S.Freud là người sáng lập trườn phái Phân tâm học Cấu trúc: Theo ông tâm lý con người được tạo bởi ba khối: Vô thức, ý thức và siêu thức (Khối vô thức là khối bản năng, trong có bản năng tình dục giữ vị trí trung tâm). Ứng với 3 khối đó là cái ấy, tôi, siêu tôi. Sự tác động lẫn nhau giữa 3 khối này tạo nên nhân cách, nói cách khác nhân cách gồm 3. + Cái ấy là con người bản năng, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn + Cái tôi là con người của hiện thực, được hình thành do áp lực thực tại bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng. Nó bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí nhớ v.v... Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại.
Trang 11 Quan điểm của Tâm lý học phương Tây về nhân cách.
1.1 Phân tâm học
* S.Freud là người sáng lập trườn phái Phân tâm học
- Cấu trúc: Theo ông tâm lý con người được tạo bởi ba khối: Vô thức, ý thức
và siêu thức (Khối vô thức là khối bản năng, trong có bản năng tình dục giữ vị trí trung tâm)
Ứng với 3 khối đó là cái ấy, tôi, siêu tôi Sự tác động lẫn nhau giữa 3 khối này tạo nên nhân cách, nói cách khác nhân cách gồm 3
+ Cái "ấy" là con người bản năng, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn
+ Cái "tôi" là con người của hiện thực, được hình thành do áp lực thực tại bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng Nó bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí nhớ v.v Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại
+ Cái "siêu tôi": là con người xã hội, là những chế ước xã hội: đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo… Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt
Cả 3 khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối Con người lúc ấy ở trạng thái bình thường Nhưng cả 3 khối này luôn luôn xung đột với nhau, sự xung đột này là cơ chế của hoạt động tâm thần
Từ đó Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suy thoái
- Động lực: động lực của sự phát triển nhân cách là mâu thuẫn xung đột nội tâm, tuy chưa đưa ra khái niệm động cơ
- Các giai đoạn: Ông cũng là người đưa ra 5 giai đoạn phát triển nhân cách theo lứa tuổi
+ Miệng: Sơ sinh đên 1 tuổi
+ Hậu môn: 1-3
+ Dương vật: 3-5
+ Tiềm ẩn: 5-1
+ 12 (dạy thì) - trưởng thành: tình dục
=> Đóng góp to lớn của S Freud là đưa ra giả thuyết về vô thức, tiềm thức là những mặt quan trọng trong đời sống tâm lý của con người Ngày nay người ta đã
Trang 2thừa nhận vô thức là có thật trong đời sống tâm lý con người; đưa ra một số cơ chế như tự vệ, dồn nén, mặc cảm, đồng nhất hóa, giai đoạn phát triển và liên tưởng tự
do Tuy nhiên tuyệt đối hóa vô thức, sinh lý và không quan tâm gì đến yếu tố xã hội, không thấy được bản chất xã hội lịch sử của tâm lý người Con người ở đây là con người sinh vật
* Phân tâm học mới
Do hạn chế mà những người cộng tác và học trò của ông đã rời bỏ F và hình thành nên những học thuyết phân tâm học mới theo các hướng khác nhau, tiêu biểu là: K.Jung; A.Adler; Erich Fromm… Theo những hướng này, có cả yếu tố ý thức,
xã hội… song về cơ bản vẫn là phân tâm
1.2 Tâm lý học hành vi
- Cơ sở: Lý thuyết tâm lý học hành vi về nhân cách được xây dựng trên cơ sở công thức S-R, và được phản ánh chủ yếu trong các công trình nghiên cứu của Watson, Toocdai, Hall, Miler…
- Khái niệm: Nhân cách là một tập hợp các phản ứng hành vi của con người
để thích nghi với hoàn cảnh sống Là sản phẩm trung gian của quá trình kích thích
- phản ứng Đó chính là các quá trình hình thành nên hệ thống thói quen, các kỹ xảo hành vi, các mẫu hành vi đúng theo chuẩn
- Các yếu tố: Họ không phủ nhận vai trò của yếu tố bẩm sinh, di truyền nhưng tuyệt đối hóa vai trò của các yếu tố môi trường trong việc quy định sự hình thành nhân cách
- Cơ chế hình thành nhân cách: chính là công nghệ tạo ra "củng cố" để hình thành các hành vi đúng theo yêu cầu, theo mẫu chẩn đã định trước
=> Đánh giá: Mặc dù…Không có sự khác biệt giữa người và vật, không tính đến yếu tố ngôn ngữ, xã hội…
Mặt hạn chế và sai lầm của tâm lý học hành vi là ở chỗ:
- Phương pháp luận sai lầm là phủ nhận ý thức như là hình thức đặc biệt của việc điều chỉnh hành vi, đánh mất 0 chân chính
- Hành vi là đối tượng nc nhưng công thức đó là ko hợp lý
Trang 3- Quan điểm máy móc hóa, sinh vật hóa con người, Đưa con người xuống ngang với con vật
- Về mặt xã hội, thuyết hành vi đã hỗ trợ đắc lực cho các quan điểm thực chứng, thực dụng khuyến khích các nhà tư bản công nghiệp Mĩ chỉ cần chăm lo đào tạo ra một lớp người làm việc cần mẫn như một cái máy phục vụ nhiều nhất lợi ích của các tập đoàn tư bản Mĩ Những giá trị cao cả của con người như giác ngộ,
lý tưởng, các phẩm chất đạo đức đều bị gạt xuống hàng thứ yếu thậm chí bị loại
bỏ khỏi tâm lý học hành vi
1.3 Tâm lý học Gestalt
Tâm lý học Gestalt (cấu trúc, hình thái) ra đời vào năm 1913, do bộ ba các nhà tâm lý học cấu trúc người Đức tên là Wertheimer , Kohler , Koffka lập ra nhằm xây dựng một nền tâm lý học khách quan theo kiểu mẫu của vật lý học Đối tượng của tâm lý học phải nghiên cứu đó là những chỉnh thể trọn vẹn
Đây là một trường phái chuyên nghiên cứu về tri giác, ít nhiều nghiên cứu về
tư duy và có đề cập đến nhân cách Nghiên cứu về nhân cách trong G, tiêu biểu nhất là K Lewin
- Ông đưa ra thuyết "trường tâm lý"con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó Giữa chủ thể và môi trường có sự tác động qua lại thường xuyên, sự tác động tạo nên hành vi và nhân cách
- Về sau ông mở rộng khái niệm "trường tâm lý" bằng khái niệm "không gian sống" để giải thích hành vi của nhân cách - không gian sống bao gồm cả trường tâm lý
Không gian sống - đó là nhân cách và hoàn cảnh trong mối tác động qua lại lẫn nhau tạo nên hành vi trong một thời điểm nào đó Không gian sống chứa đựng con người, các mục đích con người tìm đến, các mục tiêu mà con người lẩn tránh, các giới hạn của sự vận động và con người để đạt mục đích đó
=> Đánh giá: Các khái niệm "trường tâm lý", "không gian sống" thể hiện một phương pháp mới trong nghiên cứu và miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách
Trang 4Nhu cầu, động cơ, hành vi hình thành trong không gian sống Nói cách khác nhân cách được hình thành chính trong không gian sống đó
Song lý luận về trường không gian sống cũng có những khó khăn mà không thể giải quyết được Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc của không gian sống của một con người Hoàn cảnh con người sống luôn luôn thay đổi do đó không gian sống cũng thay đổi Vì vậy, nếu dựa vào không gian sống thì khó đánh giá được nhân cách con người
Theo K Lewin nhân cách được xét trong hoàn cảnh, trong nhóm, nhưng những quy định về chính trị, kinh tế đối với hành vi nhân cách không được ông để
ý đến một cách thỏa đáng Vì vậy, lý luận nhân cách của ông không tách khỏi sự sơ lược trong quan niệm của Gestalt
1.4 Tâm lý học nhân văn
Tâm lý học nhân bản ra đời ở Mỹ như là một khuynh hướng đối lập với tâm
lý học hành vi và phân tâm học Nếu tâm lý học hành vi và phân tâm tuyệt đối hóa yếu tố môi trường, sinh vật, quan niệm con người như những chiếc máy, không phân biệt con người hay con vật thì Tâm lý học nhân văn tiếp cận nghiên cứu nhân cách một cách nhân văn hơn Trường phái này là sự tổng hợp nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau Nhưng những nhà tâm lý nhân văn đều có chung những tư tưởng là tôn trọng con người, tôn trọng giá trị sáng tạo, và trách nhiệm con người, tôn trọng các phẩm giá cá nhân con người
Tiêu biểu là Maslow - chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ
* Về nhân cách ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng nhân cách và năng lực Tất cả những yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành vi con người Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu
Theo ông có thể chia ra năm loại nhu cầu:
- Nhu cầu sinh lý: như nhu cầu thỏa mãn đói, khát, sinh dục, những nhu cầu này có tính chất bản năng, có cả ở động vật
- Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự yên ổn, trật tự và an ninh
- Nhu cầu yêu thương, nhu cầu lệ thuộc
Trang 5- Nhu cầu được thừa nhận (tự trọng); nhu cầu thành đạt, kết quả, nhu cầu về niềm tin
- Nhu cầu tự khẳng định, tự thực hiện như nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu tri thức, nhu cầu nghệ thuật
* Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loài, cũng như phát triển của cá nhân Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhu cầu đó Nếu nhu cầu cấp thấp không thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được Nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềm năng của cá nhân
* Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người bởi vì mỗi người đều có tiềm năng riêng khác nhau Có người có nhu cầu tự thực hiện trên lĩnh vực văn chương, người khác thì có nhu cầu lãnh đạo, v.v Những nhu cầu này không bị sự kiểm soát của xã hội Nhưng không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này, bởi vì còn những nhu cầu khác chưa thực hiện được
Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người Các nhu cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định Chính vì vậy, học thuyết nhu cầu của Maslow có điểm giống học thuyết S Freud
Trang 62 Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác xít về nhân cách
2.1 A.N.Leonchiev
Nhà tâm lý học Nga kiệt xuất đã từng giữ chức Phó chủ tịch hội Tâm lý thế giới Ông đã đưa ra lý thuyết hoạt động để giải quyết vấn đề tâm lý học, được giới tâm lý học đánh giá cao Về mặt nhân cách ông cũng có những quan điểm mới mẻ
- A.N Leonchiev coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó
Nó là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể của con người Nó
là kết quả của quá trình chín muồi của những nét bẩm sinh dưới tác động của môi trường xã hội Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống
- Hoạt động là cơ sở của nhân cách
Ông cho rằng muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích.Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự phát triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhân cách đó với những người khác
Nền tảng của nhân cách là sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân vơi thế giới.Trong mối quan hệ này con người phải hoạt động bao gồm hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn
- Nhu cầu và động cơ:
Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động
A N Leonchiev chia ra 2 loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích -Động cơ tạo ý gắn liền với nhân cách
- Cấu trúc của nhân cách là một chỉnh thể tương đối ổn định bao hàm trong mình một hệ thống thứ bậc các động cơ chủ yếu
Các tiểu cấu trúc của nhân cách bao gồm: tính khí (khí chất), nhu cầu, ý hướng, rung cảm và hứng thú, tâm thể, kỹ xảo, thói quen, phẩm chất đạo đức
- Hình thành nhân cách là một quá trình giáo dục có định hướng và tương ứng với quá trình giáo dục đó là hành động chủ thể
Trang 7Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tự thay thế nhau, làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này Trước hết, đó là
sự cải tổ phạm vi quan hệ với những người khác, với xã hội và kèm theo đó là sự cải tổ thứ bậc động cơ Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêng không trùng khớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cơ thể Con người trở thành nhân cách khi là chủ thể của các mối quan hệ nhân cách
=> Đánh giá: Trung tâm trong quan niệm này cho rằng hoạt động là cơ sở của nhân cách Vì vậy, phải lấy hoạt động để phân tích, kiến giải hiện tượng nhân cách Khi phân tích nhân cách phải kể đến động cơ, nhu cầu, mục đích và hành động của
cá nhân trong hoạt động…Quan điểm của A N Lêonchiep về nhân cách và sự hình thành nhân cách có một ảnh hưởng rất lớn và được thể hiện rõ trong ứng dụng nghiên cứu nhân cách Đây là hướng tiếp cận… Đảng và nhà nước ta…
2.2 X.L Rubinstein
- Nhân cách là cá nhân cụ thể lịch sử sinh sống gắn với quan hệ thực tế trong thế giới hiện thực
Nhân cách ở đây được hiểu là các đặc điểm cá thể riêng từng người Rubinstêin coi nhân cách là bộ máy điều chỉnh toàn bộ hệ thống thân thể con người nói chung, gắn liền với khái niệm đường đời Nhân cách cũng được hiểu là khả năng con người điều khiển các quá trình hay thuộc tính tâm lý của bản thân, hướng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho bản thân Từ đó muốn hiểu nhân cách là gì phải xem con người mang nhân cách ấy có xu hướng gì, có khả năng đáp ứng mong muốn đó không
X.L.Rubinstein khẳng định: con người chỉ là nhân cách khi có ý thức xác định các quan hệ đối với môi trường của mình, khi có một diện mạo riêng
- Cấu trúc: Gồm ý thức của chủ thể và các thái độ: thái độ đối với thế giới xung quanh, thái độ đối với người khác và thái độ đối với bản thân Cụ thể là những thành phần: hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách
Vì vậy, ông cho rằng, nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách, nghiên cứu “cái tôi” như là chủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có trách nhiệm của bản thân đối với tất cả các sản phẩm vật chất mà mình tạo ra
Trang 8- Ru đi từ các phạm trù tinh thần, ý thức, chủ thể… đến phạm trù nhân cách, coi nhân cách là các trải nghiệm và đi vào vấn đề hình thành, phát triển nhân cách trong hoạt động Rubinstein đã nhấn mạnh tính chất sđặc thù của riêng từng nhân cách, nói lên xu hướng riêng của người ấy, bao gồm ý hướng, ý muốn của từng người, năng lực của từng người, bản tính của nó
=> Đánh giá: là người có ảnh hưởng rất lớn đến nền TLHMX…
2.3 B.G Ananhiep
B G Ananiev là nhà tâm lý học xuất sắc của Liên Xô đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển tâm lý học
- B.G.Ananhiep đã xuất phát từ những khái niệm cá thể, chủ thể, khách thể, hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách Ông cho rằng nhân cách là cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng bước tiến lịch sử Nhân cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử
Vì thế việc nghiên cứu nhân cách phải nghiên cứu lịch sử cá nhân Con đường cơ bản của việc nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tính chất lịch sử, tính chất xã hội, tính chất tâm lý - xã hội của nhân cách Sự phong phú của mối quan hệ
xã hội của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách
- Cấu trúc nhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạt động trong mối quan hệ xã hội Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc: Nguyên tắc thứ bậc và nguyên tắc phối hợp Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc điểm xã hội chung nhất quy định những đặc điểm tâm sinh lý Nguyên tắc phối hợp là sự tác động qua lại giữa các thành phần độc lập tương đối và thành phần phụ thuộc
- Theo B.G.Ananhiep, để nghiên cứu con người với tư cách là nhân cách phải nghiên cứu xu hướng, tính cách, hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúc nhân cách, vị thế nhân cách, con đường sống của nhân cách trong xã hội Điều này đòi hỏi các nhà khoa học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, đạo đức học phải quan tâm nghiên cứu
Trang 9- Ananhiep coi con người là tiểu vũ trụ Điều này rất tương đồng với quan niệm phương Đông về con người Con người là tinh hoa của vũ trụ, trong con người có đại diện của quy luật vũ trụ
Luận điểm nghiên cứu nhân cách là tổng hợp các khoa học nghiên cứu về con người là một đóng góp quan trọng trong việc chỉ hướng nghiên cứu nhân cách Nghiên cứu nhân cách không tách rời việc nghiên cứu con người và các khoa học khác nghiên cứu về con người
2.4 K.K Platonov
K.K Platonov là nhà tâm lý học nổi tiếng ở Liên Xô (cũ) Về tâm lý học ông
có những đóng góp xuất sắc
- Về khái niệm nhân cách: Trên cơ sở nhận xét và phê phán các định nghĩa về nhân cách ông đưa ra định nghĩa nhân cách như sau: "Nhân cách đó là một con người cụ thể như là một chủ thể cải tạo thế giới trên cơ sở nhận thức, thể nghiệm thế giới, trên cơ sở quan hệ với thế giới đó" Ta có thể diễn đạt tư tưởng đó ngắn gọn hơn, "Nhân cách đó là con người mang ý thức"
Ý thức không phải là một thực thể thụ động mà là một hình thức phản ánh bậc cao chỉ có ở người Đứa trẻ mới ra đời chưa có ý thức và chưa có nhân cách Nhân cách sẽ hình thành trong giao tiếp với người khác Ông cho rằng không thể xác định được lúc nào thì con người hình thành nhân cách
- Phân loại: Có nhân cách tiến bộ và nhân cách phản động, nhân cách lành mạnh và nhân cách ốm yếu
- Cấu trúc: Ông đưa ra cấu trúc tâm lý chức năng cơ động của nhân cách gồm bốn tiểu cấu trúc:
+ Tiểu cấu trúc thứ nhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…) + Tiểu cấu trúc 2 là kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) do GD + Tiểu cấu trúc thứ 3 cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trình tâm lý, do luyện tập + Tiểu cấu trúc thứ 4 là các thuộc tính sinh học quy đinh nhân cách (khí chất giới tính, lứa tuổi, bệnh lý…)
Ngoài 4 cấu trúc nhỏ trên còn có 2 cấu trúc nằm trên 4 cấu trúc đó là tính cách và năng lực Cấu trúc này có tính cơ động vì nó không cố định ở một nhân
Trang 10cách cụ thể, nó thay đổi từ lúc đứa trẻ có nhân cách đến chế Tính cách cũng như năng lực là tổng hoà các thuộc tính cá nhân trong 4 tiểu cấu trúc Tính cách và năng lực cá nhân tương hỗ với nhau Trong một mức độ nào đó, năng lực biểu hiện
ra và trở thành tính cách
=> Tóm lại, với việc đưa ra đưa ra hệ thống cấu trúc chức năng cơ động là một đóng góp mới, làm nền tảng để giải quyết những vấn đề nhân cách