Trong xã hội hiện đại, song song với thuật ngữ sức khỏe, sức khỏe thể chất (sinh học) thì sức khỏe tinh thần cũng là một thuật ngữ ngày càng phổ biến và ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe tinh thần, tâm lý cũng ngày càng được chú trọng và trở thành một mặt quan trọng góp phần chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người.
Trang 1LIỆU PHÁP HÀNH VI VÀ ỨNG DỤNG TRONG TRỊ LIỆU TÂM LÝ HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại, song song với thuật ngữ "sức khỏe", "sức khỏethể chất" (sinh học) thì "sức khỏe tinh thần" cũng là một thuật ngữ ngày càngphổ biến và ngày càng được quan tâm nhiều hơn Vì vậy, chăm sóc sức khỏetinh thần, tâm lý cũng ngày càng được chú trọng và trở thành một mặt quantrọng góp phần chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người
Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần là một lĩnh vực rất rộng vớinhiều hình thức, cấp độ và phương pháp khác nhau Trong đó, trị liệu tâm lý(còn gọi là liệu pháp tâm lý) là một phương pháp đặc biệt Thuật ngữ:
“Psychothérapie” trong tiếng Pháp và “Psychotherapy” trong tiếng Anh, cónghĩa là tâm pháp, tâm lý liệu pháp hay liệu pháp tâm lý Tuy có thể có nhiềutên gọi khác nhau, song thực chất trị liệu tâm lý có nghĩa chung là các phươngpháp tâm lý được sử dụng nhằm điều trị những rối loạn về tâm lý Nói cáchkhác, trị liệu tâm lý là hệ thống các phương pháp, kỹ thuật được nhà tâm lý trịliệu sử dụng, nhằm cải thiện sức khỏe, tinh thần, tháo gỡ các trở ngại trongcảm xúc và hành vi của thân chủ (cá nhân hay nhóm), mà nó là nguyên nhânlàm cho họ cảm thấy khó khăn trong việc tự quản lý cuộc sống và đạt đến cácmục đích mong muốn của mình
Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng phổ biến bốn trường phái trị liệutâm lý cơ bản đó là: Trị liệu phân tâm; Trị liệu nhân văn - hiện sinh; Trị liệuhành vi và Trị liệu nhận thức - hành vi Mỗi trường phái có cách tiếp cận khácnhau nên phương pháp trị liệu tâm lý (liệu pháp) cũng khác nhau Do đó,tương ứng với bốn trường phái trị liệu trên là bốn liệu pháp (phương pháp trịliệu) cơ bản: Liệu pháp phân tâm; Liệu pháp nhân văn - hiện sinh; Liệu pháp
hành vi và Liệu pháp nhận thức - hành vi Trong đó, Liệu pháp hành vi đang
Trang 2được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới và được tiếp nhận như một phươngpháp đầy triển vọng trong việc điều trị các chứng rối loạn tâm thần nói chung,đặc biệt là rối loạn ám ảnh và sợ hãi
Xuất phát từ những lý do trên, trong phạm vi của bài tiểu luận này,
chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề: " Liệu pháp hành vi và ứng dụng trong trị liệu tâm lý hiện nay"
Trang 3NỘI DUNG
I Những vấn đề chung về liệu pháp hành vi.
1 Sự ra đời và phát triển của liệu pháp tâm lý nói chung và liệu pháp hành vi nói riêng.
1 1 Sự ra đời và phát triển của liệu pháp tâm lý nói chung
Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về liệu pháp tâm lý, song về
cơ bản, các quan niệm đều thống nhất khẳng định: Liệu pháp tâm lý (phương
pháp trị liệu tâm lý) là thuật ngữ có nghĩa chung là sử dụng các phương pháp tâm lý nhằm biến đổi cảm xúc, cảm giác, nhận thức, hành vi…những yếu tố đang duy trì trạng thái tâm lý bất ổn của cá nhân, giúp cá nhân thích nghi tốt hơn với cuộc sống Nói cách khác liệu pháp tâm lí là những biện pháp tác động lên tâm lí người bệnh (thân chủ) nhằm mục đích cải thiện và tăng cường sức khỏe tâm lí của họ.
Liệu pháp tâm lý là một trong những liệu pháp cổ xưa nhất trong cácliệu pháp trị liệu Ngay từ thời xa xưa, con người đã biết sử dụng tác độngtâm lý trong việc chữa bệnh Căn cứ vào nghiên cứu khảo cổ học (ở Ấn Độ,
Ai Cập, Hy Lạp), thì từ thời xưa con người đã sử dụng tác động tâm lý từnhững câu thần chú vào việc chữa bệnh Vào thời kì Trung cổ, việc sử dụngtác động tâm lý vào việc chữa bệnh được giao phó cho các nhà phù thuỷ, ởthời đó người ta cho rằng bệnh tật là do “ma quỷ” gây ra, vì vậy phải làm cácphép để xua đuổi hoặc “trừ tà” cái được gọi là “ảo thuật huyền bí” Ảnhhưởng của quan niệm này đến ngày nay vẫn còn gặp nhiều trong các bộ tộchoặc những vùng dân cư lạc hậu
Vào khoảng thế kỉ thứ XVI, với sự phát triển của các ngành khoa học,con người đã phát minh ra nam châm và xuất hiện khái niệm “từ tính” Xuấtphát từ khái niệm này, khoảng cuối thế kỉ XVIII, Mesmer - nhà tâm thần họcngười Áo đã đưa ra luận thuyết “thể lỏng từ tính động vật ” và đã giải thích về
cơ chế chữa bệnh của thôi miên Theo ông, một vật thể lỏng từ tính vô hình(không quan sát được) bao trùm cả vũ trụ tạo thành môi trường thể khác, cũng
Trang 4như những người này với người khác Bệnh tật là do sự phân bố không đềucủa thể lỏng từ tính đó trong cơ thể con người, muốn bệnh khỏi cần phải lậplại sự thăng bằng đã bị biến loạn Để lập lại sự thăng bằng này Mesmer đã sửdụng phương pháp thôi miên Tuy cách giải thích của Mesmer đã bị hội đồngkhoa học Hoàng gia Pháp bác bỏ vì không xác định được “thể lỏng từ tínhđộng vật”, nhưng cách giải thích này đã mở ra một con đường mới cho cácliệu pháp tâm lý khoa học ra đời.
Thế kỉ XIX là thời kì của nhiều trường phái và quan điểm về thôi miên.Năm 1843, Braid, phẫu thuật viên người Anh, người đầu tiên đưa ra thuật ngữthôi miên “ hypnotism” và đã cho xuất bản cuốn sách: “Thần kinh học thôimiên”, theo ông thôi miên là hậu quả của sự mệt mỏi của các giác quan cảmgiác do quá trình tập trung chú ý (nhìn vào ánh đèn)
Tại Pháp xuất hiện hai trường phái thôi miên đối lập nhau, trường pháiParis đứng đầu là Charcot và trường phái Nancy mà đứng đầu là Bernhem.Trường phái Charcot được xem như là trở ngại cho sự phát triển của thôimiên, vì theo họ thôi miên như là biểu hiện của các rối loạn phân ly nhân tạo(Thuật ngữ cũ là Hysteria nhân tạo) Bởi vì các tác giả này vừa dùng thôimiên để chữa bệnh đồng thời họ có thể tạo ra các rối loạn phân ly bằng thôimiên Ngược lại, trường phái Nancy lại khẳng định thôi miên là giấc ngủ tạo
ra bởi ám thị Theo Bernhem không có thôi miên mà chỉ có ám thị, điều này
về sau được nhiều tác giả đồng tình, bởi bản chất của thôi miên chỉ là ám thịtrong trạng thái ý thức đặc thù - trạng thái thôi miên
Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu vềthôi miên và đã áp dụng thành công thôi miên trong việc chữa bệnh Trong số
đó phải kể đến các công trình nghiên cứu của I.P.Paplov và các học trò củaông Theo Paplov, cơ chế của ám thị là do tác động tâm lý tạo ra một điểmhưng phấn trội trên vỏ não và xung quanh điểm trội đó hình thành một vùng
ức chế nhằm lấn át các điểm hưng phấn bệnh lý khác Còn thôi miên chỉ là
Trang 5hiện tượng ám thị trong trạng thái ý thức giai đoạn, trong trạng thái này tínhchịu ám thị sẽ tăng cao.
Năm 1930 P.Dubois, nhà tâm thần Thuỵ Sĩ đã đề ra liệu pháp giải thíchhợp lý (hay liệu pháp thuyết phục) Theo ông bệnh tâm căn là do tư duy lệchlạc về bệnh tật của người bệnh Muốn chữa khỏi bệnh người thầy thuốc cầnphải giải thích và dùng lời lẽ để thuyết phục người bệnh hiểu được những ýnghĩ sai lệch của họ
Nửa đầu thế kỉ XX, liệu pháp phân tâm (Psychoanalysis) ra đời và đãđược phát triển ở nhiều nước châu Âu và Mỹ, người khởi xướng học thuyếtnày là S.Freud Đây là liệu pháp coi trọng tới bản năng tình dục, những xungđột trong thời kì thơ ấu và hiện tượng dồn ép bản năng tình dục trong vô thức.Mục đích của liệu pháp này là chuyển phức cảm tình dục bị dồn nén trong vôthức vào ý thức người bệnh Về sau các học trò của Freud đã cải biến thànhcác liệu pháp sau Freud, về nguyên tắc vẫn giữ nguyên ý tưởng cơ bản củaFreud, nhưng đã bổ xung thêm những quan điểm mới, đó là nhấn mạnh đếntầm quan trọng của môi trường hiện tại đối với từng cá thể, ảnh hưởng trựctiếp của những kinh nghiệm sống sau thời thơ ấu, vai trò của các quan hệ xãhội đối với từng cá nhân, ý nghĩa của những quan niệm có ý thức của cá thể
Những năm đầu thế kỉ XX, một khuynh hướng liệu pháp tâm lý mới đãxuất hiện, đó là các phương pháp rèn luyện tự sinh (Autogentic Training), đó
là các phương pháp điều khiển tích cực trương lực cơ của B.Stokvis, tự thôimiên của E.Kretsschmer, phương pháp giãn cơ tuần tiến của Jacobson, đặcbiệt nổi bật là phương pháp thư giãn tập trung (Concentrative Relaxation) củaSchultz Các phương pháp này ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm củaliệu pháp thôi miên, đó là tính bị động và lệ thuộc của người bệnh vào thầythuốc Nhưng do hiệu quả điều trị chưa cao và đặc biệt là do sự phức tạp củacác kĩ thuật, như liệu pháp thư giãn tập trung của Schultz quá dài, mang tínhtrừu tượng nên một trong thời gian dài bị lãng quên Tuy nhiên vào nhữngnăm từ 1960 trở lại đây, phương pháp này lại được áp dụng trở lại, nhưng có
Trang 6sự cải thiện để phù hợp với tâm - sinh lý của từng dân tộc Ngoài ra nó cònđược xem như là một phần trong liệu pháp hành vi, cũng được phát triển vàonhững năm 60 của thể kỷ XX.
Vào cùng thời kì này, cũng cần phải kể đến liệu pháp tâm lý tọa đàm(Conversational Psychotherapy) của Carl Roger Liệu pháp này dựa chủ yếutrên cơ sở tâm lý học nhân văn Tâm lý học nhân văn tìm kiếm động lực hành
vi của con người trong giá trị tinh thần và đạo đức
Cùng với sự ra đời của các liệu pháp tâm lý kể trên vào những nămgiữa thế kỉ XX, là sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của liệu pháp tâm lýnhóm (Group Psychotherapy) và liệu pháp gia đình( Family Therapy)
1.2 Sự ra đời và phát triển của liệu pháp hành vi
Trên cơ sở những thành tựu của Tâm lý học hành vi do J.Watson khởixướng và những thành tựu của học thuyết phản xạ có điều kiện của I.Pavlov,vào những năm 50 - 60 của thế kỉ XX đã hình thành liệu pháp hành vi Người
có công lớn trong việc hoàn thiện liệu pháp hành vi phải kể đến đó là JosephWolpej Liệu pháp hành vi sau khi ra đời đã áp dụng rộng rãi trên toàn thếgiới và được tiếp nhận như là một phương pháp đầy triển vọng trong việc điềutrị các rối loạn tâm thần nói chung, đặc biệt là rối loạn ám ảnh và sợ hãi Vềsau các tác giả của trường phái nhận thức bổ sung thêm liệu pháp nhận thứcnhư Bandura Nhiều tác giả đã gộp hai liệu pháp này thành liệu pháp hành vi -nhận thức (Cognitive - Behavior Therapy) Có thể nói, công thức của các nhà
trị liệu hành vi là : S ( kích thích ) R ( phản xạ ) C ( củng cố ) Muốn
thay đổi R thì phải thay đổi S và C Còn chủ nghĩa nhận thức bổ sung yếu tố
nhận thức vào như sau: S Nhận thức R (phản xạ) C (củng cố ) Thay
đổi R phải thay đổi cả S, nhận thức và C
Tóm lại, vào những năm giữa đến cuối thế kỉ XX là thời kì xuất hiện,thịnh hành và hoàn thiện nhiều liệu pháp tâm lý hiện đại, những liệu pháp này
đã đóng góp tích cực vào công tác chữa trị bệnh tâm thần và các rối loạn tâm
lý - những căn bệnh ngày có xu hướng gia tăng trong thời đại kinh tế phát
Trang 7triển, công nghiệp hoá và đô thị hoá, khi mà con người phải đối diện với
nhiều mâu thuẫn, xung đột và Stress Trong các liệu pháp tâm lý đó, liệu pháp hành vi là một liệu pháp cơ bản, được ứng dụng phổ biến, rộng rãi và
mang lại hiệu quả cao trong trị liệu tâm lý
2 Lý thuyết nền tảng cho sự ra đời và phát triển của liệu pháp hành vi
Tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mỹ từ một bài báo có tínhchất cương lĩnh với tiêu đề “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” Từkhi ra đời cho đến nay, trường phái tâm lý học hành vi với những lý luận củamình đã có những đóng góp to lớn trong công tác nghiên cứu cũng như giúp
đỡ những người gặp khó khăn tâm lý
Khuynh hướng hành vi được phát triển trong những năm 50 và đầunhững năm 60 của thế kỷ XX như là sự cấp tiến thoát khỏi triển vọng của trịliệu phân tâm đang thịnh hành trước đó Những người có công đóng góp choviệc hình thành trị liệu hành vi là: Arnold Lazarus, Albert Bandura, JosephWolpe và Alan Kazdin Trị liệu hành vi có ba giai đoạn phát triển chính: Giaiđoạn khuynh hướng điều kiện hoá cổ điển; mô hình điều kiện hoá thao tác;khuynh hướng hành vi nhận thức
Nguồn gốc của liệu pháp hành vi nằm trong Thuyết điều kiện hoá cổđiển và Thuyết điều kiện hoá thao tác được phát triển vào nửa đầu thế kỷ XXbởi I Pavlov và B Skinner
2.1.Điều kiện hoá cổ điển
I Pavlov đã phát hiện ra điều kiện hoá cổ điển dựa trên phản xạ tiếtnước bọt của chó Trong suốt thí nghiệm của mình, ông lưu ý rằng, đôi khi,chó sẽ tiết nước bọt trước khi người ta đưa thức ăn cho nó, một phản xạ mà
ông đặt tên là “sự tiết nước bọt tâm lý” Qua tìm hiểu cơ chế của quá trình
này, ông đã phát hiện ra cái mà ngày nay chúng ta gọi là Thuyết điều kiện hoá
cổ điển Pavlov cho rằng tiết nước bọt là một phản xạ bản năng đối với sựxuất hiện thức ăn, phản xạ này không cần học tập: phản xạ không điều kiệntrước kích thích không điều kiện Yếu tố mới lạ trong công việc của Pavlov là
Trang 8ông lưu ý rằng kích thích khác trội lên hiện diện vào lúc con vật có phản xạkhông điều kiện, sau đó sẽ dẫn đến cùng một hành vi: kích thích trung gianban đầu trở thành một kích thích có điều kiện và gây ra phản xạ có điều kiện,
giống hệt phản xạ không điều kiện (Pha hưng phấn) Có thể phải cần đến
một vài lần kết kết hợp thì sự liên kết giữa phản xạ trung gian và phản xạkhông điều kiện mới hình thành Việc kích thích có điều kiện lặp lại khi kíchthích không điều kiện vắng mặt sẽ làm giảm dần dần phản xạ không điều
kiện, một quá trình mà người ta gọi là sự dập tắt (Pha ức chế) Như muốn con
chó không tiết nước bọt nữa khi nghe tiếng chuông hãy ngừng đưa thịt khirung chuông, sau một vài lần, nó sẽ không tiết nước bọt nữa Ứng dụng của kĩthuật này vào trong việc điều trị những bệnh nhân bị chứng sợ hãi vô lý bằng
một liệu pháp gọi là tiếp cận dần lo âu (hay còn gọi là giải mẫn cảm) Chẳng
hạn, một nhà trị liệu sử dụng cách liên tục đặt đối tượng trước kích thích hayvật thể họ sợ hãi, bắt đầu bằng các sự kiện ít sợ nhất rồi chuyển sang những
sự kiện hay những kích thích đáng sợ hơn Để dần dần chủ thể tự nhận ra tìnhhuống đó không có gì đáng sợ, lúc đó sự sợ hãi sẽ bị dập tắt
Điều kiện ảnh hưởng đến phản ứng cảm xúc cũng như hành vi, nhữngquá trình nói trên với các rối loạn cảm xúc có một mối liên quan Cách lý giảicủa trường phái Hành vi về hiện tượng ám ảnh sợ giả định rằng nó xuất phát
từ một trải nghiệm được điều kiện hoá, trong đó cá nhân sợ hãi một cáchkhông thích hợp một vật nào đó hoặc một tình huống nào đó, điều này có liênquan đến trải nghiệm sợ hãi hoặc lo lắng ở một thời điểm nào đó trong quákhứ Tiếp theo, kích thích có điều kiện sẽ gây ra phản xạ sợ hãi có điều kiện.Nếu cá nhân trải qua nỗi sợ hãi sâu sắc, quá trình điều kiện hoá có thể mạnh mẽđến mức chỉ cần một kinh nghiệm được điều kiện hoá cũng có thể dẫn đến nỗi
sợ hãi lâu dài khó mà dập tắt được Phản xạ này bao gồm 3 yếu tố: Lẩn tránhhoặc chạy trốn vật gây sợ hãi; Tình trạng khuấy động sinh lý cao độ rõ rệt vớimột loạt những triệu chứng khác nhau như căng thẳng về mặt thể chất, phản xạgiật mình tăng lên, rùng mình hay đổ mồ hôi; Cảm xúc lo lắng và sợ hãi
Trang 9Sau một thời gian bị dập tắt, đáp ứng có điều kiện có thể tự nhiên hồi
phục trở lại (pha hồi phục tự nhiên) nếu lại có kích thích có điều kiện thì đáp
ứng có điều kiện có thể xuất hiện lại Chúng ta cũng thấy điều này trong khiquan sát những người nghiện ma túy đang cố gắng cắt cơn Ngay cả khi họ đãđược điều trị, nhưng nếu được tiếp xúc với những loại chất bột trắng hoặc nhữngống hút, ống tiêm (những cái có liên quan tới ma túy) thì đột nhiên họ bị thôithúc phải dùng ma túy mặc dù đã cắt cơn được một thời gian dài Điều này cũngthường xảy ra với những trường hợp bệnh nhân có những biểu hiện rối loạn lo
âu, sau 1 thời gian triệu chứng giảm nhưng bệnh nhân dễ dàng xuất hiện nhữngtriệu chứng khác khi có những kích thích tương tự gần giống với lo âu Chínhđiều này đã làm các bậc cha mẹ nhiều khi chán nản mà bỏ cuộc giữa chừng
2.2 Điều kiện hoá thao tác
Trái ngược với hành vi phản xạ liên quan đến điều kiện hoá kinh điển,điều kiện hoá thao tác đã đi đến chỗ giải thích rằng hành vi là chủ động và cómục đích Theo tiền đề cơ bản của B Skinner, hành vi nếu được củng cố sẽtăng lên về tần suất hay được lặp đi lặp lại; còn nếu không được củng cố hay
bị trừng phạt thì sẽ giảm tần suất hoặc không lặp lại nữa Skinner phân biệt
giữa hai loại củng cố: củng cố bậc một (primary reinforcer), như thức ăn và nước, những nhu cầu bẩm sinh của con người, và củng cố bậc hai, những
củng cố liên hệ với củng cố bậc một thông qua quá trình điều kiện hoá kinhđiển phức tạp Theo cách này, chính thuộc tính của những củng cố như chú ý
và tương tác xã hội cũng được củng cố
Quá trình thao tác hàm chứa sự phát triển của rất nhiều rối loạn tâmthần Lewinsohn và cộng sự, vào năm 1979 cho rằng trầm cảm là hậu quả củaviệc một cá nhân bị tách ra khỏi hệ thống tán thưởng mà trước đó họ thuộc về.Ngược lại, Seligman (1975) cho rằng trầm cảm bắt nguồn từ thất bại trong việctrốn tránh kích thích tiêu cực của môi trường Lý luận của ông xuất phát từnhững nghiên cứu mà trong đó người ta áp dụng sốc điện đối với động vật,chúng có thể tránh hoặc là không tránh những sốc điện này Những con vật có
Trang 10thể tránh được sốc điện có vẻ không trải qua một tác dụng xấu nào Còn những
con không thể tránh sốc điện biểu hiện cái mà Seligman gọi là “sự tuyệt vọng
được tập nhiễm” Chúng trở nên thờ ơ và thậm chí khi được đưa vào những điều
kiện có thể tránh được sốc điện, chúng cũng không có một cố gắng nào để tránh.Người ta xem điều này là tương tự với một số nguyên nhân gây trầm cảm
2.3 Kết hợp điều kiện hoá cổ điển và điều kiện hoá thao tác
Mô hình điều kiện hoá cổ điển về ám ảnh sợ được xem xét cho đến nay,
đã mô tả đầy đủ quá trình tập nhiễm nỗi lo lắng và sợ hãi Tuy nhiên, điều đóchưa đủ để giải thích tại sao chúng lại duy trì trong một thời gian dài, bởi vìbiểu hiện lặp đi lặp lại đối với vật hoặc tình huống gây sợ hãi ngay cả khikhông xuất hiện hậu quả xấu, lẽ ra đã có thể làm giảm sự lo hãi thông qua quátrình dập tắt Lý thuyết hai yếu tố của Mowrer (1947) kết hợp cả quá trìnhđiều kiện hoá kinh điển và điều kiện hoá thao tác để giải thích cho hiện tượngnày Ông lưu ý rằng một khi phản xạ ám ảnh sợ được thành lập thông qua quátrình điều kiện hoá cổ điển, cá nhân bị ảnh hưởng có xu hướng lẩn tránh
những kích thích gây ra sự sợ hãi Điều này dẫn đến 2 hậu quả Thứ nhất, nó
ngăn quá trình điều kiện hoá cổ điển sự dập tắt, vì cá nhân không trải nghiệm
các kích thích có điều kiện dưới điều kiện an toàn Thứ hai, bởi vì sự lẩn
tránh, bản thân nó đã sản sinh ra những cảm giác được giải thoát (nó đangcủng cố), phản xạ lẩn tránh được quá trình điều kiện hoá thao tác làm tăngcường độ Theo cách này, nỗi lo hãi được bảo tồn một cách ngầm ẩn trongnhững khoảng thời gian dài
2.4.Thuyết học tập xã hội
Khi những ý kiến lý giải các hiện tượng lâm sàng trở nên rõ ràng, cùnglúc đó, nhiều nhà lý luận khác cũng đang bắt tay vào nghiên cứu vai trò củacác quá trình nhận thức trong việc điều khiển hành vi Một lý thuyết có sức
thuyết phục được đưa ra vào thời kỳ này là thuyết học tập xã hội (Bandura
1977) Thuyết này cho rằng chúng ta có thể học các phản ứng sợ hãi màkhông cần trực tiếp trải nghiệm vật gây sợ hãi Thay vào đó, sự sợ hãi được
Trang 11học từ việc quan sát phản ứng của những người khác, thông qua một quá trình
gọi là học gián tiếp (vicarious learning) Quan điểm này là một lý giải có tính
nhận thức về hiện tượng ám ảnh sợ ngay cả khi cá nhân không gặp phải kíchthích và hiện tượng ám ảnh sợ trong gia đình Cũng bắt nguồn từ quan sátphản ứng của người khác đối với kích thích gây sợ hãi, Bandura giải thíchdưới góc độ nhận thức về cơ chế trị liệu của giải mẫn cảm có hệ thống và trànngập: sợ hãi giảm là kết quả của việc cá nhân tin tưởng hơn vào khả năng họ
có thể đương đầu với sự hiện diện của vật gây sợ hãi
2.5.Quan niệm về hành vi bất thường
Trường phái hành vi cho rằng, cả hành vi bất thường và bình thườngđược xem như là một phản ứng trước một tập hợp kích thích, phản ứng đãđược học tập qua kinh nghiệm trong quá khứ và hiện tại được điều khiển bởinhững kích thích mà người ta phát hiện trong môi trường Họ xem rối loạn tâmcăn cũng xuất hiện theo cơ chế tập nhiễm nhưng không thích ứng và kéo dài, đápứng bệnh lý mang tính khái quát hóa những kích thích ban đầu (những sang chấntâm lý) Những nhà hành vi này cũng khẳng định rằng những hành vi bệnh lý(ngoại trừ những hành vi được hình thành do nguyên nhân thực tổn) có thể nhậndạng và biến đổi được, mà cách tốt nhất là tập trung vào sự biến đổi hành vi hơn
là nhằm vào sự thay đổi bất kỳ bệnh lý cơ bản nào
3 Mục đích và mối quan hệ trong liệu pháp hành vi
3.1 Mục đích của liệu pháp hành vi
Mục đích tổng quát của liệu pháp hành vi là loại bỏ những hành vikhông thích ứng của đối tượng (người được trị liệu hay bệnh nhân) và giúp họhọc được những khuôn mẫu hành vi có hiệu quả hơn Liệu pháp hành vi nhằmvào việc thay đổi những hành vi có vấn đề thông qua việc tiếp thu những kinhnghiệm Tóm lại, thân chủ và nhà trị liệu phải cộng tác với nhau để vạch rađược các mục tiêu trị liệu chắc chắn và khách quan Để thực hiện được tốtmục tiêu, nhà trị liệu cần làm tốt những nhiệm vụ sau:
Trang 12Nhiệm vụ của nhà trị liệu hành vi được thể hiện thông qua những côngviệc cần thiết phải làm trong quá trình trị liệu:
- Xây dựng mối quan hệ
Đây không chỉ là bước đầu tiên nhà trị liệu hành vi cần làm mà trongsuốt quá trình nhiệm vụ chính của nhà trị liệu phải xây dựng được mối quan
hệ lành mạnh với thân chủ Từ việc xây dựng mối quan hệ hợp tác để bắt đầukhám phá những vấn đề trọng tâm mà thân chủ muốn chú ý
- Nhận diện vấn đề và đặt mục tiêu
Nhà trị liệu cần phải đạt được những thông tin nền tảng đầy đủ về bệnhnhân Nhà trị liệu cần phân biệt được giữa những điều kiện hiện tại đang duytrì hành vi rối nhiễu và những điều kiện có nguồn gốc nảy sinh trong quá khứ
- Xác định các nguồn cung cấp những điều kiện duy trì hành vi rối nhiễu và xác định vai trò của các nhân tố
+ Từ môi trường: Gồm tất cả những kích thích, ảnh hưởng bên ngoài
lên hành vi của người bệnh Theo quan điểm hành vi cổ điển thì chỉ có nhữngkích thích từ bên ngoài này mới là điều kiện duy trì hành vi bệnh lý
+ Từ cá nhân: Là sự nhận thức của người bệnh Điều này chỉ có trong
quan điểm của chủ nghĩa hành vi mới
Theo A.Bandura - cha đẻ của lý thuyết học tập xã hội, thì môi trườnghành vi bên trong (nhận thức) và hành vi bên ngoài có ảnh hưởng chi phối lẫnnhau Chúng ta có thể thay đổi hoặc tạo ra những nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi của chúng ta, cái chính là ta phải hiểu cái gì đang ảnh hưởng, đang duy trìhành vi rối nhiễu và tìm cách kiểm soát nó
- Lựa chọn các kỹ thuật và tiến hành trị liệu
3.2 Mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu trong liệu pháp hành vi
Mặc dù tiếp cận trị liệu hành vi không coi mối quan hệ giữa thân chủ vànhà trị liệu đóng vai trò quan trọng, nhưng có được mối quan hệ trị liệu tốt thìđược xem như là bước khởi đầu rất cần thiết để giúp quá trình trị liệu đạtđược hiệu quả cao Vai trò của nhà trị liệu chủ yếu là đưa ra được những bài