Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế.. Hiện nay, bên cạnh vai trò là đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước, phân phối thu nhập thì thuế thu nhập doanh nghiệp còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thu hút và thúc đẩy đầu tư ở Việt Nam. Tại Việt Nam, thuế TNDN được đánh vào thu nhập của một doanh nghiệp có phần thu nhập chịu thuế theo quy định pháp luật. Luật thuế TNDN sau nhiều năm thực hiện đã thể hiện được vai trò của mình trong đời sống, mang lại những tác động nhất định đến tình hình kinh tế xã hội của đất nước cung như góp phần đáng kể vào việc tăng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, theo thống kê, ngân sách nhà nước hàng năm vẫn thất thoát tới hàng nghìn tỷ đồng với một trong các nguyên nhân đến từ hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp, bao gồm gian lận thuế TNDN. Những hành vi như vậy ngày càng diễn ra phức tạp, quy mô lớn với các thủ đoạn tinh vi. Vì vậy, việc tìm hiểu các phương thức mà doanh nghiệp gian lận thuế để góp phần đề ra giải pháp phòng chống, hạn chế là công việc vô cùng cần thiết. Do đó, em xin phép lựa chọn đề tài về thuế TNDN, cụ thể là đề số 13 phân tích những đặc trưng của thuế TNDN, giải thích tại sao pháp luật thuế TNDN lại phân biệt việc đánh thuế đối với thu nhập từ kinh doanh với thu nhập khác, và tìm hiểu những “thủ đoạn” chủ yếu để doanh nghiệp gian lận thuế TNDN.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN
MÔN: LUẬT TÀI CHÍNH
ĐỀ BÀI 13
Phân tích những đặc trưng của thuế TNDN, giải thích tại sao pháp luật thuế TNDN lại phân biệt việc đánh thuế đối với thu nhập từ kinh doanh với thu nhập khác, và tìm hiểu những “thủ đoạn” chủ yếu để doanh nghiệp gian lận
thuế TNDN.
Mã số sinh viên : Nhóm :
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Một số vấn đề lý luận 0
1 Định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp 0
2 Các đặc trưng của thuế thu nhập doanh nghiệp 0
II Nguyên nhân phân biệt việc đánh thuế đối với thu nhập từ kinh doanh với thu nhập khác 0
III Những “thủ đoạn” chủ yếu để doanh nghiệp gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp 0
1 Gian lận thuế bằng cách giảm doanh thu 0
2 Gian lận thuế bằng cách tăng chi phí 0
3 Gian lận thuế bằng cách thực hiện các hành vi liên quan đến lỗ kết chuyển 0
VI Một số biện pháp đẩy mạnh phòng chống gian lận thuế 0
KẾT LUẬN 0
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 0
Trang 3MỞ ĐẦU
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế Hiện nay, bên cạnh vai trò là đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước, phân phối thu nhập thì thuế thu nhập doanh nghiệp còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thu hút và thúc đẩy đầu tư ở Việt Nam Tại Việt Nam, thuế TNDN được đánh vào thu nhập của một doanh nghiệp có phần thu nhập chịu thuế theo quy định pháp luật Luật thuế TNDN sau nhiều năm thực hiện
đã thể hiện được vai trò của mình trong đời sống, mang lại những tác động nhất định đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước cung như góp phần đáng
kể vào việc tăng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, theo thống kê, ngân sách nhà nước hàng năm vẫn thất thoát tới hàng nghìn tỷ đồng với một trong các nguyên nhân đến từ hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp, bao gồm gian lận thuế TNDN Những hành vi như vậy ngày càng diễn ra phức tạp, quy mô lớn với các thủ đoạn tinh vi Vì vậy, việc tìm hiểu các phương thức mà doanh nghiệp gian lận thuế để góp phần đề ra giải pháp phòng chống, hạn chế là công việc vô cùng cần thiết Do đó, em xin phép lựa chọn đề tài về thuế TNDN, cụ thể là đề số 13 phân tích những đặc trưng của thuế TNDN, giải thích tại sao pháp luật thuế TNDN lại phân biệt việc đánh thuế đối với thu nhập từ kinh doanh với thu nhập khác, và tìm hiểu những “thủ đoạn” chủ yếu
để doanh nghiệp gian lận thuế TNDN
NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận
1 Định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế TNDN còn thường được gọi là thuế thu nhập công ti Theo giáo trình Thuế của Trường đại học Kinh tế TP.HCM, “Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ” Còn theo giáo trình Thuế của Học
Trang 4viện Tài chính, thuế TNDN là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kì tính thuế Như vậy vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau, có lẽ
do chưa có định nghĩa cụ thể trong luật, nhưng dựa vào các quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 2013
và năm 2014 (sau đây sẽ gọi là Luật thuế TNDN) và các nghị định, thông tư hướng dẫn, có thể hiểu thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh vào phần thu nhập của các tổ chức kinh doanh nhằm đảm bảo sự đống góp công bằng, hợp
lí giữa các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Pháp luật thuế TNDN của Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức kinh doanh có thu nhập chịu thuế, bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác theo quy định của pháp luật Tất nhiên không phải toàn bộ thu nhập của các
cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNDN Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Tại Việt Nam, các thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ và thu nhập khác theo quy định của pháp luật
2 Các đặc trưng của thuế thu nhập doanh nghiệp
Bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó, những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển Nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp, người ta nhận thấy thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất Đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập
có nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đây có thể được xem là một trong những đặc trưng cơ bản của của thuế thu nhập doanh nghiệp Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định các khoản thu nhập của các tổ chức kinh doanh và các khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phi kinh doanh đều là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh
Trang 5trực tiếp vào thu nhập của doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế phát sinh Thu nhập nhập chịu thuế của các tổ chức kinh doanh bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập khác phát sinh trong quá trình tổ chức kinh doanh tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Như vậy, mức độ động viên của ngân sách nhà nước đối với loại thuế này phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp Và trong đó các khoản thu nhập có nguồn gốc phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh là đối tượng chịu thuế chủ yếu của thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt thường là một số tiền cộng thêm vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ, người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ là người tập hợp và nộp thuế vào kho bạc Vì vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào mức tiêu dùng hàng hóa Khác với thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế Do thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các tổ chức kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, các tổ chức kinh doanh có thể tiến hành tìm kiếm lợi nhuận bằng nhiều hình thức không được pháp luật cho phép Thu nhập có được từ hoạt động kinh doanh bất hợp pháp không thể là đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp Vì vậy, một khoản thu nhập của các cơ sở kinh doanh được xem là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp khi và chỉ khi đó là khoản thu nhập hợp pháp của các chủ thể được phép tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, ngoài thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ thể tiến hành sản xuất, kinh doanh có thể có những khoản thu nhập khác Thu nhập khác là khoản thu nhập không thuộc các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh ghi trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, thu nhập này có được từ nhiều nguồn
Trang 6khác nhau như: quà biếu, quà tặng từ các cá nhân, tổ chức khác, thanh lý tài sản, tiền thu được từ các khoản nợ khó đòi đã xóa sổ nhưng nay đòi lại được, Những thu nhập này tuy không mang tính chất thường xuyên, không xuất phát từ hoạt động kinh doanh chính của cơ sở kinh doanh nhưng thực chất cũng là sự nỗ lực tìm kiếm thêm nguồn thu cho cơ sở kinh doanh những thu nhập này cũng chính là thu nhập có được trong quá trình hoạt động và tồn tại của cơ sở kinh doanh Do đó, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã xác định đây cũng là khoản thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp
Như vậy, đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ bao gồm thu nhập
có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các khoản thu nhập khác mà cơ sở kinh doanh có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ Hay nói cách khác là toàn bộ thu nhập có được từ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp là thu nhập sẽ chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có thu nhập chịu thuế càng cao thì sẽ phải nộp thuế thu nhập càng nhiều và ngược lại, các doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế thấp hoặc gặp khó khăn về tài chính sẽ chỉ nộp thuế ít thậm chí được giảm thuế, miễn thuế
Thứ hai, Thuế TNDN có chủ thể nộp thuế là doanh nghiệp
Đây là đặc trưng của thuế TNDN để phân biệt giữa thuế TNDN và thuế TNCN Đối tượng nộp thuế TNCN theo luật quy định là tất cả các cá nhân trong xã hội khi có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN, bao gồm cả cá nhân cư trú hoặc không cư trú
Đối với pháp luật thuế TNDN, chủ thể nộp thuế là các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế phát sinh theo quy định Như vậy có thể hiểu bất kì tổ chức nào dù là doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước, đơn vị sự nghiệp hoặc tổ chức khác, miễn là thỏa mãn hành vi kinh doanh và có thu nhập phát sinh thì đều là chủ thể chịu thuế TNDN Tuy nhiên, để thực hiện chính sách khuyến khích đãi ngộ với một số đối tượng
Trang 7hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn và thường tạo ra thu nhập không cao, luật thuế TNDN có quy định các trường hợp ngoại lệ
Thứ ba, Thuế TNDN là thuế trực thu
Thuế trực thu bao gồm các loại thuế như thuế thu nhập, thuế đánh vào của cải, thuế đánh vào đối tượng thường trú Tính trực thu của thuế TNDN biển hiện ở sự đồng nhất giữa chủ thể nộp thuế và chủ thể gánh chịu số tiền thuế TNDN, tức đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế là một, không có sự chuyển giao nghĩa vụ từ người nộp thuế sang cho người chịu thuế hay bất kì
ai khác Thuế trực thu có vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời hướng tới mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hòa thu nhập xã hội Mục tiêu này thể hiện ở việc thuế trực thu cá biệt hóa người chịu thuế, điều tiết phần thu nhập thặng dư của chủ thể này Tuy vậy, điều đó lại gây ra sự phản ứng về thuế của người nộp thuế với gánh nặng phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền mà không chuyển dịch được cho chủ thể khác Từ đó sinh ra tâm lý trốn thuế, làm giảm số thuế mình phải nộp bằng nhiều cách thức khác nhau như: khai giảm thu nhập, kê khai nhiều khoản chi phí sẽ được khấu trừ trước khi tính thuế
Để hạn chế tình trạng này, pháp luật thuế TNDN thường có những chính sách đãi ngộ về miễn, giảm thuế Do thuế TNDN là loại thuế đánh vào thu nhập nên cần xem xét đến khả năng của người nộp thuế Vì vậy, chính sách thuế TNDN của mỗi quốc gia cần có sự linh hoạt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới thành lập ổn định và phát triển, cũng như khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động đặc thù (phụ nữ, người tàn tật ), giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính… từ đó bảo đảm chức năng khuyến khích, thực hiện mục tiêu điều tiết của loại thuế này
Thứ tư, Thuế TNDN là loại thuế phức tạp, có tính ổn định không cao.
Thuế thu nhập nói chung và thuế TNDN nói riêng là loại thuế có tính chất phức tạp, tính ổn định không cao, việc quản llí thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lí thường lớn hơn so với các loại thuế khác Như đã trình
Trang 8bày ở trên, thuế TNDN đánh vào phần thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp
có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kì tính thuế, do vậy việc xác định các khoản thu nhập một cách chính xác là vô cùng quan trọng Không chỉ xác định về số lượng mà còn cần quan tâm tới cả nguồn gốc của thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập… Khoản thu của một doanh nghiệp phát sinh từ chi nhánh của doanh nghiệp đó trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam sẽ phải chịu thuế khác với khoản thu cũng của doanh nghiệp đó phát sinh từ chi nhánh ở nước ngoài; hay dù cùng có cơ sở kinh doanh ở Việt Nam nhưng phần thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới ở thành phố Cao Bằng sẽ được hưởng 10% thuế suất ưu đãi so với phần thu nhập thu được ở thành phố Hà Nội Bên cạnh đó, bởi việc đánh thuế TNDN làm giảm trực tiếp thu nhập của doanh nghiệp, gây ra cảm giác mất mát, nên khi xác định thu nhập chịu thuế cũng cần tính tới các khoản chi phí hợp lý để tiến hành khấu trừ Vì vậy, cơ quan quản lý thuế phải đầu tư rất nhiều cả về tài lực, vật lực và nhân lực cho công tác quản lý lĩnh vực thuế này, nhờ vậy mới có thể hạn chế tối đa tình trạng thất thoát thuế, cũng như đảm bảo mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế Ngoài ra, việc thuế TNDN đánh vào thu nhập của doanh nghiệp cũng một nguyên nhân khác dẫn đến tính chất phức tạp, không ổn định của bản thân nó Khoản thuế TNDN thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư Nếu kinh tế phát triển tốt, thu nhập sẽ khá hơn và từ đó thuế thu được sẽ tăng Nhưng ngược lại, sự suy giảm của nền kinh tế có thể làm giảm số lượng thu nhập nên số thuế thu được sẽ giảm
đi rõ rệt
Thứ năm, Thuế TNDN chịu sự điều chỉnh bởi luật quốc gia và luật quốc tế.
Thuế TNDN là một trong những sắc thuế quan trọng không chỉ trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam mà còn cả hệ thống pháp luật thực định của nhiều nước trên thế giới Vì vậy, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập
ở Việt Nam bao gồm các văn bản pháp luật quốc gia và cả luật pháp quốc tế
Trang 9Điều này có thể gây ra một số tình huống khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình nộp thuế như: hiện tượng đánh thuế trùng giữa hai quốc gia; hoặc hiện tượng phần thu nhập được miễn giảm thuế ở nước đặt chi nhánh kinh doanh, khi đưa về nước có trụ sở chính nơi người nộp thuế thuộc đối tượng cư trú lại phải chịu thuế Do đó, việc kí kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa các quốc gia nhằm điều chỉnh thuế TNDN là vô cùng cần thiết
II Nguyên nhân phân biệt việc đánh thuế đối với thu nhập từ kinh doanh với thu nhập khác
Như đã trình bày ở trên, thuế TNDN nước ta đánh trực tiếp vào phần thu nhập của doanh nghiệp trong thời kì tính thuế, thu nhập này có thể đến từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, đồng thời có thể đến từ nguồn thu nhập khác theo quy định của pháp luật Vậy tại sao lại cần có sự phân biệt này? Đối với doanh nghiệp, thu nhập từ kinh doanh là lợi nhuận có được đã trừ đi chi phí sản xuất, thu được dựa trên hoạt động kinh doanh được đăng kí trong danh mục đăng kí kinh doanh, còn hoạt động tạo ra thu nhập khác thì không nằm trong danh mục này Việc phân biệt nguồn thu như vậy có những
ý nghĩa khác nhau không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn với pháp luật thuế TNDN Điều này được giải thích bởi một số lý do như sau:
Thứ nhất, do đặc trưng của thu nhập từ kinh doanh và thu nhập khác là khác
nhau, khi thu nhập khác là khoản thu nhập vãng lai còn thu nhập từ kinh doanh có thể kê khai và kiểm tra thường xuyên Đối với thu nhập từ kinh doanh, do đây là nguồn thu nhập chính của doanh nghiệp nên có tính chất phát sinh định kỳ, đều đặn, thường xuyên, do đó việc tính toán, kiểm soát phần thu nhập này dễ dàng hơn Các khoản thu nhập khác do không phải hoạt động kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp, mà chỉ là một số con đường khác giúp doanh nghiệp thu được thêm lợi nhuận, nên không phát sinh thường xuyên trong kì tính thuế Thu nhập từ nguồn khác có thể trong năm nay phát sinh vài lần, ví dụ như khoản thu từ chuyển nhượng tài sản mà không phải bất động sản, nhưng sang năm khác lại không đem lại thu nhập cho doanh nghiệp
Trang 10Thu nhập khác không xuất phát từ hoạt động trong danh mục đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp nên cơ quan quản lí sẽ khó xác định khi nào họ thực hiện, khi nào không Do đó việc phân biệt hai nguồn thu này là hợp lý
Thứ hai, tính thường xuyên, đều đặn của hai loại thu nhập này là khác nhau,
vì vậy cần phân loại để có cách tính khác nhau Đối với khoản thu nhập thường xuyên, tức thu nhập từ hoạt động kinh doanh, sản xuất, thuế được tính theo từng kỳ Còn đối với thu nhập khác, những thu nhập này được đánh thuế theo từng lần Điều này vẫn được giải thích do sự ảnh hưởng của tính thường xuyên, khi thu nhập từ kinh doanh luôn đến đều đặn trong kỳ tính thuế, dù là những khoảng thời gian khác nhau - một tháng hay một năm, nên chỉ cần tính theo kỳ Thu nhập khác thì không như vậy, vì có thể trong kỳ này chúng phát sinh hai lần, nhưng kỳ sau lại phát sinh ba lần, bốn lần, do đó không thể có cùng cách tính với thu nhập thường xuyên được Điều này làm tăng thêm sự cần thiết phải phân biệt thuế từ hai khoản thu nhập này, để cơ quan có thẩm quyền có thể dễ dàng thực hiện việc thu thuế, giám sát việc quản lý thu thuế
và doanh nghiệp dễ dàng trong việc kê khai thu nhập chịu thuế của mình
Thứ ba, việc phân loại thu nhập góp phần xác định xem thu nhập từ nguồn
nào sẽ được hưởng ưu đãi thuế và ngược lại Ưu đãi thuế TNDN được quy định tại Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật thuế TNDN, bao gồm ưu đãi về thuế suất, về thời gian miễn thuế, giảm thuế và các trường hợp giảm thuế khác Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 18 luật này lại quy định những trường hợp
ưu đãi đó sẽ không được áp dụng đối với một số khoản thu nhập đặc biệt, ví
dụ như: thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn, chuyển nhượng dự án đầu tư… Có thể thấy, đây chính là những thu nhập của doanh nghiệp đến từ nguồn khác theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật thuế TNDN Như vậy, những đối tượng không được áp dụng quy định về ưu đãi thuế chính là các đối tượng nằm trong nguồn thu nhập khác của doanh nghiệp Hay nói cách khác, chỉ có thu nhập của doanh nghiệp đến từ hoạt động kinh doanh nằm trong danh mục đăng ký kinh doanh thì mới được xem xét hưởng