1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học GIÁO TRÌNH tâm lý học tôn GIÁO

150 20 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Tâm Lý Học Tôn Giáo
Thể loại Giáo Trình
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 803,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Đối tượng của tâm lý học tốn giáo (4)
  • IV. Những phương pháp nghiên cứu cơ bản của tâm ỉý học tôn giáo (8)
  • CHƯƠNG II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÂM LÝ HỌC TÔN GIÁO (10)
  • CHƯƠNG III..........................................................................................................................................................25 (23)
    • I. Thuyết xung đột (23)
    • VI. Thuyết liên nhân cách (32)
  • CHƯƠNG IV NIÊN TIN TỒN GIÁO (37)
    • I. Nguồn gốc của niềm tỉn tôn giáo (38)
      • 1. Niềm tin tôn giáo là niềm tin hư ảo (51)
      • 2. Niêm tin tôn giáo là niềm tín bền vững ở các tín đô (62)
      • 3. Niềm tin tôn giáo là niêm tin không có tính lôgíc (66)
      • 4. Nhận xét chung về đặc điểm của niêm tin tôn giáo (68)
    • I. Tình cảm tôn giáo - khái nỉệm và đặc điểm (74)
  • CHƯƠNG VI SÙNG BÁI TÔN GIÁO (90)
    • I. Bản chất và vị trí của sùng bái tôn giáo (90)
      • 4. Sự cúng tế (104)
    • II. Cac ki£u loai ahan cach ton giao (126)
    • IV. Khía cạnh tâm lý của sự "chuyển thành" tôn giáo (141)
  • KẾT LUẬN (144)

Nội dung

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử loài người. Nó xuất hiện từ buổi bình minh của nhân loại và tồn tại đến tận xã hội hiện đại ngày nay. Tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của các tín đồ và những người theo tỏn giáo. Một nhu cầu có tírih cộng đồng, dân tộc, khu vực và nhân loại. Tôn giáo không chỉ là việc đạo mà còn là việc đời. Nó không chỉ liên quan tới thế giới tưởng tượng mai sau (Thiên đường, địa ngục), mà còn có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống thực tại của con người. Sinh hoạt tôn giáo gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hoá của mỗi dân tộc.

Đối tượng của tâm lý học tốn giáo

Trong tâm lý học tôn giáo, việc xác định đối tượng nghiên cứu là vấn đề hàng đầu cần được đặt ra Điều này có nghĩa là chúng ta phải làm rõ tâm lý học tôn giáo sẽ nghiên cứu những khía cạnh nào liên quan đến tâm lý và hành vi tôn giáo của con người.

Trong cuốn sách "The social psychology of religion"

Vào năm 1975 tại Boston, hai nhà nghiên cứu M Arguler và B.B Hallahmi đã phân tích các khía cạnh tâm lý của tôn giáo từ góc độ xã hội học Họ tập trung vào việc nghiên cứu tâm lý tôn giáo liên quan đến nhu cầu và sự điều chỉnh hành vi trong thực hành tôn giáo.

D Baston và L Ventis trong cuốn "Kinh nghiệm tôn giáo Viễn cảnh tâm lý xã hội" đã xác định đối tượng của tâm lý học tôn giáo là nghiên cứu những tác động tôn giáo trong cuộc sống cá nhân, tức là "kinh nghiệm tôn giáo" Họ nhấn mạnh rằng nghiên cứu tâm lý tôn giáo không thể tách rời khỏi xã hội học Phương pháp khoa học để nghiên cứu tâm lý học tôn giáo theo họ bao gồm sự kết hợp giữa chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa kinh nghiệm và nghiên cứu hệ thống Batson và Ventis cho rằng sự hoài nghi về khả năng nhận thức thực tế khách quan, kinh nghiệm như nguồn gốc tri thức và nghiên cứu thực nghiệm là những yếu tố thiết yếu trong việc khám phá nhận thức tôn giáo.

Các nhà tâm lý học Xôviết đã nghiên cứu tâm lý học tôn giáo dựa trên nguyên tắc hoạt động, nhấn mạnh vai trò quan trọng của các yếu tố xã hội trong việc hình thành và phát triển đặc điểm tâm lý của tín đồ và các nhóm tôn giáo Họ cho rằng, tâm lý học tôn giáo cần phải xem xét các khía cạnh tâm lý của tín đồ từ cả hai góc độ lý luận và thực tiễn.

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, gắn liền với lực lượng siêu nhiên, tạo ra mối liên hệ giữa người theo tôn giáo và thần thánh Mối quan hệ này hình thành những đặc điểm tâm lý riêng biệt cho cả cá nhân và cộng đồng tôn giáo, đồng thời phân biệt với những người không theo tôn giáo Tâm lý học tôn giáo nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của những người theo tôn giáo và so sánh hành vi của họ với những người không theo tôn giáo, từ đó hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của tôn giáo đối với tâm lý con người.

Tâm lý học tồn giáo là một phân ngành khoa học nghiên cứu hiện tượng xã hội đặc biệt, với nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và ứng dụng Tại Việt Nam, đây là một lĩnh vực mới mẻ, do đó cả hai nhiệm vụ đều gặp nhiều thách thức và cần được làm sáng tỏ Những nỗ lực hiện tại chỉ mới là những bước khởi đầu trong quá trình khám phá và phát triển.

1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Tâm lý học tôn giáo là một phân ngành khoa học còn mới mẻ tại Việt Nam, thiếu vắng sách giáo khoa và tài liệu chuyên khảo, do đó, nghiên cứu lý luận trong lĩnh vực này trở nên rất quan trọng Hiện nay, nhiệm vụ nghiên cứu lý luận của tâm lý học tôn giáo được thể hiện qua các nhiệm vụ cụ thể cần được thực hiện.

Xác lập hệ thống khái niệm trong tâm lý học tôn giáo là việc tổ chức các khái niệm một cách hợp lý và đặc thù Điều quan trọng là cần xác định khái niệm cơ bản nhất, từ đó xây dựng lý luận vững chắc cho phân ngành khoa học này.

Quá trình hình thành các đặc điểm tâm lý của những người theo tôn giáo và các cộng đồng tôn giáo bao gồm nhiều yếu tố, từ những biểu hiện tâm lý đến bản chất và nguyên nhân sâu xa Những đặc điểm này thường phản ánh niềm tin, giá trị và truyền thống của từng tôn giáo, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ môi trường xã hội và văn hóa Sự tương tác giữa cá nhân và cộng đồng tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những đặc điểm tâm lý này, tạo nên sự gắn kết và đồng nhất trong quan điểm sống của các thành viên.

Biên soạn các cuốn sách lý luận cơ bản và sách giáo khoa về tâm lý học tôn giáo là cần thiết để cung cấp kiến thức sâu sắc về các khía cạnh khác nhau của lĩnh vực này Những chuyên khảo này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tâm lý học tôn giáo mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong ngành.

2 Nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng

Việc xác định các vấn đề lý luận cơ bản của tâm lý học tôn giáo là quan trọng, nhưng đồng thời, việc nghiên cứu và giải thích các hiện tượng tôn giáo trong thực tiễn cũng đang trở thành nhiệm vụ cấp bách hiện nay Nhiệm vụ này được thể hiện qua nhiều khía cạnh cụ thể khác nhau.

Nghiên cứu sự hình thành và phát triển các đặc điểm tâm lý của các tôn giáo tại Việt Nam là rất quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những biểu hiện đặc thù của từng tôn giáo Các tôn giáo ở nước ta không chỉ mang tính chất tâm linh mà còn phản ánh những giá trị văn hóa và xã hội đặc trưng của dân tộc Việc phân tích các yếu tố tâm lý này sẽ làm nổi bật sự đa dạng và phong phú trong đời sống tôn giáo, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

- Chỉ ra mối liên hệ giữa các đặc điểm tâm lý của tôn giáo và văn hoá của dân tộc.

Vai trò của các yếu tố tâm lý tội giáo trong đời sống cộng đồng xã hội hiện nay rất quan trọng, với nhiều mặt tích cực như giúp nâng cao nhận thức và tạo động lực cho người dân Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến những mặt hạn chế, như việc gia tăng sự phân biệt và kỳ thị trong xã hội Sự hiểu biết đúng đắn về các yếu tố này sẽ góp phần tạo ra một môi trường sống hài hòa và phát triển bền vững.

Tìm hiểu các khía cạnh tâm lý của hiện tượng tôn giáo trong xã hội giúp hiểu rõ hơn về vai trò của tôn giáo trong đời sống con người Tâm lý học tôn giáo là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống các phản ngành của khoa học tâm lý, nghiên cứu ảnh hưởng của tôn giáo đến hành vi và tâm lý cá nhân Việc phân tích những yếu tố tâm lý này sẽ góp phần làm sáng tỏ mối liên hệ giữa tôn giáo và các khía cạnh xã hội khác.

Với sự phát triển của xã hội, khoa học tâm lý đã hình thành hơn 50 phân ngành, trong đó Mỹ có tới 70 ngành Một câu hỏi quan trọng là tâm lý học tôn giáo nằm ở vị trí nào trong hệ thống này.

Việc xác định tâm lý học tôn giáo trong hệ thống của khoa học tâm lý 'phải xuất

9 phát từ phương pháp nghiên cứu, từ đặc điểm của các yếu tố tâm lý tôn giáo.

Những phương pháp nghiên cứu cơ bản của tâm ỉý học tôn giáo

Tâm lý học tôn giáo, một nhánh của tâm lý học xã hội, áp dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của cả hai lĩnh vực để khám phá ý thức và hành vi liên quan đến tôn giáo.

Quan sát là một phương pháp nghiên cứu quan trọng của tâm lý học tôn

Nghiên cứu hành vi tôn giáo của cá nhân và cộng đồng đòi hỏi kế hoạch nghiên cứu rõ ràng và phương pháp ghi chép dữ liệu hiệu quả Cần xác định đặc điểm đối tượng và địa bàn quan sát, đồng thời tiến hành trong điều kiện tự nhiên để không can thiệp vào hành vi của tín đồ Người nghiên cứu cần có kỹ năng và sự khéo léo trong quá trình quan sát Ghi chép dữ liệu có thể thực hiện qua nhiều hình thức như sổ sách, chụp ảnh hoặc quay video, giúp phân tích sâu sắc hành vi và trạng thái cảm xúc của tín đồ sau đó.

Phương pháp quan sát chỉ ghi nhận các trạng thái cảm xúc và hành vi bên ngoài của tín đồ, do đó cần kết hợp với những phương pháp nghiên cứu khác để có cái nhìn toàn diện hơn.

Phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu tâm lý tôn giáo không được sử dụng phổ biến, chủ yếu thực hiện dưới dạng thực nghiệm tự nhiên Bằng cách không tác động bên ngoài vào đời sống tâm lý của tín đồ, phương pháp này giúp thu được kết quả khách quan Đối tượng nghiên cứu bao gồm cả tín đồ cá nhân và cộng đồng tôn giáo.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là một phương pháp phổ biến trong nghiên cứu hiện tượng tâm lý tôn giáo Việc phân tích các tài liệu và hiện vật có thể giúp làm rõ sự hình thành và phát triển của các hiện tượng này.

12 tôn giáo hay của một cộng đồng tôn giáo nào đó, sự hình thành các đặc điểm tâm lý của một tín

Nhà tâm lý học W James (1842 - 1910) đã áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để khám phá tâm lý tôn giáo tại Mỹ, thông qua việc phân tích nhật ký và tự thuật của các nhà thần bí, người tu hành khổ hạnh và tu sĩ ẩn dật Kết quả từ nghiên cứu này đã dẫn đến việc xuất bản cuốn sách "Sự phong phú của kinh nghiệm tôn giáo", trở thành tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu tâm lý học và tôn giáo.

Phương pháp phỏng vấn là một kỹ thuật nghiên cứu quan trọng trong tâm lý học tôn giáo, bao gồm hai hình thức chính: phỏng vấn miệng và phỏng vấn viết qua ankét Các câu hỏi có thể là câu hỏi đóng hoặc mở, giúp làm sáng tỏ nhận thức và cảm xúc của tín đồ đối với tôn giáo của họ Đặc biệt, trong phỏng vấn miệng, việc đặt câu hỏi và tạo ra bầu không khí cởi mở, thân thiện là rất cần thiết để xây dựng sự hiểu biết giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn.

Khi nghiên cứu tâm lý học tôn giáo, việc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau là cần thiết do mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Sự kết hợp này giúp đảm bảo rằng kết quả thu được có tính khoa học, chân thực và độ tin cậy cao.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TÂM LÝ HỌC TÔN GIÁO

Tâm lý học tôn giáo trải qua hai giai đoạn quan trọng: giai đoạn đầu tiên là thời kỳ trước khi nó hình thành như một ngành khoa học độc lập, và giai đoạn thứ hai là khi tâm lý học tôn giáo chính thức trở thành một lĩnh vực nghiên cứu độc lập.

I Những nghiên cứu trước khi tâm lý học tôn giáo trở thành một ngành khoa học độc lập (trước thế kỷ XIX)

Tâm lý học tôn giáo, mặc dù là một lĩnh vực khoa học còn non trẻ, đã có sự phát triển đáng kể với nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Tôn giáo, với những hình thức sơ khai, đã xuất hiện từ những ngày đầu của loài người, phản ánh sự kết nối sâu sắc giữa tâm lý con người và niềm tin tôn giáo.

Ikhnaton, vị vua Ai Cập trị vì từ năm 1375 đến 1358 trước Công Nguyên, đã dũng cảm từ chối những truyền thống tôn giáo kéo dài suốt hai nghìn năm do các thầy tu và thánh đường thiết lập Ông tìm kiếm giá trị tinh thần mới và phê phán mạnh mẽ các tôn giáo có quyền lực vững chắc, tạo nên sự kỳ diệu của đạo độc thần Những bài thánh ca và ghi chép còn lại cho thấy tôn giáo được hiểu như một trải nghiệm mang tính xúc cảm.

Các nhà tâm lý học Ấn Độ cổ đã phát triển một ngành khoa học nghiên cứu sâu sắc về những trải nghiệm tôn giáo Vedanta đã thúc đẩy sự phát triển của siêu ý thức, trong khi Sankhya nhấn mạnh mối liên hệ giữa sức mạnh tâm hồn con người với các giác quan và hành vi Cả hai trường phái này đã nhận ra tầm quan trọng của các bài tập Yoga trong việc kiểm soát tinh thần và nâng cao ý thức tôn giáo.

Gautama Buddha (563 - 483 trước Công Nguyên) đã hệ thống hóa hành vi con người thông qua các thí nghiệm đặc thù, nghiên cứu những người đàn ông sùng đạo (thánh nhân) trong quá trình tự tu hành khổ hạnh Sau sáu năm nghiên cứu, ông đã phát triển một học thuyết tương tự như thuyết Freud, nhấn mạnh vào sự tu hành mà đôi khi dẫn đến trạng thái vô thức.

Bốn nhân tố chính của sự đau khổ của con người bao gồm dục vọng và ham muốn Để giải quyết nỗi khổ này, việc đạt được sự giải thoát hoặc hiểu thấu bản chất của sự vật là điều cần thiết.

Socrates (470 - 399 trước Công Nguyên) là một nhân vật tiêu biểu cho sự phê phán thần thánh trong văn hóa Hi Lạp Ông tin rằng cuộc sống không được kiểm chứng là không phù hợp với bản chất con người Socrates bác bỏ khái niệm về một thế giới hư ảo như Thiên đường mà tôn giáo đề xuất, đồng thời phản đối những vị thần truyền thống của dân tộc Thay vào đó, ông tìm kiếm một Thượng đế riêng, được thể hiện qua lương tâm, cho rằng thần linh xuất phát từ tâm hồn và sự chấp nhận của con người trong cuộc sống và cái chết.

Quan điểm của đạo Cơ Đốc đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu tâm lý học tôn giáo Theo Jesus (Giôsu), tình cảm tôn giáo phản ánh đời sống nội tâm của con người, từ những biểu hiện bên ngoài cho đến mong muốn, động cơ, tình yêu thương và suy nghĩ, và nó trở thành yếu tố quyết định trong cuộc sống.

Blaise Pascal (1623 - 1662) là một nhân vật tiên phong trong giai đoạn mà ranh giới giữa khoa học hiện đại và thần học chưa rõ ràng Ông đã áp dụng toán học và vật lý học vào nghiên cứu kinh nghiệm tôn giáo theo hướng thực nghiệm, khám phá sự thật trở thành niềm đam mê trong cuộc sống của ông Từ thế giới vật chất bên ngoài, ông đã đi vào thế giới nội tâm, đạt được hiểu biết sâu sắc về các yếu tố tâm lý mà theo ông có thể đo lường và kiểm tra Pascal không bị ràng buộc bởi các giáo điều của chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa duy lý khi đối diện với những vấn đề liên quan đến thần thánh và cảm xúc trong cuộc sống tôn giáo.

- Jonathan Edwards (1703 - 1758) và Friedrich Schleỉrmacher (1768 -

Năm 1834, những người áp dụng tâm lý học vào nghiên cứu thần học đã xuất hiện, trong đó có Schleirmacher, người được coi là tiên phong trong việc phản đối chủ nghĩa duy lý và các tri thức.

Vào ngày 8/7/1731 tại Boston, J Edwards đã thuyết giáo về "Chúa Trời được tôn lên trong sự tin cậy của con người", 37 năm trước khi F Schleirmacher ra đời Trong cuốn "Luận thuyết về những cảm xúc tôn giáo" (1746), ông đã trình bày rõ ràng những lập luận liên quan đến Kinh Thánh, nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm xúc tôn giáo và mối liên hệ giữa con người với đức tin.

Søren Kierkegaard (1813 - 1855) là một triết gia nổi bật với những quan điểm trái ngược, người đã đưa ra những phát kiến có ảnh hưởng sâu sắc đến thế kỷ 20 và hiện tại Ông đã phân tích tâm lý của sự kinh hãi, tuyệt vọng và lo sợ trong bối cảnh tôn giáo, mở ra những hiểu biết mới về tâm hồn con người.

(1) Cuốn cuối cùng của bổ kỉnh Tân ước, còn gọi là Sách Khải huyền (Revelation).

- Johann Friedrich Herbart (1776 - 1841), vào năm 1809 đã kế thừa

Immanuel Kant trong vị trí người đứng đầu về triết học ở Konigsberg Ông đâ viết hai cuốn sách quan trọng về tâm lý học "Lehrbuch zur psychologic", 1816 và

Herbart, trong tác phẩm "Psychologie als Wissenschaft" (1824 - 1825), đã được công nhận là cha đẻ của ngành tâm lý học giáo dục Ông đã chuyển đổi tâm lý học thành một ngành khoa học thực nghiệm, sử dụng các kiến thức toán học để nghiên cứu Herbart cho rằng tâm lý học thường thiên về lý thuyết hơn thực nghiệm, và ông đã nỗ lực để đưa khoa học tâm lý học gần gũi hơn với nghiên cứu thực nghiệm Ngoài ra, ông cũng đã tìm hiểu về tình cảm tôn giáo trong bối cảnh này.

Gustav Theodor Fechner (1801 - 1887) là người tiên phong trong các thí nghiệm tâm lý học, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của khoa học tâm lý hiện đại Ông tốt nghiệp ngành y tại Trường Đại học Tổng hợp Leipzig và sau đó nghiên cứu vật lý tại cùng trường Tuy nhiên, vào năm 1839, ông đã từ chức chủ nhiệm khoa do vấn đề sức khỏe và những cơn đau đớn kéo dài.

Trong suốt ba năm, ông phải đối mặt với 16 bệnh tật, điều này đã thay đổi cuộc sống của ông một cách sâu sắc Cuộc chiến với bệnh tật dẫn ông đến niềm tin tôn giáo mạnh mẽ và thúc đẩy ông nghiên cứu về linh hồn Ông tin rằng ý thức và vật chất là một thể thống nhất, và ý thức có khả năng lan tỏa đến mọi hiện tượng và sự vật trong cuộc sống Từ đó, tâm lý học tôn giáo đã trở thành một ngành khoa học độc lập, mở ra những khám phá mới về mối liên hệ giữa tâm linh và con người.

Thuyết xung đột

I Thuyết xung đột của Sigmund Freud (1856 - 1939)

1 Thuyết xung đột của Sigmund Freud có một vị trí quan trọng Bởi vì, phân tâm học, trong đó có thuyết xung đột của Freud đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hoá của thế kỷ chúng ta Freud sinh năm 1856 tại Freiberg Moravia (Áo) Ông được người mẹ trẻ (21 tuổi) chăm sóc, nuôi dưỡng với tình yêu thương lớn lao, chính bà là người tạo nên niềm tin và ý thức của cuộc đời ông Cha ổng (41 tuổi) là người gia trưởng, ông luôn rãn đe, giáo dục Freud bằng những quy tắc đạo đức. Văn hoá đạo Do Thái là điểm khởi đầu những quan điểm về tôn giáo của Freud Trong tự truyện của mình, Freud viết "cha mẹ tôi là người Do Thái và tôi tự cho mình cũng là người Do Thái" Tri thức của Freud được làm giàu thêm bởi di sản văn hoá và tục ngữ của văn hoá đạo Do-Thái Ông đã hiến dâng cho những quy tác đạo đức Do Thái này, thấm nhuần nó và sẵn sàng hy sinh cho nó Trên thực tế đạo Do Thái là nguyên nhân của sự đau khổ và mất mát đối với ông Chính Freud đã không được đ'ê bạt trong chuyên môn, bởi vì òng là người Do Thái và ông phải đối mặt với sự khủng bố chống bộ tộc Xêmít^ tại Nazis và đã phải chạy trốn khỏi London.

(1) Bộ tộc Xêmít (Semite) là nhóm các chủng tộc gôm người Do Thái và Ả Rập.

Sự hiểu biết khoa học là phương pháp tìm kiếm sự thật của Freud, phản ánh niềm đam mê khám phá của ông Sống và làm việc vào thế kỷ XIX, Freud chứng kiến cuộc xung đột giữa khoa học và các quan điểm tôn giáo đang diễn ra mạnh mẽ.

Chủ nghĩa tự nhiên nguyên sơ của ông nhấn mạnh rằng các quy luật tự nhiên là trung tâm và cơ bản Theo Freud, tôn giáo siêu nhiên chỉ là ảo giác, và các khái niệm tôn giáo phản ánh ý thức hoặc là sự hiện hình tâm lý của những nhu cầu nội tâm.

Phân tâm học, theo Freud, là học thuyết về sự xung đột trong con người, nơi mỗi cá nhân phải đối mặt với những ham muốn vô thức Ông cho rằng dục tình (libido) từ bản năng (id) có thể dẫn đến hành vi phá hoại nếu không có sự kiềm chế từ chuẩn mực xã hội và cái siêu tôi (Superego) Năm 1913, Freud xuất bản cuốn "Totem and Taboo", trong đó ông sử dụng lý thuyết "Oedipus complex" để khám phá nguồn gốc của đạo đức và tôn giáo, coi phức cảm ơđíp là căn nguyên cuối cùng của những khái niệm này.

Freud cho rằng trong các bộ lạc nguyên thủy thời tiền sử, người cha nắm quyền tối cao và quản lý tất cả phụ nữ như tài sản của mình Các con trai, chịu ảnh hưởng của phức cảm Oedipus, khao khát chia sẻ phụ nữ trong bộ tộc với cha nhưng thường bị từ chối và đuổi đi.

Phức cảm ơđíp là ham muốn tình dục vô thức của trẻ em đối với cha mẹ thuộc giới tính khác, đặc biệt là của con trai đối với mẹ và sự ghen ghét với cha Những đứa trẻ bị xua đuổi đã kết hợp lại để giết cha và ăn thịt ông, nhưng sau hành động này, chúng cảm thấy tội lỗi và hối hận Trong quá trình này, khi thỏa mãn sự ghen ghét đối với cha, chúng lại phát sinh tình cảm yêu thương, kính trọng và sùng bái cha Từ đó, sự sùng bái Tô tem được hình thành như một cách chuộc lại lỗi lầm.

Vào tuổi 27, con người thường chọn một loài động vật nào đó làm biểu tượng cho người cha, và việc giết hại loài vật này bị cấm Song song với việc tôn thờ Tôtem, họ cũng nghiêm cấm quan hệ tình dục với những người phụ nữ cùng dòng tộc Theo Freud, sự cấm kỵ này và việc tôn thờ Tôtem là nền tảng cho sự hình thành tôn giáo, xuất phát từ cảm giác tội lỗi và tâm lý hối hận.

Freud cho rằng nguồn gốc của tôn giáo xuất phát từ những xung đột nội tâm Khi trẻ em không tuân theo lệnh và khẳng định khả năng chống lại cha, chúng cảm thấy tội lỗi và cần điều chỉnh hành vi Thiếu sự hỗ trợ, trẻ sẽ cảm thấy yếu đuối và tìm kiếm sức mạnh từ người cha, người mà chúng coi là nguồn giải thoát Khi trưởng thành, nếu không kiểm soát được cuộc sống, trẻ có thể rơi vào hành vi bạo lực.

Theo Freud, tôn giáo có vai trò an ủi, không can thiệp vào các sự kiện bên ngoài, nhưng lại hỗ trợ hiệu quả cho những ước vọng sâu sắc trong tâm hồn con người.

Năm 1910, Freud nhận định rằng sự phân tích tâm lý cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa mặc cảm người cha và niềm tin vào Chúa Trời, trong đó cá nhân Chúa Trời không gì khác ngoài tâm lý sùng bái người cha.

(1) Emesr Jones - "The life and work of Sidmund Freud, III New York

Theo Freud, hình ảnh Chúa Trời phát triển từ hình ảnh Totem của người cha, tượng trưng cho sự xung đột và mặc cảm của những đứa con tội lỗi trong xã hội nguyên thủy tiền sử.

Khi nghiên cứu vê tôn giáo, Freud không những chỉ ra nguồn gốc hình thành

Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển văn hóa của nhân loại Trong cuốn sách "Tương lai hư ảo" năm 1927, tác giả đã nhấn mạnh rằng tôn giáo đã phục vụ to lớn cho văn hóa bằng cách kiềm chế và ngăn cản những bản năng cổ xưa của con người, đồng thời giúp các tín đồ vượt qua những nỗi ưu phiền của họ.

2 Thuyết xung đột của Anton Boisen

Boisen, sinh năm 1876 tại Bloomington, Indiana, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Indiana năm 1897 và giảng dạy ngôn ngữ Rôman đến năm 1903 Sau đó, ông nghiên cứu lâm nghiệp tại Đại học Yale và làm việc cho cơ quan phục vụ lâm nghiệp của Liên bang trước khi chuyển sang nghiên cứu thần học Tại Hội trường dòng thần học, ông chuyên nghiên cứu tâm lý học tôn giáo cùng George A Coe, đặc biệt là huyền bí của tôn giáo Ông làm mục sư ở nông thôn trong 5 năm và làm việc cho Hội thanh niên Cơ Đốc giáo trong Chiến tranh thế giới thứ nhất Sau khi trở về, ông tiếp tục nghiên cứu tại phong trào toàn cầu của các nhà thờ đến năm 1920 và quyết định ghi tên vào đoàn mục sư Trong thời gian chờ đợi công việc tại nhà thờ, ông viết về quan điểm và kinh nghiệm tôn giáo, nhưng do áp lực công việc, ông đã bị stress và phải nhập viện tâm thần trong 3 tuần.

(1) Freud - The Future of an Illusion - London, 1928, p.65.

Sau thời gian điều trị bệnh tâm thần, ông đã trở thành một giáo sĩ tiên phong, mang tư tưởng tôn giáo đến với bệnh nhân tại bệnh viện tâm thần Ông đặc biệt quan tâm đến việc khám phá các khía cạnh tâm lý của tôn giáo, kết hợp nghiên cứu tôn giáo với việc tìm hiểu về bệnh nhân tâm thần Từ những nghiên cứu này, ông đã rút ra giả thuyết về mối liên hệ giữa tôn giáo và sức khỏe tâm thần.

Mối quan hệ giữa bệnh nhân tâm thần nặng và tôn giáo cho thấy sự xung đột và thiếu cân bằng nội tâm Cả hai nhóm người này đều trải qua những khủng hoảng tinh thần, dẫn đến việc tìm kiếm sự an ủi và hỗ trợ từ tôn giáo Việc kết nối với đức tin có thể giúp họ tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Thuyết liên nhân cách

Người đầu tiên đóng góp vào sự phát triển tâm lý học liên nhân cách là Jacob

Lery Moreno (1892 - 1974) sinh ra tại Bucaret, Rumani, là con cả trong gia đình có 6 người con Cha ông là nhà buôn, mẹ là người nội trợ biết tiếng Tây Ban Nha và Rumani Từ năm 4 tuổi, ông được dạy Kinh thánh và bắt đầu học Kinh thánh bằng tiếng Hebrew Năm 6 tuổi, gia đình ông chuyển đến Vienna, nơi ông học tiếng Đức và theo học tại trường phổ thông, sau đó là Trường Đại học Tổng hợp Vienna Tại đây, ông nghiên cứu triết học, thần học và toán học, rồi tiếp tục nghiên cứu y học và hoàn thành luận án tiến sĩ y học vào năm 1917 Trong thời gian học y khoa, ông là trợ lý nghiên cứu tại khoa lâm sàng tâm thần học của Trường Đại học Tổng hợp Vienna Năm 1911, ông gặp Freud và tham dự các buổi giảng của ông, nhưng không theo quan điểm của Freud mà theo một hướng nghiên cứu khác.

Moreno nhận thấy rằng cuộc sống chứa đựng nhiều xung đột sâu sắc, và ông tin rằng những xung đột này thường cần được giải quyết bằng các giải pháp tôn giáo Tuy nhiên, ông chưa làm rõ cách thức mà các biện pháp tôn giáo có thể giúp giải quyết những vấn đề này.

Trong bài viết này, chúng ta khám phá 35 vấn đề liên quan đến các tập tục tôn giáo, những truyền thống được duy trì qua thời gian và được làm sâu sắc hơn nhờ vào cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Socrates Socrates cho rằng Chúa Trời được hình thành ngay từ ngày đầu tiên của sự sáng tạo, khi Chúa tạo ra một thế giới mới Theo Moreno, tính tự phát trở thành nguyên tắc cốt lõi trong hành vi sáng tạo, phản ánh động lực và sự năng động trong các hành động của con người.

Năm 1934, Moreno cho ra mắt cuốn sách "Ai là người có thể tồn tại", trong đó ông giới thiệu khái niệm "quan hệ liên nhân cách", được Robert Mac Dougall sử dụng lần đầu vào năm 1912, như một ý tưởng trung tâm trong tác phẩm của mình.

1937, ông sáng lập ra tạp chí "Trắc nghiệm xã hội: Tạp chí về quan hệ liên nhân cách".

Moreno được biết đến là một người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu trắc nghiệm xã hội, kịch tính tâm lý và trị liệu nhóm Ông đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa thuyết quan hệ liên nhân cách và tôn giáo, cho rằng "Tôn giáo đã sinh ra lý thuyết quan hệ liên nhân cách." Ông bắt đầu áp dụng trắc nghiệm xã hội, một phương pháp đo lường tâm lý và thực nghiệm về quan hệ liên nhân cách, lần đầu tiên với cộng đồng người bị trục xuất tại Mittendorf gần Vienna.

1915 - 1917 Nghiên cứu kinh điển về vấn đề quan hệ liẽn nhân cách được ồng tiến hành ở Hudson (New York), trường đào tạo các học sinh nữ, từ năm 1932 -

1936 - thời điểm mà những phạm trù khái niệm cơ bản của khoa học tâm lý đã phát triển.

Moreno là người đầu tiên nghiên cứu kịch tính tâm lý trên sân khấu tại Vienna vào năm 1921 Ông nhận ra rằng kịch tính tâm lý mang tính chất tôn giáo và cảm xúc mạnh mẽ, cho phép người biểu diễn thể hiện sự sáng tạo tự phát Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi trong các trường học, nhà thờ và bệnh viện, với sự chuẩn bị chu đáo, học các vai diễn và thực hiện cùng cá nhân cũng như nhóm một cách song song.

Trị liệu bằng nhóm, hay còn gọi là trị liệu nhóm, là một phương pháp nghiên cứu do Moreno phát triển, tập trung vào lý thuyết và thực hành ứng xử của nhóm Phương pháp này được bác sĩ Joseph H Partt giới thiệu vào đầu năm 1905 tại Boston, nhưng Moreno đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc của quan hệ nhóm.

J.L Moreno trong tác phẩm "Who Shall Survive?" (New York, 1953) đã nghiên cứu hệ liên nhân cách của các nhóm nhỏ, nhấn mạnh tầm quan trọng của các tác động tương hỗ trong nhóm như một phương pháp trị liệu bằng nhóm Ông cũng đề cập đến mối liên hệ giữa tôn giáo và cá nhân, khám phá cách mà niềm tin tôn giáo có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tương tác của con người trong các nhóm xã hội.

Thuyết tôn giáo và cá nhân do nhà tâm lý học Mỹ Paul

E Jonhson đưa ra ông là giáo sư tâm lý học và là người tư vấn cho nhà thờ của Trường Thần học thuộc Đại học Tổng hợp! Boston Ông sinh tại Connectieur. Jonhson đã được đào tạo tại Trường Đại học Cornell, Đại học Tổng hợp Chicago và Đại học Tổng hợp Boston.

Johnson has taught at several universities, including Brown University in Providence, Rhode Island, Hamline University in St Paul, Minnesota, and Morningside College in Sioux City, Iowa He is currently a faculty member at the School of Theology at Boston University.

Jonhson là một nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên về tôn giáo Ông đã công bố nhiều công trình quan trọng về tâm lý học tôn giáo, trong đó trình bày những phát hiện và kết quả nghiên cứu của mình.

"Persolality and Religion", Nashrille (1957); "Religion in Life" (1956);

"Psychology of Religion" New York (1957).

Paul E Johnson cho rằng định nghĩa tôn giáo là một nhiệm vụ khó khăn do tính phức tạp của nó Tôn giáo là một thuật ngữ có nội hàm rộng lớn nhất mà ngôn ngữ cung cấp, chứa đựng những ý tưởng phong phú nhất mà con người có thể tạo ra Vì vậy, con người cần phải nghiêm túc trong việc xác định và đánh giá các tư tưởng cũng như các hình thái của đạo.

Trong lịch sử tôn giáo, tồn tại những mâu thuẫn rõ rệt như sự tôn trọng trinh khiết và việc coi mại dâm là thiêng liêng Các giá trị như ăn chay và hội hè, cấm rượu nhưng lại khuyến khích sự vui vẻ, sống điều độ nhưng vẫn có những buổi ca hát nhảy múa Có sự đối lập giữa tín ngưỡng và sự giàu có, giữa lòng tin và sự hoài nghi, cùng với việc tìm kiếm sự cứu rỗi và sự sống trong bối cảnh xã hội Những yếu tố này tạo nên một bức tranh phức tạp và đa dạng của tôn giáo, phản ánh sự đa chiều trong niềm tin và thực hành tâm linh của con người.

M6t định nghĩa và tôn giáo học cần phải thể hiện đầy đủ mọi khía cạnh của hiện tượng xã hội này Có thể phân loại các định nghĩa về tôn giáo theo các khía cạnh cơ bản của nó Leuba đã phân chia các định nghĩa tôn giáo thành ba nhóm dựa trên các khía cạnh sau: nhận thức, tình cảm và khát vọng Ngoài ra, còn có các định nghĩa theo các khía cạnh khác như: định nghĩa theo tính xã hội và tổ chức, định nghĩa theo thần học, và định nghĩa chung trên cơ sở kết hợp quan điểm của các khía cạnh trên.

Paul E Jonhson da dira ra dinh nghTa t6ng quat v& t6n gido nhu sau^:

Tôn giáo là phản ứng đối với sự chấp nhận các giá trị, bao gồm nhiều khía cạnh và tính chất khác nhau Nó thể hiện sự phân định giữa hai thái cực, các hành động và quan điểm về quyền lực có thể điều chỉnh các giá trị Định nghĩa này cũng phản ánh tôn giáo dưới khía cạnh cảm xúc rộng rãi Sự chấp nhận có thể bao gồm việc giữ gìn hoặc phá hủy, chấp nhận hoặc từ chối, và thể hiện như sự đối thoại Sự chấp nhận có thể là cá nhân hoặc không liên quan đến con người, như quá trình từ một số người (cha mẹ) hoặc thần thánh (những người ở thế giới khác), mang tính thực tiễn khách quan hoặc siêu nhiên.

"A psychological study of region", New York, 1912.

Jonhson : "Psychology of Religion", New York, 1957.

NIÊN TIN TỒN GIÁO

SÙNG BÁI TÔN GIÁO

Ngày đăng: 03/07/2021, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Gardner Lindzey, Calvin s. Hall, Martin Manosetritz Theories of Personality - New York, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theories of Personality
Tác giả: Gardner Lindzey, Calvin S. Hall, Martin Manosetritz
Nhà XB: New York
Năm: 1973
10. Beit - HallahmiReseach in Religious behavior: selected readings Brooks/cole publishing company, California, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research in Religious Behavior: Selected Readings
Tác giả: Beit-Hallahmi
Nhà XB: Brooks/Cole Publishing Company
Năm: 1973
11. Sigmund FreudTotem and Taboo, New York, 1913.Psychoanalysis and Religion Yale University Press, New Haven and London, 1950 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Totem and Taboo
Tác giả: Sigmund Freud
Nhà XB: Yale University Press
Năm: 1913
13. Emile DurkhemThe Elementary Forms of the Religious life The Free Press, Glencoe Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Elementary Forms of the Religious Life
Tác giả: Emile Durkheim
Nhà XB: The Free Press
14. Boisen A. T.Religion in Crisis and Custom New York: Harper v& Bros, 1955 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Religion in Crisis and Custom
Tác giả: Boisen A. T
Nhà XB: Harper v& Bros
Năm: 1955
15. Clark W. HThe Psychology of Religion.New York: The Macmillan Co. 1958 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Psychology of Religion
Tác giả: Clark W. H
Nhà XB: The Macmillan Co.
Năm: 1958
16. Conklin E. S.The Psychology of Religious Adjustment New York: Tha Macmillan Co.1929 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Psychology of Religious Adjustment
Tác giả: Conklin E. S
Nhà XB: Tha Macmillan Co.
Năm: 1929
19. Johnson P. E Psychology and Religion New York, Abingdon Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychology and Religion
Tác giả: Johnson P. E
Nhà XB: Abingdon Press
21. Leuba J. H.The Belief in God and Immortality. New York, 1916. Religious belief of American Scientists,New York, 1934 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Belief in God and Immortality
Tác giả: Leuba J. H
Nhà XB: New York
Năm: 1916
22. Leuba J. HiA Psychological study of Religion, New York, 1912 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Psychological study of Religion
Tác giả: Leuba J
Nhà XB: New York
Năm: 1912
17. Heiler, Friedrich Prayer, New York, 1932 Khác
18. Johnson P. E.Personality and Religion Nashville: Abingdon Press 1957 Khác
20. Maclean A. H.The Idea of God in Protestant Religious Education New York: Teachers College, ColumbiaUniversity, 1930 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng số liệu trín của Leuba cho thấy có một tỷ lí đâng kể câc nhă khoa học được hỏi tin văo Chúa Trời - TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học   GIÁO TRÌNH tâm lý học tôn GIÁO
ua bảng số liệu trín của Leuba cho thấy có một tỷ lí đâng kể câc nhă khoa học được hỏi tin văo Chúa Trời (Trang 53)
Câc tổ chức tôn giâo rất quan tđm đến hình thức xưng tội vă đê sử dụng nó rất hiệu quả trong việc thực hiện mục đích của mình - TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học   GIÁO TRÌNH tâm lý học tôn GIÁO
c tổ chức tôn giâo rất quan tđm đến hình thức xưng tội vă đê sử dụng nó rất hiệu quả trong việc thực hiện mục đích của mình (Trang 85)
Tôtem giâo la hình thức tôn giâo quan trọng của người nguyín thủy. Khi tìm hiểu Tôtem giâo, một số nhă nghiín - TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học   GIÁO TRÌNH tâm lý học tôn GIÁO
tem giâo la hình thức tôn giâo quan trọng của người nguyín thủy. Khi tìm hiểu Tôtem giâo, một số nhă nghiín (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w