Quyền được thông tin là quyền cơ bản của người tiêu dùng, đây cũng là chủ đề xuyên suốt nhằm hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Thế giới tại Việt Nam. Quyền được thông tin của người tiêu dùng có nghĩa là người tiêu dùng có quyền được thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, cũng như nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ , nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch. Bởi thực tiễn cấp thiết trên nên tôi quyết định chọn đề bốn : “ Thực trạng pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức cá nhân đối với người tiêu dùng tại Việt Nam”.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN
MÔN:
Luật cạnh tranh và bảo vệ
người tiêu dùng
ĐỀ BÀI 04
Mã số sinh viên : Nhóm :
Hà Nội, 2021
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1
I I.Một số định nghĩa liên quan về “trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ
chức cá nhân đối với người tiêu dùng tại Việt Nam” 1
II Khái quát về “trách nhiệm cuả tổ chức cá nhân cung cấp thông tin hang hóa
dịch vụ đối với người tiêu dùng” .2
III Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh
doanh với người tiêu dùng ở Việt Nam 3
IV IV Xử phạt trong việc vi phạm trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện
của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng 8
V Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá
nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng Việt Nam 15
KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
Quyền được thông tin là quyền cơ bản của người tiêu dùng, đây cũng là chủ
đề xuyên suốt nhằm hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Thế giới tại Việt Nam
Quyền được thông tin của người tiêu dùng có nghĩa là người tiêu dùng có quyền được thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, cũng như nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ , nguồn gốc, xuất
xứ hàng hóa, được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch Bởi thực tiễn cấp thiết trên nên tôi quyết định chọn đề bốn : “ Thực trạng pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức cá nhân đối với người tiêu dùng tại Việt Nam”
NỘI DUNG
I.Một số định nghĩa liên quan về “trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức cá nhân đối với người tiêu dùng tại Việt Nam”
1 Tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là ai?
Theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm:
Thương nhân theo quy định của Luật thương mại Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và
có đăng ký kinh doanh
Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh
Trang 42 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
1 Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật
2 Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ
3 Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa
4 Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa
5 Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành
6 Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch
3.Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch
vụ cho người tiêu dùng
3.1 Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thông qua bên thứ ba thì bên thứ ba có trách nhiệm:
Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp;
Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp chứng
cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ;
Chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ, trừ trường hợp chứng minh đã thực hiện tất cả các
Trang 5biện pháp theo quy định của pháp luật để kiểm tra tính chính xác, đầy
đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ;
Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo 3.2 Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thông qua phương tiện truyền thông thì chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông có trách nhiệm:
Thực hiện đầy đủ quy định của bên thứ ba;
Xây dựng, phát triển giải pháp kỹ thuật ngăn chặn việc phương tiện, dịch
vụ do mình quản lý bị sử dụng vào mục đích quấy rối người tiêu dùng;
Từ chối cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý nếu việc sử dụng có khả năng dẫn đến quấy rối người tiêu dùng;
Ngừng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý để thực hiện hành vi quấy rối người tiêu dùng theo yêu cầu của người tiêu dùng hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
II Khái quát về “trách nhiệm cuả tổ chức cá nhân cung cấp thông tin hang hóa dịch vụ đối với người tiêu dùng”
1 Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ kinh
tế học, người tiêu dùng là khái niệm dùng để chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế Trải qua các thời kỳ, hầu hết các quốc gia trên thế giới nhận thấy rằng người tiêu dùng tuy là đối tượng hướng tới của hoạt động sản xuất kinh doanh, là lực lượng chiếm số đông, giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế Tuy nhiên, người tiêu dùng lại là đối tượng yếu thế hơn so với thương nhân do trình độ chuyên môn của họ không đủ để nhận biết chất lượng sản phẩm, chỉ dựa trên thông tin một chiều mà doanh nghiệp cung cấp, và do vậy
Trang 6phần lớn người tiêu dùng có khả năng đàm phán đối với từng lĩnh vực, từng loại sản phẩm cụ thể là không cao Do vậy, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đặt ra các quy định nhằm bảo vệ người tiêu dùng Người tiêu dùng sẽ được bảo vệ, bảo đảm một cách tối đa, có những đặc quyền, đặc lợi mà chỉ họ mới có Do đó, khái niệm về người tiêu dùng được Việt Nam ghi nhận dưới góc độ pháp lý tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng 2010: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức” Việc
xác định đối tượng được bảo vệ theo luật bảo vệ người tiêu dùng không chỉ là vấn đề lý luận mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật bởi người tiêu dùng được hưởng sử ưu tiên hơn so với những chủ thể luật dân
sự khác trong giao dịch cũng như trong giải quyết tranh chấp
2 Định nghĩa trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng Việt Nam
Người tiêu dùng khi mua, sử dụng một hàng hóa, dịch vụ đều mong muốn hàng hóa, dịch vụ đó đảm bảo chất lượng theo như yêu cầu của mình Tuy nhiên, không phải lúc nào hàng hóa, dịch vụ cũng đáp ứng đủ các điều kiện, yêu cầu, tiêu chuẩn như các bên đã giao kết với nhau, một số hàng hóa, dịch vụ khi
đã được chuyển qua cho người tiêu dùng sẽ phát sinh những sự cố, khiếm khuyết ảnh hưởng đến công dụng, tính năng của loại hàng hóa, dịch vụ đó, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sử dụng của người tiêu dùng Trách nhiệm bảo hành ra đời bảo đảm trong trường hợp có khiếm khuyết, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải có trách nhiệm sửa chữa, khắc phục những khiếm khuyết nhằm đảm bảo chất lượng của hàng hóa đúng như thỏa thuận của các bên Do
vậy, trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện là trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân kinh doanh trong việc sửa chữa, thay thế hoặc hoàn trả hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đối với người tiêu dùng trong trường hợp hàng hóa,
Trang 7linh kiện, phụ kiện đó được các bên thỏa thuận bảo hành hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật.
III Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân
kinh doanh với người tiêu dùng ở Việt Nam.
1.Cơ sở phát sinh trách nhiệm bảo hành
Cơ sở phát sinh trách nhiệm bảo hành là do thỏa thuận của các bên hoặc do pháp luật có quy định bắt buộc bảo hành trong những trường hợp nhất định, và không phải trong mọi trường hợp, cá nhân, tổ chức kinh doanh phải thực hiện việc bảo hành đối với loại hàng hóa mà mình kinh doanh Trách nhiệm bảo hành đối với hàng hóa, linh kiện, phụ kiện của cá nhân, tổ chức kinh doanh chỉ phát sinh khi giữa cá nhân, tổ chức kinh doanh và người tiêu dùng có thỏa thuận Hai bên có thể thỏa thuận điều kiện, phương thức, cách thức bảo hành cho hàng hóa, linh kiện, phụ kiện phù hợp với khả năng, điều kiện kinh doanh của bên là cá nhân, tổ chức kinh doanh Nếu tổ chức, cá nhân kinh doanh đã xác định và thỏa thuận về chế độ bảo hành với người tiêu dùng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hành đó Cũng có nghĩa là nếu tổ chức, cá nhân kinh doanh không có thỏa thuận, cam kết bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện thì không phải bảo hành Ngoại trừ có một số trường hợp mặc dù tổ chức, cá nhân kinh doanh không có thỏa thuận về chế độ bảo hành nhưng pháp luật quy định hàng hóa, linh kiện đó phải được bảo hành thì bắt buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh phải có trách nhiệm bảo hành với hàng hóa, linh kiện đó Nhìn chung, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không quy định trách nhiệm bảo hành là trách nhiệm bắt buộc của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong mọi trường hợp, việc bảo hành có thể do các bên tự thỏa thuận với nhau Trên thực tế, bảo hành là một trong những hình thức thu hút người tiêu dùng mà tổ chức, cá nhân kinh doanh áp dụng Tùy vào chiến lược kinh doanh của mình, các tổ chức, cá nhân đưa ra thời hạn bảo hành, phương thức
Trang 8bảo hành cũng như nội dung bảo hành không chỉ nhằm bảo vệ thương hiệu, uy tín của mình mà còn để cạnh tranh với các đổi thủ khác trên thị trường Người tiêu dùng cũng xem chế độ bảo hành là một trong những căn cứ để quyết định mua hàng, do vậy họ có quyền tự do trong lựa chọn sản phẩm cũng như phương thức bảo hành thuận tiện, phù hợp với mình Do đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không quy định về trách nhiệm bảo hành là trách nhiệm bắt buộc mà mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện Tuy nhiên, để đảm bảo việc bảo hành (trong trường hợp do các bên thỏa thuận việc bảo hành) được thực hiện một cách đầy đủ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì pháp luật cần phải có những can thiệp để điều chỉnh hoạt động bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Ngoài ra, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn quy định bảo hành hàng hóa, linh kiện có thể là trách nhiệm bắt buộc của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo quy định của pháp luật
2 Phạm vi trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Trách nhiệm bảo hành thông thường chỉ áp dụng đối với hàng hóa, linh kiện, phụ kiện (hàng hóa hữu hình) Nguyên nhân để tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành này là do hàng hóa có những khuyết tật, khiếm khuyết ảnh hưởng đến công dụng, mục đích sử dụng của hàng hóa Do vậy, tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm sửa chữa, phục hồi hàng hóa đó Do vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 chỉ giới hạn trách nhiệm bảo hành cho người tiêu dùng đối với hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mà không quy định về bảo hành đối với dịch vụ
Trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng
ở Việt Nam
Trang 9Hiện nay, pháp luật có một số văn bản quy định về các loại hàng hóa bắt buộc bảo hành Chẳng hạn, Thông tư 43/2011/TT-BGTVT ngày 09/06/2011 của
Bộ Giao thông vận tải quy định về bảo hành, bảo dưỡng xe ô tô của thương nhân nhập khẩu xe ô tô Theo đó, đối với xe ô tô nhập khẩu không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 1 thông tư này là những loại ô tô mà pháp luật bắt buộc phải bảo hành Thông tư cũng quy định thương nhân nhập khẩu phải công bố tài liệu về chế độ bảo hành, bảo dưỡng xe ô tô cho người mua, trong đó ghi rõ chế
độ bảo hành, bảo dưỡng xe, địa chỉ các cơ sở bảo hành và đản bảo cung cấp dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng cho từng loại xe ô tô bán ra thị trường (Điều 3 Thông tư 43/2011/TT-BGTVT) Ngoài ra, tại Quyết định số 1288/QĐ-TCHQ ngày 26/04/2019 của Tổng cục hải quan về việc ban hành quy định về quản lý
kỹ thuật và quản lý, sử dụng phương tiện thủy ngành hải quan cũng quy định về chế độ bảo hành, bảo trì tàu thuyền tại khoản 2 Điều 9 như sau:
Đơn vị trực tiếp quản lý tàu thuyền thông báo tới đơn vị mua sắm tàu thuyền để đơn vị mua sắm yêu cầu nhà cung cấp thực hiện nghĩa vụ bảo hành, bảo trì theo đúng hợp đồng đã ký kết hoặc chủ động yêu cầu nhà cung cấp thực hiện (áp dụng khi hợp đồng mua sắm tàu thuyền còn trong thời hạn phải bảo hành);
Đơn vị trực tiếp quản lý tàu thuyền yêu cầu nhà cung cấp thực hiện nghĩa vụ bảo hành, bảo trì theo đúng hợp đồng đã ký kết hoặc chủ động yêu cầu nhà cung cấp thực hiện (áp dụng khi đơn vị trực tiếp quản lý mua sắm tàu thuyền);
Trường hợp nhà cung cấp chậm bảo hành, bảo trì hoặc không có lí
do chính đáng hoặc do nguyên nhân bất khả kháng theo quy định trong hợp đồng, đơn vị mua sắm tàu thuyền/ đơn vị trực tiếp quản
lý tàu thuyền (áp dụng khi đơn vị trực tiếp quản lý mua sắm tàu thuyền, phải sử dụng các quyền ghi trong hợp đồng để yêu cầu nhà cung cấp thực hiện hoặc phạt vi phạm hợp đồng
Trang 10Tại Điều 85 Luật Nhà ở 2014, bảo hành được quy định là trách nhiệm bắt buộc của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng như sau:
Tổ chức, cá nhân thi công xây dựng nhà ở phải bảo hành nhà ở theo quy định của pháp luật về xây dựng; tổ chức, cá nhân cung ứng thiết bị nhà ở phải bảo hành thiết bị theo thời hạn do nhà sản xuất quy định
Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê mua thì bên bán, bên cho thuê mua nhà ở có trách nhiệm bảo hành nhà ở theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này Bên bán, bên cho thuê mua nhà ở có quyền yêu cầu tổ chức,
cá nhân thi công xây dựng, cung ứng thiết bị thực hiện trách nhiệm bảo hành theo quy định của pháp luật
Nhà ở được bảo hành kể từ khi hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng với thời hạn như sau:
a) Đối với nhà chung cư thì tối thiểu là 60 tháng;
b) Đối với nhà ở riêng lẻ thì tối thiểu là 24 tháng
Nội dung bảo hành nhà ở bao gồm sửa chữa, khắc phục các hư hỏng khung, cột, dầm, sàn, tường, trần, mái, sân thượng, cầu thang bộ, các phần ốp, lát, trát,
hệ thống cung cấp chất đốt, hệ thống cấp điện sinh hoạt, cấp điện chiếu sáng, bể nước và hệ thống cấp nước sinh hoạt, bể phốt và hệ thống thoát nước thải, chất thải sinh hoạt, khắc phục các trường hợp nghiêng, lún, nứt, sụt nhà ở và các nội dung khác theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở Đối với các thiết bị khác gắn với nhà ở thì bên bán, bên cho thuê mua nhà ở thực hiện bảo hành sửa chữa, thay thế theo thời hạn quy định của nhà sản xuất
3 Quy định về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh với
người tiêu dùng ở Việt Nam.
Để bảo vệ quyền của người tiêu dùng và ràng buộc trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010 đã quy định tại Điều 21:
Trang 11“Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm:
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do mình
cung cấp;
Cung cấp cho người tiêu dùng giấy tiếp nhận bảo hành, trong đó ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào thời hạn bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì thời hạn bảo hành linh kiện, phụ kiện hoặc hàng hóa đó được tính từ thời điểm thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới;
Cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời hoặc có hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành;
Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa được hoặc không khắc phục được lỗi
Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi;
Chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đến nơi bảo hành và từ nơi bảo hành đến nơi cư trú của người tiêu dùng;