Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá đúng thực trạng quản lý và sử dụng cũng như phân tích được các yếu tố tác động và những khó khăn trong quản lý nhằm đề xuất các giải pháp để quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma hợp lý trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA
Ở HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
HUẾ - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA
Ở HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng quản lý và sử dụng
đất nghĩa trang, nghĩa địa ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” Tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, các thầy, cô hướng dẫn và các bạn
đồng nghiệp Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
- PGS.TS DƯƠNG VIẾT TÌNH, người Thầy hướng dẫn khoa học, đã tâm
huyết tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian, định hướng và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn
- Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy giáo, cô giáo khoa Tài nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp, Phòng đào tạo, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Quảng Trị đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban Nhân dân huyện Hướng Hóa, phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế-Hạ tầng, Chi cục Thống kê, UBND các cấp và các đơn vị, cá nhân đã tạo điều kiện, giúp
đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin nghiên cứu phục vụ luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình của tôi là nguồn động viên lớn lao và là những người truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Huế, ngày tháng 2 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tuấn
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Bằng phương pháp nghiên cứu điều tra và thu thập phân tích số liệu, đề tài luận văn đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng và quản lý sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma ở huyện Hướng hóa Kết quả nghiên cứu cho thấy, Hướng Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị có hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích nghĩa trang, nghĩa địa theo kết quả thống kê năm 2018
là 486,27 ha; chiếm 0,30% diện tích đất tự nhiên Hiện tại, huyện Hướng Hóa có khoảng 51 khu vực nghĩa trang tập trung, ngoài ra còn có nhiều khu vực nghĩa trang tự phát, rừng ma xen lẫn trong các khu rừng, khu dân cư chưa thống kê được
Tổng diện tích đất nghĩa trang tập trung toàn huyện là 159,37 ha Trên địa bàn huyện Hướng Hóa quỷ đất nghĩa trang, nghĩa địa ở địa bàn các xã khác nhau lớn
Các xã có diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa trên 20 ha là 8 xã, các xã có diện tích
từ 10 -20 ha là 4 xã, các xã còn lại có diện tích đất nghĩa trang nghĩa địa nhỏ hơn
10 ha là 10 xã Xã có đất nghĩa trang nghĩa địa lớn (khoảng từ 60-70ha) là xã Thanh, xã Thuận và xã Hướng Linh trong khi đó có xã diện tích đất rất ít (khoảng
từ 1-3ha) là xã Hướng Lập, Hướng Việt và xã A Túc Về biến động đất nghĩa trang, nghia địa và rừng ma trong 5 năm trên địa bàn huyện Hướng Hóa cho thấy về diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma, nếu so năm 2013 và các năm sau từ năm
2014 đến 2018 có biến động lớn,nguyên nhân là do trước năm 2014, số liệu thống
kê chỉ dựa trên dự đoán (số liệu thô) Từ năm 2014 đến 2018, bộ số liệu dự trên bản
đồ hiện trạng được tính toán số hóa Tuy nhiên, việc thống kê hàng năm cũng như tổng kiểm kê đất đai 5 năm một lần thì hầu như số liệu về đất nghĩa trang nghĩa địa của các xã vùng bản có độ chính xác thấp, rừng ma của đồng bào dân tộc Pa Cô, Vân Kiều thực chất là những khu rừng nguyên sinh nên được thống kê kiểm kê vào đất rừng đặc dụng và rừng phòng hộ
Đặc điểm hiện trạng đất nghĩa trang nghĩa địa và rừng ma ở các xã trên địa bàn huyện Hướng Hóa có 2 loại hình sử dụng đất là khu vực nghĩa trang, nghĩa địa tập trung tự phát và khu rừng ma của đồng bào dân tộc thiểu số Ở xã Túc có Có 08 khu rừng ma tập trung của 8 thôn bản và 12 rừng ma rải rác, nhỏ lẽ của của dòng họ đồng bào dân tộc thiểu số, ở thị trấn khe Sanh có 01 nghĩa trang theo quy hoạch, 04 khu vực tập trung tự phát, ở xã Hướng Phùng có 04 khu vực tập trung tự phát, 32 khu rừng ma của đồng bào dân tộc thiểu số Những khó khăn trong công tác quản lý đất đai về nghĩa trang nghĩa địa và rừng ma trên địa bàn các xã của huyện Hường Hóa là đất nghĩa trang nghĩa địa tự phát nằm rải rác trong đất nông nghiệp và các khu rừng ma
Trang 6của dân tộc thiểu số nằm rải rác trong rừng, khu dân cư
Cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ như chính sách, quy hoạch, tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho các cộng đồng trong việc sử dụng và quản lý đất nghĩa trang nghĩa địa và rừng ma nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng đất đai và bảo vệ tốt môi trường sống cho cộng đồng người dân tộc, trước mắt cần ưu tiên giải pháp quy hoạch lại các khu rừng ma xen kẻ trong đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất thổ cư Tập trung xây dựng một vài mô hình quản lý đất rừng ma bền vững trong sử dụng đất và bảo vệ môi trường sống cho cộng đồng
Từ các kết luận trên, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau: Cần bổ sung các quy hoạch chi tiết, kế hoạch cụ thể hàng năm về việc di dời, giải tỏa mồ mả trên địa bàn các xã về nơi tập trung theo đúng quy hoạch để việc di dời đảm bảo hiệu quả Trên cơ
sở quy hoạch đã được phê duyệt, phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất nghĩa trang, nghia đại và rừng ma ở các cộng đồng vùng núi Thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý, sử dụng, quy hoạch nghĩa trang trên địa bàn các xã nhằm hạn chế việc mua bán đất nghĩa địa bất hợp pháp Đối với rừng ma xen kẻ trong đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và trong các cộng đồng dân cư của người đồng bào cần sơm quy hoạch chi tiết để giải tỏa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo vệ môi trường sống cho cộng đồng./
Trang 7MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iv
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC CHỬ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xiii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích/mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Khái quát về đất đai và quản lý đất đai 3
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai 3
1.1.1.2 Khái quát về quản lý đất đai 3
1.1.2 Khái quát về quản lý, sử dụng và quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa 5
1.1.2.1 Các khái niệm liên quan đến nghĩa trang, nghĩa địa 5
1.1.2.2 Các quy định liên quan đến đất nghĩa trang, nghĩa địa 7
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15
1.2.1 Các loại hình nghĩa trang, nghĩa địa ở Việt Nam 15
1.2.1.1 Phân loại theo hình thức mai táng truyền thống 15
Trang 81.2.1.2 Phân loại theo phương cách quản lý 15
1.2.1.3 Phân loại theo công nghệ táng 15
1.2.1.4 Phân theo vùng địa lý và theo phong tục tập quán truyền thống 16
1.2.2 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở Việt Nam 16
1.2.2.1 Khái quát tình hình sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở Việt Nam 16
1.2.2.2 Khái quát tình hình quản lý nghĩa trang ở Việt Nam 18
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 19
1.3.1 Một số quy định về nghĩa trang mai táng tại các nước trên thế giới 19
1.3.3 Một số nghiên cứu tại Việt Nam có tính liên quan đến đề tài 21
1.4 TỔNG QUAN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA Ở TỈNH QUẢNG TRỊ 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 39
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 39
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 39
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN HƯỚNG HÓA 42
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
3.1.1.1 Vị trí địa lý 42
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 42
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 44
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 45
3.1.2.1 Tài nguyên đất 45
3.1.2.2 Tài nguyên nước 47
3.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản 48
3.1.2.4 Tài nguyên rừng 48
Trang 93.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 49
3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ 49
3.2.1 Tình hình quản lý sử dụng đất đai 49
3.2.2 Biến động đất đai giai đoạn 2014 đến 2018 52
3.2.3 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 54
3.2.3.1 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính,bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; 54
3.2.3.2 Quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất 59
3.2.3.3 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, về xây dựng hệ thống thông tin đất đai 60
3.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai,quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 62
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VỀ DIỆN TÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA VÀ ĐẤT RỪNG MA TRÊN ĐỊA BÀN CÁC XÃ, THỊ TRẤN CỦA HUYỆN HƯỚNG HÓA 63
3.3.1 Thực trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma trên địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2013 -2018 63
3.3.2 Thực trạng quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma trên địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2013 -2018 68
3.4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA HỢP LÝ 91
3.4.1 Giải pháp quản lý, vận hành 91
3.4.1.1 Cải tiến công tác quản lý nhà nước về đất nghĩa trang, nghĩa địa, rùng ma trên địa bàn huyện Hướng Hóa 91
3.4.1.2 Nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, các ngành 91
3.4.1.3 Xử lý những tồn tại trong việc quản lý nghĩa trang, nghĩa địa 92
3.4.2 Giải pháp quy hoạch 92
3.4.2.1 Các giải pháp để thực hiện quy hoạch nghĩa trang 92
Trang 103.4.2.2 Lập quy hoạch chi tiết đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma trên địa bàn
huyện Hướng Hóa 93
3.4.3 Giải pháp tuyên truyền, xã hội hoá việc huy động các nguồn vốn 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 KẾT LUẬN 95
2 KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤC LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỬ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
CP : Cổ phần ĐVHC : Đơn vị hành chính HĐND : Hội đồng nhân dân NĐ-CP : Nghị định của Chính phủ
QĐ : Quyết định TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam UBND : Ủy ban nhân dân ATVSMT : An toàn vệ sinh môi trường
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu nghĩa trang và mai táng ở các nước 20
Bảng 1.2 Tóm tắt về công tác quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa ở Quảng Trị 38
Bảng 3.1 Quy mô và cơ cấu các loại đất chính ở huyện Hướng Hoá 45
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện hướng hóa năm 2017 50
Bảng 3.3 Cơ cấu, diện tích đất theo đơn vị hành chính 51
Bảng 3.4 Biến động đất đai huyện Hướng Hóa giai đoạn 2014 - 2017 52
Bảng 3.5 Biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Hướng Hóa giai đoạn 2014- 2017 53
Bảng 3.6 Biến động sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Hướng Hóa giai đoạn 2014- 2017 54
Bảng 3.7 Thống kê bản đồ địa chính huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 55
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả đo đạc, lập BĐĐC Tại huyện hướng hóa đến năm 2018 57 Bảng 3.9 Tổng hợp tình hình sử dụng đất Nghĩa trang, Nghĩa địa của các xã, thị trấn từ năm 2013 đến năm 2018 66
Bảng 3.10 Thực trạng và những khó khăn về công tác quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa ở huyện Hướng Hóa 69
Bảng 3.11 Tổng hợp các loại đất theo đơn vị hành chính của xã Hướng Phùng năm 2018 74
Bảng 3.12 Tổng hợp các loại đất theo đơn vị hành chính của xã A Túc năm 2018 79
Bảng 3.13 Tổng hợp các loại đất theo đơn vị hành chính của thị trấn Khe Sanh năm 2018 84
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 43
Hình 3.2 Cơ cấu đất nghĩa trang, nghĩa địa của huyện Hướng Hóa 63
Hình 3.3 Bản đồ không ảnh Khu Tâm linh huyện Hướng Hóa 65
Hình 3.4 Cơ cấu đất nghĩa trang, nghĩa địa của xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa 73
Hình 3.5 Ông Hồ Văn Sáu, cán bộ Địa chính-Xây dựng xã Hướng Phùng bên gốc cây cổ thụ trong Rừng ma ở xã Hường Phùng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 76
Hình 3.6 Bản đồ không ảnh một khu rừng Ma đã bị khai thách một phần tại thôn Tân Pun, xã Hướng Phùng huyện Hướng Hóa 77
Hình 3.7: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2025 của Xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 78
Hình 3.8 Cơ cấu đất nghĩa trang, nghĩa địa của xã A Túc, huyện Hướng Hóa 79
Hình 3.9 Bản đồ không ảnh một khu rừng Ma còn nguyên sinh tại thôn Kỳ Nơi, xã A Túc, huyện Hướng Hóa 81
Hình 3.10 Ông Hồ Cu Để, cán bộ Địa chính-Xây dựng xã A Túc bên Rừng ma chỉ còn lại chủng gỗ tạp ở xã A Túc, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 82
Hình 3.11 Cơ cấu đất nghĩa trang, nghĩa địa của, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa 83
Hình 3.12 Ông Lê Khánh Vũ, cán bộ Địa chính-xây dựng thị trấn Khe Sanh bên khu nghĩa trang làng Thượng Văn, thị trấn Khe Sanh 87
Hình 3.13 Một khu nghĩa địa tại thị trấn Khe Sanh còn tình trạng làm mộ gió, dòng họ tự khoanh bao lấn chiếm 87
Hình 3.14 Văn bản góp ý dự thảo Quyết định ban hành quy chế quản lý và sử dụng hai nghĩa trang nhân dân tại thị trấn Khe Sanh và thị trấn Lao Bảo 90
Hình 3.15 Tác giả bên khu Tâm linh của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 94
Trang 14DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Cơ cấu đất nghĩa trang, nghĩa địa tỉnh Quảng Trị 22
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân
ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay Đồng thời, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử dụng một cách
có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững
Địa táng là một trong những phong tục lâu đời của dân tộc ta Từ xưa, việc tổ chức tang lễ và chôn cất người chết là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc xây dựng lăng mộ cho người chết tại các địa phương trong tỉnh diễn ra ồ ạt với quy mô ngày một lớn gây nên
sự lãng phí về của cải vật chất, diện tích đất sử dụng và ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân tại địa phương có nghĩa địa
Đất nghĩa trang, nghĩa địa đang trở thành vấn đề lớn, cần quan tâm của đô thị Việt Nam Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu của người dân tăng cao thì vấn đề lễ nghĩa càng được xem trọng, vì vậy công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa gặp nhiều khó khăn
Vấn đề sử dụng đất để xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa là việc làm quan trọng trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam, nó thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những thế hệ đi trước và người có công với nước, đó cũng là nét đẹp văn hoá trong sinh hoạt cộng đồng Có thể nói đất nghĩa trang, nghĩa địa là loại đất đặc biệt và việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa cũng rất đặc biệt là bởi nó gắn liền với phong tục, tập quán và sinh hoạt văn hoá của từng địa phương, từng dân tộc và từng dòng họ
Huyện Hướng Hóa ngoài các nghĩa trang, nghĩa địa thì rừng ma chiếm một diện tích lớn theo phong tục của các dòng tộc ở các thôn, bản Vì vậy cần nghiên cứu thực trạng và quản lý sử dụng một cách đầy đủ và toàn diện về đất nghĩa trang, nghĩa địa, đặc biệt là rừng ma để đánh giá đúng thực trạng quản lý và sử dụng, phân tích các yếu tố tác động và những khó khăn trong quản lý, đề xuất các giải pháp để quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma hợp lý trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị một cách ổn định và bền vững
Trang 16
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị”
2 Mục đích/mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá đúng thực trạng quản lý và sử dụng cũng như phân tích được các yếu tố tác động và những khó khăn trong quản lý nhằm đề xuất các giải pháp để quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa và rừng ma hợp lý trên địa bàn huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về vấn đề quản lý
và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa, rừng ma Đồng thời, cung cấp nguồn thông tin đáng tin cậy làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa, rừng ma cũng như các vấn đề liên quan đối với loại hình sử dụng đất này
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các thông tin cơ bản cho việc xây dựng các luận cứ cho các chương trình, dự án quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa, rừng ma nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
- Là cơ sở để cung cấp các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ, hợp lý Sử dụng quỹ đất tiết kiệm cho toàn huyện, tránh lãng phí trong việc tổ chức tang lễ và xây dựng
mộ Tạo sự hoàn thiện phát triển bền vững cho môi trường sống Tạo quỹ đất sạch cho địa phương, tạo công ăn việc làm mới cho người dân trên địa bàn nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái quát về đất đai và quản lý đất đai
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Theo V.V Đôcutraiep (1846-1903): Đất là tầng ngoài cùng của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụng của tổng hợp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương Viện sĩ thổ nhưỡng nông hoá Liên Xô (cũ) V.R Viliam (1863-1939) thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng
Theo quan điểm của C Mác: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâm nghiệp
Theo quan điểm của FAO thì đất được xem như là tổng thể của nhiều yếu tố gồm: Khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thực vật, động vật, những biến đổi của đất do hoạt động con người
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái Đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hoá ra, có độ phì nhiêu, trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ
Như vậy, tuỳ theo quan điểm trong từng lĩnh vực về chuyên môn, mà đất đai được các tác giả nhìn nhận trên các phương diện khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau
Tuy nhiên hiện nay khi nói đến đất người ta thường dùng hai khái niệm là đất (soil) và đất đai (land) Đất (soil) là lớp đất mặt của vỏ trái đất gọi là Thổ nhưỡng Thổ nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (khí quyển), nước (thuỷ quyển), sinh vật (sinh quyển) và đá mẹ (thạch quyển) qua thời gian lâu dài
Khái niệm đất theo nghĩa đất đai (land) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đất như là không gian, cộng đồng lãnh thổ, vị trí địa lý, nguồn vốn, môi trường, tài sản Trong quản lý Nhà nước về đất đai người ta thường đề cập đến đất theo nghĩa đất đai
1.1.1.2 Khái quát về quản lý đất đai
a Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của
Trang 18đất đai nhằm nắm chắc về chất lượng, số lượng từng loại đất ở từng vùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất quy hoạch, kế hoạch, sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc bỏ hoang, bỏ hóa, làm cho đất xấu đi
Quản lý nhà nước về đất đai thống nhất trong cả nước là thống nhất về đường lối, chính sách đất đai của Đảng và Chính phủ, thể hiện cụ thể ở Luật đất đai, những văn bản dưới luật phải được triển khai đồng bộ và thống nhất từ Trung ương tới địa phương, làm cho người sử dụng đất hiểu được pháp luật và thực hiện đúng pháp luật về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai nhằm cung cấp các hồ sơ, tài liệu số liệu liên quan đến đất đai trong cả nước, giúp cho Chính phủ và các ngành, các địa phương có kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, là cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý
Tóm lại, thực chất của quản lý đất đai là quản lý con người sử dụng đất: mỗi loại đất ở mỗi vùng khác nhau được nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các chủ sử dụng với mục đích được pháp luật quy định Quản lý nhà nước về đất đai được xây dựng trên nền tảng học thuyết Mác - Lênin: “đất đai là đối tượng lao động và tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được’’
b Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Theo điều 22 Luật đất đai năm 2013 nội dung về quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
Trang 19- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và
sử dụng đất đai
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
1.1.2 Khái quát về quản lý, sử dụng và quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa
1.1.2.1 Các khái niệm liên quan đến nghĩa trang, nghĩa địa
Con người cũng như mọi sinh vật khác sinh ra, tồn tại và phát triển trên trái đất đều tuân theo quy luật sinh tồn cơ bản nhất của tự nhiên là "sinh - lão - bệnh - tử"
Trong xã hội loài người, con người sau khi chết sẽ được mai táng theo những nghi thức truyền thống với ý niệm đưa người đã khuất về nơi an nghỉ cuối cùng và giúp cho linh hồn người chết được siêu thoát Tập tục mai táng chính là sự bày tỏ niềm thương tiếc, lòng biết ơn của con cháu với công dưỡng dục, sự biết ơn của cộng đồng xã hội với công lao đóng góp của người đã khuất Theo quan niệm phương Tây, nghĩa trang
là nơi mà thi thể người chết và di hài sau khi chết được chôn cất Trong tiếng Anh, từ nghĩa trang là cemetery có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp là κοιµητήριον: nơi an nghỉ - vùng đất dành riêng cho việc chôn cất
Tuy nhiên, cách thức quản lý, sử dụng đất và các hoạt động tưởng nhớ người đã khuất được thực hiện tùy theo phong tục tập quán, tôn giáo của từng địa phương, trong từng giai đoạn nhất định Còn ở Việt Nam, nơi chôn cất người chết được gọi là nghĩa trang, nghĩa địa hoặc bãi tha ma Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm rõ ràng để phân biệt các thuật ngữ: nghĩa trang, nghĩa địa, bãi tha ma
Đất nghĩa trang là đất dùng cho việc táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau, thuộc các đối tượng khác nhau và được quản lý, xây dựng theo quy hoạch Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều khu táng người chết tập trung nhưng việc quản lý và xây dựng không có hoặc không theo quy hoạch mà theo phong tục tập quán, các phần mộ được đặt theo các hướng không thống nhất, thông thường do các
"thầy địa lý˝ chọn hướng theo tuổi của người chết, ranh giới ngăn cách giữa khu 6 táng người chết và khu đất khác không rõ ràng Những khu đất như thế dân gian vẫn gọi đó
là bãi tha ma hay nghĩa địa (khi đó hai thuật ngữ bãi tha ma và nghĩa địa được hiểu
Trang 20như nhau) Đất nghĩa trang, nghĩa địa là đất để làm nơi mai táng tập trung Trong đó, đất nghĩa trang là đất được quy hoạch tập trung Đất nghĩa địa là đất được sử dụng vào mục đích chôn cất; song một cách rãi rác, chưa được tập trung, quy hoạch
Nghĩa trang hay còn gọi là nghĩa địa, là nơi mà thi thể người chết và thi hài sau
khi hỏa táng được chôn cất Trong tiếng Anh, từ nghĩa trang là cemetery, xuất xứ từ tiếng Hy Lạp là κοιμητήριον (nơi an nghỉ) ngụ ý vùng đất đó dành riêng cho cho việc chôn
cất Ở phương Tây, nghĩa trang là nơi mà các hoạt động tưởng nhớ người đã khuất được tiến hành Các nghi lễ này được thực hiện tùy theo phong tục tập quán hay tôn giáo
Nghĩa trang là nơi táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau, thuộc các đối tượng khác nhau và được quản lý, xây dựng theo quy hoạch
“Rừng ma” là những khu rừng nguyên sinh, nơi táng người chết tập trung kèm theo cac vật tùy táng của đồng bào dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều [Số liệu điều tra sơ cấp]
Nghĩa trang liệt sỹ là nơi chôn cất phần mộ đồng thời là nơi tưởng niệm, ghi công các liệt sỹ đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc
Nghĩa trang quốc gia là nơi chôn cất phần mộ đồng thời là nơi tưởng niệm, ghi công các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, các danh nhân văn hóa, các nhà khoa học có công với đất nước
Phần mộ cá nhân là nơi táng thi hài, hài cốt của một người
Các hình thức táng người chết bao gồm: mai táng, hỏa táng và các hình thức táng khác
Táng là thực hiện việc lưu giữ hài cốt hoặc thi hài của người chết
Mai táng là thực hiện việc lưu giữ hài cốt hoặc thi hài của người chết ở một địa điểm dưới mặt đất
Chôn cất một lần là hình thức mai táng thi hài vĩnh viễn trong đất
Hung táng là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ được cải táng
Cải táng là thực hiện việc chuyển xương cốt từ mộ hung táng sang hình thức táng khác
Cát táng là hình thức mai táng hài cốt sau khi cải táng
Hỏa táng là thực hiện việc thiêu xác người chết hoặc hài cốt ở nhiệt độ cao
Hoạt động xây dựng nghĩa trang bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu
tư xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng nghĩa trang, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động
Trang 21xây dựng và các hoạt động khác liên quan đến xây dựng nghĩa trang
Quản lý nghĩa trang là việc thực hiện các nội dung theo quy chế quản lý đã được phê duyệt
Quy hoạch xây dựng nghĩa trang là việc tổ chức không gian kiến trúc, phân khu chức năng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nghĩa trang nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả về đất đai và đáp ứng yêu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường, làm cơ sở pháp lý cho việc đầu tư xây dựng, cải tạo, sử dụng và quản lý nghĩa trang
Quy hoạch địa điểm nghĩa trang là một nội dung của đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn; khi phê duyệt các quy hoạch này, cơ quan có thẩm quyền đồng thời phê duyệt quy hoạch địa điểm nghĩa trang
Cải tạo và mở rộng nghĩa trang là thực hiện việc chỉnh trang, nâng cấp các công trình trong nghĩa trang hiện đang sử dụng và xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành đối với diện tích mở rộng nhằm bảo đảm về cảnh quan, môi trường
Đóng cửa nghĩa trang là việc không cho phép tiếp tục thực hiện các hoạt động táng trong nghĩa trang
Di chuyển nghĩa trang là thực hiện việc chuyển thi hài, hài cốt trong nghĩa trang đến một nghĩa trang khác được xây dựng theo quy hoạch
Dịch vụ nghĩa trang bao gồm tổ chức tang lễ, mai táng hoặc hỏa táng thi hài hoặc hài cốt; xây mộ, cải táng, chăm sóc mộ, tu sửa mộ, chăm sóc, bảo quản, lưu giữ tro cốt tại các nhà lưu giữ tro cốt theo nhu cầu và dịch vụ phục vụ việc thăm viếng, tưởng niệm
Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang là người đang sống có quan hệ với người được táng trong nghĩa trang hoặc đến thăm viếng, tưởng niệm.[10]
1.1.2.2 Các quy định liên quan đến đất nghĩa trang, nghĩa địa
Trên cơ sở những quy định tại Điều 162 Luật Đất đai năm 2013, quy định về quản lý và sử dụng nghĩa trang như sau:
1 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa phải quy hoạch thành khu tập trung, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, xa khu dân cư, thuận tiện cho việc chôn cất, thăm viếng, hợp vệ sinh, bảo đảm môi trường và tiết kiệm đất
2 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức đất và chế độ quản lý việc xây dựng phần mộ, tượng đài, bia tưởng niệm trong nghĩa trang, nghĩa địa bảo đảm tiết kiệm và
có chính sách khuyến khích việc an táng không sử dụng đất
Trang 223 Nghiêm cấm việc lập nghĩa trang, nghĩa địa trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Tại khoản 2, điều 54 Luật Đất đai năm 2013, quy định về giao đất nghĩa trang, nghĩa địa không thu tiền sử dụng đất như sau:
“ Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự
nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất
sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa” không thuộc trường hợp tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự
án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với
hạ tầng.[21]
a Các quy định về quản lý và sử dụng nghĩa trang
* Xác định đơn vị quản lý nghĩa trang:
- Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp quản lý nghĩa trang của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xác định và giao đơn vị quản lý đối với các nghĩa trang thuộc quyền quản lý được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý hoặc thuê quản lý nghĩa trang do mình đầu tư xây dựng
* Nội dung quản lý nghĩa trang:
- Đối với nghĩa trang đã đóng cửa:
+ Định kỳ chăm sóc, bảo quản, gìn giữ phần mộ, tro cốt tại các nhà lưu giữ, duy
tu bảo dưỡng các công trình trong nghĩa trang + Bảo đảm các quy định về vệ sinh môi trường trong nghĩa trang + Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang
+ Quy định, chỉ dẫn khách thăm viếng, tưởng niệm và quản lý các hoạt động trong nghĩa trang
- Đối với nghĩa trang đang sử dụng:
+ Quản lý sử dụng đất, xây dựng phần mộ, bia mộ và các công trình trong nghĩa trang tuân theo quy hoạch xây dựng, quy chế quản lý nghĩa trang được người có thẩm quyền phê duyệt
+ Giám sát quản lý hoặc trực tiếp cung cấp các dịch vụ nghĩa trang
* Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang:
- Nội dung của hồ sơ nghĩa trang:
Trang 23+ Sơ đồ vị trí các khu chức năng, lô mộ, nhóm mộ, hàng mộ và phần mộ; sơ đồ
vị trí các ô lưu giữ tro cốt tại nhà lưu giữ tro cốt + Tất cá các phần mộ trong nghĩa trang, các ô lưu giữ tro cốt tại nhà lưu giữ tro cốt đều phải được đánh số
+ Có sổ theo dõi hoạt động táng trong nghĩa trang, lưu giữ tro cốt tại nhà lưu giữ tro cốt theo thời gian và lưu trữ các thông tin cơ bản của người được táng, lưu giữ tro cốt và thân nhân
- Đơn vị quản lý nghĩa trang có trách nhiệm lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang đồng thời cung cấp thông tin cho tổ chức và cá nhân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật
* Chi phí quản lý nghĩa trang:
- Đối với các nghĩa trang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước thì chi phí quản lý được lấy từ nguồn thu dịch vụ nghĩa trang và nguồn vốn ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật
- Đối với các nghĩa trang do các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, chi phí quản
lý được lấy từ nguồn thu dịch vụ nghĩa trang
* Giá dịch vụ nghĩa trang:
- Giá dịch vụ nghĩa trang phải được tính đúng, tính đủ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương và phải được niêm yết công khai
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định giá dịch vụ nghĩa trang do đơn vị quản lý nghĩa trang cung cấp đối với các nghĩa trang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh
- Tổ chức, cá nhân tự quyết định giá dịch vụ nghĩa trang do mình cung cấp trên
cơ sở phương án khai thác kinh doanh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận đối với các nghĩa trang do mình đầu tư xây dựng
* Quy chế quản lý nghĩa trang:
- Các nghĩa trang đều phải có quy chế quản lý
- Nội dung cơ bản của quy chế quản lý nghĩa trang bao gồm:
+ Các quy định về ranh giới, quy mô nghĩa trang và các khu chức năng trong nghĩa trang + Các quy định về xây dựng, cải tạo, chỉnh trang, duy tu, bảo dưỡng các công trình xây dựng, các phần mộ trong nghĩa trang
+ Các quy định về bảo vệ nghĩa trang và bảo vệ môi trường + Các quy định về hoạt động táng, lưu giữ tro cốt trong nghĩa trang
Trang 24+ Các quy định về hoạt động lễ nghi, tín ngưỡng và các hoạt động khác có liên quan + Các hành vi vi phạm và quy định xử phạt
+ Trách nhiệm của đơn vị quản lý và người sử dụng nghĩa trang
- Thẩm quyền phê duyệt quy chế quản lý nghĩa trang:
+ Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp quản lý nghĩa trang phê duyệt quy chế quản lý nghĩa trang đối với các nghĩa trang do mình quản lý được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
+ Tổ chức, cá nhân phê duyệt quy chế quản lý nghĩa trang do mình đầu tư xây dựng sau khi có thỏa thuận của Ủy ban nhân dân theo phân cấp quản lý nghĩa trang của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và sau khi ban hành phải gửi cho Ủy ban nhân dân theo phân cấp quản lý nghĩa trang để quản lý, giám sát, kiểm tra việc thực hiện
* Trách nhiệm của đơn vị quản lý nghĩa trang:
- Quản lý nghĩa trang theo quy chế được người có thẩm quyền phê duyệt
- Cung cấp các dịch vụ nghĩa trang cho người sử dụng, bảo đảm chất lượng dịch
vụ theo quy định
- Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
* Trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ nghĩa trang:
- Tuân thủ các quy định của nghĩa trang và các quy định của pháp luật có liên quan
- Thực hiện các trách nhiệm theo thỏa thuận với đơn vị quản lý nghĩa trang
b Các quy định về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang
* Các nguyên tắc đối với hoạt động xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang:
- Tất cả các nghĩa trang đều phải được quy hoạch và xây dựng theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Việc táng người chết phải được thực hiện trong các nghĩa trang, trường hợp táng trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải bảo đảm vệ sinh môi trường và được sự chấp thuận của chính quyền địa phương theo phân cấp của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)
- Việc táng phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
- Sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả và bảo đảm các yêu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường
Trang 25* Quy định diện tích đất tối đa cho một phần mộ cá nhân:
- Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ hung táng và chôn cất một lần tối đa không quá 6 m2
- Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ cát táng tối đa không quá 4 m2
* Quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng nghĩa trang:
- Hoạt động xây dựng nghĩa trang phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật
- Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng nghĩa trang
* Hỗ trợ, ưu đãi đầu tư xây dựng nghĩa trang:
- Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nghĩa trang theo quy định của pháp luật
- Các tổ chức và cá nhân đầu tư xây dựng nghĩa trang được nhà nước:
+ Cấp đất xây dựng nghĩa trang lâu dài và không thu tiền sử dụng đất + Hỗ trợ xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào
+ Hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng tuỳ theo quy mô, hình thức đầu tư, công nghệ được áp dụng và tác động đến môi trường của dự án
+ Hỗ trợ đầu tư và hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư
- Khuyến khích xã hội hoá đầu tư xây dựng nghĩa trang và sử dụng các hình thức táng mới văn minh hiện đại, góp phần thay đổi tập quán cũ, tiết kiệm quỹ đất, bảo
vệ môi trường, tuỳ theo tình hình cụ thể và khả năng của mình, chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ chi phí táng cho những người sử dụng địch vụ này
* Chính sách xã hội đối với các đối tượng đặc biệt:
- Người vô gia cư không có thân nhân hoặc có thân nhân nhưng không có điều kiện lo việc táng, khi chết ở địa phương nào thì chính quyền địa phương nơi đó có trách nhiệm lo toàn bộ chi phí táng phù hợp với điều kiện của địa phương
- Người không có thân nhân sống ở địa phương nào thì khi chết chính quyền địa phương đó có trách nhiệm tổ chức táng ở nghĩa trang tại địa phương với chi phí được lấy từ tài sản của người chết (nếu có) hoặc từ ngân sách địa phương
- Người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nguyện vọng được táng tại Việt Nam sau khi chết được xem xét, cho phép táng tại các nghĩa trang ở Việt Nam
- Đối với các trường hợp chết do thiên tai, dịch bệnh, chính quyền địa phương các cấp có trách nhiệm hỗ trợ, tổ chức táng cho người chết, bảo đảm yêu cầu về an
Trang 26toàn, vệ sinh phòng dịch, không gây ô nhiễm môi trường theo quy định của Bộ Y tế
- Đối với các mộ vô chủ hoặc không còn thân nhân chăm sóc, trường hợp hết thời hạn táng theo quy định, đơn vị quản lý nghĩa trang được phép di chuyển mộ tới vị trí khác trong nghĩa trang hoặc tới các nghĩa trang khác theo quy hoạch
c Quy đinh về quy hoạch, xây dựng , cải tạo, đóng cửa và di chuyển nghĩa trang
* Yêu cầu quy hoạch địa điểm nghĩa trang:
- Phù hợp với các điều kiện địa hình, điều kiện địa chất, địa chất thủy văn và khả năng khai thác quỹ đất
- Phù hợp với tổ chức phân bố dân cư và kết nối công trình hạ tầng kỹ thuật
- Đáp ứng nhu cầu táng trước mắt và lâu dài của khu vực lập quy hoạch
- Bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
- Khuyến khích quy hoạch các nghĩa trang phục vụ cho nhiều địa phương khác nhau và các nghĩa trang có sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm đất, kinh phí xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
* Nội dung quy hoạch địa điểm nghĩa trang:
- Xác định phạm vi phục vụ của các nghĩa trang
- Xác định nhu cầu táng và lựa chọn các hình thức táng phù hợp với điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, tín ngưỡng, phong tục và tập quán tốt, văn hoá, văn minh và bảo đảm tiết kiệm đất, hạn chế ô nhiễm môi trường
- Xác định các nghĩa trang cần đóng cửa, di chuyển hoặc cải tạo mở rộng để tiếp tục sử dụng
- Xác định vị trí và quy mô của các nghĩa trang xây dựng mới
- Dự báo tác động môi trường
* Quy hoạch xây dựng nghĩa trang:
- Các nghĩa trang xây dựng mới hoặc mở rộng đều phải lập quy hoạch xây dựng nghĩa trang
- Yêu cầu đối với quy hoạch xây dựng nghĩa trang:
+ Xác định cụ thể vị trí, quy mô, ranh giới của nghĩa trang + Xác định các hình thức táng sử dụng trong nghĩa trang + Xác định các chỉ tiêu kỹ thuật
+ Phân khu chức năng, phân lô mộ, nhóm mộ, hàng mộ, khoảng cách giữa các mộ
Trang 27tuân thủ theo quy định đồng thời phải thuận tiện cho việc thực hiện các nghi lễ táng + Phải có các quy định về kích thước, kiểu dáng các mộ, bia mộ; các yêu cầu đối với thiết kế công trình trong nghĩa trang
+ Hệ thống hạ tầng kỹ thuật; các công trình nhà hỏa táng, nhà lưu giữ tro cốt (nếu có), các công trình phục vụ, các công trình khác có liên quan phải được quy hoạch xây dựng đồng bộ, bảo đảm vệ sinh môi trường
+ Đánh giá tác động môi trường + Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phân cấp trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng nghĩa trang trên địa bàn tỉnh theo các quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng
* Xây dựng mới hoặc mở rộng nghĩa trang:
- Xây dựng mới hoặc mở rộng nghĩa trang phải tuân theo quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật phải được xây dựng đồng bộ
- Xây dựng mộ, bia mộ và các công trình khác trong nghĩa trang phải tuân theo các quy định của pháp luật về xây dựng
- Kích thước, kiểu dáng các mộ, bia mộ và khoảng cách giữa các mộ, phải tuân thủ theo các quy định của quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
* Cải tạo nghĩa trang:
- Các nghĩa trang được cải tạo khi vẫn còn phù hợp với quy hoạch xây dựng nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan, môi trường chưa phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành
- Nội dung cải tạo nghĩa trang:
+ Xác lập ranh giới nghĩa trang theo quy hoạch đã được phê duyệt + Trồng cây xanh bao quanh, cây xanh trong nghĩa trang
+ Cải tạo, chỉnh trang, nâng cấp các công trình hạ tầng kỹ thuật trong nghĩa trang
Đối với diện tích đất chưa sử dụng phải phân khu vực táng rõ ràng, phân lô mộ, nhóm mộ, hàng mộ, quy định về diện tích, kích thước và kiến trúc mộ
* Đóng cửa nghĩa trang:
- Các nghĩa trang phải được đóng cửa khi không còn diện tích sử dụng, không
có điều kiện mở rộng và không gây ô nhiễm môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép mà có khả năng khắc phục
Trang 28- Các nhiệm vụ phải thực hiện khi đóng cửa nghĩa trang:
+ Việc đóng cửa nghĩa trang do cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thông báo công khai
+ Khắc phục ô nhiễm môi trường trước khi đóng cửa nghĩa trang (nếu có) + Cải tạo, chỉnh trang lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật, mộ chí và các công trình trong nghĩa trang, trồng cây xanh, thảm cỏ trong và xung quanh nghĩa trang
+ Các nghĩa trang trong đô thị hoặc trong khu dân cư nông thôn phải có tường rào hoặc hàng rào cây xanh bao quanh với chiều cao đủ bảo đảm cho dân cư xung quanh không bị ảnh hưởng
+ Đối với nghĩa trang nằm bên đường quốc lộ phải trồng cây xanh ngăn cách bảo đảm không ảnh hưởng tới mỹ quan, người tham gia giao thông
* Di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ:
- Các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ phải di chuyển khi:
+ Gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan nghiêm trọng mà không có khả năng khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng, không phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
+ Phục vụ các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng theo quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Các nhiệm vụ phải thực hiện khi di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ:
+ Thông báo về việc di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ + Tiến hành công tác di chuyển vào các nghĩa trang được xây dựng và quản lý theo quy hoạch
+ Trong quá trình di chuyển phải bảo đảm các yêu cầu về vệ sinh môi trường + Thực hiện các chính sách về giải tỏa, đền bù theo quy định của pháp luật
* Trách nhiệm cải tạo, đóng cửa, di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp dưới, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan thực hiện việc cải tạo, đóng cửa, di chuyển các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý
- Các nghĩa trang, phần mộ riêng lẻ nằm trong khu đất giải tỏa phải di chuyển
để thực hiện các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng thì chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng và di chuyển được tính trong tổng mức đầu tư của
Trang 291.2.1.1 Phân loại theo hình thức mai táng truyền thống
Người kinh phần lớn nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế nằm phổ biến ở hầu hết các dân tộc Việt Nam
Người đồng bào dân tộc thường dùng nhà mồ phổ biến ở một số dân tộc ít ười miền núi cao Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, nhà mồ là nơi lưu giữ hài cốt trên mặt đất sau khi bốc mộ
ng-Người đồng bào Chăm có hình thức nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế ngồi của đồng bào Chăm
1.2.1.2 Phân loại theo phương cách quản lý
Loại hình nghĩa trang công cộng do chính quyền quản lý như: nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang nhân dân đô thị, nghĩa trang liệt sỹ
Loại hình nghĩa trang tôn giáo do các tổ chức tôn giáo thành lập và quản lý như:
nghĩa trang của các chức sắc tôn giáo, nghĩa trang dành riêng cho các tín đồ tôn giáo
Loại hình nghĩa trang hội đoàn do các tổ chức hội đoàn nghề nghiệp, hội đoàn đồng hương và các bang hội người Hoa thành lập và quản lý như: nghĩa trang chùa nghệ sỹ (Tp Hồ Chí Minh), nghĩa trang của các bang hội người Hoa (bang Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, )
Loại hình nghĩa trang thuộc sở hữu tư nhân do người dân tự thành lập và quản lý trên phần đất được giao quyền sử dụng như: các nghĩa trang gia đình, nghĩa trang dòng họ
1.2.1.3 Phân loại theo công nghệ táng
Nghĩa trang địa táng: nghĩa trang Yên Kỳ (Hà Nội), nghĩa trang Thanh Tước (Vĩnh Phúc) Trong địa táng, lại được chia thành:
- Nghĩa trang hung táng (nơi diễn ra quá trình phân hủy các tổ chức phần mềm
cơ thể, xương cốt sau đó được bốc đưa đi nơi khác) như: nghĩa trang Hưng Lộc (Vinh), nghĩa trang Cầu Họ (Nam Định)
- Nghĩa trang chôn cất một lần (nghĩa trang hung táng nhưng không cải táng bốc xương cốt) như: nghĩa trang Đa Phước (thành phố Hồ Chí Minh), nghĩa trang
Trang 30Đông Lương (Đông Hà)
- Nghĩa trang cát táng (chỉ chôn cất xương cốt) như: nghĩa trang Yên Kỳ (Hà Tây), nghĩa trang Nghi Phú (Vinh)
- Nghĩa trang hung táng và chôn cất một lần, nghĩa trang hung táng và cát táng như:
nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội)
Nghĩa trang địa táng và kết hợp hoả táng: nghĩa trang Bình Hưng Hòa (thành phố Hồ Chí Minh)
1.2.1.4 Phân theo vùng địa lý và theo phong tục tập quán truyền thống
Từ vĩ tuyến 17 trở ra: nghĩa trang hung táng và nghĩa trang cát táng phân bố chủ yếu ở các khu vực người Kinh sinh sống
Từ vĩ tuyến 17 trở vào: phổ biến là nghĩa trang chôn cất một lần
Trong tất cả các loại nghĩa trang trên, nghĩa trang hung táng là nghĩa trang tiềm
ẩn khả năng tác động đến môi trường đất, nước ngầm lớn nhất, tiếp sau đến nghĩa trang chôn một lần và cuối cùng là nghĩa trang cát táng
1.2.2 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở Việt Nam
1.2.2.1 Khái quát tình hình sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở Việt Nam
Sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa là việc dùng quỹ đất để táng người đã chết (để xây các mộ phần, khu lưu trữ tro) và xây dựng các công trình phục vụ việc táng (nhà tang lễ, đài tưởng niệm, nhà hỏa táng, đường, hệ thống xử lý rác, nước thải, )
Theo các số liệu thống kê, hiện nay tỷ lệ diện tích đất nghĩa trang trong các đô thị khá lớn Trong đó, đa phần (chiếm 80%) là các nghĩa trang nhân dân riêng của các phường, xã, làng, bản, cụm dân cư vẫn đang hoạt động không thuộc sự quản lý của chính quyền địa phương Trong các nghĩa trang nhân dân đô thị đã khảo sát, hiện tại tỷ
lệ sử dụng diện tích đất dùng cho mai táng là khá cao, lên tới 60 - 90% tổng diện tích đất nghĩa trang Diện tích đất dành cho giao thông nội bộ hiện thường chiếm từ 9,35 - 20,07%; diện tích đất dành cho cây xanh là từ 0 -16%
Theo các kết quả khảo sát chất lượng môi trường đã được thực hiện tại một số nghĩa trang đô thị và điểm dân cư xung quanh (thực hiện tại khu vực các nghĩa trang đô thị của thành phố Hà Nội, Huế, Việt Trì, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Sầm Sơn) về chất lượng nước mặt và nước ngầm cho thấy: so với Tiêu chuẩn 505 BYT/QĐ ngày 13/4/1992 của
Bộ Y tế về vệ sinh đối với chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt thì độ pH thường là axit, hàm lượng Coliform từ 20 - 3.667 lần, hàm lượng BOD5 và COD của nước mặt và nước
Trang 31ngầm vượt quá từ 2 đến hơn 15 lần, hàm lượng NO3
Việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch tốt đã khiến
Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km² Theo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Nội, trên toàn địa bàn Thủ đô chỉ
có 7 nghĩa trang do thành phố quản lý, trong đó có 2 nghĩa trang liệt sỹ là nghĩa trang Ngọc Hồi và nghĩa trang Sài Đồng Tất cả các nghĩa trang đều đang rất xập xệ và quá tải
Phần đất dành để an táng cho người đã khuất của các nghĩa trang trên địa bàn Thủ đô đang cạn kiệt qua từng ngày Việc triển khai xây dựng thêm các nghĩa trang phục vụ nhu cầu mai táng cho người dân là chủ trương rất đúng đắn và cấp thiết Theo Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, sẽ đóng cửa các nghĩa trang Vạn Phúc, Xuân Đỉnh, Mai Dịch 1, Yên Kỳ 1 từ năm 2013 Nghĩa trang Văn Điển chỉ duy trì hỏa táng, đồng thời đóng cửa các nghĩa trang phân tán trong khu vực nội đô, trồng cây xanh cách ly
Tại Đà Nẵng, vấn đề đất nghĩa trang càng cấp bách hơn khi tất cả các nghĩa trang lớn của thành phố đều đã trở nên quá tải Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 3 nghĩa trang là Hòa Khương, Hòa Sơn và Hòa Ninh Nghĩa trang ở Hòa Khương hết chỗ Nghĩa trang Hòa Sơn còn 1 ha đất dự phòng Còn nghĩa trang Hòa Ninh đang phải
mở rộng do áp lực di dời giải tỏa mồ mả từ các vùng dự án quá lớn Theo Ban Quản
lý nghĩa trang thành phố Đà Nẵng, trung bình mỗi tháng có khoảng 60 trường hợp xin đất an táng Năm 2012, số mộ phải cải táng từ các vùng dự án khoảng 37.000 mộ và hiện có hơn 2.000 ngôi mộ nằm xen lẫn trong khu vực dân cư sẽ phải di dời để giải phóng mặt bằng Nhìn chung, đất nghĩa trang tại thành phố Đà Nẵng cũng đang dần cạn kiệt, quá tải Tình trạng trên đang là vấn đề lo ngại của toàn thành phố
Không chỉ Hà Nội, Đà Nẵng mà ở thành phố Hồ Chí Minh đất (TPHCM) nghĩa trang cũng đã và đang trở nên quá tải nghiêm trọng Theo số liệu của Chi cục Thống
kê TPHCM, mỗi năm tại TPHCM có khoảng 23 - 24 ngàn người chết Nhu cầu chôn cất tại các nghĩa trang đang tăng cao, và hầu hết các nghĩa trang hiện nay đều quá tải, hết đất Nghĩa trang Bình Hưng Hòa đang giải tỏa để xây dựng khu dân cư, đất nghĩa
Trang 32trang Đa Phước cũng đã được lấp đầy giai đoạn 1 là 7,5 ha (đang đầu tư mở rộng giai đoạn 2) Đất nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức) cũng đang ở mức báo động, chỉ còn lại chủ yếu là đất rẻo, đất nơi khuất Với nhu cầu địa táng tăng cao như hiện nay, chỉ trong một thời gian ngắn nữa thì nghĩa trang này cũng sẽ hết chỗ
1.2.2.2 Khái quát tình hình quản lý nghĩa trang ở Việt Nam
Quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa là một dạng quản lý đặc biệt mang tính văn hóa tâm linh sâu sắc do cơ quan Nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư hoặc hộ gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt được mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, đảm bảo vệ sinh môi trường, thỏa mãn nhu cầu về việc táng của nhân dân và giữ được những phong tục tập quán tốt, văn minh, hiện đại.
Do nghĩa trang nhân dân đô thị là một hệ thống hạ tầng xã hội thiết yếu với sự đầu tư, xây dựng và quản lý của chính quyền đô thị nên hiện công tác quy hoạch xây dựng nghĩa trang nhân dân đô thị cũng đã được đề cập trong nội dung nghiên cứu của các đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát thực tế tại
15 đô thị từ loại đặc biệt đến loại V (thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Nha Trang,…) cho thấy, trong nội dung quy hoạch chung, tại phần hiện trạng, phần lớn các đồ án chỉ dừng ở mức nêu tên, vị trí, diện tích nghĩa trang nhân dân hiện có, hoàn toàn không đề cập đến công nghệ táng cũng như hiện trạng công tác quản lý quy hoạch, xây dựng nghĩa trang
Về định hướng quy hoạch phát triển lâu dài, nội dung một số đồ án quy hoạch chung cũng chỉ đưa ra địa điểm, diện tích xây dựng nghĩa trang nhân dân theo một số quy định chưa đầy đủ của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 4449:1987 về quy hoạch xây dựng đô thị và Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam 1997 và đề xuất áp dụng thêm công nghệ táng (hỏa táng) mà không giải thích cơ sở lựa chọn cũng như không đề cập đến khoảng cách đến khu dân cư gần nhất và hệ thống hạ tầng kỹ thuật của nghĩa trang Thậm chí một số đồ án quy hoạch chung còn không đề cập bất cứ thông tin vào về vấn đề hiện trạng và quy hoạch nghĩa trang nhân dân đô thị, kể cả về vị trí lẫn quy mô diện tích
Năm 1992, UBND Thành phố Hà Nội khởi công xây dựng Đài Hoá thân Hoàn
vũ tại nghĩa trang Văn Điển với 2 lò điện táng và chính thức đi vào hoạt động năm
1996 Tuy nhiên, những năm đầu thực hiện điện táng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi từ tập tục hung táng (mai táng) sang điện táng, do vậy số lượng phục vụ chỉ chiếm 10 - 15% tổng số đám tang tại nghĩa trang Văn Điển Đến nay, ngoài việc nâng cao chất lượng phục vụ, việc nhận thức của người dân cũng thay đổi, cùng với việc hưởng ứng thực hiện nếp sống văn hoá - văn minh trong tang lễ của người dân Thủ đô cũng có nhiều chuyển biến tích cực đã nâng tỷ lệ lên từ 65 - 70% đám tang tại Văn Điển (500 ca điện táng/700 đám tang tại Văn Điển, với 16 ca/ngày) với mức chi phí hỏa táng là 2.850.000 đồng/ca
Trang 33Nghĩa trang nhân dân Hội An tọa lạc trong khuôn viên rộng trên địa bàn xã Cẩm Hà, TP Hội An (tỉnh Quảng Nam) Nghĩa trang nằm cạnh tuyến đường liên tỉnh
Đà Nẵng - Hội An, rất thuận lợi cho người và phương tiện khi tham gia mai táng người quá cố Tuy nhiên, qua nhiều năm nghĩa trang đã quá tải, quỹ đất ngày càng hạn hẹp Nhà hỏa táng Hội An bị bỏ hoang phế, đã xuống cấp nghiêm trọng, hư hỏng, nằm chỏng chơ, nhiều trang thiết bị như ống dẫn nước, bê tông bị kẻ cắp đập phá, bẻ nát
để lấy vật liệu xây dựng
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.3.1 Một số quy định về nghĩa trang mai táng tại các nước trên thế giới
Tùy theo thực trạng đất đai của mỗi nước khác nhau mà có quy định về các tiêu chuẩn nghĩa trang khác nhau Theo như số liệu phân tích một số chỉ tiêu của các nước:
Pháp, Thái Lan, Đài Loan, Canada cho thấy, ngoài quy định khoảng cách nhà tang lễ, nghĩa trang đến khu dân cư; hệ số sử dụng cây xanh là giống nhau, còn lại các chỉ tiêu được quy định khác nhau ở các nước thể hiện qua bảng 1.1
Trang 34Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu nghĩa trang và mai táng ở các nước
2 Nghĩa trang 2.1 Nghĩa trang hung táng
- Chu kỳ quay vòng đất năm 6 5 4 6
- Khoảng cách đến khu dân cư M 500 1000 1000 1000 2.2 Nghĩa trang cát táng
- Diện tích/nghĩa trang km2/NT - 3 5 -
- Khoảng cách đến khu dân cư m 50 100 100 100 2.3 Nghĩa trang mai táng một lần
- Diện tích/nghĩa trang km2/NT - - 5 -
Trang 351.3.3 Một số nghiên cứu tại Việt Nam có tính liên quan đến đề tài
- Dự án “Điều tra đánh giá hiện trạng, đề xuất các tiêu chí quy hoạch chọn địa điểm, giải pháp công nghệ và tổ chức quản lý các khu nghĩa trang trong QHXD đô thị”
+ Không bố trí quy hoạch nghĩa trang trong nội thị
+ Đóng cửa (>3 năm) đối với các nghĩa trang hung táng trong nội thị, cải tạo thành công viên nghĩa trang
+ Nghĩa trang cát táng có thể đặt trong nội thị dưới dạng nghĩa trang công viên
+ Không bố trí nghĩa trang khu vực nguồn nước hoặc nơi có cửa sổ địa chất thủy văn
+ Loại đất phù hợp thuộc nhóm hạt cát có kích thước 0,6 – 2 mm, độ ẩm thích hợp nhất là 50 – 70 %
+ Khoảng cách tối thiểu đến khu dân cư gần nhất:
Hung táng: 1.500m Chôn cất một lần: 500m Cát táng: 100m + Khoảng cách tối thiểu đến công trình khai thác nước sinh hoạt: 2.500m
+ Khoảng cách tối thiểu đến đường giao thông chính: 300m
+ Khoảng cách tối thiểu mép nước đối với khu vực gần sông, hồ, biển:
Hung táng: 500m Cát táng: 100m + Nghĩa trang nội thị: 0,4 – 0,6 m2/1 dân đô thị
- Đề tài nghiên cứu khoa học RD08- 01(2007): “Hướng dẫn quy hoạch xây
dựng và quản lý nghĩa trang trong quy hoạch phát triển đô thị”
+ Xác định quy mô căn cứ và dự báo tăng trưởng dân số, tỷ lệ tử, công nghệ mai
táng, quỹ đất, địa hình, địa chất thủy văn
+ Công nghệ mai táng phụ thuộc điều kiện kinh tế và tập quán
+ Chỉ tiêu mai táng:
Hung táng: 8 m2/mộ Chôn cất một lần: 4 m2/mộ
Trang 36Hỏa táng: 0,06 m2/mộ + Tăng cường đầu tư công nghệ mai táng hiện đại
+ Tỷ lệ cây xanh đảm bảo như sau:
Hà chiếm tỉ lệ đất NTD cao nhất tỉnh (3,13%), Triệu Phong 3,06%, Hải Lăng 2,36%, thấp nhất là Cồn Cỏ 0,02 % (Quảng Trị 1,32%, Vĩnh Linh 0,79%, Gio Linh 1,24%, Đakrông 0,08%, Hướng Hóa 0,30%, Cam Lộ 1,25%)
0.511.522.533.5
Đakrông Hải Lăng Gio Linh Vĩnh
LinhCồn cỏ
Biểu đồ 1.1 Cơ cấu đất nghĩa trang, nghĩa địa tỉnh Quảng Trị
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2013
Thực trạng quản lý và sử dụng đất NDT của các địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Trị như sau:
Trang 37- Thị xã Quảng Trị: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích nghĩa
trang, nghĩa địa là 92,3 ha; chiếm 1,32% tổng diện tích đất tự nhiên Thị xã Quảng Trị
có 15 khu vực nghĩa trang nhân dân tập trung, trong đó có 02 nghĩa trang nhân dân tập trung tại phường 1 và xã Hải Lệ, còn lại 13 khu vực nghĩa trang tập trung tự phát
Ngoài ra, còn có rất nhiều khu vực nghĩa trang tự phát nằm rải rác trong đất canh tác nông nghiệp, khu dân cư Hầu hết các khu vực nghĩa trang trên địa bàn thị xã đều hình thành từ lâu đời và theo các tập tục của người dân địa phương; một số khu vực nghĩa trang rất gần với các khu dân cư, nguồn nước mặt do vậy có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nhất là nước mặt và nước ngầm
- Huyện Hải Lăng: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích
nghĩa trang, nghĩa địa là 1.034,78 ha; chiếm 2,36% tổng diện tích đất tự nhiên Hiện nay, trên địa bàn huyện Hải Lăng, các nghĩa trang tập trung có diện tích lớn chủ yếu ở các xã Hải Trường (155,79 ha), Hải Chánh (45,89 ha) và các xã ven biển Hải Ba (105,2 ha), Hải Dương (71,6 ha), Hải Quế (61,7 ha); các xã này có diện tích đất tự nhiên lớn nên quỹ đất dành cho nghĩa trang cũng lớn hơn các xã còn lại Đặc biệt là các xã ven biển, các khu vực nghĩa trang phát triển xen lẫn trong đất rừng phòng hộ và trãi dài khắp xã nên diện tích nghĩa trang là rất lớn trong khi tỷ lệ lấp đầy nhỏ
Các khu vực nghĩa trang của huyện được hình thành tự phát tồn tại qua nhiều đời, hầu hết không quy hoạch tập trung mà chỉ nằm rải rác Có nhiều xã chỉ một thôn nhưng có 1-5 khu vực nghĩa trang nằm xen lẫn trong khu dân cư, đất canh tác nông nghiệp, rừng trồng phòng hộ Tình trạng chiếm dụng đất để xây lăng mộ quá lớn; các vấn đề về cơ sở hạ tầng cũng như môi trường ở các nghĩa trang này hầu như chưa được quan tâm, dẫn đến có nhiều khu vực nghĩa trang nằm trên nền đất cát, gần với nguồn nước ngầm, nước mặt, gần khu dân cư, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường khu vực xung quanh
Nghĩa trang nhân dân thị trấn Hải Lăng có có vị trí tại khóm 2, cách UBND thị trấn Hải Lăng khoảng 2 - 3 km về phía Tây Bắc, nằm gần bãi rác cũ của thị trấn Hải Lăng Đây là nghĩa trang nhân dân tập trung của thị trấn Hải Lăng với diện tích khoảng 5 ha Hiện tại, tỷ lệ mộ đã lấp đầy khoảng 50%, tỷ lệ mộ kiên cố khoảng 65%
Mặc dù được sự quản lý của UBND thị trấn Hải Lăng nhưng tình trạng chôn cất lộn xộn, thiếu quy hoạch vẫn còn xảy ra phổ biến, các lăng mô xây dựng vượt quy định cho phép gây lãng phí đất, một số dòng tộc, gia đình còn xây mộ gió, mộ giả để chiếm đất dẫn đến thiếu quỹ đất cho việc mai táng
- Huyện Triệu Phong: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích
nghĩa trang, nghĩa địa là 1.002,7 ha; chiếm tỷ lệ 3,06% tổng diện tích đất tự nhiên Đất nghĩa trang trên địa bàn huyện Triệu Phong tương đối lớn tập trung ở các xã Triệu Trạch
Trang 38(146,1ha); Triệu An (68ha); Triệu Lăng (47,1ha); Triệu Ái (63,9ha) Hầu hết các nghĩa trang tập trung phát triển tự phát và phụ thuộc nhiều vào phong tục tập quán tại mỗi địa phương Do các nghĩa trang hình thành tự phát, nằm phân tán và không có quy hoạch nên ở nhiều khu vực người dân đã tự ý chiếm đất xây dựng lăng mộ cho gia đình, dòng
họ mình dẫn đến tình trạng diện tích đất nghĩa trang lớn trong khi tỷ lệ lấp đầy thấp
Hiện nay, huyện Triệu Phong mới chỉ có 01 nghĩa trang nhân dân tập trung tại khu vực đồi Ba Gò với quy mô gần 10 ha Còn lại các xã đất nghĩa trang hình thành tự phát, xen lẫn khu dân cư, không có quy hoạch
- Huyện Gio Linh: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích
nghĩa trang, nghĩa địa là 825,4 ha; chiếm 1,24% diện tích đất tự nhiên Trên địa bàn huyện Gio Linh hiện có khoảng hơn 91 khu vực nghĩa trang tập trung với tổng diện tích khoảng 554,18 ha Xã có diện tích đất nghĩa trang, tập trung cao nhất là xã Gio Châu (53,8ha) và thấp nhất là xã Gio Hòa (3,76ha) Tỷ lệ lấp đầy cao nhất là ở xã Gio Việt (86,67%) và thấp nhất là ở xã Vĩnh Trường (25,0%) Tổng số mộ ước tính hiện có tại nghĩa trang các xã là 261.391 phần mộ Các nghĩa trang đều được hình thành tự phát, nằm rải rác, số nghĩa trang ở từng địa phương phụ thuộc vào quy mô dân số hoặc
số thôn, trung bình mỗi thôn có ít nhất một nghĩa trang ở những vùng đất cát, đất ruộng hay xen vào các khu dân cư Tình trạng tổ chức quy tập thành khu chôn cất mồ
mã theo dòng tộc và tình trạng làm mộ giả, mộ gió để chiếm đất xây dựng lăng mộ vẫn còn nhiều, gây khó khăn cho công tác quản lý đất nghĩa trang ở các địa phương
Khu vực nghĩa trang tập trung của thị trấn Gio Linh nằm tại khu phố 6, thị trấn Gio Linh, có diện tích khoảng 40 ha Quá trình mai táng tại đây không được quản lý mà diễn
ra rất tự phát, các khu mộ, phần mộ được chôn cất lộn xộn, chiếm diện tích lớn, không đồng bộ dẫn đến lãng phí quỹ đất, gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trường Hiện tại, khu vực phía Đông của nghĩa trang được quy hoạch di dời khoảng 10 ha để chuyển đổi sang đất trụ sở (nhà làm việc UBND huyện và các cơ quan khác…) Mặt khác, diện tích nghĩa trang này ngày càng được lấp đầy, mở rộng và tiến đến gần các giếng khoan cấp nước sinh hoạt của xí nghiệp nước sạch Gio Linh, do vậy việc xây dựng quy hoạch nghĩa trang tập trung của thị trấn trong thời gian tới là hết sức cần thiết
Thị trấn Cửa Việt có 04 khu vực nghĩa trang tập trung và rất nhiều khu vực nghĩa trang nhỏ lẻ khác xen lẫn trong khu dân cư Khu vực nghĩa trang có quy mô lớn nhất
và tập trung nhất nằm ở khu phố 7 và khu phố 8 của thị trấn, tiếp giáp với xã Gio Hải với diện tích khoảng 18 ha Quá trình chôn cất diễn ra tự phát, lộn xộn, không có ai quản lý, dẫn đến người dân phá rừng phòng hộ để chôn cất, mở rộng và tiến đến gần các khu dân cư tập trung, khu du lịch Cửa Việt dẫn đến tình trạng lãng phí quỹ đất, mất mỹ quan, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị Do vậy, việc đóng cửa nghĩa trang tập
Trang 39trung này là rất hết sức cần thiết
- Huyện Vĩnh Linh: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích nghĩa
trang, nghĩa địa là 525,71 ha; chiếm 0,79% diện tích đất tự nhiên Theo thống kê trên địa bàn huyện Vĩnh Linh có hơn 127 khu vực nghĩa trang, tập trung ở các xã như: Vĩnh Nam, Vĩnh Thái, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thủy… Hầu hết các khu vực nghĩa trang đã hình thành từ lâu, không có định hướng quy hoạch nên chưa đảm bảo cảnh quan môi trường
Hiện tại tổng diện tích đất nghĩa trang tập trung của huyện Vĩnh Linh là 464,45
ha, xã có diện tích nghĩa trang tập trung lớn nhất là xã Vĩnh Thái với 60,5 ha, thấp nhất
là xã Vĩnh Ô với 5,1 ha Huyện Vĩnh Linh có 03 xã miền núi là Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc sinh sống và lăng mộ được chôn cất tại các khu rừng ma với hình thức chôn cất rất sơ sài Các khu vực nghĩa trang ở đây hầu như chưa được đầu về cơ sở hạ tầng, chủ yếu chỉ mới giải quyết vấn đề quỹ đất phục
vụ nhu cầu mai táng trong giai đoạn hiện nay
Đối với các xã ven biển như Vĩnh Thái, Vĩnh Kim, Vĩnh Thạch, thị trấn Cửa Tùng, nhiều khu vực nghĩa trang xen lẫn trong các khu rừng phòng hộ và trãi dài trên diện tích toàn xã Lăng mộ được xây dựng tự phát, theo ý muốn chủ quan của mỗi dòng tộc gây khó khăn cho công tác thống kê chính xác đất nghĩa trang mỗi xã
Thị trấn Hồ Xá có 02 khu vực nghĩa trang tập trung đó là nghĩa trang tập trung khu vực Tràm và nghĩa trang tập trung khóm Hải Tình Nghĩa trang tập trung khu vực Tràm là nghĩa trang tập trung của xã Vĩnh Tú, Vĩnh Nam và thị trấn Hồ Xá có diện tích hơn 30 ha trong đó quỹ đất phục vụ nhu cầu của thị trấn Hồ Xá là 4,0ha, cơ bản đáp ứng nhu cầu chôn cất mai táng hiện nay, diện tích còn lại chưa sử dụng khoảng 1,32ha Đây là khu vực nghĩa trang có quy mô lớn nhất và tập trung nhất của thị trấn
Hồ xá và các xã Vĩnh Tú, Vĩnh Nam Tuy nhiên, do hình thành tự phát, không được quản lý dẫn đến tình trạng chôn cất lộn xộn, tình trạng lấn chiếm đất diễn ra rất phổ biến, không được đầu tư các công trình phụ trợ như đường vào nghĩa trang, hệ thống cây xanh, hệ thống thoát nước gây lãng phí về quỹ đất, mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng đến môi trường khu vực xung quanh
Thị trấn Cửa Tùng hiện có 05 khu vực nghĩa trang tập trung với diện tích 12,5 ha,
có bản đã sử dụng hết 6ha Trong đó khu vực nghĩa trang tại thôn An Hòa 2 là khu vực
có quy mô lớn nhất và tập trung nhất của thị trấn Hiện nay, các khu vực xung quanh nghĩa trang tập trung này đều đã quy hoạch cho mục đích đất ở đô thị, mặt khác khu vực nghĩa trang tập trung này nằm rất gần với khu dân cư, bãi tắm Cửa Tùng và các khu nhà nghỉ, khách sạn trên địa bàn, do vậy việc đóng cửa khu vực nghĩa trang tập trung này và quy hoạch khu vực nghĩa trang tập trung mới là rất cần thiết
Trang 40Thị trấn Bến Quan có 01 nghĩa trang tập trung với diện tích 1,67 ha Tuy nhiên,
đã sử dụng hết 1,17 ha, diện tích còn lại không đáp ứng cho nhu cầu chôn cất mới giai đoạn từ nay đến năm 2020 và di dời các khu vực nhỏ lẻ vào nghĩa trang tập trung, do
đó, cần phải quy hoạch nghĩa trang mới
- Huyện Cam Lộ: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích nghĩa
trang, nghĩa địa là 461,51 ha; chiếm 1,25% diện tích đất tự nhiên Huyện Cam Lộ hiện tại có khoảng 58 khu vực nghĩa trang tập trung với tổng diện tích là 417,01 ha, tập trung cao nhất ở xã Cam An với 70,2 ha và thấp nhất là ở thị trấn Cam Lộ với 6,5 ha
Mỗi thôn thường có từ 2-3 khu vực nghĩa trang, lăng mộ được chôn cất xây dựng tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể Hầu hết diện tích mộ đều vượt quá quy định, thậm chí
có một số nơi còn xảy ra tình trạng tổ chức quy tập thành khu chôn cất mồ mã theo dòng tộc, chiếm diện tích rất lớn trong khi số lượng lăng mộ còn ít
Nghĩa trang nhân dân thị trấn Cam Lộ có vị trí tại khu phố Nam Hùng với diện tích khoảng 6,5ha Đây là nghĩa trang nhân dân tập trung của thị trấn Cam Lộ phục vụ nhu cầu chôn cất cho người dân thị trấn nhưng hình thức phát triển chủ yếu là tự phát, không theo quy hoạch Các khu vực lăng mộ xây dựng lộn xộn, vượt quá quy chuẩn cho phép Các dòng tộc, gia đình tự ý khoanh diện tích riêng cho mình nên xảy ra tình trạng thiếu đất chôn cất Hiện nay, tỷ lệ mộ lấp đầy đã đạt 98%, trong đó tỷ lệ mộ kiên
cố khoảng 80% Nghĩa trang này đã được đóng cửa vào năm 2010 vì hết quỹ đất sử dụng Tuy nhiên, người dân vẫn tiếp tục chôn cất trong phần mộ của dòng họ đã được quy hoạch trước đó
- Huyện Đakrông: Hiện trạng tổng diện tích đất đang sử dụng vào mục đích
nghĩa trang, nghĩa địa là 95,13 ha; chiếm 0,08% diện tích đất tự nhiên Đakrông là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Trị, hầu hết là đồng bào dân tộc sinh sống
Qua kết quả khảo sát thì tất cả các nghĩa trang đều không được quy hoạch chi tiết mà chủ yếu hình thành tự phát, xen lẫn trong khu dân cư, trong rừng và không đảm bảo khoảng cách an toàn đến môi trường Trong huyện hiện có 3 dân tộc đang sinh sống là dân tộc Kinh, dân tộc Vân Kiều và dân tộc Pa Cô do đó hình thức mai táng cũng khác nhau Đối với các xã có đồng bào dân tộc, người chết được chôn cất trong các khu rừng ma, trong khu dân cư hay trong vườn nhà Khi chôn cất không đắp mộ cao mà chỉ lấp bằng mặt đất, không có ai thăm nom
Hiện nay, trên địa bàn huyện Đakrông có khoảng 53 khu vực nghĩa trang với diện tích là 78,0ha; hầu hết là nghĩa trang tự phát, phân tán, nhỏ lẻ và rừng ma của đồng bào dân tộc Các khu vực nghĩa trang hình thành tự phát gây lãng phí quỹ đất, không đảm bảo vệ sinh và cảnh quan môi trường