ASEAN Sau nhiều năm phát triển, ASEAN đã hình thành những nền tảng vững chắc cho việc xây dựng pháp luật Cộng đồng ASEAN. Những hiệp định, thoả thuận trong khuôn khổ ASEAN trong những năm qua đã tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động hợp tác toàn diện giữa các quốc gia thành viên. So với thời kì đầu, những văn kiện có giá trị pháp lí ràng buộc của ASEAN đã tăng lên khá nhiều cà về số lượng và phạm vi điều chinh. Đặc biệt, từ sau khi ý tưởng thành lập Cộng đồng ASEAN được triển khai, trước sự hạn hẹp và không còn phù hợp của nhiều khuôn khổ pháp lí trước đó, đáp ứng nhu cầu nâng cấp liên kết lên tầm cao mới. Để tìm hiểu rõ hơn về tiền đề xây dựng nên hệ thống pháp luật cộng đồng ASEAN, em xin chọn đề bài số 1: “So sánh nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của luật quốc tế, từ đó đánh giá vai trò của nguồn luật bổ trợ (luật mềm – Soft low) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN.” Để làm đề bài tập học kì của mình.
Trang 1A MỞ ĐẦU
ASEAN Sau nhiều năm phát triển, ASEAN đã hình thành những nền tảng vững chắc cho việc xây dựng pháp luật Cộng đồng ASEAN Những hiệp định, thoả thuận trong khuôn khổ ASEAN trong những năm qua đã tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động hợp tác toàn diện giữa các quốc gia thành viên So với thời kì đầu, những văn kiện có giá trị pháp lí ràng buộc của ASEAN đã tăng lên khá nhiều cà về số lượng và phạm vi điều chinh Đặc biệt, từ sau khi ý tưởng thành lập Cộng đồng ASEAN được triển khai, trước sự "hạn hẹp" và không còn phù hợp của nhiều khuôn khổ pháp lí trước đó, đáp ứng nhu cầu nâng cấp liên kết lên tầm cao mới Để tìm hiểu rõ hơn về tiền đề xây dựng nên hệ thống pháp luật cộng đồng ASEAN, em xin chọn đề bài số 1: “So sánh nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của luật quốc tế, từ đó đánh giá vai trò của nguồn luật bổ trợ (luật mềm – Soft low) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN.” Để làm đề bài tập học kì của mình.
Em xin trân thành cảm ơn!
B NỘI DUNG
I NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN VÀ LUẬT QUỐC TẾ.
- Nguồn của pháp luật: là hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứ đựng các
nguyên tắc, quy phạm pháp luật
1 Nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN.
a Khái quát chung về pháp luật Cộng đồng ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN ra đời vào ngày 8/8/1964 sáng lập trên cơ sở tuyên bố Bangkok ( 1967 ) Hiệp hội gồm 10 quốc gia thành viên Đông Nam Á Tại hội nghị cấp cao lần thứ 9 năm 2003 đã thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN chính thức thành lập cộng đồng ASEAN Cộng đồng aViệc thành lập cộng đồng ASEAN có ý nghĩa quan trọng , đánh dấu bước trưởng thành và phát triển của ASEAN ASEAN được đánh giá là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất,
có nhiều đóng góp tích cực cho việt duy trì hòa bình, và hợp tác phát triển trong khu vực Đông Nam Á.
b Pháp luật Cộng đồng ASEAN.
Pháp luật cộng đồng ASEAN được hiểu là là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật , do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN , phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế , chính trị - an ninh
và văn hóa - xã hội Như vậy , phạm vi điều chỉnh của pháp luật cộng đồng ASEAN
là quan hệ các giữa các quốc gia trong cộng đồng ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực bao gồm kinh tế , chính trị , an ninh và văn hóa xã hội , do vậy , pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng được phân chia thành ba lĩnh vực chính : Luật Cộng đồng chính trị an ninh , Luật cộng đồng kinh tế và luật cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN
c Nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN
Trang 2Vẫn chưa có quy định chính thức về vấn đề thế nào là nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN Nhưng từ những đặc điểm của pháp luật Cộng đồng ASEAN và bản thân ASEAN , ta có thể thấy nguồn luật của ASEAN khá đa dạng Trên cơ sở khoa học luật tổ chức quốc tế và thực tiễn tồn tại của ASEAN , có thể phân chia nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN thành các nhóm sau đây :
- Nhóm 1 : các điều ước quốc tế được kí kết trong khuôn khổ của ASEAN ;
- Nhóm 2 : các điều ước quốc tế được ký kết giữa ASEAN với các đối tác của mình ;
-Nhóm 3 : các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN thông qua.
2 Nguồn của Luật quốc tế.
a Khái quát về Luật quốc tế
Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc , quy phạm pháp luật được quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng , nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong một lĩnh vự của đời sống quốc tế Nội dung các quan hệ pháp luật quốc tế rất đa dạng ,
từ quan hệ hợp tác chính trị , kinh tế , đến quan hệ hợp tác văn hóa , khoa học kỹ thuật , phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật độc lập: Bao gồm những nguyên tắc, những qui phạm pháp luật được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ Pháp luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng nhằm điều chỉnh mối quan
hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là các quốc gia) khi cần thiết, được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới.
b Nguồn của Luật quốc tế.
Nguồn của Luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên.
Dựa theo quy định tại khoản 1, Điều 38 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế thì nguồn của Luật quốc tế bao gồm : Điều ước quốc tế; Tập quán quốc tế; Các nguyên tắc pháp luật chung; Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế; Các học thuyết về Luật quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế vai trò của các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ và hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng và không thể phủ nhận Trong các loại nguồn được liệt kê trên thì điều ước quốc tế ( nguồn thành văn) và tập quán quốc tế ( nguồn bất thành văn) có thể xem là hai loại nguồn chủ yếu, cơ bản và có vai trò quan trọng nhất.
II SO SÁNH NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN VỚI NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ.
1 Điểm giống nhau giữa nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế.
Trang 3ASEAN là tổ chức quốc tế liên chính phủ nên nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN sẽ mang bản chất nguồn của luật quốc tế Vì vậy , cấu trúc nguồn luật của pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng sẽ tương tự như nguồn của luật quốc tế nói chung Hai nguồn đều luật là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên tắc , quy phạm pháp luật
- Một là, Pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế đều sử dụng hai loại nguồn cơ bản là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ: Nguồn luật cơ bản chính là các điều ước quốc tế Điều ước quốc tế được hiểu là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh , không phụ thuộc vào thỏa thuận đó được ghi chép trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau , cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó Nguồn luật cơ bản chính là điều ước quốc tế Các điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật quốc tế cũng như của ASEAN được thể hiện ở những tên gọi như: hiến chương, hiệp ước, nghị định thư, tuyên bố,… Luật quốc tế cũng như pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh các điều ước quốc tế không phụ thuộc vào thỏa thuận đó được ghi chép trong một văn kiện hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan
hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó.
- Hai là, Xét trên phương diện tính pháp lý của hai nguồn luật được áp dụng ta
có thể nhận thấy rằng: nguồn cơ bản có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các thành viên
kí kết hoặc tham gia điều ước Về phương diện ngược lại thì nguồn bổ trợ của luật quốc tế cũng như của pháp luật Cộng đồng ASEAN chỉ có tính chất tham khảo, không
có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các chủ thể
- Ba là, sự ra đời của nguồn pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế đêu xuất phát điểm trên cơ sở của sự thảo thuận giữa các quốc gia tành viên.
=> Như vậy , xét về tổng quát thi pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế
có rất nhiều điểm giống nhau , từ nguồn luật bản chất , đến cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật
2 Điểm khác nhau giữa nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế.
a Về cấu trúc của nguồn luật:
Nội
dung
Nguồn pháp luật cộng đồng
ASEAN
Nguồn của Luật quốc tế
Nguồn
cơ
bản
- Điều ước quốc tế (hiệp ước, hiệp định, nghị định, hiến chương, )
Những điều ước quốc tế là nguồn của pháp luật Công đồng
ASEAN thực chất chính là nguồn luật
của tổ chức quốc tê liên chính phủ ,
làm cơ sở pháp lí điều chỉnh quan hệ
giữa các thành viên của tổ chức đó
cũng như quan hệ giữa tổ chức quốc
tế.
- Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế
Những điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật quốc tế Trong Luật quốc tế, điều ước quốc
tế chủ yếu được trình bày dưới dạng thành văn (công ước viên 1969,
1986,…) Quá trình ký kết và thực
hiện điều ước quốc tế được điều chỉnh bởi các nguyên tắc, quy phạm
Trang 4Điều ước quốc tế của ASEAN bao gồm hai bộ phận Một là điều
ước được kí kết giữa các nước thành
viên với nhau làm cơ sở pháp lí cho
sự ra đời và hoạt động của ASEAN ,
gồm Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 ,
Hiến chương ASEAN năm 2007 và
những điều ước thiết lập khuôn khổ
hợp tác nội khối giữa các thành viên ,
bao gồm các điều ước được kí kết
trong lĩnh vực chính trị - an ninh ,
kinh tế và văn hoá - xã hội Hai là
điều ước được kí kết giữa ASEAN
với các chủ thể khác của luật quốc tế
nhằm điều chỉnh quan hệ hợp tác
ngoại khối của Hiệp hội như Hiệp
định thương mại tự do ASEAN
-Trung Quốc , Hiệp định thương mại
tự do ASEAN Australlia - New
Zealand
pháp luật và tuân thủ các quy phạm của Luật quốc tế.
Tập quán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành Luật quốc tế So với điều ước quốc tế, tập quán quốc tế ra đời sớm hơn Đó là những quy tắc xử sự chung ban đầu do một hay một số quốc gia đưa ra và áp dụng trong quan hệ với nhau Sau một quá trình
áp dụng lâu dài, rộng rãi và được nhiều quốc gia thừa nhận như những quy phạm pháp lý nên những quy tắc xử sự đó đã trở thành tập quán quốc tế.
Nguồn
bổ trợ
Bao gồm những Văn kiện mặc
dù không có giá trị pháp lý ràng buộc
nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với
ASEAN trong việc định hướng hợp
tác hoặc cụ thể hoá các nội dung hợp
tác Đó là khuyến nghị của các nhóm
đặc trách cao cấp , tuyên bố , chương
trình , kế hoạch hành động , đặc biệt
là các tuyên bố chung sau các hội
nghị của ASEAN trong các lĩnh vực
hợp tác chính thức Những văn kiện
này là sự giải thích , làm sáng tỏ các
nội dung pháp lí quy định trong các
điều ước quốc tế kí kết trong khuôn
khổ của ASEAN , đồng thời trong
một số trường hợp là cơ sở hình thành
nên các điều ước quốc tế của ASEAN
Nguồn bổ trợ của luật quốc tế
là loại nguồn không trực tiếp chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc
tế, hầu như chỉ có ý nghĩa khuyến nghị đối với các chủ thể luật quốc tế, chúng bao gồm các phán quyết của Tòa án công lý quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung, nghị quyết của
tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành
vi pháp lý đơn phương của các quốc gia, các học thuyết của các học giả danh tiếng về luật quốc tế.
=> Qua phân tích trên ta thấy được nguồn của luật quốc tế đa dạng hơn rất nhiều
so với nguồn của pháp luật cộng đồng ASEAN, Luật quốc tế còn có nguồn cơ bản là tập quán quốc tế còn pháp luật Cộng đồng ASEAN thì không do các quốc gia trong khu vực có tập quán, điều kiện khác nhau do đó rất khó để tất cả các quốc gia đồng ý
sử dụng một tập quán nào là pháp luật có giá trị bắt buộc, ngoài ra các nguồn bổ trợ của Luật uốc tế đa dạng hơn pháp luật cộng đồng ASEAN
b Về tính pháp lý.
Trang 5dung
Nguồn pháp luật cộng đồng
ASEAN
Nguồn của Luật quốc tế
Tính
pháp
lý
Trong 3 nhóm nguồn luật đã
kể ở phần 1 , vai trò đặc biệt quan
trọng thuộc về nhóm 1 và nhóm 2.
Đây chính là hình thức chứa đựng các
nguyên tắc và quy phạm pháp lý thiết
lập và điều chỉnh quan hệ hợp tác nội
khối và ngoại khối của ASEAN trên
lĩnh vực chính trị , kinh tế Riêng
với nhóm 3 , phụ thuộc vào tính chất ,
nội dung và thẩm quyền , các văn bản
này có thể có giá trị ràng buộc đối với
các thành viên ASEAN hoặc chỉ có
tính chất khuyến nghị Ngoài ra , với
tư cách chủ thể luật quốc tế , bản thân
mỗi quốc gia thành viên cũng như
chính ASEAN còn phải tuân thủ các
tập quán quốc tế chung - một trong
các loại nguồn cơ bản của luật quốc
tế
Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh Như vậy, với
tư cách là nguồn cơ bản của Luật quốc tế, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc
tế với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm luật quốc tế để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những quyền
và nghĩa vụ đối với nhau Điều này đồng nghĩa với việc điều ước quốc tế
có giá trị ràng buộc giữa các bên thành viên và các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện các cam kết một cách thiện trí.
=> Như vậy, xuất phát từ sự khác biệt về cách thức hình thành của hai loại nguồn này nên giá trị hiệu lực ràng buộc đối với các chủ thể có liên quan cũng không giống nhau Điều này cũng dễ hiểu bởi ASEAN chỉ là một chủ thể của Luật quốc tế còn Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh giữa các chủ thể, phạm vi điều chỉnh của pháp luật rộng hơn và phức tạp hơn
III ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA NGUỒN BỔ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC CỦA ASEAN.
1 Nguồn bổ trợ (luật mềm “soft law”)của pháp luật cộng đồng ASEAN
- Định nghĩa luật mềm (soft law): là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các văn bản
hay quy định mà bản chất không phải là luật nhưng có tầm quan trọng trong khuôn khổ phát triển luật pháp quốc tế Đây là các văn kiện không ràng buộc như khuyến nghị, hướng dẫn, quy tắc hay tiêu chuẩn được các quốc gia đưa ra hoặc các tổ chức quốc tế
và các cơ quan của nó đưa ra.
- Nguồn bổ trợ của pháp luật cộng đồng ASEAN: là những văn kiện có tính chất khuyến nghị, mặc dù không có giá trị pháp lý ràng buộc nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với ASEAN trong việc định hướng hợp tác hoặc cụ thể hoá các nội dung hợp tác.
2 Vai trò của nguồn bổ trợ đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN.
- Thứ nhất, nguồn gốc của quy tắc ứng xử giữa các quốc gia thành viên ASEAN được cấu tạo từ nguồn bổ trợ Nguồn bổ trợ là một cơ sở quan trọng dẫn đến
sự hình thành những quy tắc ứng xử giữa các quốc gia thành viên thường được biết đến dưới tên gọi chung là “Phương thức ASEAN” Phương thức ASEAN bao gồm một số
đặc điểm như không can thiệp, không chính thức, thể chế hóa tối thiểu, tham vấn và
Trang 6đồng thuận, không sử dụng vũ lực và tránh đối đầu Có thể nói Phương thức ASEAN
có nguồn gốc từ nội dung của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia) thông qua ở Bali, Indonesia năm 1976 và được coi là quy chuẩn cho cách ứng xử giữa các nước thành viên ASEAN Hiệp ước đề cập đến những “nguyên tắc cơ bản” của ASEAN như: (1) cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia; (2) mỗi quốc gia có quyền lãnh đạo
sự tồn tại của mình mà không bị can thiệp, lật đổ và bức ép từ bên ngoài; (3) không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; (4) giải quyết khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; (5) từ bỏ đe dọa dùng vũ lực và (6) hợp tác với nhau một cách hiệu quả.
Phương thức ASEAN hoạt động giống như một bộ ứng xử được ngầm hiểu, thay
vì một tập hợp các qui tắc và phương thức được pháp điển hóa một cách rõ ràng Điều này cũng thể hiện mong muốn của các nước ASEAN tránh thể chế hóa và pháp lý hóa
sự hợp tác giữa các nước thành viên vì e ngại một ASEAN được thể chế hóa mạnh mẽ cùng những ràng buộc pháp lý sẽ làm xói mòn chủ quyền quốc gia của các thành viên trong việc định đoạt phương thức hợp tác với nhau.
- Thứ hai, Hiến chương ASEAN khẳng định thực tiễn hiện hành của ASEAN
là các quyết định sẽ được thông qua trên cơ sở trao đổi ý kiến và đồng thuận (consultation and consensus) Qua đây có thể thấy khi các quốc gia thành viên tham
gia vào việc xây dựng các văn bản, hoạch định chính sách với với tâm thế tự tin trong
tư cách là một chủ thể bình đẳng, dân chủ khi tham gia vào việc tham vấn, xây dựng các văn bản mang tính chính trị, ngoại giao(tuyên bố, ) trước khi ký kết các văn bản mang tính pháp lý (hiệp ước, hiệp định, điều ước, ) Nguồn luật bổ trợ mang tính mềm dẻo, dễ dàng thích ứng với các thay đổi trong quá trình sửa đổi và xây dựng các văn bảo mang tính chất ràng buộc pháp lý sau này Điều này giúp cho ASEAN giải quyết vấn đề một cách hòa bình, nhanh chóng Tạo được sự đồng thuận giữa các quốc gia thành viên.
C KẾT LUẬN
Sau nhiều năm tồn tại và phát triển, ASEAN đã có được những thành tựu đáng
kể trên nhiều phương diện Để tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế của mình không chỉ đối với các quốc gia thành viên mà ở mức độ nhất định, còn cả đối với nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế khác, ASEAN sẽ phải tiếp tục có những cải cách về luật,
về cơ cấu nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu hợp tác của các quốc gia thành viên pháp trong bôi cảnh đời sống chính trị, kinh tế khu vực cũng như toàn cầu có nhiều biến động Xây dựng và phát triển pháp luật Cộng đồng ASEAN dựa trên những nên tảng
đã tạo dựng được trong 50 năm vừa qua, ASEAN sẽ có nên tảng thế chế vững chắc cho
sự phát triển của cộng đồng trong những thập ki tới.
Trang 7DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Pháp luật Cộng đồng ASEAN /Trường Đại học Luật Hà Nội ; Chủ biên: Nguyễn Thị Thuận, Lê Minh Tiến ; Phạm Hồng Hạnh, NXB CAND, 2016
2 Giáo trình Công pháp quốc tế /Trường Đại học Luật Hà Nội; NXB CAND, 2002
3 bài viết: Pháp luật Cộng đồng ASEAN - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn / Nguyễn Thị Thuận
Trích: Luật học.Trường Đại học Luật Hà Nội,Số Đặc san ASEAN/2018, tr.
93 - 102.
4 bài viết: Phương thức ASEAN – Tác giả: Nguyễn Thành Ttung.
Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ
Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).
http://nghiencuuquocte.org/2016/03/12/phuong-thuc-asean-asean-way/
Trang 8A MỞ ĐẦU
ASEAN Sau nhiều năm phát triển, ASEAN đã hình thành những nền tảng vững chắc cho việc xây dựng pháp luật Cộng đồng ASEAN Những hiệp định, thoả thuận trong khuôn khổ ASEAN trong những năm qua đã tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động hợp tác toàn diện giữa các quốc gia thành viên So với thời kì đầu, những văn kiện có giá trị pháp lí ràng buộc của ASEAN đã tăng lên khá nhiều cà về số lượng và phạm vi điều chinh Đặc biệt, từ sau khi ý tưởng thành lập Cộng đồng ASEAN được triển khai, trước
sự "hạn hẹp" và không còn phù hợp của nhiều khuôn khổ pháp lí trước đó, đáp ứng nhu cầu nâng cấp liên kết lên tầm cao mới Để tìm hiểu rõ hơn về tiền đề xây dựng nên hệ thống pháp luật cộng đồng ASEAN, em xin chọn đề bài số 1: “So sánh nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của luật quốc tế, từ đó đánh giá vai trò của nguồn luật bổ trợ (luật mềm – Soft low) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN.” Để làm
đề bài tập học kì của mình.
Em xin trân thành cảm ơn!
B NỘI DUNG
I NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN VÀ LUẬT QUỐC TẾ.
- Nguồn của pháp luật: là hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứ đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật
1 Nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN.
a Khái quát chung về pháp luật Cộng đồng ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN ra đời vào ngày 8/8/1964 sáng lập trên
cơ sở tuyên bố Bangkok ( 1967 ) Hiệp hội gồm 10 quốc gia thành viên Đông Nam Á Tại hội nghị cấp cao lần thứ 9 năm 2003 đã thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN chính thức thành lập cộng đồng ASEAN Cộng đồng aViệc thành lập cộng đồng ASEAN có ý nghĩa quan trọng , đánh dấu bước trưởng thành và phát triển của ASEAN ASEAN được đánh giá là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất, có nhiều đóng góp tích cực cho việt duy trì hòa bình, và hợp tác phát triển trong khu vực Đông Nam Á.
b Pháp luật Cộng đồng ASEAN.
Pháp luật cộng đồng ASEAN được hiểu là là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật , do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN , phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế , chính trị - an ninh
và văn hóa - xã hội Như vậy , phạm vi điều chỉnh của pháp luật cộng đồng ASEAN
là quan hệ các giữa các quốc gia trong cộng đồng ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực bao gồm kinh tế , chính trị , an ninh và văn hóa xã hội , do vậy , pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng được phân chia thành ba lĩnh vực chính : Luật Cộng đồng chính trị an ninh , Luật cộng đồng kinh tế và luật cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN
c Nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN
Vẫn chưa có quy định chính thức về vấn đề thế nào là nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN Nhưng từ những đặc điểm của pháp luật Cộng đồng ASEAN và bản thân
Trang 9ASEAN , ta có thể thấy nguồn luật của ASEAN khá đa dạng Trên cơ sở khoa học luật
tổ chức quốc tế và thực tiễn tồn tại của ASEAN , có thể phân chia nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN thành các nhóm sau đây :
- Nhóm 1 : các điều ước quốc tế được kí kết trong khuôn khổ của ASEAN ;
- Nhóm 2 : các điều ước quốc tế được ký kết giữa ASEAN với các đối tác của mình ; -Nhóm 3 : các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN thông qua.
2 Nguồn của Luật quốc tế.
a Khái quát về Luật quốc tế
Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc , quy phạm pháp luật được quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng , nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong một lĩnh vự của đời sống quốc tế Nội dung các quan hệ pháp luật quốc tế rất đa dạng , từ quan hệ hợp tác chính trị , kinh tế , đến quan hệ hợp tác văn hóa , khoa học kỹ thuật , phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật độc lập: Bao gồm những nguyên tắc, những qui phạm pháp luật được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ Pháp luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng nhằm điều chỉnh mối quan
hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là các quốc gia) khi cần thiết, được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới.
b Nguồn của Luật quốc tế.
Nguồn của Luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên.
Dựa theo quy định tại khoản 1, Điều 38 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế thì nguồn của Luật quốc tế bao gồm : Điều ước quốc tế; Tập quán quốc tế; Các nguyên tắc pháp luật chung; Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế; Các học thuyết về Luật quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế vai trò của các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ và hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng và không thể phủ nhận Trong các loại nguồn được liệt kê trên thì điều ước quốc tế ( nguồn thành văn) và tập quán quốc tế ( nguồn bất thành văn) có thể xem là hai loại nguồn chủ yếu,
cơ bản và có vai trò quan trọng nhất.
II SO SÁNH NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN VỚI NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ.
1 Điểm giống nhau giữa nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế ASEAN là tổ chức quốc tế liên chính phủ nên nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN
sẽ mang bản chất nguồn của luật quốc tế Vì vậy , cấu trúc nguồn luật của pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng sẽ tương tự như nguồn của luật quốc tế nói chung Hai nguồn đều luật là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên tắc , quy phạm pháp luật
Trang 10- Một là, Pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế đều sử dụng hai loại nguồn cơ bản là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ: Nguồn luật cơ bản chính là các điều ước quốc tế Điều ước quốc tế được hiểu là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh , không phụ thuộc vào thỏa thuận đó được ghi chép trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau , cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó Nguồn luật cơ bản chính là điều ước quốc tế Các điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật quốc tế cũng như của ASEAN được thể hiện ở những tên gọi như: hiến chương, hiệp ước, nghị định thư, tuyên bố,… Luật quốc tế cũng như pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh các điều ước quốc tế không phụ thuộc vào thỏa thuận đó được ghi chép trong một văn kiện hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó.
- Hai là, Xét trên phương diện tính pháp lý của hai nguồn luật được áp dụng ta có thể nhận thấy rằng: nguồn cơ bản có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các thành viên kí kết hoặc tham gia điều ước Về phương diện ngược lại thì nguồn bổ trợ của luật quốc tế cũng như của pháp luật Cộng đồng ASEAN chỉ có tính chất tham khảo, không có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các chủ thể
- Ba là, sự ra đời của nguồn pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế đêu xuất phát điểm trên cơ sở của sự thảo thuận giữa các quốc gia tành viên.
=> Như vậy , xét về tổng quát thi pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế có rất nhiều điểm giống nhau , từ nguồn luật bản chất , đến cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật
2 Điểm khác nhau giữa nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế.
a Về cấu trúc của nguồn luật:
Nội dung Nguồn pháp luật cộng đồng ASEAN Nguồn của Luật quốc tế
Nguồn cơ bản - Điều ước quốc tế (hiệp ước, hiệp định, nghị định, hiến chương, ) Những điều ước quốc tế là nguồn của pháp luật Công đồng ASEAN thực chất chính là nguồn luật của tổ chức quốc tê liên chính phủ , làm cơ sở pháp lí điều chỉnh quan hệ giữa các thành viên của tổ chức đó cũng như quan hệ giữa tổ chức quốc tế.
Điều ước quốc tế của ASEAN bao gồm hai bộ phận Một là điều ước được kí kết giữa các nước thành viên với nhau làm cơ sở pháp lí cho sự ra đời và hoạt động của ASEAN , gồm Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 , Hiến chương ASEAN năm 2007 và những điều ước thiết lập khuôn khổ hợp tác nội khối giữa các thành viên , bao gồm các điều ước được kí kết trong lĩnh vực chính trị - an ninh , kinh tế và văn hoá - xã hội Hai là điều ước được kí kết giữa ASEAN với các chủ thể khác của luật quốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ hợp tác ngoại khối của Hiệp hội như Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc , Hiệp định thương mại tự do ASEAN Australlia - New Zealand - Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế
Những điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật quốc tế Trong Luật quốc tế, điều ước quốc tế chủ yếu được trình bày dưới dạng thành văn (công ước viên 1969, 1986,
…) Quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế được điều chỉnh bởi các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và tuân thủ các quy phạm của Luật quốc tế.