1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học LIỆU PHÁP THÂN CHỦ TRỌNG tâm TRONG tâm lý học TRỊ LIỆU

48 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Liệu Pháp Thân Chủ Trọng Tâm
Tác giả Carl Rogers, Eugene Gendlin, Leslie Greenberg, Laura Rice, Robert Eliott
Trường học Đại học Chicago
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1940-1950
Thành phố New York
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liệu pháp Thân chủ trọng tâm (clientcentered psychotherapy), hoặc theo cách gọi tên với nghĩa rộng hơn như hiện nay là Nhân vị trọng tâm (personcentered psychotherapy), là thuật ngữ được chọn để gọi tên cho một nhóm những phương pháp trị liệu tâm lý dựa trên quan điểm lý thuyết về bản chất con người và các tương tác xã hội được phát triển bởi Carl Rogers vào hai thập niên 1940 và 1950 (Brodley; 1988). Rogers là người đầu tiên dùng tên gọi ấy để chỉ phương pháp trị liệu của mình. Sau đó, nhiều tác giả khác đã phát triển thêm các “phân nhánh” cho lọai liệu pháp này; trong đó phải kể đến Eugene Gendlin với “liệu pháp kinh nghiệm” (experiential psychotherapy; 1979) và các tác giả Leslie Greenberg, Laura Rice, Robert Eliott với “liệu pháp tiến trìnhkinh nghiệm” (processeperiential psychotherapy; 1993).

Trang 1

LIỆU PHÂP THĐN CHỦ TRỌNG TĐM

Liệu phâp Thđn chủ trọng tđm (client-centered psychotherapy), hoặc theo câch gọi

tín với nghĩa rộng hơn như hiện nay lă Nhđn vị trọng tđm (person-centeredpsychotherapy), lă thuật ngữ được chọn để gọi tín cho một nhóm những phươngphâp trị liệu tđm lý dựa trín quan điểm lý thuyết về bản chất con người vă câc tươngtâc xê hội được phât triển bởi Carl Rogers văo hai thập niín 1940 vă 1950 (Brodley;1988) Rogers lă người đầu tiín dùng tín gọi ấy để chỉ phương phâp trị liệu củamình Sau đó, nhiều tâc giả khâc đê phât triển thím câc “phđn nhânh” cho lọai liệuphâp năy; trong đó phải kể đến Eugene Gendlin với “liệu phâp kinh nghiệm”(experiential psychotherapy; 1979) vă câc tâc giả Leslie Greenberg, Laura Rice,Robert Eliott với “liệu phâp tiến trình-kinh nghiệm” (process-eperientialpsychotherapy; 1993)

Lúc còn trẻ, C Rogers đê dănh phần lớn thời gian cho cuộc sống ở nông trại, nơi mẵng đặc biệt quan tđm đến công việc nghiín cứu câc quâ trình kích thích tăng trưởngcđy trồng vă lăm câc thực nghiệm về nông nghiệp Công việc kích thích tăng trưởng

vă kiểm định câc giả thuyết trong nghiín cứu đê giúp hình thănh những thâi độ trongcuộc sống cũng như sau đó trở thănh những đặc trưng cơ bản trong quan điểm lămviệc của Rogers

Về sau, khi Rogers lăm công việc của một chuyín viín tham vấn tại một trung tđmhướng dẫn trẻ em (child guidance clinic), ông đê tiếp xúc với câc tư tưởng của OttoRank – người đê có ảnh hưởng đến Rogers về một số quan điểm như: nhấn mạnh văotiềm năng sâng tạo của con người, việc trị liệu có mục đích nhắm đến sự chấp nhậnbản ngê như lă một thực thể độc đâo vă có khả năng tự lực, lòng tin văo thđn chủ như

lă nhđn vật trung tđm của tiến trình trị liệu, thđn chủ lă nhă trị liệu của chính mình, văviệc trị liệu phải nhấn mạnh văo câc trải nghiệm đang xảy ra trong hiện tại hơn lănhững gì đê xảy ra trong quâ khứ (Raskin & Rogers; 1989)

Trang 2

Rogers cũng chịu ảnh hưởng bởi trào lưu tư tưởng của Roosevelt vào thập niên 1930,

từ đó hình thành nên quan điểm lạc quan của Rogers về bản chất con người và niềmtin rằng con người cần phải được đối xử một cách tôn trọng và có lý lẽ ngay cả khihành vi của họ không phải lúc nào cũng hợp lý

Tuy nhiên, đối với Rogers, ảnh hưởng lớn nhất mà ông có được là từ những trảinghiệm của những thân chủ mà ông đã tiếp xúc và làm việc Theo Rogers, chính thânchủ là người biết rõ điều đau khổ của họ là gì, hướng đi của họ sẽ về đâu và vấn đềnào là cấp thiết

Vào thập niên 1940, Rogers gọi liệu pháp của mình là “liệu pháp không hướng dẫn(non-directive therapy) Ông nhấn mạnh vào tính chất đặc trưng của nhà trị liệu làkhông hướng dẫn thân chủ của mình Mục đích trị liệu là tạo ra một bầu không khícởi mở và không can thiệp Vào thập niên 1950, Rogers bắt đầu nhấn mạnh đến “sựthấu cảm” (empathic understanding) và sang thập niên 1960, những tính cách của nhàtrị liệu được Rogers nhấn mạnh là “sự hài hòa” (congruence) và “tính trung thực”(genuineness)

Về sau, Rogers áp dụng quan điểm của mình một cách sâu rộng hơn ra ngoài các môitrường khác không thuộc tâm lý trị liệu và làm việc với các nhóm người không phải

là thân chủ Quan điểm thân chủ trọng tâm ảnh hưởng sang cả ngành giáo dục ởHoa Kỳ, và điều đó khiến Rogers đặt lại tên cho phương pháp của mình là “nhân vịtrọng tâm” (person-centred) để phản ảnh sự chuyển đổi đối tượng của phương phápkhông chỉ bao gồm những thân chủ trong tâm lý trị liệu mà còn nhắm đến bản chấtcon người và các mối tương tác xã hội nói chung

Liệu pháp thân chủ trọng tâm có thể áp dụng cho rất nhiều loại thân chủ/bệnh nhân ởnhiều lọai cơ sở trị liệu khác nhau Carl Rogers khởi đầu việc trị liệu của mình nhưmột nhà trị liệu theo định hướng phân tâm tại Trung tâm Hướng dẫn Trẻ em ở NewYork, nơi ông làm việc với những trẻ em thiệt thòi và gia đình của chúng Sau đó,ông làm việc tại Trung tâm Tư vấn thuộc Đại học Chicago, phục vụ cho các đốitượng trong cộng đồng cũng như cho các sinh viên đại học

Trang 3

Những nhà trị liệu theo trường phái thân chủ trọng tâm có thể làm việc với thân chủ

có đủ mọi loại vấn đề như trầm cảm, lo âu, rối loạn nhân cách và cả các bệnh nhânloạn thần

Theo Smith (1982), Carl Rogers được xếp hạng là nhà tâm lý trị liệu có tầm ảnhhưởng sâu rộng nhất, vượt trên cả ảnh hưởng của Sigmund Freud, mặc dù trong thực

tế chỉ có khoảng 9% trong tổng số các nhà trị liệu tự nhận mình theo trường phái thânchủ trọng tâm Mặt khác, hầu hết các nhà trị liệu hiện nay có xu hướng đi theo quanđiểm chiết trung (eclectic), và khỏang 1 phần 3 trong số này phối hợp liệu pháp thânchủ trọng tâm với các lọai liệu pháp nhân văn khác theo nhiều định hướng khác nhau(Norcross & Prochaska; 1988)

Khái niệm về nhân cách - Nhân cách như một tiến trình

Liệu nhân cách con người có tính kiên định, vững chắc, khó thay đổi như cấu trúccủa một tòa nhà, hay là nó có thể thay đổi như các giai điệu của một ca khúc?

Học thuyết thân chủ trọng tâm cho rằng nhân cách con người có tính chất giống nhưcác giai điệu của một bản nhạc mà người ta có thể “chơi” theo nhiều kiểu khác nhau,vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời mình Điều đó có nghĩa là: con ngườinhững “cấu trúc đang diễn tiến” (structure-in-process) Trường phái thân chủ trọngtâm không phủ nhận các cấu trúc, ví dụ các nét tính cách vẫn có thể tồn tại, và cũngkhông phủ nhận tính hằng định liên tục của nhân cách theo thời gian Nhưng điểuquan trọng là các cấu trúc nhân cách vẫn liên tục thay đổi dù đôi lúc chúng có vẻ bấtbiến và không đổi Có thể so sánh sự thay đổi ấy với sự thay đổi trong hình thể củacác cấu trúc trong tự nhiên như núi, sông, bờ biển Trong khi nhìn bề ngoài các cấutrúc ấy không thay đổi nhưng các hiện tượng trong tự nhiên lại liên tục làm biến đổichúng theo kiểu bồi đắp thêm hoặc hủy hoại, bào mòn

Caspi và cs nhận thấy những người có tính cách lệ thuộc khi còn thơ bé vẫn có thểgiữ lại đôi nét những tính cách ấy khi lớn lên nhưng có thể biểu hiện chúng dướinhững hình thức trưởng thành hơn như nương tựa lẫn nhau và duy trì những mốiquan hệ hỗ trợ Bản thân các học thuyết của Freud hay Rogers cũng là những “cấu

Trang 4

trúc đang diễn tiến”: các quan điểm của họ cũng liên tục thay đổi và tăng trưởng dù

cả hai lý thuyết đều có những quan điểm nền tảng khá kiên định

Có thể nói quan điểm xem nhân cách như một tiến trình nhấn mạnh: các nét nhâncách (personality traits) không phải là những cấu trúc kiên định mà được xem là các

“chiến lược hành động” (action strategies) (Cantor; 1990) và nói chung, trường phái

thân chủ trọng tâm xem con người như một tiến trình sống

Cuộc sống qua từng thời khắc (moment-by-moment living)

Trong khi các tác giả của “Giả thuyết tái hiện” (reappearance hypothesis) cho rằng

“con người học tập và bảo lưu những khái niệm, hình ảnh, ký ức, và rồi hành động,đơn giản chỉ là tái hoạt lại những nhu cầu và đòi hỏi, chính xác như những bản saocủa các sự kiện đã xảy ra trước đó” (Anderson, 1974); trường phái thân chủ trọngtâm cho rằng thực tế xảy ra trái ngược lại: “Hành vi của các loài sinh vật, mỗi cái đềuxảy ra lần đầu tiên và không có gì rõ ràng cho thấy rằng có một hành vi nào đóđược lập lại vào lần thứ hai Chúng ta liên tục làm nên những điều mới mẻ Khi xemxét kỹ, chúng ta thấy những hành vi có vẻ như được lập lại thực sự lại thể hiện những

sự khác lạ dưới một dạng thức nào đó Bạn không bao giờ chải răng hai lần hoàntoàn giống nhau.” (Epstein, 1991)

Tiềm năng học tập (Learning potential)

Để có chức năng sống đầy đủ, con người phải học tập liên tục qua từng giây phútmột Con người tiếp nhận các phản hồi từ môi trường sống, rồi điều chỉnh ứng xử củamình khi tương tác với những người khác xung quanh Con người sống tốt nhất khi

họ hành động một cách thông minh, và liệu pháp thân chủ trọng tâm luôn nhấn mạnhđến việc tăng cường khả năng suy nghĩ rõ ràng và thông minh của thân chủ (VanBalen, 1990; Zimring, 1990) Việc học hỏi thường xuyên sẽ giúp bổ sung thêm cácchi tiết và làm mới lại những niềm tin, các khái niệm, các sơ cấu, các cấu trúc và vậnhành các nét nhân cách Theo thời gian sự học tập giúp cho sự tiến triển dần dần cácthuộc tính và, đến một lúc nào đó, dẫn đến sự biến đổi đang kể các đặc trưng của mộtcon người

Trang 5

Tiềm năng tăng trưởng (Growth potential)

Carl Rogers lúc đầu nói đến “khuynh hướng hiện thực hóa” (actualizing tendency) ởcác lòai sinh vật và về sau ông mở rộng ý tưởng này bằng việc cho rằng: khuynhhướng hiện thực hóa chỉ là hình thức cá biệt của một khuynh hướng được định hìnhrộng lớn hơn của cả vũ trụ, được tìm thấy ở ở những sinh vật lẫn những vật thể vô tri,

đó khuynh hướng nhắm đạt đến một trật tự tốt hơn, phức tạp hơn và có tương quangắn kết hơn Tiến trình này lại bao gồm hai tiến trình nhỏ hơn là thống hợp(integration) và biệt hóa (differentiation)

Ở mức độ cá nhân một con người, khuynh hướng hiện thực hóa nhắm đến phát triển

cá nhân đó bằng cách tạo lập một cấu trúc sống vừa thống hợp hơn vừa biệt hóa hơn.Điều nhấn mạnh ở đây không phải là việc con người về cơ bản là tốt hay xấu, mà làcon người về cơ bản có một “tiềm năng thay đổi” (Shlien & Levant, 1984) Nghiêncứu trên những trẻ em lớn lên và sống sót trong những hòan cảnh sống bất lợi chothấy sự phát triển tâm lý của con người có những khả năng tự bảo vệ và tự điều chỉnhrất cao (Masten, Best, Garmazy, 1990)

Khả năng sáng tạo (creativity)

Để sống đầy đủ, con người phải sáng tạo trong cuộc sống hằng ngày, bởi mỗi tìnhhuống khi xảy ra đều có sự khác biệt đôi chút so với trước đó, và hiện tại luôn đặt ranhững thách thức cho sự vận dụng một cách sáng tạo những gì đã học vào nhữnghoàn cảnh sống mới Trong quá trình sống, con người thường xuyên khám phá vàphát hiện những cách thức mới để tồn tại và ứng xử, dù rằng phần nhiều các cáchthức mới này chỉ thể hiện những điều chỉnh sáng tạo tương đối nhỏ

Khả năng định hướng tương lai (future orientation)

Một người luôn khám phá và học hỏi sẽ có thể tìm được sự định hướng cho tương lai

và những khả năng còn để ngỏ của nó Con người là sinh vật biết nhìn đến phía trước

do những hành vi của con người được hướng dẫn bởi những gì mà họ tưởng tượng sẽxảy ra trong những thời khắc sau đó hơn là bởi những gì mà họ thấy được trong hiện

Trang 6

tại (Markus & Nurius, 1987) Chính bằng cách tiên liệu được những gì sẽ xảy đến,bằng cách nào việc ấy xảy ra và bản thân mình có khả năng gì để đạt đến việc ấy, màcon người xác định được hành vi của mình Shlien (1988) đã khẳng định rằng:

“Tương lai quan trọng hơn quá khứ trong việc xác định hiện tại” Quá khứ ảnh hưởngđến chúng ta vì chúng ta sử dụng kinh nghiệm từ quá khứ để tiên liệu cho tương lai,chứ không phải vì quá khứ “kết dây nối” vào cuộc sống chúng ta rồi máy móc điềukhiển hành vi của chúng ta

Tương tác (interaction)

Con người có bản chất tương tác với nhau Con người luôn luôn là bối-cảnh” Hành vi của một người luôn xuất phát cả từ nhân cách của người ấy lẫn từtrong những mối quan hệ trong cuộc sống của người ấy Môi trường sống của mộtcon người bao gồm gia đình và các quan hệ liên cá nhân khác như hàng xóm, cácmạng lưới hỗ trợ xã hội, các thông số và giá trị về văn hóa Ngòai ra còn có các quan

“con-người-trong-hệ trong nghề nghiệp, kinh tế, tôn giáo, chính trị Có một giao diện động và liên tụcgiữa cái ngã và các tình huống bên ngòai Chúng ta tự “định cấu hình” cho bản thân

để phần nào đó đáp ứng lại với những gì được cho là quan trọng và đang hiện diệntrong thời khắc hiện tại Vì thế, một “bộ mặt” nào đó của chúng ta sẽ có thể xuất hiệntrong tình huống này và một “bộ mặt” khác lại xuất hiện trong một tình huống khác.Đây là quan điểm về “trường” (field) trong hành vi con người và cũng tương thíchvới quan điểm hệ thống

Cái ngã trong bối cảnh, Tính tự chủ và Chủ nghĩa cá nhân (Self-in-context,

Autonomy & Individualization)

Đối với Carl Rogers, việc đạt đến sự tự chủ là một mục đích rất quan trọng trong sựphát triển của con người, cũng như đối với hầu hết các học thuyết về nhân cách ởphương Tây Rogers cho rằng một con người có chức năng sống đầy đủ là người cókhả năng tự kiểm soát và hành động dựa trên các giá trị mà bản thân đã lựa chọn chứkhông cứng nhắc tuân thủ theo các uy lực từ bên ngoài

Trang 7

Tuy nhiên, một số các tác giả thuộc trường phái thân chủ trọng tâm ngày nay đã phêphán việc Rogers đã quá nhấn mạnh đến sự tự chủ và chủ nghĩa cá nhân, và cả kiểu

tư duy như thế ở phương Tây nói chung (Holstock, 1990; O’Hara, 1992) Họ chorằng các giá trị này có tính đặc hiệu của nền văn hóa phương Tây, thậm chí còn đặctrưng nhiều cho nam giới, và các tác giả này nhấn mạnh hơn đến một khái niệm khác(cũng rất phương Tây) đó là khái niệm “đồng phụ thuộc” (codependency) (Bishop,1992) Những tác giả này cho rằng trong một số nền văn hóa khác, đường biên giớiphân định cái ngã của mỗi người không chỉ dừng lại ở lớp da của người đó, mà còn

có thể trải rộng sang cả gia đình và những tập thể rộng lớn hơn Họ nhấn mạnh đếnnhững đường biên giới uyển chuyển hơn là những đường biên giới cứng nhắc của cáingã theo kiểu tâm lý học phương Tây Những yếu tố xác định hành vi của con ngườinằm trong một “trường” gồm nhiều lực tác động, bao gồm cả cái ngã, điều đó tráingược với tâm lý học phương Tây trong đó những yếu tố nguyên nhân được xem làđịnh vị bên trong cá nhân mỗi người

O’Hara (1992) đưa ra khái niệm về một “cái-ngã-trong-bối-cảnh”, qua đó ông nhấnmạnh đến bản chất của con người là có tính liên kết lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau.Barrett Lennard (1993) cũng cho rằng “cái ngã của một cá nhân chỉ là một trongnhững hình thức thể hiện của đời sống lòai người; các hình thức khác có thể kể ra baogồm các mối quan hệ, gia đình và cộng đồng xã hội” O’Hara và Wood (1993) chorằng “Cá nhân không mất đi bản sắc của mình khi ở bên trong tập thể Họ chỉ làmcho tương hợp giữa cái Tôi và cái Chúng Ta”

Arthur Bohart (1995) tin rằng yếu tố chính vận hành xuyên suốt trong khái niệm vềtính tự chủ của Rogers chính là một sự cảm nhận về tính hiệu quả (agency): Một thứcảm nhận khi con người đương đầu với các thách thức Tính tự chủ hay tự lập khônghàm ý là một cảm nhận về sự tự thỏa mãn, mà quan trọng hơn đó là cảm nhận về khảnăng và tính hiệu quả của bản thân mình Bởi vì sự thử thách luôn là phần cố hữuhiện diện bất cứ khi nào con người làm một việc gì đó trong cuộc sống (nghề nghiệp,quan hệ, chăm sóc con cái ) Cho nên khi có được cảm nhận về khả năng của bảnthân, con người sẽ có thể đối mặt và đương đầu tốt với các thách thức, và đó cũngchính là nền tảng của chức năng sống hiệu quả (Dweck & Leggert, 1988) Một định

Trang 8

hướng nhắm đến việc đương đầu với các thử thách sẽ dẫn chúng ta tập trung vào tiếntrình thực hiện một công việc hơn là chú trọng đến kết quả của nó, và thất bại đượcxem là loại thông tin được học tập để rút kinh nghiệm hơn là thông tin cho thấy sựkém hiệu quả của một ai đó

Thực tế khác nhau giữa các nền văn hóa dẫn đến các khái niệm khác nhau về cái ngã.Nhà tâm lý trị liệu phải tôn trọng tiềm năng tăng trưởng sẵn có bên trong thế giớinhận thức của từng cá nhân con người hơn là sử dụng những phương thức “kháchquan”, “đúng đắn” để áp dụng đối với họ

Giao tiếp

Thúc đẩy sự giao tiếp giữa những cá nhân có thế giới nhận thức khác nhau (ví dụ,giữa thân chủ và nhà trị liệu) là điều quan trọng hơn việc phán xét về quan điểm aiđúng, ai sai Việc cởi mở chia sẻ những cảm xúc và quan điểm theo cách thức tôntrọng lẫn nhau, trong một bầu không khí có tính chấp nhận sẽ thúc đẩy mối quan hệhướng đến sự hòa hợp giữa những đối tác và huy động được “sự thông thái của cả haibên hoặc của cả nhóm” Đây cũng là điều quan trọng cho các cặp vợ chồng, các giađình, cơ quan, giữa các dân tộc và các quốc gia

Mối quan hệ hài hòa giữa hai cái ngã

Đó là một tiến trình giao tiếp mà trong đó tất cả các khía cạnh của cái ngã được tôntrọng, được lắng nghe đều quan trọng ngang nhau từ hai phía đối tác Khi được lắngnghe một cách thân hữu, cởi mở, tất cả những khía cạnh của cái ngã như ý nghĩ, cảmxúc và những trải nghiệm (bao gồm cả những “lời nói bên trong” được nhập tâm từcha mẹ và xã hội), thì khả năng bên trong của mỗi người sẽ vận hành hướng đến sựtổng hợp đầy sáng tạo Tất cả những “tiếng nói bên trong” cũng có thể tham gia gópphần vào

Sự hài hòa (congruence) chính thực là một tiến trình nội tại (Lietaer, 1991) Sự hàihòa không luôn luôn có nghĩa là sự hài hòa trong nội tâm (inner harmony) Một cảmnhận về sự hài hòa nội tâm có thể xuất hiện rồi mất đi Tuy nhiên, nếu một người nào

Trang 9

đó có tính hài hòa – cởi mở và chấp nhận tất cả những “tiếng nói bên trong” – thì tiếntrình tổng hợp một cách sáng tạo sẽ vận hành đi tới

Trải nghiệm, Cảm xúc và Tình cảm

Nhà trị liệu thân chủ trọng tâm vừa đánh giá cao những suy nghĩ thông minh, hợp lý,vừa xem trọng những cảm xúc và trải nghiệm; tất cả đều là những nguồn thông tinquan trọng về cách thức mà con người đương đầu một cách sáng tạo với thế giới bênngoài

Tuy nhiên, những trải nghiệm thì không giống với các suy nghĩ hợp lý, nhưng chúnglại là cách thức căn cơ hơn giúp con người hiểu được bản thân và thế giới bên ngoài.Trải nghiệm cũng khác với tình cảm (Bohart, 1993) Trải nghiệm là mô hình nhậnbiết một cách trực tiếp, không dùng lời, các cách thức vận hành và các mối quan hệtrong thế giới, giữa cái ngã và thế giới bên ngòai, và giữa cả những thành tố bêntrong cái ngã Trải nghiệm bao gồm cả điều thường được gọi là sự “trực giác” Tuynhiên, chẳng có gì là huyền bí ở đây cả Chúng ta vẫn thường cảm nhận và nhận biếtđược các mối liên hệ mà chúng khó có thể diễn tả ra thành lời Ví dụ, chúng ta có thểcảm nhận được ngay một người đang “xịu mặt”, trước khi dùng suy nghĩ phát hiệnrằng có điều gì đó không ổn đang xảy ra nơi người ấy (Lewicki, 1986)

Các ý nghĩa có được thông qua sự trải nghiệm trực tiếp thường mạnh hơn rất nhiều sovới các ý nghĩa có được qua tư duy nhận thức Trong một mối quan hệ, trải nghiệmđược yêu thương là một cảm nhận rất phức tạp mà các suy nghĩ hợp lý hoặc các phátbiểu thành lời khó có thể chuyển tải được hết ý nghĩa Thông qua sự tương tác với

mẹ, đứa trẻ nhũ nhi có thể thông báo cho mẹ nó biết rằng người mẹ đã thấu hiểu nóhay không Điều này không có nghĩa là đứa trẻ đã có được một “khái niệm” về sựthấu hiểu Thay vào đó, đứa trẻ đã cảm nhận trực tiếp cái cách thức tương tác hài hòa,hiểu nhau giữa nó và mẹ nó (Stern, 1985)

Gendlin (1964; 1969) tin rằng trải nghiệm có tính phức tạp hơn tư duy hợp lý và sựdiễn đạt bằng lời Chính trải nghiệm mới là nguồn lực cho sự sáng tạo Eistein đã cóđược cảm nhận về thuyết tương đối trước khi ông có thể phát biểu lý thuyết ấy bằng

Trang 10

lời nói Chúng ta cũng có thể cảm nhận được có gì đó không ổn trong một mối quan

hệ trước khi có thể dùng lời để nói rõ đó là điều gì

Trong nội tâm, chúng ta cũng có một trực cảm (felt sense) về cách thức mà cuộc sốngcủa chúng ta đang diễn ra và cách thức mà các tình huống sống đã xảy đến với chúng

ta Cũng theo Gendlin, chính ở bình diện các cảm thức mà những thay đổi có tính trịliệu mới có thể xảy ra Việc trị liệu tâm lý phải dẫn đến một sự chuyển đổi về cáchthức mà chúng ta liên hệ với thế giới bên ngoài, sao cho sự biến đổi ấy có thể đượccảm nhận trực tiếp thay vì chỉ là sự thay đổi về mặt lý trì

Cảm xúc (feelings)

Nhà trị liệu thân chủ trọng tâm được biết đến như những người thường hay khuyếnkhích thân chủ hãy “tin tưởng vào cảm xúc”, hoặc hãy “chạm đến cảm xúc” Cảmxúc, theo quan điểm thân chủ trọng tâm, còn nhiều hơn cả tình cảm Trong khi ta cảmthấy giận hoặc buồn, thì thực sự ta đang cảm nhận những khuôn mẫu ý nghĩa phứctạp hơn thế Để nhận biết được những cảm xúc, cùng lúc ta phải nhận biết đượcnhững tình cảm nào mà ta đang có, đồng thời nhận biết được kiểu cách liên hệ giữa ta

và thế giới bên ngòai đang xảy ra như thế nào Ví dụ ta có thể “cảm thấy có điều gì

đó bất ổn trong cuộc sống” và “cảm thấy cuộc sống của ta đang bị mất thăng bằng”.Khi nói “hãy tin tưởng vào cuộc sống của bạn” thì có nghĩa là hãy lắng nghe cảm xúcnhư một nguồn thông tin quan trọng, chứ không có nghĩa là hãy làm theo những gìchúng bảo

Một nữ thân chủ nói với nhà trị liệu rằng cô “cảm thấy” chồng cô không yêu thương

cô nữa Về mặt tâm lý, khi cô nghĩ và nói ra điều này, cô đã không thể dẫn ra một lý

lẽ nào để giải thích được cảm xúc ấy Người chồng nói anh ta vẫn yêu cô, nhà trị liệuthì kết luận rằng cô đã nhận định sai hoàn cảnh hiện tại do bởi cô đã có những vấn đềtrong mối quan hệ với cha cô hồi còn bé Sau đó, người nữ thân chủ này đã tìm đếnmột nhà trị liệu khác, và chỉ sau hơn một tháng, chồng cô tuyên bố rời bỏ cô Anh tathừa nhận trong nhiều tháng qua đã ngoại tình và yêu một phụ nữ khác Rõ ràngnhững cảm xúc của thân chủ trong trường hợp này chủ yếu đã dựa vào những thay

Trang 11

đổi trong cách thức cư xử của người chồng đối với cô, những thay đổi tinh tế đếnmức nếu chỉ sử dụng lý trí cô khó có thể nhận dạng được

Tuy nhiên, cảm xúc không luôn luôn lúc nào cũng đúng và đôi khi có thể dẫn đếnviệc thấy một điều gì đó “có vẻ đúng” dù thực tế không đúng như vậy Như trườnghợp thân chủ nêu trên, cảm nhận không ổn về người chồng cũng có thể là đã khôngđúng Tuy nhiên, nếu cô vẫn tin vào cảm xúc của mình thì cô có thể tiếp tục kiểmđịnh lại dựa trên những trải nghiệm mà cô đã có được từ trong cuộc sống chung vớichồng mình

Nhà trị liệu thân chủ trọng tâm tin rằng những người có chức năng sống đầy đủ cóthể sử dụng tất cả những gì mình có Họ có thể vận dụng cả khả năng tư duy hợp lý

và giải quyết vấn đề, lẫn khả năng sử dụng những cảm nhận theo kinh nghiệm vềnhững gì có ý nghĩa riêng đối với bản ngã của họ Cả hai nguồn thông tin đều có thểsai lầm: việc thực hiện chức năng sống đầy đủ cần phải xem xét cả hai nguồn thôngtin ấy

Cái ngã như một tiến trình (Self as Process)

Đối với học thuyết thân chủ trọng tâm, cái ngã không phải là một sự vật hoặc một tácnhân ở bên trong con người, mà là “một trải nghiệm về cính mình như một con ngườitrọn vẹn ở một thời khắc nhất định nào đó” Cùng lúc ấy, chúng ta định hình nênnhững ý niệm về chính chúng ta nhằm giúp chúng ta tổ chức lại những gì mình hiểubiết về thực tế cuộc sống, theo cùng một cách thức mà ta dùng để tạo nên những ýniệm về những sự vật khác Cái “ý niệm về bản thân” này (self-concept) là một cấutrúc trong sự hiểu biết mà chúng ta sử dụng như một “tấm bản đồ” để giúp chúng ta

“lèo lái” thực tế (Shlien, 1970) Nó có tính chất đa chiều kích, nhưng có hai khíacạnh quan trọng là “cái ngã thực” và “cái ngã lý tưởng” Cái ngã thực (real self-concept) là hình ảnh của chúng ta về một con người mà ta nghĩ ta thực sự đang là;còn cái ngã lý tưởng (ideal self-concept) là hình ảnh của chúng ta về một con người

mà ta nghĩ ta nên là Một người có chức năng sống đầy đủ sẽ giữ lấy hai khía cạnhtrên của cái ngã một cách chừng mực Sẽ là không lành mạnh nếu chấp giữ vào một

Trang 12

cái ngã quá cứng nhắc, vì cái ngã sẽ luôn trưởng thành và thay đổi Chúng ta sẽ phảiđiều chỉnh lại ý niệm về cái ngã của mình để phù hợp với những trải nghiệm sốngmới, cũng như chúng ta cũng phải sửa đổi các ý niệm khác sao cho phù hợp vớinhững trải nghiệm sống của bản thân

Lý thuyết về sự phát triển

Mặc dù Rogers có trình bày một số quan điểm về sự phát triển tâm lý, nói chungtrường phái thân chủ trọng tâm vẫn không nhấn mạnh vào điều này, tuy nó vẫn hàmchứa một quan điểm về sự phát triển Đầu tiên, một đứa trẻ được sinh ra đã là mộtsinh vật năng động, hiếu kỳ, thích khám phá, quan tâm đến việc học hỏi từ thế giớixung quanh và có một mối quan tâm nội tại về sự phát triển những khả năng củachính mình Đứa trẻ sẽ lắng nghe và học hỏi từ tất cả những trải nghiệm sống của nó:

từ cha mẹ, từ các trẻ đồng trang lứa, bà con, hàng xóm, thầy cô và từ những câuchuyện kể Trẻ đặc biệt quan tâm đến việc học hỏi từ kết quả của những hoạt động

mà trẻ tự mình cố gắng thực hiện và khám phá

Như một cơ thể đang tăng trưởng, đứa trẻ sẽ không “hoàn tất” con đường đi của mìnhtrong vài năm đầu đời Lý thuyết phân tâm xem những trải nghiệm sống trong nhữngnăm đầu đời là có tính “nền tảng”, có vai trò định hình ban đầu và ảnh hưởng đến tất

cả các cấu trúc nhân cách về sau Trường phái thân chủ trọng tâm lại xem con ngườivẫn liên tục phát triển Và khi phát triển, con người mang những gì mà mình họcđược trước đó vận dụng vào việc hiểu chính bản thân mình và thế giới xung quanh.Quan điểm này tương đồng với Piaget hơn là với Freud Theo quan điểm của Piaget,

sự phát triển là một tiến trình trải dài trong đó các giai đoạn sau sẽ phát huy và tổchức lại những gì đã xảy ra trong các giai đoạn trước Các ý tưởng và trải nghiệm banđầu vẫn được bảo lưu nhưng được kết hợp với các cấu trúc thực tại mới hơn, tinh tếhơn, sao cho những dạng thức học tập lúc ban đầu sẽ bị đổi khác đi

Freud xem sự phát triển có mô hình dưới dạng một kim tự tháp, trong đó những gìhọc tập được lúc đầu đời sẽ tập trung ở phần đáy, còn những gì đến sau sẽ ở nhữngphần trên cao hơn Học thuyết thân chủ trọng tâm xem sự phát triển giống như một

Trang 13

bộ những “chiếc hộp Trung Hoa”, trong đó thuở ấu thơ được ví như chiếc hộp nhỏnhất nằm ở bên trong cùng, các giai đoạn sau của đời sống thì giống như những chiếchộp lớn hơn lần lượt lồng vào chiếc hộp ban đầu, và cứ thế, cứ thế Mỗi một trảinghiệm sống mới tạo thêm một khung sườn rộng hơn, kiên cố hơn so với những trảinghiệm trước đó và giúp cho cá nhân đó thống hợp tốt hơn

Ngòai ra, con người còn có khuynh hướng tìm đến sự khám phá và đối đầu vớinhững thử thách hơn là tránh né những đau khổ và hụt hẫng Các lý thuyết gia tâmđộng học cho rằng “con người có một khuynh hướng phổ biến là muốn tránh sự đaukhổ” (Strupp & Binder, 1984), và trẻ em thường có khuynh hướng muốn chối bỏ,tránh né và dồn nén cảm xúc và những trải nghiệm đau thương Trái lại, Bohart(1995) lại nhận thấy một cách đáng ngạc nhiên về sự cam đảm của các thân chủ củaông khi họ thường xuyên phải đối đầu với những nỗi đau, thách thức và luôn cố gắnglàm chủ cuộc sống của họ Ngay cả trẻ em cũng thường xuyên lập lại những cuộc đốiđầu với các sự kiện đau thương và những trải nghiệm gây hụt hẫng để cố gắng làmchủ lấy chúng Con người chỉ tránh né đau khổ và hụt hẫng khi họ cảm thấy mình đãmất hết năng lực để giải quyết chúng (Bandura, 1986), như trường hợp những trảinghiệm vượt quá sức chịu đựng ở những trẻ em bị xâm hại chẳng hạn

Khi nào một người có “chức năng sống đầy đủ” (fully functioning)

Rogers và cs đã phát triển một thang đo lường những thay đổi trong trị liệu, phânmức độ từ chỗ gọi là “rối loạn chức năng” (dysfunctional) cho đến “có chức năngsống đầy đủ” (fully functional) Theo Rogers, ở đầu thứ nhất của thang đo biểu thịmột chức năng tâm lý cứng nhắc, kiên định, chuyên biệt hóa kém, vô cảm, lạnh lùng;còn ở đầu thứ hai của thang đo là biểu thị cho một chức năng tâm lý được đặc trưngbởi sự chấp nhận thử thách, uyển chuyển và các phản ứng có tính chuyên biệt hóacao, bởi sự trải nghiệm tức thời những cảm xúc của bản thân và trong thâm sâu chấpnhận những cảm xúc ấy như là của chính mình (Rogers, 1961b) Khi con người cóchức năng sống đầy đủ, họ sẽ có lối sống mềm dẻo, uyển chuyển: xử lý một cách cânnhắc các sơ cấu nhận thức, kiểm định chúng dựa trên các trải nghiệm, mở lòng chấpnhận các cảm xúc, lắng nghe và học hỏi từ các phản hồi, đối thoại với chính mình và

Trang 14

với những người xung quanh, cảm thấy mình có thể tự định hướng cho cuộc đờimình Ở giữa thang đo là biểu thị cho các chức năng sống ở nhiều mức độ khác nhau.

Chức năng sống đầy đủ có ý nghĩa đơn giản là một con người ở mỗi thời điểm đềuvận hành như một quá trình đang tiến triển Điều này không hoàn toàn có nghĩa làngười đó phải hài lòng, mãn nguyện và hạnh phúc (Rogers, 1961a) Một con ngườisống đầy đủ cũng không có nghĩa là phải luôn “vận hành một cách tối ưu” Ngay cảkhi có chức năng sống đầy đủ, con người vẫn có lúc cảm thấy bế tắc, mất năng lực,không hiệu quả và hụt hẫng Tuy nhiên, ngay cả những lúc như thế, người ấy vẫn tiếptục đấu tranh với vấn đề khó khăn của mình, cố gắng học hỏi và tiếp tục đi tới

Mở rộng quan điểm “nhân vị trọng tâm” sang các lĩnh vực gia đình và nhóm

Quan điểm “nhân vị trọng tâm” đã được mở rộng và áp dụng sang cả lĩnh vực trị liệugia đình (Lietaer, 1990; Levant & Shlien, 1984) và các nhóm (O’Hara & Wood,1983) Các nguyên lý chung cũng vẫn tương tự như nhau: những gia đình và nhóm cóchức năng sống đầy đủ là những tập thể người có sự giao tiếp cởi mở sao cho tất cảcác tiếng nói đều được nghe thấy Các quyết định được hình thành thông qua các quátrình thảo luận hơn là chỉ máy móc áp dụng các luật lệ, quan điểm hoặc những điều

“nên, không nên” Việc đối thọai và giao tiếp cởi mở có thể giúp huy động được “sựthông thái tập thể” Trái lại, các nhóm và gia đình có sự trở ngại trong đối thọai thìcác thành viên sẽ dễ duy trì một hệ thống các luật lệ, các quan điểm cứng nhắc và dễ

có khuynh hướng dẫn đến rối lọan chức năng

Bệnh lý rối lọan chức năng

Từ quan điểm thân chủ trọng tâm, một hành vi bất thường có thể phát sinh khi mộtcon người không có khả năng vận hành theo một cách thức liên tục phát triển Cácvấn đề tâm lý không phải là do sự sai lầm về niềm tin hoặc nhận thức, và cũng khôngphải ở chỗ những hành vi ấy có tính không thích nghi hoặc không hiệu quả Khi conngười đương đầu với các thách thức trong cuộc sống, họ cũng có lúc nhận thức sai,ứng xử không thỏa đáng hoặc có những niềm tin lệch lạc Tuy nhiên, sự rối loạn chứcnăng chỉ xảy ra khi chúng ta “thất bại trong việc học” từ những thông tin phản hồi và

Trang 15

vì thế vẫn bị vướng mắc vào những nhận thức sai hoặc những hành vi không thỏađáng ấy Sự rối loạn chức năng chính là sự thất bại trong việc học hỏi và thay đổi.Theo quan điểm thân chủ trọng tâm, có ba cách giải thích liên quan đến việc vì sao

sự thất bại này xảy ra, đó là sự thiếu hài hòa (incongruence), không thể tồn tại nhưmột tiến trình (failure to be in process) và khó khăn trong việc xử lý thông tin

Thiếu hài hòa

Quan điểm phổ biến nhất về sự rối lọan chức năng theo trường phái thân chủ trọngtâm là: hành vi bất thường phát sinh do sự trái ngược, mâu thuẫn giữa một bên là ýniệm về cái ngã và bên kia là những trải nghiệm sống Ví dụ, Janet là một sinh viêngiỏi ở trường đại học Trong hình ảnh về bản thân (self-image), cô muốn mình sẽ trởthành một bác sĩ Tuy nhiên, trong các giờ học môn sinh và môn hóa cô lại có nhữngtrải nghiệm rất xa lạ và không như ý muốn, và sự mâu thuẫn này đã khiến cho côphiền lòng

Tuy nhiên, không phải sự mâu thuẫn này làm nên tình trạng rối lọan chức năng, mà là

do ở cách thức đương sự đáp ứng và cố gắng giải quyết sự trái ngược này Nếu cáccấu trúc trong nhận thức được đương sự xử lý một cách chừng mực thì người ấy sẽ

có khả năng thống hợp lại các khía cạnh có tính đối lập nhau bên trong cái ngã củamình, và chính từ khả năng thống hợp này mà sự sáng tạo mới có thể được nảy sinh.Nhưng nếu các khía cạnh đối lập nhau trong ý niệm về cái ngã vẫn còn được lưu giữmột cách cứng nhắc, tiến trình thống nhất và tổng hợp này sẽ bị bế tắc

Con người thường học cách bảo lưu các thành phần của cái ngã một cách cứng nhắc

do bởi cha mẹ họ, các giáo viên và nền văn hóa của họ áp dụng những “tiêu chuẩnđánh giá” đối với họ Đó là, họ chỉ cảm thấy mình có giá trị khi tuân theo nhữngchuẩn mực và giá trị của người khác Điều này khiến cho họ dễ chấp nhận một cáchcứng nhắc những “điều nên làm” khi xem xét những cách thức sống mà họ đượcngười khác trông đợi Một khi có sự thiếu hài hòa giữa những điều răn cứng nhắc vànhững trải nghiệm thật sự của bản thân, họ sẽ không thể thách thức những điều răn

ấy, và vì thế họ sẽ có khuynh hướng đáp ứng lại bằng cách chối bỏ những trải

Trang 16

nghiệm thực của mình hoặc tìm cách diễn giải chúng khác đi Khi không còn khảnăng lắng nghe những trải nghiệm của chính mình thì họ đã lấy đi sức mạnh củachúng Để rồi sau đó, họ chỉ có thể chủ yếu dựa vào những “điều răn” để hướng dẫncho sự chọn lựa của mình Khi nỗi lo âu và tính không hài hòa không được giảiquyết, đương sự sẽ dần dần cảm thấy bất lực và trở nên trầm uất

Janet, trong ví dụ trên, qua nhiều năm đã được “lập trình” bởi chính cô, bởi cha mẹ

cô và bởi các giáo viên của cô, để trở thành một bác sĩ Để theo đuổi chương trìnhnày, cô đã phải bỏ qua những cảm xúc không phù hợp khi tham dự những lớp họcmôn sinh và môn hóa Điều này dường như cũng đã ảnh hưởng lên nhân cách của cô,khiến cho bạn bè cũng cảm nhận cô như một người xa cách và hay phòng vệ Nhưngđến một ngày kia, Janet đến lớp với một vẻ hoàn toàn khác: cởi mở, nhiệt tình vàthân thiện Cô bảo với mọi người rằng cô đã có một quyết định quan trọng của riêngmình: cô sẽ thay đổi chuyên ngành học của mình sang lĩnh vực nghệ thuật Cô bộcbạch rằng sau cùng cô đã bắt đầu lắng nghe các trải nghiệm của mình và nhận thấyrằng thật tâm cô không muốn trở thành một bác sĩ Chính việc tin tưởng vào trảinghiệm của chính mình đã cho phép cô tự mở ra những con đường đi mới

Vấn đề của Janet là ở chỗ cô đã cứng nhắc chấp giữ một niềm tin rằng mình phải trởthành một bác sĩ Khi cô xem xét niềm tin ấy một cách đúng mực và đánh giá nó dựatrên chính những trải nghiệm của mình, cô đã chọn quyết định thay đổi ngành học.Tuy nhiên, cô cũng có thể đi theo hướng ngược lại: đó là tiếp tục chọn việc học để trởthành một bác sĩ ngay cả khi cô không thích học sinh và học hóa Và điều quan trọng

ở đây là Janet đã đặt ra các câu hỏi và thách thức các cấu trúc nhận thức của mình

Sự thiếu hài hòa có thể xảy ra dưới nhiều hình thức Một số người đã khái quát hóacác ý niệm tiêu cực về cái ngã và phán xét chúng một cách khắc khe về mọi lĩnh vực.Điều này đã dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng, ví dụ như những hành vi chống đối xãhội và rối loạn nhân cách Một số người khác có thể cảm thấy sự thiếu hài hòa chỉtrong một số lĩnh vực chuyên biệt nào đó, ví dụ không thể chấp nhận được cản xúcgiận dữ chẳng hạn Gần đây, Speierer (1990) đã cố gắng chuyên biệt hóa các lọaithiếu hài hòa khác nhau trong các lọai rối lọan tâm lý khác nhau Ông cho rằng các

Trang 17

thân chủ bị trầm cảm chủ yếu là do sự chấp giữ những ý niệm về cái ngã quá hoànhảo, trong khi đó những bệnh nhân hysterie lại chấp giữ cứng nhắc và thái quá nhữngkhía cạnh tích cực trong hình ảnh về bản thân khi họ cố gắng xuất hiện trước ngườikhác theo một cách thức nhất định Tuy nhiên, các nhà trị liệu theo trường phái thânchủ trọng tâm tin rằng mỗi cá nhân đều có tính độc đáo và không thể có một quy luậtbất biến nào có thể quyết định lọai thiếu hài hòa nào sẽ gây nên lọai rối loạn nào

Không thể tồn tại như một một tiến trình

Quan điểm này có thể xem như một sự mở rộng của ý tưởng về sự thiếu hài hòa Khi

tư tưởng của Rogers thay đổi, ông ngày càng tập trung nhiều hơn vào ý tưởng chorằng sự rối lọan chức năng có liên quan đến mức độ mà con người không tồn tại(không sống) như một tiến trình

Gendlin cũng cho rằng tâm bệnh bắt nguồn từ việc thất bại của con người không thểsống như một tiến trình Những người trải qua các vấn đề về tâm lý là những người

“thiếu tập trung” (Gendlin, 1969) Đó là vì họ đã không chú tâm vào “dòng chảy” củanhững trải nghiệm theo một cách thức có thể giải quyết các vấn đề của họ một cáchsáng tạo Thay vì lắng nghe một cách thấu cảm nội tâm của mình, họ lại khắc khe phêphán các cảm xúc và phản ứng của chính họ, bằng cách tự “lên lớp” bản thân, phântích bản thân hoặc cố gắng tự “thiết kế lại” bản thân (Gendlin, 1964) Trong nhữngtrường hợp nghiêm trọng, như tâm thần phân liệt chẳng hạn (Gendlin, 1967), ngườibệnh có thể cảm thấy đời sống nội tâm của chính mình quá hỗn độn, quá “bệnh”,khiến sau cùng họ cũng quay mặt đi với chính nội tâm của họ và cho rằng chẳng có

gì đáng tin ở đó cả!

Các quan điểm về xử lý thông tin

Vào năm 1974, Wexler và Rice đã xuất bản một quyển sách trình bày về một số quanđiểm về vấn đề xử lý thông tin trong liệu pháp thân chủ trọng tâm Ý tưởng củaRogers và Gendlin đã được viết lại bằng ngôn ngữ của tâm lý học nhận thức Mỗi cánhân con người đã phát triển nên những sơ cấu (schemata) trong nhận thức của mình

để tổ chức lại các nguồn thông tin từ thế giới bên ngoài Việc một người có chức

Trang 18

năng sống đầy đủ bao gồm khả năng đồng hóa (assimilation) liên tục các thông tinnày vào trong các sơ cấu, tạo nên những cấu trúc hiểu biết chuyên biệt hơn, thốnghợp hơn Tâm bệnh được xem là bắt nguồn từ những hệ thống các sơ cấu kémchuyên biệt và có tính cứng nhắc, khiến con người mất khả năng thống nhập cácnguồn thông tin mới Một tiến trình quan trọng trong sự tạo lập các cấu trúc hiểu biếtchuyên biệt hơn, thống hợp hơn đó là sự “chú tâm” (attention) Nếu con người thấtbại trong việc chú tâm một cách hiệu quả vào các nguồn thông tin mới thì sẽ dẫn đến

sự tồn tại một cách kiên định của những cấu trúc hiểu biết cũ (Anderson, 1974).Toukmanian (1990) cũng đã chỉ rõ rằng những người có vấn đề thường thất bại trongviệc gỡ bỏ các suy nghĩ có trước của họ, và vì thế không thể chú ý đến các nguồnthông tin mới rất phong phú Ngoài ra, họ cũng thất bại trong việc xây dựng nhữnggiả thuyết để họ có thể chọn lựa

Greenberg và cs (1993) đã phát triển một học thuyết tổng hợp về nhận thức liên quanđến chức năng sống của cá nhân con người dựa trên lý thuyết thân chủ trọng tâm Đốivới các tác giả này, trải nghiệm của một con người vào một thời khắc nào đó là sảnphẩm tổng hợp phức tạp của các sơ cấu nhận thức, động cơ và các khuynh hướnghành động Chúng được tổng hợp lại rồi dẫn đến một cảm nhận huyền diệu về bảnthân chúng ta trong một tình huống cụ thể, đồng thời cũng tạo nên những phản ứngcảm xúc đặc hiệu mà từ đó con người chúng ta được “tổ chức” lại để có thể thực hiệnnhững hành động Các vấn đề tâm lý nảy sinh do con người bị mất khả năng trongviệc chú tâm đến và biểu trưng hóa những phản ứng nội tâm của chính mình hoặc dobởi những phản ứng của họ biểu hiện dưới dạng những “kiểu thức cảm xúc cứngnhắc” (rigid emotion schemes) Kiểu thức cảm xúc cứng nhắc là các cách thức phảnứng về mặt cảm xúc đã được học tập trước đó nhưng khi biểu hiện thì lại không phùhợp với hoàn cảnh hiện tại

Các tác giả này đã đặc biệt nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các phản ứng cảm xúctrong chức năng sống của con người Cảm xúc phản ánh những khuynh hướng hànhđộng; nó thông tin về cách thức mà một người đang trải nghiệm như thế nào vào thờiđiểm đó Vì thế, việc mất khả năng nhận biết hoặc tiếp cận với nguồn thông tin vềcảm xúc sẽ ảnh hưởng một cách đáng kể lên khả năng thích nghi của một con người

Trang 19

Sự thất bại này sẽ thường xuyên làm nảy sinh những phản ứng rối lọan chức năng vàkhiến đương sự không thể linh họat chọn lựa các hành vi mới để đáp ứng với nhữngđòi hỏi của hoàn cảnh sống

Tâm bệnh dưới góc nhìn có tính tương tác

Các vấn đề tâm lý không được xem như những thực thể “bên trong” của con người,

mà luôn được xem xét trong mối tương tác giữa con người và hoàn cảnh sống Bảnchất của nó là sự tương giao giữa con người với thế giới bên ngoài Các vấn đề nảysinh khi con người phải đương đầu với những hoàn cảnh thách thức khả năng linhhoạt của họ trong việc giải quyết vấn đề Sự chuẩn bị cho các thách thức trong đờisống cũng khác nhau ở mỗi người Tuy nhiên, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều cónhững lúc tạm thời bị rối loạn chức năng nếu chúng ta đang đương đầu với một tháchthức vượt quá các nguồn lực ứng phó của bản thân.Tình trạng stress quá mức do hoàncảnh kinh tế hoặc bệnh tật có thể khiến chúng ta bị mất khả năng liên lạc và tổng hợpnhững “trải nghiệm có vấn đề” của chúng ta (problematic experience) Nếu mộtngười nào đó đang là thành viên trong một tập thể đang được vận hành sai chức năng(một gia đình hoặc một nhóm làm việc chẳng hạn), thì người ấy cũng có thể bị tổnthương khả năng này

Rối lọan chức năng trong gia đình và nhóm

Sự rối lọan chức năng trong gia đình và nhóm cũng có cùng những lý do như trườnghợp xảy ra ở các cá nhân Các tổ chức, tập thể, giống như các cá nhân, cũng là nhữngthực thể sống rất năng động; chúng có thể vận hành một cách có lý trí nếu như cáctiến trình giao tiếp bên trong chúng diễn ra một cách cởi mở Hành vi bệnh lý xảy rakhi sự giao tiếp bên trong nhóm bị bế tắc Công trình nghiên cứu về “tư duy tập thể”(group-think) của Janis (1972) là một ví dụ minh họa tốt về cách thức mà một tập thể

đã vận hành sai chức năng nếu như có sự tắc nghẽn các kênh giao tiếp giữa các thànhviên bên trong nhóm cũng như giữa nhóm đó với thế giới bên ngoài

Đánh giá mức độ rối lọan chức năng

Trang 20

Các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm thường không đi tìm những công cụ chẩn đoánhoặc đánh giá theo truyền thống Những phương thức đánh giá như thế sẽ khuyếnkhích một cách nhìn “từ bên ngoài” đối với thân chủ, như thể thân chủ đang đượcđem ra mổ xẻ, phân tích hoặc như thể bị “xem xét dưới kính hiển vi”! Điều này đingược lại với lập trường có tính thấu cảm của trường phái thân chủ trọng tâm, trong

đó nhà trị liệu cố gắng cảm nhận thân chủ từ bên trong những trải nghiệm độc đáocủa người ấy Việc phân loại con người sẽ khiến cho nhà trị liệu bị lệch sang xuhướng trị liệu cho một cá nhân như là thành phần của một “lọai người” hơn là nhưmột con người có những tính cách riêng biệt Một nhà trị liệu thân chủ trọng tâmquan tâm nhiều đến việc tìm hiểu và thiết lập quan hệ với thân chủ tên Jack hoặc vớithân chủ tên Carolyn, chứ không phải với “Jack-rối lọan ranh giới” hoặc với

“Carolyn-ái kỷ” Tuy nhiên, vì lĩnh vực sức khỏe tâm thần cần dùng đến những têngọi để chẩn đoán, nên các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm vẫn sử dụng chúng với mụcđích thông tin trong giới chuyên môn

Các nhà trị liệu theo xu hướng “tiến trình-kinh nghiệm” như Greenberg và cs (1993)thì sử dụng cách thức chẩn đóan theo tiến trình (process diagnosis) Một chẩn đóantheo tiến trình là cách thức đánh giá của một nhà trị liệu dựa trên các kiểu thức cảmxúc sai chức năng (dysfunctional emotion schemes) mà thân chủ cần phải thay đổi vàkhả năng sẵn sàng của thân chủ trong việc thực hiện sự thay đổi ấy vào một thời điểmnào đó trong tiến trình trị liệu Điều quan trọng ở đây là nhà trị liệu không đặt nặngvào “nội dung” của cảm xúc được biểu hiện (vì dụ thân chủ óan giận người cha củamình) mà chỉ chú ý đến những bằng chứng cho thấy thân chủ đang trải nghiệm sự bếtắc trong khi đang giải quyết vấn đề cá nhân của mình Nhà trị liệu theo xu hướng

“tiến trình-kinh nghiệm” sẽ tìm kiếm những “chỉ báo”, tức là những dấu hiệu về lờinói, hành vi và cảm xúc cho thấy thân chủ đang đấu tranh với việc xử lý các cảm xúccủa họ Ví dụ, một chỉ báo cho một “phản ứng có vấn đề” có thể là: khi thân chủ mô

tả sự bối rối, khó xử của họ khi họ phản ứng với một tình huống hoặc với một ngườinào đó Sự bối rối này có thể là cảm giác thấy mình đã có một phản ứng không hợp

lý, lệch lạc, thái quá hoặc không như ý muốn Một chẩn đóan theo tiến trình về loại

Trang 21

chỉ báo này sẽ giúp cho nhà trị liệu biết được loại phương pháp này có thể được sửdụng tốt nhất vào lúc ấy để nắm bắt và đi sâu vào sự khám phá của thân chủ

Thực hành trị liệu

Liệu pháp thân chủ trọng tâm theo truyền thống vào lúc khởi đầu thì có tính chất

“không hướng dẫn” (non-directive) Mục đích của nhà trị liệu chủ yếu là người đồnghành cùng với thân chủ trên con đường tự khám phá bản thân Bằng cách là ngườiđồng hành, nhiệt tình, thấu cảm và chân thành, nhà trị liệu sẽ mang đến một bầu khí

có tính thúc đẩy niềm tin của thân chủ vào bản thân để có thể hướng đến sự tăngtrưởng

Tuy nhiên, trong thập niên 1960, một xu hướng mới đã hình thành trong số các nhàtrị liệu theo trường phái thân chủ trọng tâm Những tác giả này muốn xem liệu phápthân chủ trọng tâm như một “triết lý của việc trị liệu” hơn là một “cách thức chuyênbiệt để thực hành trị liệu” Họ cho rằng nếu nhà trị liệu là một người nhiệt tình, thấucảm và chân thật, ông ta có thể năng động hơn và thậm chí có thể sử dụng những kỹthuật từ các loại liệu pháp (Holstock & Rogers, 1983) Đối với nhiều nhà trị liệu, liệupháp thân chủ trọng tâm đã trở thành “triết lý nhân vị trọng tâm”, và trong bối cảnh

ấy nhà trị liệu có thể thực hành trị liệu theo những phương cách có tính chiết trung.Kết quả là, nhiều trị liệu theo trường phái thân chủ trọng tâm hiện nay đã phối hợpnhiều kỹ thuật của các liệu pháp khác như các kỹ thuật Gestalt, hành vi, thôi miên vàvận dụng các kỹ thuật có tính thách thức (confrontative) vào việc thực hành trị liệu.Natalie Rogers (Toms, 1988) đã phối hợp nghệ thuật và khiêu vũ vào liệu pháp của

bà với tên gọi là “liệu pháp diễn xuất thân chủ trọng tâm” (person-centeredexpressive therapy) Tương tự, “liệu pháp kinh nghiệm” của Gendlin và “liệu pháptiến trình-kinh nghiệm” của Greenberg và cs cũng chủ trương nhà trị liệu có thể thựchiện một cách có hệ thống những cố gắng thúc đẩy tiến trình khám phá để giúp thânchủ tăng trưởng

Trái lại, các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm theo kiểu cổ điển (Brodley, 1993) lạikhông đồng tình với sự phát triển liệu pháp theo cách thức trên Họ tin rằng việc sử

Trang 22

dụng một cách có hệ thống bất cứ lọai kỹ thuật trị liệu nào sẽ gây phương hại chothái độ “không hướng dẫn”, nền tảng của việc để thân chủ tự dẫn dắt và tự tìm lối đicủa riêng mình hướng đến sự tăng trưởng

Triết lý của việc trị liệu

Liệu pháp thân chủ trọng tâm dựa vào niềm tin rằng chính thân chủ sẽ “chữa lành”bản thân họ và tạo nên sự tăng trưởng bản ngã của chính họ Sự tăng trưởng và bìnhphục xảy ra từ bên trong con người của thân chủ, mặc dù các tiến trình bên ngòai cóthể thúc đẩy hoặc trì hoãn việc tăng trưởng này Có sự tương đồng giữa cây cỏ và trẻ

em trong việc tự mình lớn lên, dù rằng người nông gia hoặc các bậc cha mẹ có thểgiúp tạo thuận lợi hoặc làm chậm đi những tiến trình tăng trưởng này

Liệu pháp thân chủ trọng tâm có tính độc đáo ở chỗ nhấn mạnh vào tiềm năng tựbình phục của mỗi con người Mặc dù những liệu pháp tâm lý khác cũng đồng ý vềcon người có những tiềm năng tích cực bên trong, nhưng các nhà trị liệu theo nhữngtrường phái khác lại không tin rằng thân chủ có thể tự mình sử dụng tiềm năng nàynếu họ không có được sự hướng dẫn của nhà trị liệu Điều này có thể do thân chủ quámong muốn né tránh sự đau khổ để có được sự an toàn khiến cho họ cũng né tránhviệc đối đầu với các vấn đề và làm cho các tiềm năng ấy bị tắc nghẽn; hoặc cũng cóthể do họ bị vướng nắc vào những tư duy sai lầm mà họ chỉ có thể được “giải thoát”

bởi nhà trị liệu Nhà trị liệu trở thành “chuyên gia hướng dẫn” về vấn đề gì mà thân

chủ cần phải đương đầu để tăng trưởng

Trái lại, công việc của một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm là cung cấp một điều kiệntối ưu để thân chủ có thể vận hành những “khả năng tự tổ chức nội tại” và “khả năng

tự vượt qua” (intrinsic self-organizing & self-transcending capacities) Trong điềukiện có tính hỗ trợ, lòng tin hướng đến tăng trưởng của thân chủ sẽ vượt qua khuynhhướng né tránh khổ đau Con người có khả năng chịu đựng và đối đầu với những nỗikhổ đau lớn lao trong cuộc sống chừng nào mà họ cảm thấy có cơ hội làm chủ đượccác hoàn cảnh gây ra đau khổ cho họ Chỉ khi cảm thấy bất lực họ mới tránh né đau

Trang 23

khổ và tìm kiếm sự an tòan (Dweck & Leggett, 1988) hoặc khi họ cảm thấy không đủkhả năng đương đầu với đau khổ (Bandura, 1986)

Nhà trị liệu không nhất thiết phải để thân chủ đương đầu với những trải nghiệm đauthương đã từng dồn nén rất sâu trong lòng, ví dụ những trải nghiệm bị xâm hại từthời thơ ấu Nếu những điều kiện an toàn mà nhà trị liệu mang lại giúp thân chủ bắtđầu phát triển một cảm nhận về khả năng bình phục và tăng trưởng của mình, họ sẽdần dần mong muốn đối mặt với những trải ngiệm như thế nếu như họ thấy việc này

là cần thiết để giúp họ có thể tiếp tục phát triển Từ điểm mốc đó trở đi, những trảinghiệm đau thương ấy sẽ dần dần lộ diện như một phần của tiến trình tự bình phục

Nhà trị liệu theo trường phái thân chủ trọng tâm khởi đi từ vị trí của thân chủ vào lúcbắt đầu tiến trình trị liệu Nếu vấn đề của thân chủ khiến họ cảm thấy nặng lòng triềnmiên, nhà trị liệu sẽ tập trung làm việc với họ về những gì mà họ đang bận tâm chứkhông đánh giá rằng “có những vấn đề sâu xa hơn cần phải đối mặt” Nhà trị liệuthân chủ trọng tâm tin vào khả năng của thân chủ trong việc tự định hướng và tự điềuchỉnh bản thân Đây là khía cạnh quan trọng nhất của việc trị liệu và thân chủ sẽ tự đisâu hơn trong việc khám phá bản thân khi họ thấy đó là việc cần thiết

Cấu trúc cơ bản của liệu pháp thân chủ trọng tâm

Nhà trị liệu theo trường phái thân chủ trọng tâm khá linh hoạt trong cách thức cấutrúc mối tương tác trị liệu Cách thức tiêu biểu nhất của họ là gặp thân chủ trongnhững buổi trị liệu kéo dài khoảng một giờ, và mỗi tuần một lần Tuy nhiên, nhà trịliệu vẫn có thể điều chỉnh công thức này tùy từng trường hợp cụ thể Các cuộc gặpcũng có thể diễn ra tại văn phòng của nhà trị liệu hoặc ở một nơi khác Gendlin(1967) có thể tiếp xúc với một bệnh nhân trên đường đi từ bệnh phòng đến nhà ăncủa bệnh viện; Bohart có thể làm việc với thân chủ ở bãi cỏ trong bệnh viện, vv

Mặc dù liệu pháp cần được thực hiện qua nhiều buổi trị liệu, nhưng các nhà trị liệuthân chủ trọng tâm cũng tin rằng có đôi lúc những thay đổi quan trọng có thể xảy rachỉ qua một buổi trị liệu duy nhất (Rogers & Sandford, 1984) Không có ý nghĩa gìnếu ta đặt ra một khoảng “thời gian trung bình” cho một tiến trình trị liệu Bohart

Trang 24

(1995) đã từng trị liệu cho các thân chủ với thời gian thay đổi từ một buổi duy nhấtcho đến những liệu trình kéo dài hàng trăm buổi!

Nhà trị liệu cũng có thể sử dụng tất cả các thể thức trị liệu: cá nhân, nhóm, gia đìnhhoặc cặp vợ chồng Sự lựa chọn thể thức trị liệu phải cùng được thực hiện bởi nhà trịliệu và tất cả các thành viên tham gia

Thiết lập mục đích trị liệu

Nhà trị liệu thân chủ trọng tâm tin rằng chính thân chủ là người biết rõ điều gì đanggây tổn thương cho họ và điều gì mà họ cần phải thay đổi (thông qua sự hiểu biết cótính trực giác) Vì thế nhà trị liệu không phải thiết lập mục đích cho việc trị liệu, vd

“phải thay đổi điều gì, vượt qua điều gì ”; cũng như không cần phải có những lờikhuyên như “hãy kiên định hơn”, đừng suy nghĩ vô lý nữa”, hoặc “hãy thoát khỏimối quan hệ không lành mạnh ấy” Thay vì thế, mục đích trị liệu là cung cấp nhữngđiều kiện trong đó thân chủ có thể phát huy được những tiềm năng của họ trong việcđương đầu với những trải nghiệm có vấn đề, khám phá chúng, rút ra những ý nghĩamới và quan trọng, và tái tổ chức những trải nghiệm sống của họ một cách sáng tạotheo những cách thức hiệu quả hơn

Tại sao nhà trị liệu lại không đơn giản cho thân chủ của mình một “câu trả lời”? Nhưtrong phần đầu có nói rằng con người sống trong những thế giới nhận thức khác nhau

mà nhà trị liệu có thể chỉ biết một chút ít thôi Trong một đoạn phim nổi tiếng về buổilàm việc của Carl Rogers với một thân chủ tên Gloria (Shostrom, 1965), vấn đề củaGloria là cô đã nói dối với con gái mình về sự thật là cô đã có quan hệ tình dục khichưa lập gia đình Cô muốn Rogers cho biết rằng cô có nên nói với con về sự thật nàykhông Rogers đã từ chối và rồi ông giúp cho cô đi đến câu trả lời của chính cô.Trong khi xem phim, một số sinh viên của Bohart đã thể hiện sự không hài lòng: “Tạisao Rogers không yêu cầu cô ta phải trung thực?”

Một lý do để giải thích việc này đó là chỉ có Gloria mới biết được những điều tế nhị

và phức tạp thực sự trong cuộc sống của cô cũng như trong mối quan hệ giữa cô vàcon gái mình Chính cô mới biết được các mối quan hệ rắc rối đã góp phần làm nên

Ngày đăng: 03/07/2021, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w