Mục tiêu nghiên cứu đề tài là đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2011 – 2015 nhằm tìm ra những ưu điểm và những bất cập trong công tác QHSDĐ và đề xuất các giải pháp thực hiện hiệu quả phương án QHSDĐ trên địa bàn giai đoạn 2016 – 2020.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VÕ PHƯƠNG TÙNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO GIAI ĐOẠN 2016-2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 885.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS HUỲNH VĂN CHƯƠNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các thông tin, số liệu, phục vụ cho nghiên cứu được thu thập khách quan từ các
cơ quan quản lý Nhà nước thuộc thành phố Biên Hòa, các Sở, Ngành của tỉnh Đồng Nai và từ điều tra phiếu
Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Võ Phương Tùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- PGS.TS Huỳnh Văn Chương phó giám đốc Đại học Huế đã tận tình hướng dẫn và giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
- Tôi cũng gửi lời biết ơn sâu sắc tới các Thầy Cô trong khoa Tài Nguyên đất và Môi trường Nông Nghiệp, Phòng Sau đại học của trường Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Huế đã giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện
đề tài
- Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai, các Sở, ngành liên quan, Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Biên Hòa, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Biên Hòa đã tạo điều kiện cho tôi có thời gian học tập, nghiên cứu và giúp đỡ cung cấp các tài liệu, số liệu
để tôi hoàn thành đề tài
Xin trân trọng cảm ơn
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Võ Phương Tùng
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất trên
địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016 - 2020” được thực hiện từ tháng 8/2017 đến tháng 02/2018
tại thành phố Biên Hòa Đề tài nhằm đánh giá phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa trong giai đoạn từ 2011 – 2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016-2020 Nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn cho việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai nói chung và công tác lập, điều chình quy hoạch
sử dụng đất nói riêng
Kết quả đề tài cho thấy:
(1) Thành phố Biên Hòa có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khá thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và công tác quản lý sử dụng đất nói riêng Mật độ dân
số trung bình là 4.044,53 người/km2 cao gấp gần 8 lần so với toàn tỉnh, đang gây sức
ép mạnh mẽ đến sử dụng đất cũng như trong công tác quy hoạch sử dụng đất Thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam, một vùng kinh tế năng động nhất cả nước; tài nguyên đất phong phú thích hợp với nhiều loại cây trồng; địa hình tương đối bằng phẳng, nền địa chất vững chắc thuận lợi cho phát triển xây dựng đô thị và các khu công nghiệp Tăng trưởng kinh tế đạt mức cao
(2) Công tác quy hoạch sử dụng đất luôn được quan tâm và chú trọng Các phương án quy hoạch sử dụng đất phản ánh đúng quan điểm, định hướng sử dụng đất, phù hợp với tiềm năng đất đai, thế mạnh của địa phương Tuy nhiên cũng có khó khăn như nguồn vốn đầu tư không kịp thời, thời gian lập không đúng quy định, tài liệu kỹ thuật chưa đầy đủ, ý thức chấp hành và sự quan tâm quy hoạch của người sử dụng đất còn hạn chế… đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, tính khả thi của phương án quy hoạch
(3) Kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất từ năm 2011 – 2015 đạt
tỷ lệ thấp: đất nông nghiệp đạt 48,02 % chỉ tiêu quy hoạch; Đất phi nông nghiệp đạt 47,91 % Các dự án, công trình trong kỳ quy hoạch được thực hiện đúng vị trí, nhưng chưa đúng về thời gian và quy mô; số lượng thực hiện với tỷ lệ thấp 47,3 %, bên cạnh
đó có nhiều dự án, công trình buộc phải thu hồi do chậm triển khai thực hiện, làm cho phương án QH chưa đạt được hiệu quả như đã đề ra
4 Đề tài đề xuất 9 nhóm giải pháp nâng cao hơn hiệu quả phương án quy hoạch
sử dụng đất: sử dụng đất, hoàn thiện quy định về quy hoạch sử dụng đất; nâng cao chất lượng lập quy hoạch sử dụng đất; cải thiện tiến độ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất;
tăng cường quản lý, giám sát quy hoạch sử dụng đất; đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đầu tư; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người sử dụng đất; giải quyết tốt việc bồi thường, tái định cư khi thu hồi đất; phối hợp tốt với các địa phương liên quan trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ: 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.2 Mục tiêu của việc lập quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.3 Vị trí, vai trò của quy hoạch sử dụng đất 5
1.1.4 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai 6
1.1.5 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất 8
1.1.6 Mối quan hệ của quy hoạch sử dụng đất với các loại hình quy hoạch khác 9
1.1.7 Nội dung quy hoạch sử dụng đất 9
1.1.8 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 10
1.1.9 Phương pháp quy hoạch sử dụng đất 10
1.1.10 Trình tự lập quy hoạch sử dụng đất 11
1.1.11 Các tiêu chí đánh giá quy hoạch sử dụng đất 12
Trang 61.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.2.1 Quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 12
1.2.2 Quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ 15
1.2.3 Tổng quan tình hình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Đồng Nai 18 1.2.4 Cơ sở pháp lý về quy hoạch sử dụng đất 19
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 22
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 22
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp 22
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp 23
2.2.3 Phương pháp chuyên gia: 25
2.3.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp: 26
2.2.5 Phương pháp phân tích: 26
2.3.6 Phương pháp bản đồ: 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CÔNG TÁC QHSDĐ 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 27
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất 36
3.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 42
3.1.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất 44
3.1.5 Những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục 47
Trang 73.2 TÓM TẮT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2011
-2020 48
3.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QHSDĐ CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 VÀ NĂM 2016 56
3.3.1 Tình hình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa 56
3.3.2 Tình hình biến động đất đai trên địa bàn thành phố Biên Hòa 57
3.3.3 Tình hình thực hiên phương án QHSDĐ trên địa bàn thành phố Biên Hòa 62
3.3.4 Kết quả điều tra, tham vấn ý kiến về quy hoạch sử dụng đất 71
3.4 HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRONG THỜI KỲ MỚI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHƯƠNG ÁN QHSDĐ 74
3.4.1 Quan điểm sử dụng đất trong thời kỳ mới 74
3.4.2 Hướng sử dụng đất theo các mục đích sử dụng 76
3.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG 81
3.5.1 Kết quả đạt được 81
3.5.2 Những tồn tại cơ bản 82
3.5.3 Nguyên nhân tồn tại 83
3.5.4 Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện phương án QHSDĐ thành phố Biên Hòa đến năm 2020 84
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 88
4.1 KẾT LUẬN 88
4.2 KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 95
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTTN Diện tích tự nhiên
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các thông tin, tài liệu thu thập 22
Bảng 2.2 Số lượng mẫu điều tra tại các phường, xã 25
Bảng 3.1 Diện tích theo đơn vị hành chính 28
Bảng 3.2 Thống kê các nhóm đất thành phố Biên Hòa 33
Bảng 3.3 Tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2011 - 2015 37
Bảng 3.4 Dân số thành phố Biên Hòa 38
Bảng 3.5 Diện tích theo đơn vị hành chính 44
Bảng 3.6 Phương án QHSDĐ đến năm 2020 50
Bảng 3.7 Phương án điều chỉnh QHSDĐ đến năm 2020 51
Bảng 3.8 Hiện trạng sử dụng đất qua các năm 56
Bảng 3.9 Thống kê biến động diện tích các loại đất giai đoạn 2011 - 2015 58
Bảng 3.10 Tình hình thực hiện QHSDĐ (2011 - 2015) 62
Bảng 3.11 Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 66
Bảng 3.12 Tình hình các KCN đã hoạt động đến năm 2015 68
Bảng 3.13 Tình hình các CCN đã hoạt động đến năm 2015 69
Bảng 3.14 Kết quả điều tra, tham vấn ý kiến về QHSDĐ của người SDĐ 71
Bảng 3.15 Kết quả điều tra, tham vấn ý kiến về QHSDĐ của cán bộ quản lý 73
Bảng 3.16 Hướng sử dụng đất đến năm 2020 76
Bảng 3.17 Hướng sử dụng một số loại đất nông nghiệp đến năm 2020 77
Bảng 3.18 Hướng sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp đến năm 2020 79
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Biên Hòa 29
Hình 3.2 Cơ cấu các nhóm đất thành phố Biên Hòa 35
Hình 3.3 Hình ảnh tuyến đường và hầm chui thành phố Biên Hòa 41
Hình 3.4 Hiện trạng sử dụng đất qua các năm 57
Hình 3.5 Kết quả thực hiện QHSDĐ nông nghiệp 2011-2015 64
Hình 3.6 Kết quả thực hiện QHSDĐ phi nông nghiệp 2011 - 2015 65
Hình 3.7 Hình ảnh dự án chậm triển khai trong kỳ QH 2011 – 2015 70
Hình 3.8 Hiện trạng SDĐ lúa tại xã Phước Tân 84
Hình 3.9 Nước xả thải tại KCN Biên Hòa I 84
Trang 11Quy hoạch sử dụng đất đai là một biện pháp nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất tùy tiện; ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, hủy hại, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định:
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử
dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều 18, chương II) Luật Đất đai 2003 (Điều 6)
và Luật Đất đai 2013 (Điều 22) đều khẳng định: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai Do đó quy hoạch sử dụng đất là nhiệm vụ của Nhà nước Thông qua quy hoạch, Nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, điều tiết sử dụng đất ngăn chặn tiêu cực trong việc sử dụng đất và hoạt động giao dịch liên quan đến đất đai cũng như trong việc phát triển thị trường bất động sản Căn cứ vào quy hoạch Nhà nước tiến hành giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, triển khai thực hiện quy hoạch Đồng thời, quản lý việc phát triển đô thị phù hợp với quy định pháp luật
Biên Hòa là trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Đồng Nai; là thành phố, trung tâm công nghiệp quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước Có vị trí địa lý thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội trong quá khứ, hiện tại và tương lai Trong những năm qua, Biên Hòa luôn có tốc
độ phát triển kinh tế cao so với toàn tỉnh Đồng Nai, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 là 14,29% (toàn tỉnh là 12%), giai đoạn 2006 - 2010 là 13,96%
(toàn tỉnh là 13,25%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ từ 28,72% năm 2005 lên 35,11% vào năm 2010, GDP bình quân năm 2010 tăng gấp 1,79 lần so với năm 2005
Trang 12Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển ấy vẫn có không ít những bất cập đang tồn tại
và ngày một gia tăng: diện tích đất đai bị lấn chiếm và chuyển mục đích trái quy hoạch
đã lên con số rất lớn, các khu công nghiệp trên địa bàn với tỷ lệ lấp đầy thấp là một lãng phí lớn về nguồn lực đất đai đối với địa bàn có tốc độ đô thị hóa cao như thành phố Biên Hòa… Điều này một phần là hậu quả phải đánh đổi cho sự phát triển nhưng phần lớn còn lại là do chính sách quản lý về đất đai và công tác QHSDĐ đã trở nên lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xã hội Việc đánh giá kết quả thực hiện phương án QHSDĐ trên địa bàn là hết sức cần thiết, nhằm rút kinh nghiệm để xây dựng hệ thống chính sách mới phù hợp cho công tác quản lý nhà nước
về đất đai và nhằm làm cơ sở xác định xu hướng phát triển cho kết quả thực hiện phương án QHSDĐ trong thời kỳ mới
Xuất phát từ thực tế đó tôi thực hiện đề tài:“Đánh giá kết quả thực hiện phương
án Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016 - 2020” nhằm nghiên cứu
và đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch nói riêng và công tác quản lý đất đai nói chung trên địa bàn
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2011 – 2015 nhằm tìm ra những ưu điểm và những bất cập trong công tác QHSDĐ và đề xuất các giải pháp thực hiện hiệu quả phương án QHSDĐ trên địa bàn giai đoạn 2016 – 2020
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Biên Hòa;
- Mô tả được phương án QHSDĐ giai đoạn 2011 – 2020 của thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đánh giá được kết quả thực hiện so với phương án quy hoạch sử dụng đẩt giai đoạn 2011 – 2015 của thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
- Đưa ra được các giải pháp để thực hiện hiệu quả và hợp lý phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 – 2020
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Ý nghĩa khoa học:
Thông qua việc nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015, so sánh và phân tích một cách hệ thống những vấn đề phát sinh trong công tác lập, thực
Trang 13hiện và quản lý quy hoạch sử dụng đất Đồng thời, cũng qua việc nghiên cứu, góp phần hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn đối với chính sách pháp luật của nhà nước
về quy hoạch sử dụng đất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá đúng thực trạng công tác lập, thực hiện và quản lý quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Biên Hòa nhằm xác định những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những bất cập, những hạn chế phải thay đổi, điều chỉnh lại quy hoạch, triển khai quy hoạch không sát với phương án Từ đó đề xuất những giải pháp hợp lý trong việc triển khai công tác quy hoạch trên địa bàn thành phố Biên Hòa giai đoạn 2016-2020
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất
Theo Tôn Gia Huyên (2007) [27]: “Quy hoạch sử dụng đất là bản “tổng phổ” của phát triển và tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó phản ánh cụ thể các ý tưởng về tương lai của các ngành, các cấp một cách cân đối và nhịp nhàng; thông qua những trình tự hành chính pháp lý nhất định để trở thành quy chế xã hội, mọi người đều có quyền và nghĩa
vụ thực hiện Quá trình tổ chức, thành lập, thực hiện, điều chỉnh quy hoạch là quá trình huy động mọi nguồn lực xã hội vào phát triển sản xuất và sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ, nên đó cũng là quá trình xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân Do đó, quy hoạch sử dụng đất vừa là phương thức để phát triển vừa là công cụ để xây dựng và củng cố nhà nước.”
Theo Chu Văn Thỉnh (2007) [1]: “Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đồng thời 3 tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất đai như tư liệu sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường.”
Theo Luật Đất đai năm 2013 (Điều 3)[22] thì: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”
Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo
vệ đất và môi trường
1.1.2 Mục tiêu của việc lập quy hoạch sử dụng đất
Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất được định nghĩa như là làm thế nào để sử dụng đất đai được tốt nhất Có thể phân chia tính chuyên biệt riêng của từng đề án
Mục tiêu của quy hoạch có thể được gom lại trong 3 tiêu đề: hiệu quả, bình đẳng – có khả năng chấp nhận, và bền vững
Trang 15- Hiệu quả: sử dụng đất đai phải mang tính chất kinh tế, do đó một trong những mục tiêu của quy hoạch để phát triển là mang lại tính hiệu quả và nâng cao sản lượng, chất lượng trong sử dụng đất đai Ở bất kỳ một hình thức sử dụng đất đai riêng biệt nào thì nó cũng có tính thích nghi cho từng vùng riêng biệt của nó hay đôi khi nó thích nghi chung cho cả vùng khác Hiệu quả chỉ đạt được khi có sự đối chiếu giữa các loại
sử dụng đất đai khác nhau với những vùng đất đai cho thuận lợi cao nhất mà chi phí đầu tư thấp nhất Tuy nhiên, hiệu quả có ý nghĩa khác nhau đối với các chủ thể khác nhau Đối với những nông dân cá thể là làm sao vốn thu hồi từ đầu tư lao động đến vật chất được cao nhất hay lợi nhuận cao nhất từ các vùng đất có thể cho được Còn mục đích của nhà nước thì phức tạp hơn, bao gồm cả việc cải thiện tình trạng trao đổi hàng hóa với nước ngoài thông qua sản xuất cho xuất khẩu hay thay thế dần việc nhập khẩu
- Bình đẳng và có khả năng chấp nhận được: sử dụng đất đai cũng mang tính chấp nhận của xã hội Những mục tiêu đó bao gồm an toàn lương thực, giải quyết công
ăn việc làm và an toàn trong thu nhập của các vùng nông thôn Cải thiện đất đai và tái phân bố đất đai cũng phải được tính đến để giảm bớt những bất công trong xã hội hay
có thể chọn lọc các kiểu sử dụng đất đai thích hợp để giảm dần và từng bước xóa đi sự nghèo đói tạo ra sự bình đẳng trong sử dụng đất đai của mọi người trong xã hội Một cách để thực hiện các mục tiêu này là nâng cao tiêu chuẩn đời sống của từng hộ nông dân Tiêu chuẩn mức sống này bao gồm mức thu nhập, dinh dưỡng, an toàn lương thực
và nhà cửa Quy hoạch là phải đạt được những tiêu chuẩn này bằng cách thông qua việc phân chia đất đai cho các kiểu sử dụng riêng biệt cũng như phân chia tài chính hợp lý và đồng thời với các nguồn tài nguyên khác
- Tính bền vững: sử dụng đất đai bền vững là phải phù hợp với những yêu cầu hiện tại đồng thời cũng phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ
kế tiếp trong tương lai Điều này đòi hỏi một sự kết hợp giữa sản xuất và bảo vệ: sản xuất hàng hóa cho nhu cầu ở hiện tại kết hợp với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất lệ thuộc vào tài nguyên nên việc bảo vệ và sử dụng cân đối nguồn tài nguyên này là nhằm bảo đảm sự sản xuất lâu bền trong tương lai Trong một cộng đồng, khi nguồn tài nguyên đất đai bị hủy hoại chính là sự hủy hoại tương lai của cộng đồng đó Sử dụng đất đai phải được quy hoạch cho toàn cộng đồng và được xem như là một thể thống nhất bởi vì sự bảo vệ đất, nước và các nguồn tài nguyên đất đai khác có nghĩa là bảo vệ tài nguyên đất đai cho từng cá thể riêng biệt trong cộng đồng đó
1.1.3 Vị trí, vai trò của quy hoạch sử dụng đất
QHSDĐ có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai, thể hiện trên các mặt như sau:
Trang 16- QHSDĐ là một trong những công cụ quản lý nhà nước về đất đai Điều này được quy định cụ thể trong Luật đất đai 2013[22]: KHSDĐ hàng năm (là việc phân chia QHSDĐ theo thời gian để thực hiện trong kỳ QHSDĐ) cấp huyện là căn cứ để Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ (khoản 1 Điều 52), thu hồi đất (khoản 2 Điều 63)
- QHSDĐ có vai trò định hướng cho các doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả vào đất đai Trên cơ sở QHSDĐ các doanh nghiệp đầu tư có được cái nhìn tổng quát về bức tranh phát triển của từng địa bàn, từ đó định hướng riêng cho từng lĩnh vực phát triển
mà mình quan tâm, tiết kiện thời gian tìm kiếm vị trí đầu tư, tránh được sự đầu tư không đúng chỗ, không hợp lý
- QHSDĐ là cơ sở để thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá tình hình quản lý và SDĐ QHSDĐ được xây dựng trên cơ sở khoa học, dự báo nhu cầu SDĐ trong tương lai, cân đối phân bổ quỹ đất một cách hài hòa hợp lý Trên cơ sở đó Nhà nước tiến hành kiểm tra, đánh giá tình hình SDĐ, tìm ra những mặt tích cực cần phải phát huy, những mặt tiêu cực cần phải hạn chế, từ đó có hướng điều chỉnh cho phù hợp nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung và cửa từng địa phương nói riêng
- QHSDĐ là căn cứ để cơ quan nhà nước lập KHSDĐ từng giai đoạn 5 năm (cấp quốc gia và cấp tỉnh) và lập KHSDĐ hàng năm (cấp huyện) Quá trình lập QHSDĐ đã sắp xếp nhu cầu, mục đích SDĐ theo từng giai đoạn để có kế hoạch phân phối, bố trí, kêu gọi vốn nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
1.1.4 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai được thể hiện như sau [4]:
- Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai Mỗi hình thái KT - XH đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên, cũng như quan hệ giữa người với người Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời
là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan
hệ xã hội, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội
- Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu
ở hai mặt: đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ, toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất
Trang 17đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái,
- Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố
KT - XH quan trọng (như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, ) từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về
sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài KT - XH Cơ cấu
và phương hướng sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn KT - XH) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn
- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bổ sử dụng đất Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như:
+ Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;
+ Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
+ Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bổ đất đai trong vùng;
+ Phân định ranh giới và các hình thức quản lý sử dụng đất đai trong vùng;
+ Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, ảnh hưởng của nhiều nhân tố KT - XH khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch sẽ càng ổn định
- Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị
và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch KT - XH Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và
môi trường sinh thái
Trang 181.1.5 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau:
- Nhiệm vụ đặt ra với quy hoạch;
- Số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch;
- Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội dung và phương pháp quy hoạch
Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể về sử dụng đất đai từ tổng thể đến thiết kế chi tiết
Đối với nước ta, Luật Đất đai năm 1993[20] (Điều 16, 17, 18), Luật đất đai 2003 [21](Điều 25, 26, 27, 28, 29, 30) và Luật Đất đai 2013[22] (Điều 36, 37, 38, 39, 40, 41) quy định: quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ và theo nghành
Quy hoạch theo lãnh thổ là hệ thống nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, của mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy,
để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của nhà nước Tùy thuộc vào chức năng nhiệm
vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau, tuy nhiên do yêu cầu thực tiễn đôi khi quy hoạch phải thực hiện độc lập, hoặc đồng thời sau đó sẽ chỉnh lý khi các cấp liên quan hoàn thành Trong một số trường hợp cần thiết (khi có tác động của tính đặc thù khu vực) đôi khi phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp trung gian, gọi là quy hoạch đặc thù (quy hoạch sử dụng đất liên tỉnh, liên huyện, vùng trọng điểm quốc gia)
Mục đích quy hoạch sử dụng đất các cấp lãnh thổ hành chính bao gồm: đáp ứng (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ thể hóa một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành
và các đơn vị hành chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của ngành và địa phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm (căn cứ để giao đất, cấp đất, thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); phục
vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai
Khác với Luật Đất đai năm 1993[20], 2003[21], Luật Đất đai 2013[22] không quy định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Riêng quy hoạch sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng được quy định cụ thể tại Điều 41 Luật Đất đai 2013:
Trang 19- Bộ quốc phòng, Bộ công an, tổ chức việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho ngành mình trình Chính phủ phê duyệt
- Chính phủ quy định cụ thể việc lập, xét duyệt, điều chỉnh, thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh
Tuy nhiên có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
1.1.6 Mối quan hệ của quy hoạch sử dụng đất với các loại hình quy hoạch khác
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển nông nghiệp Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch các ngành phi nông nghiệp
khác (giao thông, thuỷ lợi, y tế, văn hoá, giáo dục…vv)
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất cả nước với quy hoạch sử dụng đất đai của
địa phương
1.1.7 Nội dung quy hoạch sử dụng đất
Theo Luật Đất đai năm 2013[22], tại điều 40, quy định 6 nội dung quy hoạch sử dụng đất như sau:
Trang 20c, d và e khoản 1 Điều 57 của Luật này thì thể hiện chi tiết đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
e) Giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất
1.1.8 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
Theo Điều 35 Luật Đất đai 2013[22], bao gồm những nguyên tắc sau:
- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh
tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã
- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu
- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
- Dân chủ và công khai
- Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
- Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
1.1.9 Phương pháp quy hoạch sử dụng đất
Trên cơ sở về nguyên tắc và nội dung quy hoạch sử dụng đất, có thể áp dụng các phương pháp dưới đây để lập quy hoạch sử dụng đất:
a) Phương pháp kết hợp định tính và định lượng:
b) Phương pháp tiếp cận: tiếp cận vĩ mô từ trên xuống và vi mô từ dưới lên c) Phương pháp cân bằng tương đối: QHSDĐ là thiết lập một hệ thống cân bằng tương đối trong sử dụng đất
d) Phương pháp phân tích dự báo
e) Tối ưu hóa các bài toán về tổ chức lãnh thổ (bài toán quy hoạch tuyến tính)
Trang 211.1.10 Trình tự lập quy hoạch sử dụng đất
a) Trình tự việc lập QHSDĐ và kế hoạch hoạch sử dụng đất năm đầu cấp huyện Theo Điều 51 Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014[26] của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình tự việc lập QHSDĐ và kế hoạch hoạch sử dụng đất năm đầu cấp huyện được thực hiện theo trình tự sau:
- Điều tra, thu thập thông tin, tài liệu;
- Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tác động đến việc sử dụng đất;
- Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất; kết quả thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất kỳ trước và tiềm năng đất đai;
- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất;
- Lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu;
- Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các tài liệu có liên quan;
- Thẩm định, phê duyệt và công bố công khai
b) Quy trình điều chỉnh QHSDĐ và lập KHSDĐ năm đầu Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện theo trình tự sau:
- Điều tra, thu thập bổ sung thông tin, tài liệu; phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; tình hình quản lý, sử dụng đất; kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất;
- Xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;
- Lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
- Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các tài liệu có liên quan;
- Thẩm định, phê duyệt và công bố công khai
c) Quy trình lập KHSDĐ hàng năm Việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đối với các năm còn lại được thực hiện theo trình tự sau:
- Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm trước;
- Lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện;
Trang 221.1.11 Các tiêu chí đánh giá quy hoạch sử dụng đất
Định tính: Xem xét trình tự, nội dung các bước thực hiện dự án quy hoạch sử
dụng đất có đảm bảo theo quy định của pháp luật hiện hành (quy hoạch sử dụng đất
đến 2020 theo thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 và Thông
tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2014 của Bộ Tài nguyên Môi trường)
Định lượng: Xem xét nội dung lập dự án quy hoạch sử dụng đất có bao nhiêu điểm theo hoặc không theo quy định;
Qua quá trình thực hiện dự án quy hoạch: Bao nhiêu công trình dự án triển khai không đúng, có đúng kế hoạch trong dự án hay không;
Tổng hợp các chỉ tiêu các loại đất có theo kế hoạch thực hiện các năm trong dự
án hay không
Quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất: có bao nhiêu phần trăm trường hợp giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất, từ đó tổng hợp các chỉ tiêu sử dụng đất đạt tỷ lệ so với quy hoạch
Khống chế chỉ tiêu đất trồng lúa, chỉ cho chuyển từ đất khác sang đất trồng lúa, còn việc chuyển mục đích từ đất lúa sang loại đất khác phải được quản lý nghiêm ngặt
và thực hiện được bao nhiêu phần trăm (đất trồng lúa, đất rừng chỉ được thực hiện ít hơn so với quy hoạch sử dụng đất)
Về công bố thông tin quy hoạch sử dụng đất: bao nhiêu phần trăm người dân biết
thông tin về quy hoạch sử dụng đất
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Quy hoạch sử dụng đất trên thế giới
Việc nghiên cứu QHSDĐ theo góc độ của một ngành như nông nghiệp đã có từrất lâu Sở dĩ như vậy vì lúc đầu đất đai chỉ được chú ý ở khía cạnh là tư liệu sản xuất trong nông nghiệp Quá trình công nghiệp hóa cũng như đô thị hóa và sự gia tăng dân
số đã làm cho đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại Do đó, vào những năm đầu của thế kỷ 20 đã xuất hiện tư tưởng QHSDĐ cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau trong một ranh giới lãnh thổ nhất định Tuy nhiên, trong thời kỳ này, QHSDĐ mới chỉ được hình thành trong ý tưởng chứ chưa được thực hiện trên thực tế do thiếu cơ sở khoa học và phương pháp tiến hành
Trong vài thập kỷ gần đây, nhiều nước trên thế giới đặc biệt là tổ chức Lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã nhận thấy việc sử dụng đất đai không thể giải quyết riêng rẽ theo từng ngành mà phải giải quyết, xem xét một cách toàn diện theo ba
Trang 23vấn đề lớn là kinh tế, xã hội và môi trường Từ đó, quy hoạch sử dụng đất đai được xây dựng và áp dụng trong thực tế
Trong nghiên cứu của Lê Cảnh Định (2009) [13], “Ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất”, tác giả đã tóm lược khá đầy đủ các phương pháp QHSDĐ ở một số nước trên thế giới trước khi có hướng dẫn của FAO và sau đó tác giả cũng trình bày khá cặn kẽ nội dung phương pháp QHSDĐ theo FAO Tóm lược một số nội dung chính như sau:
Các phương pháp QHSDĐ trước FAO (1993):
Ở Mỹ, Năm 1929 bang Wisconsin (phía đông bắc - Mỹ) đã QHSDĐ cho khu vực nông thôn và phân vùng sử dụng đất cho khu vực đô thị Trong đó, ngoài việc phân định các khu vực cho phát triển đô thị còn xác định khu vực đất cho phát triển nông lâm nghiệp
Giai đoạn 1933-1943, nước Mỹ đã quy hoạch sử dụng tài nguyên đất cho toàn quốc, quy hoạch đất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất các lưu vực sông lớn
Trong giai đoạn này (1929-1943), việc bố trí phương án sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu dựa vào thích nghi đất đai nhưng chỉ xét 2 yếu tố chính là thổ nhưỡng và khả năng tưới
Năm 1965, luật quản lý tài nguyên nước được ban hành, các ủy ban của các lưu vực (river basin commission) được thành lập, và họ triển khai quy hoạch sử dụng tài nguyên nước và sử dụng đất (chủ yếu là đất nông lâm nghiệp) trong lưu vực, trong đó tập trung giải quyết bài toán sử dụng đất như thế nào để sử dụng hiệu quả tài nguyên nước
Giai đoạn 1967-1975, Cơ quan nghiên cứu đất nông nghiệp quốc gia (The National Agricultural Land Study) đã quy hoạch phân vùng sản xuất nông nghiệp phục
vụ thu thuế nông nghiệp, kết quả có 271 vùng sản xuất được chia thành 123 vùng thuế khác nhau Phương pháp xác định vùng sản xuất nông nghiệp dưa vào thích nghi đất đai (với 2 tính chất là đất và nước) có xem xét đến mối quan hệ với vùng đô thị
Giai đoạn 1977 - 1982, Chính quyền bang Wisconsin bắt đầu triển khai chương trình quy hoạch bảo vệ đất nông nghiệp (agricultural land preservation), thông qua các giải pháp về mặt pháp lý để kiểm soát sử dụng đất nông nghiệp: ký hợp đồng với các nông dân, những vùng quy hoạch đất nông nghiệp thì chỉ được sản xuất nông nghiệp không được chuyển sang các mục đích khác
Hầu hết các phương pháp nêu trên chưa xem xét toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất mà chỉ nhấn mạnh một số lĩnh vực như: bảo vệ tài nguyên đất đai, hoặc dựa vào cân bằng nước, hoặc dựa vào đánh giá thích nghi đất đai để đề
Trang 24Phương pháp quy hoạch sử dụng đất theo FAO (1993-a):
Năm 1993, FAO đã xuất bản cuốn sách hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất (Guideline for Land use Planning, FAO, 1993-a [14]), đây là bước phát triển mới trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất
Trong hướng dẫn thực hiện quy hoạch sử dụng đất của FAO (1993-a), nội dung nổi bật là xây dựng và lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu trên cơ sở đánh giá thích nghi đất đai
Tiếp theo sau hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1993-a), FAO cho ấn hành một số hướng dẫn khác về quy hoạch sử dụng đất:
- Đề cương đánh giá quản lý sử dụng đất bền vững (An international framework for evaluating sustainable land management, FAO, 1993-b)
- Quy hoạch sử dụng đất bền vững (Planning for sustainable use of land resources, FAO, 1995)
- Sử dụng đất trong tương lai (Our land our future, FAO/UNEP, 1995): Trong đó hướng dẫn phương pháp tiếp cận mới (từ dưới lên) trong quy hoạch và quản lý sử dụng đất bền vững
- Chỉ thị về chất lượng đất đai và sử dụng đất nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn (Land quality indicators and their use in sustainable agriculture and rural development, FAO, 1997)
- Bàn về sử dụng đất bền vững trong tương lai (Negotiating a sustainable future for land, FAO/UNEP, 1997)
- Tương lai đất đai đối mặt với nhiều thách thức (The future of our land: facing the challenge, FAO/UNEP, 1999-a): Hướng dẫn quy hoạch toàn diện (integrated planning) quản lý bền vững tài nguyên đất đai
Sau ấn phẩm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1993-a), FAO (1993-b) tiếp tục đưa ra quan điểm sử dụng đất bền vững; tính bền vững được đưa vào xem xét trong quá trình đánh giá đất đai, những loại hình sử dụng đất bền vững trong tương lai được chọn để đưa vào bố trí phương án sử dụng đất Năm 1995, FAO chính thức đưa
ra hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên đất đai (Planning for sustainable use of land resources)
Trên cơ sở các hướng dẫn của FAO, quy hoạch toàn diện và quản lý sử dụng đất bền vững được các quốc gia trên thế giới tiếp cận theo ba hướng khác nhau, cụ thể như sau: (i) Xây dựng chiến lược sử dụng đất bền vững ở tầm quốc gia, điều này Costaria, Mehico, Trung quốc,… đã triển khai; (ii) Phân quyền từ trung ương xuống địa phương
để xây dựng quy hoạch sử dụng đất bền vững (như Brazil, Filand, Denmark, Mali,…);
Trang 25(iii) Cả cộng đồng tham gia vào việc ra quyết định trong quy hoạch sử dụng đất (như Pháp, Burkina Faso, Senegal,…) (Joel C Bandibas, 1998)
Ngay từ khi mới được công bố, các hướng dẫn của FAO đã được áp dụng trong tất cả các quy hoạch của FAO ở các quốc gia: Thailand, Tuynidi, Indonesia, India, Tanazina, Trung Quốc, Philippines, các nước Đông Âu, Hà Lan, Australia… Hầu hết các nhà quy hoạch đều công nhận tầm quan trọng của nó trong quy hoạch sử dụng tài nguyên đất đai
Nhiều nước trên thế giới đã quan tâm tới công tác quy hoạch sử dụng đất từ rất lâu Do thể chế chính trị mỗi nước có khác nhau nên những nguyên tắc và cách thức tổ chức quy hoạch của mỗi nước có khác nhau:
- Ở Anh: Quy hoạch sử dụng đất với mục tiêu là sử dụng có hiệu quả nguồn dự trữ thiên nhiên: quy hoạch khu hồ chứa, khu trồng rừng, khu sản xuất nông nghiệp…Việc quản lý quy hoạch do nhiều cơ quan thực hiện thiếu sự tập trung nên hiệu quả không cao
- Ở Mỹ: Nhà nước lập ra các cơ quan chuyên môn để chỉ đạo thực hiện quy hoạch các vùng, miền, lãnh thổ rộng lớn; nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý luận trong thực hiện các đồ án quy hoạch
- Ở Liên Xô cũ và nước Nga ngày nay việc quy hoạch sử dụng đất được thực hiện theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương Do các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, thiết kế thực hiện do vậy đảm bảo tính thống nhất, khoa học và tính bền vững rất cao
- Ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Trung Quốc, Hàn Quốc…đã thực hiện quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học và kinh nghiệm của các phát triển Kết quả của việc quy hoạch sử dụng đất đã có những tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
- Ở các nước Đông Nam Á: Do điều kiện kinh tế chậm phát triển, cơ sỏ lý luận và kinh nghiệm còn hạn chế nên các nước này chủ yếu mới dừng lại ở việc quy hoạch tổng thể các ngành
1.2.2 Quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.2.1 Thời kỳ trước khi có Luật Đất đai 1987 [5]
- Thời kỳ trước những năm 1980: Quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉ được đề cập đến như là một phần của quy hoạch phát triển nông nghiệp Mặc dù công tác quy hoạch sử dụng đất đai lồng vào công tác phân vùng quy hoạch nông, lâm nghiệp đã được xúc tiến vào năm 1962 nhưng chủ yếu là do các ngành chủ quản tiến hành cùng với một số tỉnh, ngành có liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ Từ năm 1975 đến cuối năm
Trang 26xuất nông lâm nghiệp và công nghiệp chế biến nông lâm sản theo bảy vùng và trên địa bàn lãnh thổ là cấp tỉnh Các phương án phân vùng nông lâm nghiệp của tỉnh đã đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có tính toán quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên, do mục đích đề ra ngay từ đầu là chỉ để phục vụ phát triển nông lâm nghiệp nên các loại đất khác chưa được đề cập tới Bên cạnh đó, do còn thiếu nhiều tài liệu, chưa tính được khả năng đầu tư nên các phương án này có tính khả thi không cao
- Thời kỳ 1981-1986: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ rõ:
“Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau” Thực hiện nghị quyết này, các bộ ngành, tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất tại Việt Nam đến năm 2000 Cũng trong thời kỳ này, hầu hết 500 huyện của cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể của huyện Trong các tài liệu sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đề sử dụng đất đai
và được tính toán tương đối có hệ thống để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh với sự tham gia phối hợp của các ngành Các tài liệu này đã bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng đất đai và đưa ra các dự kiến sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000
1.2.2.2 Thời kỳ Luật Đất đai đầu tiên năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm 1993[5]
Đây là thời kỳ công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã có được cơ sở pháp lý quan trọng Song cùng với sự trầm lắng của công tác quy hoạch nói chung sau một thời kỳ triển khai rầm rộ, công tác quy hoạch sử dụng đất cũng chưa được xúc tiến như luật đã quy định Nguyên nhân của vấn đề này là do nền kinh tế Việt Nam trong thời gian này đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách lớn lao khi chuyển sang cơ chế thị trường
Tuy vậy, đây là thời kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản lý tập trung của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho nông dân và thực thi các chính sách đổi mới khác Công tác quy hoạch cấp xã trong giai đoạn này nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất,… Đây là mốc đầu tiên trong việc triển khai quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã trên khắp các xã
của cả nước Tuy vậy còn nhiều hạn chế về nội dung và phương pháp thực hiện
1.2.2.3 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến khi có Luật Đất đai 2003[5]
Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu, triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước được các ngành, các cấp và mọi thành viên trong xã hội hưởng ứng Đây chính là cái mốc bắt đầu của thời kỳ đưa công tác quản lý đất đai vào
nề nếp sau một thời gian dài tuyệt đối hóa về công hữu đất đai ở miền Bắc và buông
Trang 27lỏng công tác này ở các tỉnh phía Nam dẫn đến tình trạng có quá nhiều diện tích đất không có chủ sử dụng đất
Đặc biệt từ năm 1995, Chính phủ đã chỉ đạo công tác quy hoạch sử dụng đất đai một cách chặt chẽ hơn, cụ thể hơn Trong thời gian này, Tổng cục địa chính (cũ) đã xây dựng báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước đến năm 2010 để chính phủ trình ra quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ 10 và 11 Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội
đã thông qua kế hoạch sử dụng đất đai cả nước giai đoạn 1996-2000 Đây là lần đầu tiên, có một báo cáo về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tương đối đầy đủ các khía cạnh về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường đối với việc khai thác sử dụng đất đai cho một thời gian tương đối dài được soạn thảo theo phương pháp
tiếp cận từ trên xuống dưới và có điều tra thống kê để tổng hợp từ dưới lên
1.2.2.4 Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 2003[21] đến khi có Luật Đất đai 2013[22]
Năm 2003 là một mốc quan trọng trong công tác quản lý đất đai, thời kỳ này đất đai được xem như là hàng hóa, được tham gia vào thị trường bất động sản một cách chính quy Đây cũng là thời kỳ Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày
26 tháng 11 năm 2003, trên cơ sở đó Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, như: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 để hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2005 quy định về quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 25 tháng 10 năm 2005 quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn mang nặng tính hình thức, chưa tạo ra được khuôn khổ pháp lý đầy đủ và đặc biệt thiếu tính thống nhất, đồng bộ giữa QHSDĐ với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội và các quy hoạch ngành Vì vậy, tính pháp lý của QHSDĐ còn rất thấp chưa đi vào cuộc sống, hiệu quả kinh tế xã hội của QHSDĐ không cao
Nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế cũng như hoàn thiện hơn các quy định
về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nâng cao chất lượng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, ngày 13 tháng 8 năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, trong đó quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất Trên cơ sở đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã ban hành Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT quy định định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; và
Trang 28Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất
và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
1.2.2.5.Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai 2013[22] đến nay
Những nội dung đổi mới trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật đất đai 2013 được nghiên cứu thể hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại:
“Đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực khác có sử dụng đất theo hướng quy hoạch sử dụng đất phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ và đơn vị hành chính Quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất phải phù hợp với các chỉ tiêu, tiến độ sử dụng đất được phân bổ trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” và “Đổi mới kế hoạch
sử dụng đất hằng năm theo hướng phải thể hiện được nhu cầu sử dụng đất của các dự
án đầu tư, của các ngành, lĩnh vực, làm căn cứ để Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và xây dựng chính sách tài chính về đất đai”
Luật Đất đai năm 2013 đã dành toàn bộ Chương IV với 17 điều (từ Điều 35 đến Điều 51) quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đồng thời Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai đã dành toàn bộ Chương III với 06 điều, quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Ngày 02 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Có thể nói rằng, các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong pháp luật đất đai 2013 đã được nghiên cứu thể hiện đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất từ
trước tới nay
1.2.3 Tổng quan tình hình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Đồng Nai
Công tác lập QH, KHSDĐ các cấp trong địa bàn tỉnh luôn được quan tâm và triển khai thực hiện Trong đó:
- QHSDĐ cấp tỉnh:
+ QHSDĐ tỉnh Đồng Nai thời kỳ 1996 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 561/QĐ-TTg ngày 07/7/1998
Trang 29+ Điều chỉnh, bổ sung QHSDĐ đến năm 2010, KHSDĐ 2006 - 2010 tỉnh Đồng Nai được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 29/2007/NQ-CP ngày 18/6/2007
+ QHSDĐ đến năm 2020, KHSDĐ kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Đồng Nai được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 69/NQ-CP ngày 30/10/2012
- Điều chỉnh QHSDĐ đến năm 2020, KHSDĐ kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Đồng Nai được Chính phủ xét duyệt
- QHSDĐ cấp huyện: đến cuối năm 2005, 11/11 đơn vị hành chính cấp huyện trong địa bàn tỉnh đã hoàn thành lập QHSDĐ (chỉ có thành phố Biên Hòa là đơn vị lập QHSDĐ sau cùng, được duyệt vào tháng 12/2005; các huyện còn lại đều đã hoàn thành lập QHSDĐ vào cuối năm 1999)
- QHSDĐ cấp xã đến cuối năm 2006, 171/171 đơn vị hành chính cấp xã trong địa bàn tỉnh đã hoàn thành lập QHSDĐ
Việc lập KHSDĐ hàng năm hoặc 5 năm; điều chỉnh, lập lại QHSDĐ do việc điều chỉnh mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, do việc điều chỉnh QHSDĐ cấp trên hoặc do thay đổi địa giới hành chính,… đều được thực hiện kịp thời
1.2.4 Cơ sở pháp lý về quy hoạch sử dụng đất
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Luật quy hoạch đô thị ngày 17 tháng 6 năm 2009;
Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;
Nghị định 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai;
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai;
Nghị định 197/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Trang 30Thông tư 19/2009/TT-BTNMT ngày 17/12/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Thông tư 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Thông tư 13/2011/TT-BTNMT ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 15/03/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Quyết định số 175/QĐ-UBND ngày 15/01/2013 của UBND tỉnh Đồng Nai về phê duyệt công tác lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quy hoạch sử dụng đất đã từng bước trở thành một trong các công cụ hữu hiệu để quản lý đất đai và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về quy hoạch sử dụng đất từng bước được nghiên cứu, làm rõ
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về đánh giá quy hoạch sử dụng đất đã được thực hiện ở một số địa phương: Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001 – 2010 (Mai Đình Tứ, 2012)[17]; Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2001 – 2010 (Nguyễn Xuân Quảng, 2014); Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa (Nguyễn Quân Hải, 2014)[19]; Những vấn đề cơ bản về thực trạng và hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất ở nước ta từ nay đến những năm 2020 Báo cáo KH tại Hội thảo Khoa học về Quy hoạch
sử dụng đất (Nguyễn Dũng Tiến, 2007)[18]; Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai thời kỳ 1996-2010 Tạp chí KH đất Việt Nam, số 11/1999, trang 148-155 (Lê Viết Hưng, Phạm Quang Khánh, 1999)[16]; Điều tra, đánh giá đất theo FAO/UNESCO và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn một tỉnh (Lấy tỉnh Đồng Nai làm ví dụ) Nhà xuất bản Nông nghiệp, 213 trang (Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Khiêm, 1997)[42]; Đánh giá tình hình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2001 – 2010 và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (Văn Thị Tuyết, 2011)[40]; Một số vấn đề trong công tác quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện và tình hình thực hiện, trang 261 -
Trang 31268 (Đào Thị Gọn, 2000)[3] Những nghiên cứu trên đều khẳng định tính cần thiết của công tác đánh giá quy hoạch bởi đây là những luận chứng khoa học thể hiện những điểm mạnh, điểm yếu, tiềm năng và những vấn đề còn tồn tại để các nhà quy hoạch tìm hiểu và tìm ra giải pháp phục vụ công tác lập phương án quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn mới
Riêng trên địa bàn thành phố Biên Hòa trong những năm gần đây có những nghiên cứu: Báo cáo phương án quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn thành phố Biên Hòa đến năm 2020 (Lê Quang Hưng, Trần Độc Lập, Huỳnh Thanh Hiền, 2006)[14]; Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và các giải pháp nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch trên địa bàn thành phố Biên Hòa (Hoàng Văn Dung, 2007)[8]; Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống người dân trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (Vũ Văn Chiêu, 2012)[43] Mục tiêu của các nghiên cứu trên là để lập QHSDĐ thành phố Biên Hòa, những nghiên cứu trên đã xác định việc ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng đất, điều tra khảo sát xác định được nguyên nhân dẫn đến tình trạng quy hoạch, các dự án đầu tư chậm triển khai (quy hoạch “treo”), trên cơ sở đó xây dựng các phương án QHSDĐ và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao tính khả thi của các phương án quy hoạch Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện thì kết quả chỉ đạt mức trung bình, điều đó chứng tỏ phương án QHSDĐ xây dựng chưa mang tính khả thi cao Cho nên cần thiết phải có những đánh giá công tác QHSDĐ trên địa bàn thành phố Biên Hòa nhằm đúc kết kinh nghiệm để xây dựng hệ thống chính sách mới cho phù hợp với tình hình quản lý nhà nước về đất đai hiện nay và làm xu hướng phát triển
cho công tác QHSDĐ trong thời kỳ mới
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phương án QHSDĐ giai đoạn 2011-2020;
Kết quả thực hiện phương án QHSDĐ giai đoạn 2011-2015
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu phương án quy hoạch thổng thể cho thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Các số liệu, tài liệu thu thập đến thời điểm 2011 đến 2016
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung vào các nội dung sau:
- Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa ảnh hưởng đến tình hình sử dụng đất và công tác QHSDĐ
- Mô tả phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020
- Đánh giá kết quả thực hiện phương án QHSDĐ thành phố Biên Hòa giai đoạn 2011-2015
- Đưa ra các giải pháp để thực hiện QHSDĐ giai đoạn 2016-2020
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Bảng 2.1 Các thông tin, tài liệu thu thập
1 Nhóm thông tin về điều kiện tư nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và PTNT
2 Thông tin về kinh tế - Xã hội (Diện tích, dân số, lao động, việc làm, đời sống, thu nhập; Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội )
Sở kế hoạch và đầu tư; Phòng Kinh tế
TP Biên Hòa; Chi cục Thống kê thành phố Biên Hòa
Trang 33Thông tin cần thu thập Đơn vị cung cấp
3 Các thông tin về tình hình sử dụng và quản lý đất đai: Tình hình sử dụng đất;
Tình hình quản lý đất đai; Tình hình thực hiện quy hoạch )
Chi cục Quản lý đất đai, Trung tâm Kỹ thuật Địa chính – Nhà đất Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai; Phòng Tài nguyên và Môi trường Tp Biên Hòa; Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi Nhánh Biên Hòa
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp
- Ở giai đoạn đầu, việc nghiên cứu chủ yếu là sự phân tích, đánh giá, nhận định chủ quan dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của tác giả Do vậy, các thông tin dữ liệu cần thu thập sẽ liên quan đến thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; các tài liệu, số liệu, bản đồ về hiện trạng, QHSDĐ…
- Khi việc nghiên cứu đã tương đối hoàn chỉnh sẽ tiến hành tham vấn những người có kinh nghiệm, am hiểu trong lĩnh vực lập, điều chỉnh và thực hiện QHSDĐ để
có những thông tin, nhận định khách quan về khó khăn, vướng mắc và giải pháp cho công tác QHSDĐ Trên cơ sở ý kiến đã tham vấn, sẽ tiếp thu, hoàn thiện kết quả nghiên cứu
Thu thập thông tin bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp:
Bước 1: Chuẩn bị
- Xác định đối tượng điều tra: đối tượng để điều tra là là những người trực tiếp sử dụng đất là hộ gia đình, những người có thể đưa ra quyết định về cách thức thực hiện quyền sử dụng đất
- Thiết kế phiếu điều tra phục vụ đối tượng nghiên cứu
- Xác định vùng điều tra và số lượng phiếu:
+ Xác định vùng điều tra: Bao gồm 2 xã và 3 phường sau:
* Xã Phước Tân, xã Phước Tân huyện Long Thành được chuyển giao về thành phố Biên Hòa theo Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai, xã Phước Tân thuộc khu vực phía Nam của thành phố Biên Hòa, là khu vực phát triển năng động, có tốc độ đô thị hóa cao, hệ thống giao thông tỉnh lộ và quốc lộ đi qua khu vực xã, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai, nên có tình hình biến động về đất đai lớn (tách thửa, chuyển nhượng, thay đổi mục đích sử dụng đất, lấn chiếm ), quá trình đô thị
Trang 34hóa diễn ra mạnh, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng cao Do đó, vùng có thể đại diện cho khu vực các xã phát triển ngoại ô xung quanh thành phố
* Xã Hiệp Hòa: là một xã cù lao, được bao bọc bởi sông Đồng Nai, nằm về hướng Đông Bắc của thành phố Biên Hòa Nơi đây đã từng có một truyền thống lịch
sử và phát triển lâu đời của một thương cảng sầm uất và đô thị phồn thịnh nhất phương Nam trong giai đoạn 1679 - 1775 Nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi chỉ cách nội ô thành phố Biên Hòa và các khu công nghiệp bởi con sông Đồng Nai, có hệ thống kênh rạch phong phú ăn sâu vào bên trong đất liền nên giao thông thuận tiện cho cả về đường bộ
và đường thuỷ Đặc biệt, đây cũng là địa bàn có 04 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh Do đó, vùng có thể đại diện cho khu vực có cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa mang đậm nét đặc trưng của thành phố
* Phường Thống Nhất: là phường trung tâm, có tốc độ đô thị hóa mạnh, quy hoạch
là trung tâm hành chính – văn hóa – thương mại của thành phố Biên Hòa, được đầu tư
cơ sở hạ tầng đầy đủ nên việc tuyên truyền các chủ trương của Nhà nước có nhiều thuận lợi và công tác giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất được chú trọng Do đó đây là vùng có thể đại diện cho khu vực trung tâm phát triển của thành phố
* Phường Quyết Thắng là phường nội ô, là trung tâm chính trị của tỉnh Đồng Nai
và của thành phố Biên Hòa, phường có phía Nam giáp với sông Đồng Nai, có cảnh quan sinh thái ven sông, trong tương lai quy hoạch là khu đô thị sinh thái ven sông Do
đó là đây là vùng có thể đại diện cho khu vực trung tâm chính trị thành phố và những phường có cảnh quan sinh thái dọc sông Đồng Nai
* Phường Long Bình: nằm ở phía Đông thành phố Biên Hoà Có 3 trục đường giao thông chính là đường sắt Bắc Nam (phía Bắc); xa lộ Hà Nội (phía Tây) và Quốc
Lộ 15 (phía Tây Nam), là phường có diện tích lớn, tập trung các khu công nghiệp, có mật độ dân số nhập cư tăng cao, tốc độ đô thị hóa mạnh, do đó có nhiều thay đổi về loại hình, mục đích sử dụng đất cũng như việc lấn chiếm, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất tăng Vì vậy, phường Long Bình là phường điển hình cho khu vực phát triển xung quanh thành phố
+ Xác định số lượng phiếu: Số hộ tham gia trả lời khảo sát được xác định bằng cách sử dụng công thức xác định mẫu đơn giản của Yamane (1967-1986):
Trang 35Với mong muốn kết quả khảo sát sẽ đạt độ tin cậy là 95% và sai số cho phép là 5%, với tổng số hộ ở xã Phước Tân, xã Hiệp Hòa, phường Thống Nhất, phường Quyết Thắng và phường Long Bình là 65.020 hộ như vậy đề tài cần lấy lượng mẫu
Ta có: n = 65020\(1+ 65020*0,052)
n = 397,55
Bảng 2.2 Số lượng mẫu điều tra tại các phường, xã
Tên phường (xã) Số hộ dân Số mẫu
Như vậy số lượng phiếu điều tra là 397 phiếu cho 5 phường, xã nghiên cứu
(Trong đó: xã Phước Tân 91 phiếu, xã Hiệp Hòa 28 phiếu, phường Thống Nhất 54 phiếu, phường Quyết Thắng 41 phiếu, phường Long Bình 183 phiếu) Chi tiết phiếu điều tra ở {Phụ lục 2,3] đính kèm
Xác định vùng điều tra và số lượng phiếu của đối tượng 2: số lượng phiếu phát ra
dự định là 50 phiếu, trong đó 25 phiếu chia đều cho 05 phường (xã) trên bao gồm lãnh đạo và cán bộ địa chính phường (xã), còn lại sẽ điều tra tại phòng Tài nguyên Môi trường (5 phiếu), Ban quản lý dự án (5 phiếu), trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố
5 (phiếu) và đại diện một số chủ đầu tư các dự án (công ty Cổ Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 (5 phiếu), Công ty Toàn Thịnh Phát (5 phiếu))
Bước 2: Tiến hành điều tra
Bước 3: Tổng hợp và phân tích các phiếu điều tra để có cơ sở đánh giá công tác
QHSDĐ
2.2.3 Phương pháp chuyên gia:
Do đề tài chứa đựng nhiều nội dung nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau, cho nên ngoài việc thu thập các dữ liệu thực tế cần phải tham khảo ý kiến các chuyên gia, tạo cơ sở so sánh, đối chiếu nhằm kiến nghị các biện pháp góp phần nâng cao hiệu
Trang 362.3.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp:
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, thống kê các nội dung được điều tra thành các bảng thông tin để đánh giá vấn đề, số liệu thu thập được phân tích, chọn lọc
từ các tài liệu Sau đó được tổng hợp, xử lý bằng sai số thống kê thông qua phần mềm
hỗ trợ Microsoft Office Excel Thống kê, so sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất cụ thể trong cơ cấu sử dụng đất qua các giai đoạn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa
bàn thành phố
Dùng phương pháp so sánh, loại trừ giúp so sánh được giữa thực trạng so với
mục tiêu quy hoạch đề ra từ đó có cơ sở đánh giá được tình hình triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất của thành phố
Trong quá trình nghiên cứu, một số tài liệu như: bản đồ hiện trạng sử dụng đất
2015, 2016, bản đồ QHSDĐ đến năm 2020, bản đồ đièu chỉnh quy hoạch sử dụng đất… được minh họa dưới dạng bản đồ số, kết hợp với một số kỹ thuật tính toán trên các phần mềm ArcGis, MapInfo, Micro Station… để kết xuất dữ liệu cho việc đánh giá phương án QHSDĐ
Trang 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CÔNG TÁC QHSDĐ
Đất đai là một trong những đối tượng chính của QHSDĐ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như tốc độ phát triển của vùng nghiên cứu ảnh hưởng lớn đến sự hình thành, phát triển và sử dụng đất đai Vì vậy, khi nghiên cứu về QHSDĐ cần phải nắm vững những yếu tố trên để có thể xác định và phân vùng chức năng đất đai một cách chính xác, đây là điều kiện tiên quyết để có thể sử dụng đất đai hiệu quả và bền vững
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Ranh giới hành chính tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu;
- Phía Nam giáp huyện Long Thành;
- Phía Đông giáp huyện Trảng Bom;
- Phía Tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và giáp Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Biên Hòa nằm hai bên bờ sông Đồng Nai (chủ yếu bên phía tả ngạn), giáp Quận 9 của thành phố Hồ Chí Minh, cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo xa
lộ Hà Nội và QL1), cách thành phố Vũng Tàu 90 km (theo QL51) Ở vị trí này, Biên Hòa có một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng không chỉ riêng tỉnh Đồng Nai mà cả vùng Đông Nam Bộ, thể hiện ở những yếu tố sau đây:
- Là thành phố lớn nằm ở cửa ngõ thành phố Hồ Chí Minh, trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Thành Phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Là thành phố công nghiệp lớn của cả nước
Trang 38- Là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đông Nam Bộ, bao gồm đường sắt, đường bộ quốc gia (QL1, QL51,…) và đường thủy (sông Đồng Nai)
- Là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai nên Biên Hòa là nơi giao lưu kinh tế - xã hội đa dạng và và giữ vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng của khu vực miền Đông Nam Bộ
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển, có điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, làm động lực phát triển cho cả tỉnh Đồng Nai và khu vực
- Có diện tích tự nhiên khá lớn (đặc biệt phần diện tích được mở rộng địa giới theo Nghị quyết 05/NQ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ), nên có điều kiện thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các khu dân cư đô thị mới
Bảng 3.1 Diện tích theo đơn vị hành chính
Đơn vị hành chính
Diện tích tự nhiên (ha)
Đơn vị hành chính
Diện tích tự nhiên (ha)
10 Long Bình Tân 1.144,39 25 Trảng Dài 1.446,01
(Nguồn: UBND thành phố Biên Hòa)
Trang 39Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Biên Hòa
Trang 403.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Biên Hòa có địa hình rất phức tạp và đa dạng gồm đồng bằng, chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du, có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
- Khu vực phía Đông và Bắc thành phố: địa hình có dạng đồi nhỏ, dốc thoải không đều, nghiêng dần về sông Đồng Nai và các suối nhỏ Cao độ lớn nhất là 75m, cao độ thấp nhất là 2m Vào mùa mưa nước lũ tràn từ Bắc xuống Nam và từ Đông xuống Tây Nam Địa chất vững chắc rất thuận lợi cho xây dựng và phát triển các công trình, phát triển khu dân cư, khu đô thị (hạn chế là phải san ủi mặt bằng)
- Khu vực phía Đông Nam: địa hình cao, độ dốc nhỏ, thuận lợi cho việc xây dựng (phần lớn đất đai khu vực này là đất quốc phòng)
- Khu vực phía Tây và Tây Nam, địa hình chủ yếu là đồng bằng Ven sông Đồng Nai là vùng ruộng vườn xen lẫn, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông và các suối nhỏ tạo nên các cù lao (Hiệp Hòa, cù lao Ba Xê, cù lao Cỏ, , xã Long Hưng), rất thuận lợi cho việc phát triển các khu đô thị, nghỉ dưỡng kết hợp với phát triển du lịch, thương mại Tuy nhiên, do có cao độ tự nhiên thấp từ 1 - 2m (khu vực cù lao từ 0,5 - 0,8m), nên nền địa chất của khu vực này kém thuận lợi cho việc xây dựng các công trình
Nhìn chung, địa hình, địa mạo của thành phố Biên Hòa rất phù hợp cho việc xây dựng và phát triển đô thị, phát triển công nghiệp,… Riêng khu vực ven sông và các cù lao có thể kết hợp với sông Đồng Nai để phát triển các khu đô thị nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí
3.1.1.3 Khí hậu
Thành phố Biên Hòa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với các đặc trưng của vùng khí hậu miền Đông Nam Bộ; đặc điểm nắng nhiều, mưa tập trung theo mùa, tạo sự khác biệt theo mùa là mùa khô và mùa mưa
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thường đến sớm hơn miền Tây Nam Bộ
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau
Các yếu tố khí tượng đều thay đổi rõ rệt theo 2 mùa cụ thể như sau:
* Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ không khí tương đối cao, nhưng chênh lệch trung bình giữa các tháng ít
Nhiệt độ trung bình năm là 26,70C
Nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 32,50C
Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm là 230C
Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 38,50C