1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn

90 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 690,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự cho thấy, hiện nay các cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh nói chu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Sỹ Sơn Các số liệu, ví dụ nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào Các thông tin và tài liệu trích dẫn trong Luận văn được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Cao Thị Thới

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CÁC CƠ SỞ CỦA ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 6

1.1 Cơ sở lý luận của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 6 1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 18 1.3 Cơ sở thực tiễn của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 35

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI TỈNH LONG AN 39

2.1 Khái quát tình hình xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Long An 39 2.2 Thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Long An 40

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 63

3.1 Các yêu cầu của định tội danh đúng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 63 3.2 Các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 66

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Số liệu phản ánh tình hình khởi tố, truy tố, xét xử tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2014-2018

Bảng 2.2 Thống kê số các tội xâm phạm sở hữu mang tính chiếm đoạt trên địa bàn

tỉnh Long An từ năm 2014-2018

Bảng 2.3 So sánh tỉ lệ các tội xâm phạm sở hữu mang tính chiếm đoạt với tội lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2014-2018

Bảng 2.4 Số liệu phản ánh tình hình trả hồ sơ điều tra bổ sung tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2014-2018

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự cho thấy, hiện nay các cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh nói chung nhất là các tội xâm phạm sở hữu nói riêng như tội cướp tài sản; tội cướp giật tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (viết tắt LDTNCĐTS) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản…Có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng có sự nhầm lẫn giữa các tội danh này với nhau hay trường hợp phạm nhiều tội nhưng lại định tội danh là một tội, hoặc không xác định được có sự chuyển hóa tội danh từ các tội chiếm đoạt tài sản sang tội cướp tài sản Từ đó, dẫn đến việc oan sai, bỏ lọt người phạm tội, áp dụng mức hình phạt, loại hình phạt không đúng, gây dư luận không tốt, giảm uy tín các cơ quan bảo vệ pháp luật và giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Tỉnh Long An là tỉnh nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cận kề với Tp Hồ Chí Minh, có vai trò đặc biệt quan Với những thuận lợi đã đạt được, thì tình hình tội phạm không ngừng gia tăng, đặc biệt

là các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội LDTNCĐTS Nhiều năm qua, công tác khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án này tại tỉnh Long An cho thấy về cơ bản việc định tội danh được thực hiện tương đối chính xác nhưng vẫn có một số trường hợp giữa CQĐT, VKSND và TAND trong quá trình giải quyết vụ án xuất hiện quan điểm khác nhau về định tội danh dẫn đến có vụ án phải trả hồ sơ nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết và ảnh hưởng đến nhiều đối tượng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đặc biệt từ chính hoạt động của các chủ thể định tội danh do chưa nắm vững và nhận thức đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung và định tội danh tội LDTNCĐTS Từ những thực trạng nêu trên cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động định tội danh tội phạm Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đảm bảo định tội danh đúng tội phạm trong thực tiễn để hạn chế đến mức tối thiểu tình trạng không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội nhằm đảm bảo quyền con người

Trang 8

trong TTHS, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như phù hợp với yêu cầu cải

cách của nền tư pháp nước ta hiện nay đã đặt ra Chính vì những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài“Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An” làm đề tài luận văn nhằm góp

phần làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý cho việc định tội danh tội LDTNCĐTS được

áp dụng trong thực tiễn cho thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác giả đã được đề cập và công bố như: Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lý luận chung về định tội danh, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Tập 2, NXB Tp Hồ Chí Minh; Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội…Ngoài ra, còn có các Luận văn Thạc

sĩ Luật học của nhiều tác giả liên quan đến vấn đề định tội danh nói chung và định tội danh tội LDTNCĐTS theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn

của nhiều tỉnh, thành phố của cả nước như: Hoàng Thị Kim Chi (2017) Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thiện Tâm (2019) Định tội danh

từ thực tiễn huyện Cần Đước, tỉnh Long An; Đặng Xuân Sơn (2017) Định tội danh Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa Những công trình nghiên cứu, các bài viết, đề tài khoa học nêu trên

đều có giá trị về mặt lý luận khoa học và thực tiễn nhưng một số nội dung các đề tài chỉ hướng đến việc phân tích, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tội phạm LDTNCĐTS trong mối quan hệ tách biệt hoàn toàn với những kiến thức lý luận về định tội danh Mặc dù, có rất nhiều công trình nghiên cứu về định tội danh nói chung và định tội danh tội LDTNCĐTS nói riêng Tuy nhiên, tác giả cho rằng một

số công trình nghiên cứu cách đây khá lâu nên không còn phù hợp với tình hình tội phạm nước ta hiện nay về mặt giá trị lý luận và thực tiễn Ngoài ra, BLHS năm

Trang 9

2015 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trong đó những quy định

về phần chung cũng như phần các tội phạm có nhiều sửa đổi, bổ sung so với quy định trong BLHS năm 1999 nhưng chưa có công trình, đề tài nghiên cứu nào xem xét vấn đề định tội danh tội LDTNCĐTS ở góc độ hoàn chỉnh, toàn diện từ tỉnh Long An Những giá trị lý luận và thực tiễn của những công trình, kết quả nghiên cứu đã công bố là một trong những nguồn tài liệu quan trọng mà tác giả có thể vận dụng, tham khảo để hoàn thiện cho luận văn cuối khóa của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích những vấn đề lý luận về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;

Phân tích những quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;

Phân tích, đánh giá thực trạng định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Long An;

Đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu quan điểm khoa học, các quy định của BLHS Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và thực tiễn định tội danh tội này trên địa bàn tỉnh Long An nhằm tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong định tội danh tội LDTNCĐTS, đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội LDTNCĐTS ở nước ta

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự Về mặt thực tiễn, đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp số liệu xét xử các vụ án LDTNCĐTS của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Long An trong thời gian 05 năm từ năm 2014 đến 2018 Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp cho việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động định tội danh tội LDTNCĐTS đảm bảo được tính chính xác, độ tin cậy cao và từ đó đưa ra một số giải pháp bảo đảm cho việc định tội danh nêu trên một cách có hiệu quả nhất trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tội phạm, về hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm, về cải cách tư pháp…

Đồng thời, đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác nhau như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu điển hình nhằm làm rõ nội dung các vấn đề cần trình bày nêu trên và đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng định tội danh về tội phạm này trên địa bàn tỉnh Long An một cách có hiệu quả nhất

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu đề tài luận văn sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận có liên quan đến hoạt động định tội danh tội LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng và cho cả nước nói chung Ngoài ra, việc nghiên cứu của luận văn còn có ý nghĩa rất lớn, có thể được vận dụng như một tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy đối với các cán bộ công tác thực tiễn, đặc biệt là cán bộ làm công tác xét xử sẽ giúp ích một phần nào cho việc vận dụng vào quá trình giải quyết các vụ án đã và đang xảy ra trong thực tế

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và được kết cấu gồm ba chương

Trang 11

Chương 1 Các cơ sở của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản;

Chương 2 Thực trạng định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản tại tỉnh Long An;

Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trang 12

Chương 1 CÁC CƠ SỞ CỦA ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM

ĐOẠT TÀI SẢN 1.1 Cơ sở lý luận của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.1.1 Khái niệm định tội danh

Theo khoa học luật hình sự, BLHS là văn bản pháp lý duy nhất quy định về tội phạm và hình phạt Chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS với tên gọi cụ thể mới được xem là tội phạm và phải chịu hình phạt Có thể xác định định tội là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra với các dấu hiệu tương ứng trong quy phạm PLHS sẽ trở thành khuôn mẫu pháp lý làm cơ sở cho người tiến hành tố tụng để có thể so sánh, đối chiếu với những hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trên thực tế, từ đó xác định được người phạm tội đã phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của BLHS Tuy nhiên, khái niệm và đặc điểm định tội danh, chưa được quy định trong phần chung của BLHS năm 2015 Hiện nay, các luật gia, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về định tội danh:

Quan điểm khác cho rằng“Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình

sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định,nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp

lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [9, tr.716]

Trang 13

Theo quan điểm nêu trên, thì định tội danh trước hết là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, có nghĩa là khi tiến hành định tội danh phải tuân theo các quy luật nhận thức nhất định, là hoạt động thực tiễn ADPLHS, hoạt động này là do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo quy định và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự được thu thập theo đúng quy định của PLTTHS, để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do LHS quy định nhằm đạt được sự thật khách quan

Từ khái niệm chung này, cần nêu khái niệm định tội danh tội LDTNCĐTS Hoạt động định tội danh nói chung và định tội danh tội LDTNCĐTS nói riêng là tổng hợp các quy định của PLHS và pháp luật TTHS nhằm đảm bảo cho việc xác định chính xác hành vi của người phạm tội thỏa mãn CTTP quy định tại Điều, Khoản nào của BLHS, là cách thức mà các chủ thể lựa chọn các quy phạm tương ứng để điều chỉnh hành vi cũng như các quy định của pháp luật TTHS về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cần áp dụng để việc truy cứu TNHS người phạm tội được tiến hành nhanh chóng, chính xác, khách quan Tội LDTNCĐTS là một trong những tội phạm khá phổ biến và xảy ra trong thực tiễn cuộc sống nhất là trong lĩnh vực dân sự và được PLHS qua các thời kỳ xác định là tội phạm bằng nhiều quy định khác nhau Khi chưa có BLHS năm 1985 thì việc xử lý tội phạm LDTNCĐTS được thực hiện thông qua các văn bản pháp luật riêng lẻ được Nhà nước ban hành, điển hình là hai Pháp lệnh được ban hành năm 1970 gồm Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân Thời điểm này, tội LDTNCĐTS được xác định là hành

vi“bội tín” cho đến khi BLHS Việt Nam đầu tiên được ban hành năm 1985 đã quy

định về tội danh này mới được sửa đổi và thống nhất với tên gọi là tội LDTNCĐTS nhưng có sự tách biệt ở hai điều luật cụ thể tương ứng với các hình thức sở hữu tài sản và được Nhà nước ưu tiên bảo vệ ở các mức độ khác nhau mức hình phạt áp dụng với quy định về tội LDTNCĐTS của Nhà nước nặng hơn so với quy định hình phạt áp dụng hành vi phạm tội LDTNCĐTS của công dân Đến khi BLHS năm

Trang 14

1999 có hiệu lực quy định tại Điều 140 đã đánh dấu cột mốc quan trọng quy định thống nhất hành vi của người phạm tội LDTNCĐTS của công dân, của Nhà nước trong một tội danh Trước yêu cầu đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế, Quốc hội đã ban hành luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 theo hướng quy định nâng cao giá trị định lượng đối với tài sản bị chiếm đoạt từ một triệu đồng lên mức bốn triệu đồng Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế – xã hội nên BLHS năm 2015

ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp

Tội LDTNCĐTS được thực hiện bằng những hành vi cụ thể, bao gồm: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và

đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” Tuy nhiên, muốn đảm bảo tính chính xác khi xây dựng khái niệm về tội

LDTNCĐTS cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa quy định về tội phạm nói chung tại Khoản 1 Điều 8 BLHS và Điều 175 BLHS năm 2015 Khoản 1 Điều 8 BLHS năm

2015 quy định “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá…”[29, tr.13] Đây là khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh về mặt khoa học, nội

dung cũng như hình thức, thể hiện đầy đủ các đặc trưng của tội phạm, là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về CTTP với từng tội danh cụ thể Hiện nay hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận hành vi LDTNCĐTS trong BLHS cũng giống như ở nước ta là quy định hình phạt tương ứng với hành vi này ở các mức độ khác nhau như: BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

không ghi nhận trực tiếp về tội phạm này nhưng tại Điều 270 quy định “Người nào chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác được người đó nhờ bảo quản với số lượng tương đối lớn và không chịu hoàn trả người đó thì bị phạt ” [16, tr.172]

Trang 15

Theo Đề cương bài giảng luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học An ninh nhân

dân định nghĩa“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt toàn

bộ hay một phần tài sản được giao trên cơ sở hợp đồng đã được giao kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt” [46, tr.120] Theo bình luận khoa học

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của TS Trần Văn Biên và TS Đinh

Thế Hưng đưa ra định nghĩa“ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc, đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” [4, tr.226]; hay theo bình

luận khoa học phần chung BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của luật

gia Nguyễn Ngọc Điệp biên soạn khái niệm“ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn

để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” [15, tr.121]

Tóm lại, theo quan điểm tác giả cho rằng khái niệm“tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc đến thời hạn trả lại mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”

Khi chúng ta nêu được khái niệm tội LDTNCĐTS có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu và tiếp cận các vấn đề có liên quan đến việc định tội danh đối với tội phạm này ở phần sau, góp phần làm rõ về mặt lý luận trong việc định tội danh đối với tội phạm này ở nhiều phương diện khác nhau mà đặc biệt góp phần làm rõ

về các yếu tố CTTP này

Trang 16

1.1.1.2 Đặc điểm của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trước hết, định tội danh tội LDTNCĐTS được tiến hành bởi những chủ thể

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, là hoạt động có tính logic được tiến hành bởi các cơ quan có tiến hành tố tụng gồm CQĐT, VKS, TA và một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thông qua những người tiến hành tố tụng thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ được quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2015 Các chủ thể này ngoài việc được trang bị vốn kiến thức nhất định về pháp luật còn được phép sử dụng tất cả các công cụ cần thiết cũng như biện pháp nghiệp vụ mà pháp luật cho phép trên cơ sở trình tự, thủ tục được pháp luật TTHS quy định để xác định sự tương thích giữa hành vi phạm tội và dấu hiệu cấu thành của tội LDTNCĐTS, trên cơ sở đó có quyết định đúng đắn về mặt tội danh đối với người phạm tội để đưa ra mức hình phạt hợp lý

Thứ hai, định tội danh tội LDTNCĐTS là hoạt động ADPL trong thực tiễn được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành tố tụng và một số chủ thể có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật TTHS, là quá trình phức tạp đòi hỏi khi thực hiện phải có sự hỗ trợ tích cực từ các biện pháp nghiệp vụ cần thiết Do vậy, muốn đảm bảo tính chính xác trong việc định tội danh tội LDTNCĐTS thì hoạt động này phải được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm CQĐT, VKS, Tòa án và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật Phải xác định có hành vi nguy hiểm cho xã hội hay không Việc xác định có hành vi phạm tội LDTNCĐTS xảy ra hay không là rất khó Cho nên các chủ thể có thẩm quyền cần áp dụng các biện pháp, kết hợp với kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, vốn kiến thức lý luận và thực tiễn để đưa ra kết luận hành vi có dấu hiệu tội phạm hay không hay chỉ đơn thuần là những vi phạm dân sự, lẽ ra họ là bị đơn trong vụ án dân sự hay vụ án kinh doanh thương mại

Thứ ba, định tội danh tội LDTNCĐTS là việc ADPLHS vào thực tiễn bởi các chủ thể tiến hành tố tụng bằng việc ban hành các văn bản, quyết định tố tụng nhằm

Trang 17

mục đích giải quyết vụ án hình sự phù hợp với các quy phạm PLHS và các quy phạm pháp luật TTHS

Thứ tư, mục đích của việc định tội danh tội LDTNCĐTS là xác định chính xác người thực hiện hành vi phạm tội, phạm tội gì, thuộc điều, khoản nào được quy định trong BLHS nhằm buộc họ phải chịu TNHS, hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội đã gây ra

1.1.1.3.Ý nghĩa của việc định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Định tội danh đúng tội LDTNCĐTS sẽ giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này có căn cứ; là cơ sở để áp dụng đúng các quy định TTHS, đảm bảo việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội góp phần nâng cao uy tín, chất lượng của các cơ quan ngành

tư pháp mà đặc biệt là Tòa án án

Định tội danh đúng tội LDTNCĐTS là tiền đề cho việc quyết định hình phạt đảm bảo tính chính xác; thể hiện ý thức tuân thủ pháp luật, trình độ chuyên môn, hiệu quả hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng nhưng quan trọng nhất là Thẩm phán trong việc ban hành quyết định, bản án thật sự nghiêm minh, công bằng

và đúng pháp luật

Định tội danh đúng tội LDTNCĐTS sẽ giúp cho việc ADPL một cách đúng quy định, đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà người phạm tội thực hiện được quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015

Định tội danh sai hậu quả tất yếu là quyết định hình phạt sẽ sai, làm cho hình phạt đã tuyên không phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm cho người bị kết án không thấy được lỗi do hành vi mà mình thực hiện Từ

đó, không tự giác tuân thủ pháp luật, không thuyết phục quần chúng nhân dân về tính đúng đắn và tính nghiêm minh của bản án, làm giảm tính tuyên truyền và giáo dục pháp luật của bản án

Tóm lại, định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý là đảm bảo quyền con người và công bằng xã hội, là kênh hiện thực hóa chính sách hình sự

Trang 18

vào thực tiễn, là yếu tố bảo đảm chính xác tình hình tội phạm trong một không gian, thời gian nhất định

1.1.2 Chủ thể, các giai đoạn và các trường hợp định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Chủ thể của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Từ việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn thấy rằng, định tội danh tội LDTNCĐTS do bởi các chủ thể là cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành Theo qui định tại Khoản 1 Điều 34 BLTTHS năm 2015, thì chủ thể tiến hành định tội danh gồm: CQĐT, VKS, Tòa án và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ như: Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; Các cơ quan của Kiểm ngư; Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Khoản 1 Điều 35 BLTTHS năm 2015 [32, tr.25, 26,27,28] Bên cạnh đó, còn có các cán bộ khoa học, tác giả các bài viết, bài báo, giảng viên, sinh viên luật hay bất kỳ một người nào quan tâm, có kiến thức pháp luật cũng có thể tiến hành định tội danh Các chủ thể trên có đặc điểm chung là khi tiến hành định tội danh cũng thực hiện việc lựa chọn

và so sánh các dấu hiệu của quy phạm pháp luật với thực tế khách quan để làm cơ

sở cho sự xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với CTTP cụ thể Người tiến hành tố tụng khi tiến hành định tội danh sẽ có ưu thế hơn với các chủ thể khác vì họ có điều kiện tiếp cận và nắm chính xác, cụ thể các tình tiết khách quan của vụ án nên định tội danh sẽ chính xác và phản ánh được bản chất của vụ án hình

sự, còn định tội danh do các chủ thể khác chỉ là sự thể hiện ý kiến cá nhân, quan điểm pháp lý nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật

1.1.2.2 Các giai đoạn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Để bảo đảm định tội danh đúng cần tiến hành theo trình tự nhất định, gồm

các giai đoạn:

Trang 19

Thứ nhất, xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội

Là một trong những bước rất quan trọng của định tội danh, bởi vì hành vi xảy ra như thế nào nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của định tội danh cho nên các chủ thể có thẩm quyền cần phải vận dụng kiến thức lý luận, thực tiễn và kết hợp những kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp để đưa ra kết luận hành vi có dấu hiệu tội phạm hay là những vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế Chính vì thế, các chủ thể cần phải xác định tầm quan trọng của thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án

Các chủ thể khi xác định sự thật khách quan của vụ án, khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử phải đảm bảo sự vô tư, khách quan, không suy diễn hay định kiến,

mà phải dựa vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp, đúng trình tự pháp luật và được kiểm tra, phân tích, đánh giá theo quy định của pháp luật

Thứ hai, nhận thức nội dung của các quy định trong BLHS một cách đúng đắn

Một hành vi phạm tội được xác định do chủ thể có năng lực TNHS và độ tuổi

mà BLHS đã quy định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì cần tiến hành đối chiếu, so sánh các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, nhận định mức độ liên quan và sự phù hợp giữa hành vi diễn ra trên thực tế với các yếu tố CTTP xem có thỏa mãn cấu thành tội LDTNCĐTS hay không? Nếu có thì thuộc Điểm, Khoản, Điều 175 của BLHS năm 2015

Khi ban hành BLHS, nhà làm luật đã đánh giá một cách toàn diện tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi tương ứng, quy định chế tài áp dụng đối với từng loại hành vi cũng như hiệu quả đạt được khi áp dụng các chế tài

Từ thực tiễn ADPLHS cho thấy còn nhiều khó khăn, vướng mắc về định tội danh tội LDTNCĐTS và quyết định hình phạt đối với các loại tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không mang tính chiếm đoạt dễ dẫn đến sự nhằm lẫn định tội danh giữa tội này với tội khác

Thứ ba, xác định mối quan hệ giữa các dấu hiệu thực tế và các dấu hiệu được quy định trong luật, trên cơ sở đó rút ra kết luận

Trang 20

Đây là bước quan trọng nhất của quá trình định tội danh Các dấu hiệu của tội phạm được quy định trong luật và các tình tiết thực tế của vụ án là hai nhóm hiện tượng được hợp nhất, thống nhất trong quá trình định tội danh Do đó, để định tội danh đúng, sau khi xác định sự thật khách quan của vụ án và tìm hiểu, phân tích các quy phạm PLHS để nhận thức đúng đắn, sâu sắc nội dung của nó nhằm lựa chọn đúng quy phạm PLHS tương ứng đã thoả mãn quy định tại Điều, Khoản nào của BLHS năm 2015

Thứ tư, đưa ra kết luận

Trong từng giai đoạn tố tụng của từng cơ quan tiến hành tố tụng đối với vụ

án hình sự thì sẽ kết luận về hành vi phạm tội gì, phải ban hành các văn bản tố tụng khác nhau và phải tương ứng với từng giai đoạn tố tụng như CQĐT ban hành Quyết định khởi tố, Quyết định không khởi tố…Viện kiểm sát ban hành Quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định, lệnh của CQĐT…, Tòa án, thì ban hành Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng…[32, tr.29, 40, 45]

Như vậy, định tội danh tội LDTNCĐTS phải được thực hiện bởi các giai đoạn nêu trên Do đó, đòi hỏi người ADPL mà đặc biệt là Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải cân nhắc, am hiểu pháp luật mới thực hiện tốt mới đảm bảo cho việc định tội danh đúng và ban hành quyết định, bản án đúng người, đúng tội, nghiêm minh và có hiệu quả cao trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

1.1.2.3 Các trường hợp định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

* Định tội danh theo CTTP cơ bản

Các trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội nhất định đều có những nội dung biểu hiện giống nhau ở cả bốn yếu tố của tội phạm Đây là những dấu hiệu chung, đặc trưng của loại tội phạm đó và tổng hợp những dấu hiệu này chính là CTTP Như

vậy, “cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự” [47, tr.53]

Trang 21

Theo như Giáo sư.Tiến sĩ.Võ Khánh Vinh xác định “Cấu thành tội phạm là

cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội danh, là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự” [51, tr.68]

Cấu thành tội phạm cơ bản là CTTP chứa đựng các dấu hiệu đặc trưng, có ở mọi trường hợp phạm tội của một loại tội Cấu thành tội phạm cơ bản thể hiện đầy

đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm đó và cho phép phân biệt với loại tội phạm khác và chứa đựng yếu tố định tội nhằm xác định tội phạm là hành vi đã đến mức là tội phạm và phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác Đây là CTTP được thể hiện ở Khoản 1 của đa số các tội phạm của BLHS năm 2015 Cấu thành tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng và là cơ sở pháp lý của định tội danh [51, tr.68,69]

* Định tội danh theo cấu thành tội phạm tăng nặng

Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm bao gồm các dấu hiệu định tội và những dấu hiệu khác phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên đáng kể

Định tội danh theo CTTP tăng nặng là việc định tội danh theo các dấu hiệu định khung tăng nặng hay nói cách khác đó là các tình tiết định khung tăng nặng TNHS được quy định tại các Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 175 BLHS năm

2015 của tội LDTNCĐTS

Có thể nói, tội phạm được thực hiện bởi những con người cụ thể khác nhau với những tình tiết, diễn biễn không giống nhau, để có căn cứ xác định mức độ nguy hiểm của một tội phạm một cách chính xác và triệt để đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc phân hoá TNHS và cá thể hoá hình phạt, Điều 50 BLHS năm 2015 đã quy định

rõ một trong những căn cứ Toà án phải cân nhắc khi quyết định hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS nhưng khái niệm tình tiết tăng nặng TNHS lại

chưa được nhà làm luật ghi nhận trong BLHS năm 2015 “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết trong một vụ án cụ thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn trong một khung hình phạt”, theo tác giả Đinh Văn Quế [26, tr

236,237];

Trang 22

Tòa án khi áp dụng các tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội “phải làm sáng tỏ ý thức chủ quan của người phạm tội để xét trường hợp này họ có phải thấy trước hoặc có thể thấy trước được tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không, thì mới được áp dụng tình tiết tăng nặng đó đối với họ” [26, tr 239];

Đối với tội phạm trong vụ án LDTNCĐTS có thể có một tội phạm hoặc nhiều tội phạm, một người phạm tội hoặc nhiều người phạm tội, nên việc xác định tình tiết định tội và tình tiết tăng nặng TNHS chỉ trong phạm vi một tội phạm cụ thể

mà không được sử dụng tình tiết định tội của tội phạm này làm tình tiết tăng nặng TNHS của tội phạm khác cũng như tình tiết tăng nặng của người phạm tội này làm tình tiết tăng nặng TNHS cho người phạm tội khác và có tính chất hỗ trợ cho các dấu hiệu CTTP để xác định chính xác, rõ ràng, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Cấu thành tội phạm nói chung và cấu thành tội LDTNCĐTS theo quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015 với tình tiết tăng nặng TNHS thể hiện mối quan

hệ giữa tính khái quát của PLHS và tính cụ thể của hoạt động ADPLHS

* Định tội danh trong trường hợp đặc biệt

Định tội danh trong trường hợp chuẩn bị phạm tội

Theo bình luận khoa học BLHS năm 2015 của TS Trần Văn Biên và Đinh

Thế Hưng đã liệt kê các hành vi coi là hành vi chuẩn bị phạm tội gồm:“Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm

và thành lập tham gia nhóm tội phạm” [4, tr 26]

Chuẩn bị phạm tội là người phạm tội có những hành vi tạo ra điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó và không phải hành vi chuẩn bị phạm tội nào cũng bị truy cứu TNHS

Về TNHS ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội:

Theo quy định của BLHS năm 1999 đã quy định người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, là giai đoạn đầu của quá trình phạm tội Nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm cho hành vi

xã hội còn rất thấp, khách thể chưa bị xâm phạm, hậu quả chưa xảy ra Để xác định người chuẩn bị phạm tội đối với tội LDTNCĐTS có bị truy cứu TNHS hay không,

Trang 23

thì tại phần chung của BLHS năm 2015 quy định 02 điều luật về chế định “chuẩn bị phạm tội”, đó là Điều 14 và Điều 57 BLHS năm 2015 Theo Điều 14 BLHS năm

2015, thì“chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299” Đồng thời, theo Khoản 2 Điều 14 BLHS năm 2015 đã liệt kê

các tội phạm mà người phạm tội phải chịu TNHS trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, gồm 25 tội Ngoài 25 trường hợp đã được liệt kê thì đối với các tội phạm khác mà người phạm tội mới chuẩn bị phạm tội thì không bị truy cứu TNHS Như vậy, BLHS năm 2015 không có quy định giai đoạn chuẩn bị phạm tội đối với tội LDTNCĐTS [29, tr 17]

Định tội danh trong trường hợp phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là“cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt" [29, tr 18]

Như vậy, phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai của quá trình phạm tội thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn giai đoạn đầu là chuẩn bị phạm tội

Trường hợp phạm tội chưa đat, chủ thể đã thực sự bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, các quan hệ xã hội được LHS xác lập và bảo vệ đã bắt đầu bị xâm hại, hậu quả đã gây ra cho xã hội, nên mức độ nguy hiểm cho xã hội của trường hợp này

rõ ràng cao hơn so với trường hợp chuẩn bị phạm tội Đồng thời, sẽ đặc biệt nguy

hiểm hơn nếu không có căn cứ “do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn” ngăn

chặn lại việc tiếp tục để hành vi phạm tội đó tiếp diễn [4, tr 27, 28]

Như vậy, trường hợp phạm tội chưa đạt đối với tội LDTNCĐTS cũng được

áp dụng để xử lý TNHS, vì đây là tội phạm có cấu thành vật chất, người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan hoặc hành vi đi liền trước hành vi khách quan là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm cho bằng được tài sản của chủ sở hữu hoặc người đang quản lý tài sản tuy hậu quả chưa xảy ra, tội phạm không thực hiện đến cùng là chưa

hoàn thành vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của tội phạm

Trang 24

Định tội danh trong trường hợp đồng phạm

Tội phạm xảy ra có thể do một chủ thể thực hiện, cũng có thể nhiều chủ thể khác nhau tham gia thực hiện.BLHS năm 1999 khẳng định kế thừa và phát triển chế

định đồng phạm trong các BLHS trước đó thể hiện“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” [29, tr.18] Tại Điều 17 BLHS

năm 2015 lại tiếp tục quy định về đồng phạm nhưng đã bổ sung thêm Khoản 4

“người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hiện” Để xác định tội LDTNCĐTS khi thực hiện có đồng phạm hay

không có thể dựa vào dấu hiệu mặt chủ thể, chủ quan và mặt khách quan của tội phạm đó Khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy định của PLHS từ trước đến nay đều dựa vào dấu hiệu chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm [4, tr 30]

Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội

Hiện nay khái niệm về phạm tội nhiều lần chưa được quy định tại Điều luật

cụ thể nào trong BLHS năm 2015, chỉ quy định tại Điều 55 về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Phạm nhiều tội là trường hợp một người thực hiện hai tội phạm trở lên được định tội danh độc lập và hai tội này chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và đưa ra xét

xử một lần Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể phạm từ hai tội trở lên, theo

đó mỗi một tội trong số đó được thực hiện ở những thời gian khác nhau hoặc khi hành vi của người phạm tội có dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều luật khác nhau hoặc các khoản khác nhau của cùng một điều luật nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau được quy định trong phần các tội

phạm của BLHS và người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số tội đó

1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.2.1 Các quy định khác thuộc phần chung của Bộ luật hình sự được áp dụng để định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Phần chung của BLHS năm 2015 gồm 12 chương Trong phần chung của BLHS có các Điều luật liên quan đến việc định tội danh tội LDTNCĐTS như: Khái

Trang 25

niệm tội phạm (Điều 8); Tuổi chịu TNHS (Điều 12); Phạm tội chưa đạt (Điều 15) phần chung BLHS không nêu hết các dấu hiệu cụ thể của bất kỳ một hành vi phạm tội nào, nhưng khi định tội, nhà làm luật phải đồng thời dựa vào cả hai nhóm quy phạm hình sự này vì, quy phạm phần chung và quy phạm phần các tội phạm có mối liên hệ hữu cơ với nhau và định tội danh chính là sự lựa chọn một quy phạm cụ thể đề cập đến một trường hợp cụ thể, vì thế việc áp dụng quy phạm phần các tội phạm phải dựa trên những quy phạm chung và nguyên tắc được quy định ở phần chung BLHS, các dấu hiệu của CTTP, về các giai đoạn của tội phạm; về đồng phạm…Ngoài ra, khi cơ quan tiến hành tố tụng định tội danh tội LDTNCĐTS còn phải căn cứ vào Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP, hướng dẫn, áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Thông tư số hướng dẫn thi hành BLHS

1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội phạm nói chung và tội LDTNCĐTSlà loại tội phạm thể hiện bản chất của hành vi phạm tội Cho nên khi xây dựng quy định này, nhà làm luật đã cụ thể hóa tối đa các hành vi mà chủ thể phạm tội có thể thực hiện Tại Điều 175 BLHS năm

2015 quy định như sau:

1 Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168,

169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó

Trang 26

hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

e) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

4 Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt

tù từ 12 năm đến 20 năm

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Để tìm hiểu rõ CTTP của tội LDTNCĐTS, thì chúng ta cần phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội này

1.2.2.1 Cấu thành tội phạm cơ bản của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Mỗi tội phạm đều có những đặc trưng khác nhau và được quy định khác biệt trong BLHS năm 2015 Định tội danh là hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng

Trang 27

trong quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, đi tìm sự tương thích giữa hành vi với các yếu tố cấu thành được ghi nhận trong BLHS nên để tội danh tội LDTNCĐTS được chính xác, toàn diện phải xác định đầy đủ các yếu tố cụ thể sau:

* Khách thể của tội phạm

Bất kỳ hoạt động nào của con người cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tại ngoài ý thức, độc lập với ý thức của chủ thể và hoạt động phạm tội cũng vậy Nhưng điều khác nhau cơ bản đó là hoạt động phạm tội không phải là để cải biến

mà gây thiệt hại cho chính khách thể và những khách thể đó được luật hình sự bảo

vệ [47, tr.62]

Đối tượng tác động của tội phạm là tài sản bao gồm: vật, tiền [4, tr.226] Mỗi hành vi phạm tội sẽ xâm phạm đến những quan hệ xã hội khác nhau được luật hình

sự bảo vệ và tội phạm nào cũng xâm phạm đến ít nhất một khách thể, nếu như hành

vi không xâm phạm bất cứ khách thể nào không được xem là tội phạm và không thực hiện việc truy cứu TNHS Tội LDTNCĐTS xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ Đối tượng của tội phạm này được xác định là tài sản, bao gồm vật, tiền, quyền, giấy tờ có giá và quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 [28,

tr 62] Tuy nhiên, để trở thành đối tượng của tội phạm này thì tài sản phải thỏa mãn những đặc điểm nhất định sau:

Tài sản phải là vật chất và có giá trị sử dụngphải đang có chủ sở hữu và có thể chuyển dịch trong giao lưu dân sự Quyền sở hữu tài sản phải là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ, đó cũng phải là tài sản mà có thể đem ra giao dịch, mua bán, trao đổi trên thị trườngthỏa mãn được các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người mới được xem là đối tượng tác động của tội LDTNCĐTS, ngược lại những tài sản không có hoặc không còn giá trị sử dụng không thể trở thành đối tượng tác động của tội phạm này [49, tr 164, 165]

Để xác định một người phạm vào tội này, hành vi của người đó phải đã thỏa mãn các dấu hiệu cơ bản nêu trên Đồng thời, các dấu hiệu này cũng là cơ sở để

Trang 28

phân biệt tội LDTNCĐTS với các tội phạm khác như tội lừa đảm chiếm đoạt tài sản; tội tham ô tài sản hay tội trộm cắp tài sản…

* Mặt khách quan của tội phạm

Là những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại trong thế giới khách quan, gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện tội phạm như thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ phạm tội, hoàn cảnh phạm tội [48, tr.114]

Hành vi khách quan của tội phạm là những xử sự có ý thức và có ý chí của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các tội phạm [48, tr.115]

Người thực hiện hành vi phạm tội LDTNCĐTS đã định hình ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác và thể hiện nó ra bên ngoài thông qua hành vi cụ thể, đây là hoạt động có ý thức và có ý chí của chủ thể thực hiện hành viđể chiếm đoạt cho được tài sản của chủ sở hữu hoặc người đang quản lý Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, là hành vi chuyển dịch một cách trái phép tài sản của người khác thành tài sản của mìnhsau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc

dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả

Mặt khách quan của tội LDTNCĐTS bao gồm các yếu tố

- Về hành vi khách quan của tội phạm

Trong các yếu tố CTTP của tội phạm LDTNCĐTS được quy định Khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015, thì hành vi khách quan, có những tình tiết khó chứng minh, cụ thể như sau:

+ Tại điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 quy định: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”

Trang 29

Theo quy định“đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích,

hướng dẫn Nhưng một người sau khi vay, mượn, thuê tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi họ bỏ địa phương đi nhưng để lại tài sản hợp pháp, thì có thể khởi tố

họ và để chứng minh hành vi “có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” được hiểu như thế nào là vấn đề còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, nên

đã phát sinh nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, chỉ cần xác định được tình tiết một người nào đó sau khi nhận được tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng không trả tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản hợp pháp là đủ cơ sở kết luận người đó phạm tội LDTNCĐTS

+Tại điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 quy định: “vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”

Như vậy, chỉ các trường hợp người nhận được tài sản đã sử dụng tài sản đó

vào “mục đích bất hợp pháp”như: buôn lậu, rửa tiền, sản xuất, buôn bán ma túy…

nhưng họ dùng vốn vay để tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiên đi lại dẫn đến khi đến hạn không có điều kiện, khả năng trả nợ thì không coi là sử

dụng tài sản vào “mục đích bất hợp pháp” thì không phải bị xử lý TNHS Trường

hợp vay, mượn tiền với số lượng rất lớn sau đó sử dụng tài sản vào việc tiêu xài hoang phí dẫn đến không khả năng trả nợ, lại không thể truy cứu TNHS đối với họ,

vì việc dùng tiền vay, mượn để ăn chơi, tiêu xài…chỉ có thể xem xét đánh giá họ vi

phạm đạo đức xã hội không được xem là việc làm “bất hợp pháp”

Thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh Long An, các vụ vỡ nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp đồng góp hụi, giá trị tài sản lên đến hàng chục tỷ đồng xảy ra rất nhiều nơi đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nhưng khi người bị hại có đơn yêu cầu đề nghị CQĐT công

an huyện, thành phố và cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Long An để xử lý

Trang 30

các hành vi nêu trên nhưng hầu hết các cơ quan không thể xử lý các trường hợp này bằng pháp luật hình sự được mà chuyển sang các vụ án dân sự dẫn đến khả năng thu hồi tài sản hoặc đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người bị hại không được bảo vệ

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

vệ [48, tr.121] Là tội phạm có cấu thành vật chất nên hậu quả được xác định là yếu

tố bắt buộc đối với cấu thành của tội LDTNCĐTS Tại Điều 175 BLHS năm 2015 quy định mức định lượng tài sản tối thiểu đối với tài sản bị chiếm đoạt phải trị giá

từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã

bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì mới có thể bị xử lý về tội phạm này

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt Theo quy định của Thông tư 02/2001, bị coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt nếu trước đó họ đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền về một trong các hành vi chiếm đoạt như: cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; LDTNCĐTS; tham ô tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà chưa hết thời hạn để được coi là chưa từng vi phạm thì người thực hiện hành vi LDTNCĐTS dù tài sản có giá trị dưới bốn triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu TNHS về tội phạm này

+ Đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích Tương tự trường hợp

“đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt”, người phạm tội có thể

bị truy cứu TNHS về tội LDTNCĐTS với giá trị tài sản dưới bốn triệu đồng nếu trước khi thực hiện hành vi LDTNCĐTS, họ đã bị kết án về một trong các hành vi chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là mối liên hệ giữa một hiện tượng là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là nguyên nhân với

Trang 31

một hiện tượng là hậu quả nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là kết quả việc thực hiện hành vi phạm tội là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội phạm có CTTP vật chất [48, tr.124] Người phạm tội LDTNCĐTS chỉ có thể bị xử lý nếu như hành vi của

họ là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả và hậu quả là thiệt hại về tài sản chỉ xuất phát từ hành vi mà người phạm tội thực hiện

* Chủ thể của tội phạm

Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xác định có hành vi phạm tội, vì chỉ khi nào xác định được chủ thể của tội phạm mới tiến hành định tội danh

và truy cứu TNHS Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng trong các BLHS

trước đây và ngay cả BLHS năm 1999 là“một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” cũng quy định chỉ có con người

mới là chủ thể của tội phạm [30, tr.45]

Tội LDTNCĐTS, chủ thể thực hiện tội phạm được xác định là cá nhân phải

đủ tuổi chịu TNHS và có đầy đủ khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi Người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể bị truy cứu TNHS về tội LDTNCĐTS của người khác

Chủ thể của tội LDTNCĐTS phải có năng lực TNHS Năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là khả năng nhận thức của cá nhân về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và khả năng điều khiển hành vi đó, tức họ có sự lựa chọn thực hiện hay không thực hành vi nguy hiểm cho xã hội đó Người có năng lực TNHS trước hết phải đạt tới một độ tuổi nhất định để đảm bảo rằng cá nhân đó có khả năng nhận thức đầy đủ về tính chất pháp lý của hành vi mà mình gây ra và có đủ khả năng điều khiển được hành vi đó

Chủ thể của tội LDTNCĐTS phải đủ tuổi chịu TNHS, tại Điều 12 BLHS

năm 2015 quy định về độ tuổi chịu TNHS“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” [29, tr.15] Đối với tội LDTNCĐTS phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS đối với loại tội phạm này Bởi vì, họ là người chưa có năng lực TNHS đầy đủ nên chỉ chịu TNHS về một

Trang 32

số tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nghiêm trọng do cố ý được quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 [29, tr.15, 16]

Như vậy, để định tội danh tội LDTNCĐTS phải là cá nhân có năng lực chịu TNHS và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên Đây là một trong các điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 BLHS năm 2015 đã quy định sự tách bạch rõ ràng hơn về độ tuổi chịu TNHS đối với người bị kết án tội LDTNCĐTS

*Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm“Lỗi, động cơ, mục đích” [48, tr.152] Trong đó yếu tố lỗi là bắt buộc với tất cả các loại

tội phạm, không có lỗi thì hành vi không bị xem là tội phạm và không truy cứu TNHS

Tội LDTNCĐTS được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra [29, tr 14] Việc xác định lỗi trong tội này là hành vi làm thiệt hại về tài sản, làm mất quyền sở hữu của chủ tài sản nhưng vẫn thực hiện Ban đầu khi giao kết hợp đồng, người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện hợp đồng, chỉ sau khi nhận được tài sản, ý thức chiếm đoạt mới hình thành, vì thế họ bị truy cứu TNHS về tội phạm này

Động cơ, mục đích phạm tội: Là những dấu hiệu bắt buộc của một hành vi có

ý chí, là những yếu tố nằm trong nội dung của mặt chủ quan Theo từ điển tiếng

việt, thì “Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người thực hiện hành vi phạm tội” [50, tr.212]; hay một cách hiểu khác “Động cơ phạm tội được hiểu là động lực từ bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội” [48, tr.168] Trong tội LDTNCĐTS, thì động cơ phạm tội là “vì vụ lợi” Mục đích phạm tội“là kết quả trong ý thức mà người phạm tội mong muốn đạt được khi thực hiện tội phạm” [48, tr 169] Mục đích phạm tội trong tội này phải gắn liền với các hành

vi dùng thủ đoạn gian dối, hành vi bỏ trốn, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù

có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả Nếu không có mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc mục đích chiếm đoạt tài sản có trước thời điểm nhận tài sản thông qua

Trang 33

hợp đồng, thì người thực hiện hành vi phạm tội không phạm tội này hoặc sẽ phạm vào tội khác

Động cơ và mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội LDTNCĐTS Ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội LDTNCĐTS

Như vậy, bốn yếu tố CTTP của tội LDTNCĐTS có quan hệ chặt chẽ với nhau, tồn tại khách quan, không thể tách rời nhau Là cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS và để định tội danh chính xác đối với tội nêu trên Cho nên, quá trình định tội danh của tội phạm này, cơ quan, người tiến hành tố tụng không được bớt hoặc thêm bất kỳ dấu hiệu nào Mọi sự thêm, bớt hoặc xác định không đúng dấu hiệu nào

đó đều ảnh hưởng đến việc định tội danh

1.2.2.2 Cấu thành tội phạm tăng nặng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Như đã trình bày tại mục 1.1.2.3 Các trường hợp định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cấu thành tội phạm tăng nặng của tội LDTNCĐTS là CTTP có một trong những tình tiết sau:

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tổ chức

Phạm tội có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức Tuy nhiên, không phải tội LDTNCĐTS có tổ chức nào cũng

đủ những người giữ vai trò nêu trên Trong tội phạm này, thì người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi, những thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản [26, tr 257]

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp

Tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” vẫn được giữ nguyên là tình

tiết định khung tăng nặng của nhiều điều luật trong Chương các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội LDTNCĐTS hoặc là tình tiết tăng nặng TNHS Điều này cho

Trang 34

thấy đây là một tình tiết phổ biến trong quan hệ xã hội cần được pháp luật hình sự bảo vệ và quy định

Sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, chưa có văn bản nào thay thế Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999 (viết tắt là Nghị quyết số 01), trong đó có quy định thế nào là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp Cho nên, trong thực tiễn ADPLHS hiện nay, các cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn áp dụng quy định của Nghị quyết số 01 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm có liên quan đến tính chất chuyên nghiệp [45, tr 4,5]

Phạm tội có tính chuyên nghiệp là trường hợp có từ 05 lần trở lên phạm tội LDTNCĐTS, trong đó có lần đã bị xét xử nhưng chưa xóa án tích, hoặc chưa lần nào bị xét xử và chưa lần phạm tội nào hết thời hiệu truy cứu TNHS; và người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính [4, tr 221, 227]

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng

Trường hợp này xác định giá trị tài sản, là căn cứ giá thị trường vào thời điểm phạm tội Trong trường hợp không xác định được giá trị tài sản chiếm đoạt thì phải trưng cầu giám định, là định giá tài sản Do đặc điểm của tội này, người phạm tội chỉ chiếm đoạt tài sản khi tài sản đó đang do mình quản lý, nên chỉ một số trường hợp có giai đoạn phạm tội chưa đạt nên khi xác định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị bao nhiêu còn phải căn cứ vào hành vi, thủ đoạn gian dối phạm tội cụ thể, không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản mà người đang quản lý để xác định giá trị tài sản

bị chiếm đoạt Ví vụ: A vay của B với số tiền là 500.000.000 đồng vay nhiều lần bằng 05 giấy nợ với ngày tháng năm khác nhau Nhưng A chỉ dùng thủ đoạn sửa chữa một giấy nợ với số tiền 50.000.000 đồng thành 30.000.000 đồng để chiếm đoạt

số tiền 20.000.000 đồng, không phải sửa 04 giấy nợ còn lại Trong trường hợp này

A chỉ chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng, không phải số tiền 500.000.000 đồng

Trang 35

Lợi dung chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trong trường hợp này, cần phải xác định

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức nào khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao nhiệm vụ thực viện một công việc nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ

Người có quyền hạn là người được giao thực hiện một công vụ và do thực hiện công vụ đó nên họ có một quyền hạn nhất định

Dùng thủ đoạn xảo quyệt để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Là trường hợp, người phạm tội dùng những thủ đoạn, cách thức thâm hiểm làm cho người bị hại khó lường trước để mà đề phòng Thông thường, những thủ đoạn xảo quyệt người phạm tội dùng trong trường hợp này là sau khi đã nhận được tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp rồi mới dùng thủ đoạn xảo quyệt để chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên cũng có trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt ngay trước khi nhận được tài sản của chủ sở hữu, nhưng thủ đoạn đó không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản chỉ nhằm ký kết được hợp đồng một cách hợp pháp, lúc dùng thủ đoạn xảo quyệt, người phạm tội chưa có

ý định chiếm đoạt [26, tr 258, 259]

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là phải nói đến hành

vi của một cá nhân, pháp nhân làm phá vỡ trật tự, kỷ cương của xã hội một cách nghiêm trọng, khiến cho một bộ phận không nhỏ người dân mất niềm tin, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân… Trên thực tế đối với loại tội này, khi

áp dụng tình tiết này sẽ gặp những khó khăn nhất định vì chưa có hướng dẫn cụ thể

Mặt khác, việc đánh giá tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” là tình tiết định khung cơ bản đối với từng hành vi phạm tội cụ thể tại

các địa bàn, khi nào thì được xác định là tình tiết định khung cơ bản? Cơ quan nào

Trang 36

xác định “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” là tình tiết định

khung của CTTP ? Lại chưa được các nhà lập pháp quy định Theo tác giả cho rằng

khi đánh giá tính chất của hành vi “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn

xã hội” trong vụ án lạm dụng là phải xem xét tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội “gây ra hoặc có thể gây ra” xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương xã

hội, xâm phạm đến sự mất ổn định nghiêm trọng đời sống của người dân, gây tâm

lý phẫn nộ trong một phạm vi rộng khu dân cư, vụ việc diễn ra thường xuyên, liên tục gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương Theo tác giả, thì những trường hợp vỡ hụi, xâm phạm đến hoạt động tín dụng, Ngân

hàng bị khởi tố về tội LDTNCĐTS đều là những hành vi “gây ảnh hưởng xấu đến

an ninh, trật tự, an toàn xã hội”

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp tái phạm

Trường hợp tái phạm trong vụ án lạm dụng tín nhiệm cũng giống như tất cả các trường hợp hợp tái phạm khác, chỉ cần xác định người phạm tội có đủ các dấu hiệu quy định tại Khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 Đây là tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội, không phụ thuộc vào hành vi phạm tội cụ thể của tội phạm này hay một tội phạm khác [29, tr 40]

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng và trị giá 500.000.000 đồng trở lên

Như đã phân tích tình tiết LDTNCĐTS trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng Khi xác định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị bao nhiêu còn phải căn cứ vào hành vi, thủ đoạn gian dối phạm tội cụ thể, không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản mà người đang quản lý để xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được các tình tiết nào là định khung tăng nặng và theo khoản nào của điều luật đã được quy định trong BLHS

Trang 37

1.2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác

Để có thể định tội danh chính xác tội LDTNCĐTS, cần phân biệt tội này với một số tội khác, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân, tội tham ô tài sản

1.2.3.1 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong BLHS Việt Nam, các tội trong Chương các tội phạm xâm phạm sở hữu, có nhiều tội danh có một hoặc một số dấu hiệu pháp lý giống nhau, đặc biệt có những dấu hiệu về hành vi khách quan giống hoặc gần giống nhau Điều này dễ dẫn đến sai lầm trong nhận thức về các tội phạm tương tự Từ đó, dẫn đến sự sai lầm trong việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt và mức hình phạt áp dụng với người phạm tội Trong số đó, thường có sự nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội LDTNCĐTS vì cùng có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để

chiếm đoạt tài sản

Qua nghiên cứu các bản án, có thể thấy rằng một số Tòa án còn nhầm lẫn trong việc xác định tội danh LDTNCĐTSvới tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi mặt khách quan của cả hai tội đều có hành vi gian dối, nhất là các trường hợp có ký kết hợp đồng dân sự Để phân biệt hai tội này cần phải dựa vào một số điểm quan trọng sau:

Thứ nhất, thời điểm người phạm tội nảy sinh ý thức mong muốn chiếm đoạt

tài sản

Về phương diện lý luận, nếu người phạm tội ngay từ thời điểm ban đầu đã có

ý định chiếm đoạt tài sản nên có những hành vi gian dối dẫn đến việc ký kết hợp đồng giả tạo để từ đó được giao tài sản và như vậy họ chiếm đoạt tài sản thì được coi đây là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Còn tội LDTNCĐTS thì ban đầu khi chưa

ký kết hợp đồng, người phạm tội chưa có ý thức chiếm đoạt tài sản nên việc ký hợp đồng là hợp pháp giữa người bị hại với người phạm tội Hợp đồng này được ký kết trên cơ sở lòng tin giữa các bên và việc giao nhận tài sản dựa trên hợp đồng hợp

Trang 38

pháp Sau khi nhận được tài sản, người phạm tội mới nẩy sinh ý định chiếm đoạt và thực hiện ý định chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay thủ đoạn gian dối

Thứ hai, dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi dùng thủ đoạn gian dối là hành vi đưa ra những thông tin không đúng sự thật bằng những thủ đoạn rất đa dạng như qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả hoặc giả danh người khác…để làm cho người

có tài sản tin đó là thật và tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản Còn tội LDTNCĐTS, người phạm tội nhận tài sản của người khác là hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp thông qua những hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản Hành vi gian dối trong tội LDTNCĐTS chỉ là những hành vi che đậy nhằm không trả lại tài sản hoặc giá trị tài sản theo đúng nghĩa vụ hợp đồng như giả tạo việc mất tài sản, đánh tráo tài sản, rút bớt số lượng tài sản…

Ngoài ra, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản trong tội LDTNCĐTS là hành vi chiếm đoạt và phải là chiếm đoạt được, nhưng khác với hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác Hành vi chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình Dựa trên cơ sở đó, xem xét đến hành vi của người nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng ngay thẳng vay, mượn, thuê… tài sản sau đó khi đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả Hành

vi đó là hành vi chiếm đoạt, và mang bản chất của hành vi LDTNCĐTS

Như vậy, cùng là dấu hiệu“thủ đoạn gian dối” nhưng vai trò, ý nghĩa lại

khác nhau giữa hai tội, và vì thế, cách thức thực hiện thủ đoạn gian dối cũng khác nhau

Thứ ba, việc giao nhận tài sản giữa người có tài sản với người phạm tội

Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý định chiếm đoạt tài sản nên ngay từ đầu đã có hành vi gian dối tạo được niềm tin giả tạo cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản và có thể là do sự nhầm lẫn nên hợp đồng mới được lý kết Do vậy, hợp đồng này dựa trên uy tín, niềm tin giả tạo nên bản chất không phải là hợp

đồng hợp pháp theo quy định của Bộ Luật dân sự, mà đây là hình thức gian dối để

Trang 39

chiếm đoạt tài sản Người có tài sản đã tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội là

do người phạm tội đã có những hành vi, thủ đoạn gian dối để dựng lên những điều không đúng sự thật nhưng người có tài sản tin đó là thật và tự giác giao tài sản

Với người phạm tội LDTNCĐTS thì hợp đồng giữa đôi bên là hợp pháp, đúng đắn bởi khi ký kết hợp đồng các bên hoàn toàn trung thực, dựa trên sự tự do ý chí, sự tự nguyện khi giao kết Hợp đồng ký kết hoàn toàn đáp ứng điều kiện về mặt pháp lý nên hợp đồng này hợp pháp Do vậy, người phạm tội được giao tài sản một cách hợp pháp dựa trên cơ sở hợp đồng Như vậy, về bản chất người phạm tội nhận được tài sản là đều do người có tài sản tự giác giao cho họ

Thứ tư, thời điểm chiếm đoạt tài sản – thời điểm hoàn thành tội phạm

Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội LDTNCĐTS được coi là hoàn thành tội phạm khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản Ở thời điểm này người phạm tội có đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để tự định đoạt tài sản đó theo mong muốn của mình

Như phân tích ở trên, theo quan điểm tác giả, hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sau khi thực hiện hành vi gian dối tạo được uy tín, niềm tin và dẫn đến ký kết hợp đồng và trên cơ sở hợp đồng, người phạm tội nhận được tài sản hoặc không phải giao tài sản mà đáng lẻ phải giao cho người bị lừa dối và khi làm chủ được tài sản trên thực tế thì coi như tội phạm đã hoàn thành Còn tội LDTNCĐTS thì người phạm tội sau khi ký kết hợp đồng, được giao tài sản và tại thời điểm này người được chuyển giao tài sản chưa coi là có hành

vi chiếm đoạt tài sản Ở giai đoạn tiếp theo là thực hiện các cam kết trong hợp đồng thì người phạm tội LDTNCĐTS…mới có hành vi chiếm đoạt tài sản và được biểu hiện như cố ý không giao trả lại tài sản của người khác một cách trái pháp luật…Do vậy, thời điểm này mới coi là tội phạm hoàn thành

Sự khác biệt giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội LDTNCĐTS thể hiện

ở một số điểm là thời điểm người phạm tội nảy sinh ý định phạm tội; cách thức thực

Trang 40

hiện thủ đoạn gian dối; tính chất việc giao nhận tài sản giữa các bên và thời điểm tội phạm hoàn thành

1.2.3.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội tham ô tài sản

Theo Điều 353 BLHS năm 2015 quy định tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý Đối với tội tham ô là tài sản dấu hiệu về chủ thể của tội phạm là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định tội phạm, sự khác nhau giữa tội tham ô tài sản với tội LDTNCĐTS

là sự khác nhau về dấu hiệu thuộc chủ thể của tội phạm

Giống nhau: về hành vi chiếm đoạt tài sản, dấu hiệu chủ quan là lỗi cố ý trực

tiếp

Khác nhau: về khách thể của tội phạm, tội tham ô tài sản xâm phạm vào sự

hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, đồng thời xâm phạm vào sở hữu tài sản của cơ quan tổ chức đó; Về chủ thể chủ thể của tội tham ô là chủ thể đặc biệt, còn chủ thể của tội LDTNCĐTS là chủ thể thường, bất kỳ ai có năng lực TNHS, có độ tuổi nhất định; người phạm tội tham ô tài sản là người có chức vụ quyền hạn và có trách nhiệm quản lý đối với tài sản là người được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản như thủ kho, kế toán, người được giao vận chuyển tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị của mình…

Tóm lại, việc phân biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt với nhau, giữa các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác có ý nghĩa quan trọng để xác định ranh giới giữa các tội phạm được quy định trong BLHS và là căn cứ để xác định tội danh chính xác

1.2.3.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân

Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ quyền hạn

Tội LDTNCĐTS là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản trong hợp đồng dân sự

Ngày đăng: 03/07/2021, 10:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Beo (2010) Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2 (Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2 (Phần các tội phạm)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
2. Mai Văn Biên (2019) Định tội danh cướp giật tài sản từ thực tiễn quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh cướp giật tài sản từ thực tiễn quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh
3. Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2011) Bình luận khoa học BLHS năm 1999, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS năm 1999
Nhà XB: Nxb Lao động
4. Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2017) Bình luận khoa học BLHS năm 2015, Nxb Thế giới, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS năm 2015
Nhà XB: Nxb Thế giới
5. Bộ Chính trị (2002)Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, ban hành ngày 02/01/2002,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
6. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, ban hành ngày 24/5/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
7. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 02/6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
8. Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006) Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp
9. Lê Cảm (2004) Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
10. Lê Cảm (2005) Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
11. Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004) Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
12. Hoàng Thị Kim Chi (2017) Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
13. Nguyễn Văn Cường (2013) Án lệ và sự cần thiết sử dụng án lệ ở Việt Nam (Bài 2) Ý nghĩa của án lệ trong hoạt động xét xử của Toà án. Báo điện tử công lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ và sự cần thiết sử dụng án lệ ở Việt Nam (Bài 2) Ý nghĩa của án lệ trong hoạt động xét xử của Toà án
14. Lê Văn Đệ (2004) Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
15. Nguyễn Ngọc Điệp (2017) Bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần các tội phạm, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần các tội phạm
Nhà XB: NXB Thế giới
16. Đinh Thị Bích Hà (2007) Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Nhà XB: NXB Tư pháp
17. Võ Thị Minh Hiệp (2018) Định tội danh từ thực tiễn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh từ thực tiễn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
18. Nguyễn Ngọc Hòa (2004) “Tội danh và việc chuẩn hóa các tội phạm trong BLHS Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 6, tr.50-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tội danh và việc chuẩn hóa các tội phạm trong BLHS Việt Nam”
19. Nguyễn Ngọc Hòa (2015) Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
20. Học viện tư pháp (2011) Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tư pháp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w