cách và các hiện tượng tâm lí xã hội dựa vào bản chất vĩnh cửu, không đổi của con người Còn nếu xuất phát từ quan điểm duy vật nhất