Mục đích của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình từ năm 2014 đến năm 2017, đánh giá được những thành tựu đạt được, những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Từ đó, đề xuất các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của UBND huyện trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, tài liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Hồng Quân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của:
- PGS.TS Nguyễn Hoàng Khánh Linh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài;
- Các thầy giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Huế;
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, UBND huyện Minh Hóa, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Minh Hóa; Các phòng, ban và UBND các xã của huyện Minh Hóa;
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cá nhân, tập thể, cơ quan nêu trên và các đồng nghiệp đã giúp đỡ, khích lệ và tạo những điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Hồng Quân
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu đề tài “ Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch và đề
xuất giải pháp hoàn thành kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình ” nói riêng và của cả nước nói chung là một vấn đề đáng quan
tâm trong giai đoạn vừa qua
Mục đích của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình từ năm 2014 đến năm 2017, đánh giá được những thành tựu đạt được, những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Từ đó, đề xuất các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của UBND huyện trong thời gian tới
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp điều tra thu thập số liệu; phương pháp sử dụng bản đồ; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin và xử lý số liệu Trong đề tài đã đề cập các chỉ tiêu sử dụng đất nằm trong phương án quy hoach, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, xem xét đã thực hiện được bao nhiêu hoặc chưa thực hiện, để từ đó rút ra các nguyên nhân làm tốt hoặc làm chậm tiến độ thực hiện và giải pháp khắc phục
Huyện Minh Hóa đã thực hiện nghiêm chỉnh công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đã đạt được những thành quả nhất định Kết quả thực hiện nhóm đất nông nghiệp vượt chỉ tiêu quy hoạch, đã phản ánh đúng thực tế của huyện trong giai đoạn phấn đấu để sớm hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, góp phần đảm bảo
an ninh lương thực, thực hiện đúng chủ trương hạn chế chuyển đất sản xuất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp; đồng thời tích cực cải tạo chuyển đất chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp góp phần cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Trường hợp, đối với nhóm đất phi nông nghiệp, mặc dù có một số chỉ tiêu chưa đạt hoặc đạt thấp nhưng đa số các chỉ tiêu chính như:
đất ở tại nông thôn, đất phát triển hạ tầng đã tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội Diện tích đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng một cách hợp lý, góp phần cân bằng quỹ đất sử dụng vào các mục đích theo yêu cầu phát triển các mục tiêu của địa phương
Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2014 đến năm 2017, huyện Minh Hóa đã thực hiện và áp dụng đầy đủ các chính sách pháp luật về đất đai để cải thiện tốt hơn việc quản lý và sử dụng đất đai trên toàn huyện Minh Hóa Từ kết quả nghiên cứu của
đề tài, một số giải pháp đã được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và
sử dụng đất trên địa bàn huyện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.2 Đặc điểm quy hoạch sử dụng đất 5
1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 7
1.1.4 Các căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất 12
1.1.5 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác quy hoạch sử dụng đất 14
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 20
1.2.1 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 20
1.2.2 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 24
1.2.3 Tình hình chung về quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Quảng Bình 29
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 30
Trang 6Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 34
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 34
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 34
2.3.2 Phương pháp sử dụng bản đồ 35
2.3.3 Phương pháp thống kê, so sánh 35
2.3.4 Phương pháp tổng hợp,phân tích thông tin và xử lý số liệu 35
2.3.5 Phương pháp chuyên gia 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 39
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 42
3.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ BIẾN ĐỘNG CÁC LOẠI ĐẤT GIAI ĐOẠN 2014 – 2017 53
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 53
3.2.2 Biến động các loại đất giai đoạn 2014 - 2017 60
3.2.3 Đánh giá chung về biến động sử dụng đất 64
3.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TỪ NĂM 2014 - 2017 TẠI HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 64
3.3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch trong quy hoạch sử dụng đất từ năm 2014 - 2017 64
3.3.2 Đánh giá những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2014 – 2017 71
3.3.3 Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ tới 73
Trang 73.4 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN
NĂM 2020 VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THÀNH CÁC CHỈ TIÊU ĐỀ RA 73
3.4.1 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2018 - 2020 73
3.4.2 Nhu cầu sử dụng các loại đất đến năm 2020 của các địa phương trong huyện 78
3.4.3 Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng các loại đất đến năm 2020 82
3.4.4 Các giải pháp để hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
1 KẾT LUẬN 99
2 KIẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Diện tích, cơ cấu các loại đất nông nghiệp năm 2017 53
Bảng 3.2: Diện tích, cơ cấu các loại đất phi nông nghiệp năm 2017 56
Bảng 3.3: Biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2014 - 2017 61
Bảng 3.4: Biến động sử dụng đất phi nông nghiệp giai đoạn 2014 - 2017 62
Bảng 3.5: Kết quả thực hiện chỉ tiêu đất nông nghiệp so với quy hoạch được duyệt 65
Bảng 3.6: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu đất phi nông nghiệp so với quy hoạch được duyệt 67
Bảng 3.7: Chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Minh Hóa 78
Bảng 3.8: Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 83
Bảng 3.9: Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2020 87
Trang 10
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình 36Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Minh Hóa năm 2017 55Hình 3.3 Bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Minh Hóa đến năm 2020 82
Trang 11Minh Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Bình, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tuyên Hóa, phía Đông Nam giám huyện Bố Trạch, phía Tây Nam giáp tỉnh Khăm Muộn – nước CHDCND Lào với 16 đơn vị hành chính, bao gồm 15 xã (Dân Hóa, Trọng Hóa, Hóa Phúc, Hồng Hóa, Hóa Thanh, Hóa Tiến, Hóa Hợp, Xuân Hóa, Yên Hóa, Minh Hóa, Tân Hóa, Hóa Sơn, Quy Hóa, Trung Hóa, Thượng Hóa) và
1 thị trấn (thị trấn Quy Đạt), huyện Minh Hóa là cửa ngõ phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Bình, có đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 12A, quốc lộ 15 chạy qua Huyện có khu kinh
tế cửa khẩu quốc tế Cha Lo, là nơi giao thương với nước bạn Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan Ngoài ra huyện còn có sông Gianh, sông Rào Nan là hai tuyến đường thủy quan trọng tạo thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với các huyện trong tỉnh và tỉnh bạn
Đặc biệt sau khi có hệ thống giao thông xuyên Á, huyện Minh Hóa có cơ hội để thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và của cả tỉnh Quảng Bình nói chung
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011-
2015 huyện Minh Hóa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình phê duyệt tại Quyết định số 2479/QĐ-UBND ngày 11/10/2013 là căn cứ để tổ chức quản lý, sử dụng, đầu
tư có hiệu quả, nhằm đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt của kinh tế - xã hội, đặc biệt trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển không gian đô thị, phát triển thương mại dịch vụ và sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện vẫn bộc lộ một số tồn tại nhất định Công tác dự báo chưa đầy đủ, nên chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, số liệu chỉ tiêu sử dụng đất trong quy
Trang 12hoạch còn ở dưới dạng thống kê và phản ánh tình hình thực hiện Đặc biệt sau khi quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt và đưa vào thực hiện, tình hình theo dõi, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng “quy hoạch treo” hoặc không điều chỉnh kịp những biến động về sử dụng đất trong quá trình thực hiện quy hoạch tại địa phương
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện
phương án quy hoạch và đề xuất giải pháp hoàn thành kế hoạch sử dụng đất đến
tại, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục tăng hiệu quả trong quá trình sử dụng đất, hạn chế những bất hợp lý trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất là vấn đề cần thiết, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Minh Hóa đến năm 2020
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
a Mục tiêu chung
Đánh giá được tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất nhằm đưa
ra giải pháp thích hợp để hoàn thành kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020
b Mục tiêu cụ thể
- Trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Minh
Hóa từ năm 2014 đến năm 2017, đánh giá được những thành tựu đạt được, những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại, nhằm nâng cao hiệu quả công
tác thực quy hoạch sử dụng đất của UBND huyện trong thời gian tới
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những dẫn liệu cụ thể, làm cơ sở khoa học để đánh giá quá trình tổ chức thực hiện một phương án quy hoạch sử dụng đất tại một địa phương cụ thể
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Qua việc đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất tìm ra những mặt
thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất nói riêng của địa phương
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương
hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện, quy hoạch sử dụng
Trang 13đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn huyện lập quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết cho mình
- Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai
làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hóa - xã hội
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là tiềm năng của quá trình phát triển do đất là tư liệu sản xuất đặc biệt và việc tổ chức sử dụng đất gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Do vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế và xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để
tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm khoa học và có hiệu quả cao nhất Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất có rất nhiều cách nhận thức khác nhau Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây dựng đồng ruộng Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp chế của quy hoạch sử dụng đất đai
Tuy nhiên, đối với cả hai cách nhận thức trên bản chất của quy hoạch sử dụng đất không được thể hiện đúng và đầy đủ vì bản thân của quy hoạch sử dụng đất không nằm trong kỹ thuật đo đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà
nó nằm bên trong việc tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của các mối quan hệ xã hội trong sản xuất Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý Cụ thể:
- Tính kỹ thuật: Trong quy hoạch sử dụng đất sẽ sử dụng các công tác chuyên
môn như điều tra, khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để tính toán và thống kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia khoảnh thửa
Từ đó, tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiến bộ của khoa học
kỹ thuật
- Tính pháp chế: Biểu hiện của tính pháp chế thể hiện ở chỗ đất đai được nhà
nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích cụ thể
đã được xác định theo phương án quy hoạch sử dụng đất
- Tính kinh tế: Khi giao đất, thông qua phương án quy hoạch sử dụng đất nhà
nước đã xác định rõ mục đích sử dụng của diện tích được giao Đây chính là
Trang 15biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai Ở đây đã thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất Song, điều này chỉ đạt được khi tiến hành đồng bộ cùng với biện pháp kỹ thuật và pháp chế
Từ đó có thể rút ra khái niệm quy hoạch sử dụng đất như sau:
“Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và
pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường”
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc lập quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình, từ đó xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu dân sinh, nhu cầu văn hóa xã hội
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh trình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội
và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển dần sang nền kinh tế thị trường [13]
1.1.2 Đặc điểm quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện như sau:
- Tính lịch sử xã hội
Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai - yếu tố tự nhiên cũng như quan hệ giữa người với người và nó thể hiện đồng thời hai yếu tố: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và thúc đẩy sự phát triển của các mối quan hệ sản xuất Do vậy, quy hoạch sử dụng đất luôn là một bộ
Trang 16phận của phương thức sản xuất xã hội và lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát của quy hoạch sử dụng đất Nói cách khác quy hoạch sử dụng đất có tính lịch sử xã hội Tính chất lịch sử của quy hoạch sử dụng đất xác nhận vai trò lịch sử của nó trong từng thời kỳ xây dựng và hoàn thiện phương thức sản xuất
xã hội, thể hiện ở mục đích, yêu cầu, nội dung và sự hoàn thiện của phương án quy hoạch sử dụng đất
- Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai mặt:
+ Mặt thứ nhất: Đối với của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo,
bảo vệ tài nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong quy hoạch
sử dụng đất thường đụng chạm đến việc sử dụng của tất cả các loại đất chính)
+ Mặt thứ hai: Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học,
kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường và sinh thái Với đặc điểm này quy hoạch
sử dụng đất lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất, điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân phối sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ và ổn định
- Tính dài hạn
Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất thể hiện ở chỗ thời hạn của quy hoạch sử dụng đất là 10 năm hoặc lâu hơn Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào dự báo xu thế biến động dài hạn của các yếu tố kinh tế xã hội quan trọng như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến
- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính dài hạn quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất với tính đại thể chứ không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài nhưng lại phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch thường là không cụ thể và chi tiết như trong kế hoạch ngắn và trung hạn do vậy nó chỉ có thể là một quy hoạch mang tính chiến lước chỉ đạo vĩ mô Các chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa quy hoạch càng ổn định
Trang 17- Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai
và môi trường sinh thái
- Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế xã hội trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp thì việc chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy
hoạch động, một quá trình lặp lại theo chu kỳ “Quy hoạch - thực hiện - quy
hoạch lại hoặc chỉnh lý” [14]
1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
vị diện tích đất Còn đối với Nhà nước thì vấn đề hiệu quả của việc sử dụng đất mang tính tổng hợp hơn bao gồm cà nội dung: toàn vẹn lãnh thổ, an toàn lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa,
- Sử dụng đất phải có tính hợp lý chấp nhận được: sử dụng đất đai phải có tính hợp lý và được xã hội chấp nhận Những mục đích này bao gồm các vấn đề về an ninh lương thực, việc làm và đảm bảo thu nhập cho cư dân ở nông thôn Sự cải thiện và phân phối lại đất đai có thể đảm bảo làm giảm sự không đồng đều về kinh tế giữa các vùng khác nhau, giữa các chủ sử dụng đất khác nhau và góp phần tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo
Trang 18- Tính bền vững: việc sử dụng đất bền vững là phương thức sử dụng đất mang lại hiệu quả, đáp ứng được các nhu cầu trước mắt đồng thời đảm bảo được tài nguyên đất đai đáp ứng được cho các nhu cầu sử dụng đất trong tương lai [12]
1.1.3.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; hình thành, phân bổ hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hòa giữa lợi ích kinh
tế, xã hội và môi trường cao nhất; xây dựng kế hoạch sử dụng đất phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những năm trước mắt
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của
cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước
Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, nội dung quy hoạch sử dụng đất của từng cấp đảm bảo phù hợp với yêu cầu quản lý và khả năng tổ chức thực hiện của cấp đó; phân định rõ phạm vi, mức độ phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng mà quy hoạch của từng cấp phải thể hiện nhằm tránh sự trùng lặp trong việc xác định nhu cầu sử dụng đất [12]
1.1.3.3 Các nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
Các quy luật phát triển kinh tế khách quan của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là yếu tố quyết định nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất Nói cách khác, các quy luật đó đã điều khiển hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên đất đai Quyền sở hữu Nhà nước về đất đai là cơ sở để bố trí hợp lý các ngành, tạo điều kiện để chuyên môn hóa sâu sắc các vùng kinh tế nông nghiệp và là một trong những điều kiện quan trọng nhất của bước quá độ từ nền kinh tế nông dân cá thể lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Trong quá trình đó, quy hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng
Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thành lập các đơn vị sản xuất nông nghiệp quốc doanh và tập thể là những đơn vị sản xuất ra khối lượng nông sản chủ yếu nhất Quy hoạch sử dụng đất còn là công cụ để Nhà nước hoàn chỉnh các đơn vị sử dụng đất, triển khai các biện pháp về tổ chức lãnh thổ bên trong của mỗi đơn vị sử dụng đất, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa Những luận điểm cơ bản phản ánh những nét đặc trưng nhất của quy hoạch sử dụng đất - một hiện tượng kinh tế, xã hội - chính trị là những nguyên tắc của nó
Trang 19Quy hoạch sử dụng đất tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai
Nguyên tắc này là cơ sở cho mọi hoạt động và biện pháp có liên quan tới quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch sử dụng đất Nó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng Bởi vì tài nguyên đất đai đã được quốc hữu hóa là đối tượng sở hữu Nhà nước, đồng thời là một căn cứ quan trọng để phát triển sức sản xuất, để củng cố và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trong tất cả các ngành, đặc biệt là nông nghiệp Do vậy, trong quá trình quy hoạch sử dụng đất phải tuân theo các quy định của pháp luật, củng cố quan hệ đất đai xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính bất khả xâm phạm quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, chấp hành triệt để quyền sở hữu đất đai của Nhà nước Luật pháp bảo vệ quyền bất khả xâm phạm quyền sử dụng đất và tính ổn định của mỗi đơn vị sử dụng đất vì
đó là cơ sở quan trọng nhất để phát triển sản xuất
Quy hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm xự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta đã lập nên đường ranh giới giữa các đơn vị sử dụng đất, giữa đất sản xuất nông nghiệp với khu dân cư, giữa các chủ sử dụng đất với nhau, tức là đã xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng đất Nhà nước cho phép các chủ sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất của các chủ đất được xác định bằng các văn bản cụ thể và được pháp luật bảo hộ
- Sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ thiên nhiên
Đất đai có một đặc điểm rất quan trọng là nếu được sử dụng đúng và hợp
lý thì chất lượng đất sẽ ngày càng tốt lên Tính chất đặc biệt này của đất đòi hỏi phải hết sức chú ý trong việc sử dụng đất Một trong những vấn đề bảo vệ đất quan trọng nhất là ngăn ngừa và dập tắt quá trình xói mòn do nước và gió gây nên Các quá trình xói mòn có tác hại rất lớn đến sản xuất nông nghiệp Do hậu quả của quá trình xói mòn và rửa trôi lớp đất mặt mà hàng năm một lượng chất dinh dưỡng khổng lồ bị nước cuốn ra sông, rồi ra biển Quá trình xói mòn tầng nền đất tạo thành các khe xói, làm tăng tốc độ dòng chảy bề mặt của nước mưa
và lượng đất bị cuốn trôi sẽ bồi đắp gây hiện tượng bị tắc nghẽn dòng sông, gây sụt lở ở những triền sông lớn thuộc vùng hạ lưu Nạn xói mòn do gió gây ra cũng mang lại hậu quả không nhỏ Những trận bão gây ra những cơn lốc bụi, cát cuốn đi lớp đất màu mỡ trên bề mặt , phá hoại hoa màu Ở ven biển, lốc cát tấn
Trang 20công làng mạc, đồng ruộng làm thay đổi địa hình, thay đổi các tính chất đất, đe dọa mùa màng, vùi lấp các nguồn nước, đường giao thông Xói mòn đất là một quá trình diễn ra mạnh mẽ và liên tục Nếu không có các biện pháp chống xói mòn một cách có hệ thống thì hậu quả của nó ngày càng lớn Xói mòn sẽ làm mất đi lớp đất mặt màu mỡ nhất Khi tổ chức các biện pháp chống xói mòn cần tính đến các đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn từng vùng Tổ hợp các biện pháp chống xói mòn sẽ được giải quyết trong một đồ án quy hoạch có luận chứng khoa học Ngày nay người ta ứng dụng các biện pháp chống xói mòn sau:
- Biện pháp kinh tế tổ chức
- Biện pháp kỹ thuật canh tác
- Biện pháp trồng rừng cải tạo
- Biện pháp kỹ thuật thủy lợi
- Biện pháp khoa học Trong lĩnh vực bảo vệ đất, quy hoạch sử dụng đất không chỉ làm nhiệm
vụ chống xói mòn mà còn phải chống các quá trình ô nhiễm đất, bảo vệ các yếu
tố của môi trường thiên nhiên
Ô nhiễm đất cũng là một vấn đề đáng quan tâm Đất có thể bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, nước thải từ nhà máy, nước thải sinh hoạt từ những đô thị lớn, ô nhiễm bởi các chất phóng xạ Do vậy, trong các đồ
án quy hoạch sử dụng đất cần dự kiến các biện pháp chống ô nhiễm đất
Bảo vệ và cải tạo thảm thực vật tự nhiên cũng là một nhiệm vụ quan trọng của quy hoạch sử dụng đất Thảm thực vật tự nhiên đặc biệt là rừng được coi là
lá phổi của trái đất với chức năng lọc sạch không khí, điều tiết nước, nhiệt độ,
độ ẩm Ngoài ra, nó còn là nguồn cung cấp nguyên liệu công nghiệp, cung cấp các lâm sản quý hiếm và là nguồn thức ăn cho chăn nuôi gia súc
Các hồ chứa nước cũng là đối tượng cần được bảo vệ Các hồ lớn nằm giữa một vùng đất nông lâm nghiệp có khả năng làm dịu bớt những đột biến của tiểu khí hậu trong vùng, điều tiết chuyển động của các dòng không khí quanh khu vực hồ Các hồ lớn và đẹp còn là nơi nghỉ mát, an dưỡng, du lịch cho nhân dân, làm tăng vẻ đẹp cho các khu dân cư ven hồ
Để tránh lãng phí, khi cấp đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, trong các
đồ án quy hoạch sử dụng đất phải bô trí hợp lý các công trình nhà ở và phục vụ sản xuất theo tinh thần hết sức tiết kiệm đất
Trang 21- Tổ chức phân bổ hợp lý quỹ đất cho các ngành
Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành cần đảm bảo phù hợp với lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho nông nghiệp
Quy hoạch sử dụng đất nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu đất đai cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Do vậy, trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào định hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân, tổng hợp và cân đối nhu cầu sử dụng đất để phát triển của các ngành Nhờ vậy, sẽ đảm bảo đạt được những chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội được đề ra cho thời kỳ quy hoạch và xa hơn của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng
Thực chất của việc thành lập một đơn vị sử dụng đất phi nông nghiệp chính là việc lấy một khoảnh đất nào đó từ đất dự trữ quốc gia hoặc lấy từ đất nông lâm nghiệp để bố trí một công trình phi nông nghiệp nào đó Do ngành nông nghiệp có những yêu cầu rất đặc thù trong quá trình sử dụng đất, vì vậy, trong quá trình phân bổ đất đai, trên cơ sở cân đối quỹ đất cho quá trình phát triển, phải ưu tiên đất cho ngành nông nghiệp Những diện tích đất cấp cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất không sử dụng hoặc sử dụng có hiệu quả kém trong nông nghiệp
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân xác định phương hướng và nhiệm
vụ sản xuất cho từng địa phương, từng ngành và từng đơn vị sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội Do vậy, quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện lãnh thổ hợp lý để thực hiện nhưng nhiệm vụ kế hoạch của Nhà nước, của riêng ngành nông nghiệp và của từng đơn vị sản xuất cụ thể Trên cơ
sở đó, có thể áp dụng các hình thức quản lý tiên tiến, ứng dụng công nghệ mới, các tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả lao động
Không thể tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất trong nông nghiệp nếu như không tính đến quá trình lao động và không gắn nó với quá trình sản xuất Quy hoạch sử dụng đất phải được phối hợp chặt chẽ với việc tổ chức các ngành trồng trọt, chăn nuôi trong xí nghiệp để tạo ra những điều kiện tốt nhất cho những ngành đó phát triển để nâng cao năng suất lao động
Khi giải quyết mỗi nội dung của đồ án quy hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào yêu cầu tổ chức hợp lý sản xuất Ví dụ như khi tổ chức và bố trí sử dụng đất nông nghiệp và luân canh, trước hết cần dựa vào cơ cấu, quy mô và hướng
Trang 22chuyên môn hóa của các ngành đã được xác định trước trong kế hoạch phát triển tương lai và phải tính đến các tổ hợp nông - công nghiệp, các đơn vị sản xuất và chế biến nông sản
Việc tổ chức sử dụng hợp lý đất đai phụ thuộc vào việc tổ chức sử dụng các tư liệu sản xuất khác và toàn bộ quá trình sản xuất nói chung Bên cạnh đó, việc sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, đến việc tổ chức lao động và tăng năng suất lao động, đến hiệu quả sử dụng các tư liệu sản xuất Như vậy, đất đai chỉ có thể được tổ chức sử dụng đúng và hợp lý trong trường hợp gắn nó với việc tổ chức sử dụng các tư liệu sản xuất khác, với
tổ chức lao động và quản lý đơn vị sản xuất
Quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra các điều kiện để áp dụng các biện pháp
kỹ thuật nông nghiệp mới tiên tiến, có hiệu quả cao để nâng cao độ màu mỡ của đất và trình độ kỹ thuật canh tác Khi giải quyết nội dung của quy hoạch sử dụng đất cần dựa trên các hình thức tổ chức lao động tiến bộ nhất, cơ giới hóa sản xuất tổng hợp, ứng dụng có hiệu quả máy móc thiết bị, điện khí hóa nông nghiệp
- Phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng lãnh thổ
Mỗi vùng, mỗi đơn vị sử dụng đất đều có những đặc điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Nếu không tính đến điều đó thì không thể tổ chức sử dụng hợp lý đất đai Quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo điều kiện để
sử dụng có hiệu quả từng tấc đất Để đạt được mục tiêu đó cần nghiên cứu kỹ các điều kiện tự nhiên như đặc điểm thổ nhưỡng, đặc điểm địa hình, đặc điểm tiểu khí hậu, tính chất thảm thực vật tự nhiên, đặc điểm hệ thống thủy văn, các điều kiện xã hội như dân số và lao động, mức độ trang bị về vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, mức độ phát triển khoa học kỹ thuật, khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và sử dụng đất vì các nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng đất của vùng lãnh thổ, do chúng có khả năng xác định được công dụng của đất cũng như có ảnh hưởng đến việc quyết định sử dụng đất vào mục đích cụ thể [14]
1.1.4 Các căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
1.1.4.1 Các văn bản của nhà nước
- Luật Đất đai năm 2003 ngày 26/11/2003;
- Luật Đất đai 2013 ngày 29/11/2013;
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013;
Trang 23- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định phương pháp định giá đất;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
- Thông tư số 29/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính phục vụ quy hoạch sử dụng đất;
1.1.4.2 Các văn bản của tỉnh Quảng Bình và huyện Minh Hóa
- Quyết định số 932/QĐ-UBND ngày 25/4/2011 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Bình đến năm
2020
- Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 25/4/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Bình đến năm 2020;
- Quyết định số 2768/QĐ-UBND ngày 05/11/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Minh Hóa đến năm 2020;
- Quyết định số 2479/QĐ-UBND ngày 11/10/2013 của UBND tỉnh Quảng Bình
về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm
kỳ đầu (2011- 2015) huyện Minh Hóa;
- Quyết định số 2552/QĐ-UBND ngày 21/10/2013 của UBND tỉnh Quảng bình
về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm
kỳ đầu (2011 – 2015) của thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình;
- Quyết định số 2865/QĐ-UBND ngày 18/11/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Bình đến năm 2030;
- Quyết định số 2410/QĐ-UBND ngày 3/9/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Quảng Bình giai đoạn đến
Trang 24năm 2020;
- Quyết định số 2956/QĐ-UBND ngày 22/10/2014 của UBND tỉnh Quảng Bình
về việc phê duyệt quy hoạch cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2014 - 2020;
- Quyết định số 3796/QĐ-UBND ngày 04/12/2015 của UBND tỉnh Quảng Bình
về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới xăng dầu tỉnh Quảng Bình đến năm 2020;
- Quyết định số 683/QĐ-UBND ngày 15/3/2016 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc Phê duyệt Đề cương nhiệm vụ và dự toán điều chỉnh QHSDĐ đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2017 huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình;
- Quyết định số 922/QĐ-UBND ngày 22/04/2013 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Đường thủy nội địa tỉnh Quảng Bình đến năm 2020;
- Các Quyết định của UBND huyện Minh Hóa về việc phê duyệt QHSDĐ đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) các xã, thị trấn trong huyện Minh Hóa;
- Các Quyết định của UBND huyện Minh Hóa về phê duyệt Quy hoạch xây dựng nông thôn mới các xã của huyện Minh Hóa;
- Công văn số 653/UBND-TNMT ngày 28/5/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất và kế hoạch thu hồi đất năm 2015;
- Công văn số 1880/STNMT-QHKH ngày 15/12/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình về việc triển khai lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2017 cấp huyện
- Công văn số 1739/UBND-TNMT ngày 19/10/2016 của UBND tỉnh Quảng Bình
về việc phân bổ chỉ tiêu điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cấp huyện
1.1.5 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác quy hoạch
sử dụng đất
1.1.5.1 Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 36 Luật Đất đai 2013 quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
1 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Trang 254 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng
5 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh [17]
1.1.5.2 Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 37 Luật Đất đai 2013 quy định kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1 Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm
2 Kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm [17]
1.1.5.3 Trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 42 Luật Đất đai 2013 quy định trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
1 Chính phủ tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
2 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
3 Bộ Quốc phòng tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; Bộ Công an tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
4 Chính phủ quy định chi tiết Điều này [17]
1.1.5.4 Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 43 Luật Đất đai 2013 quy định lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
1 Cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 42 của Luật này có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2 Hình thức, nội dung và thời gian lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức
Trang 26tổ chức hội nghị, lấy ý kiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
và Ủy ban nhân dân cấp huyện;
b) Nội dung lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án công trình thực hiện trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
c) Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là 30 ngày kể từ ngày
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến
3 Cơ quan có trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm xây dựng báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân và hoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
4 Đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm lấy ý kiến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình
tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Chính phủ quy định chi tiết Điều này [17]
1.1.5.5 Thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 44 Luật Đất đai 2013 quy định thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
1 Thẩm quyền thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
a) Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp Hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
b) Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương có trách nhiệm giúp Hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Hội đồng thẩm định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm giúp Hội đồng thẩm định trong quá trình thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 272 Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp có trách nhiệm thẩm định và gửi thông báo kết quả thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 42 của Luật này;
cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm tiếp thu, giải trình theo nội dung thông báo kết quả thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tổ chức kiểm tra, khảo sát thực địa các khu vực dự kiến chuyển mục đích sử dụng đất, đặc biệt là việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
3 Nội dung thẩm định quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học của việc lập quy hoạch sử dụng đất;
b) Mức độ phù hợp của phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia và địa phương; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực;
c) Hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường;
d) Tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất
4 Nội dung thẩm định kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất;
b) Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội;
c) Tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất
5 Kinh phí tổ chức thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xác định thành một mục riêng trong kinh phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [17]
1.1.5.6 Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 45 Luật Đất đai 2013 quy định thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
2 Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trước khi trình Chính phủ phê duyệt
3 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt
Trang 28Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch
sử dụng đất hàng năm của cấp huyện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật này trước khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện [17]
1.1.5.7 Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 46 Luật Đất đai 2013 quy định điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
1 Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chỉ được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia; quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội mà sự điều chỉnh
đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất;
b) Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất;
c) Có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất;
d) Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương
2 Việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất hoặc có sự thay đổi về khả năng thực hiện kế hoạch sử dụng đất
3 Nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất là một phần của quy hoạch sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt Nội dung điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất là một phần của kế hoạch sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt
Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện theo quy định tại các điều 42, 43, 44 và 48 của Luật này
4 Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp đó [17]
1.1.5.8 Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 49 Luật Đất đai 2013 quy định thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
1 Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
Trang 29Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cấp xã
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh
2 Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật
3 Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất
Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền theo quy định tại khoản 2 Điều này
4 Khi kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
5 Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [17]
Trang 301.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới
Công tác QHSDĐ đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ sở khoa học, vì vậy mà họ đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và công tác này ngày nay càng được chú trọng và phát triển QHSDĐ luôn là mục tiêu phấn đấu, là nhiệm vụ của mỗi quốc gia, đồng thời nó cũng đóng vai trò quyết định đối với mọi quá trình phát triển, sản xuất, đặc biệt là trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Quy hoạch thực sự trở thành một công cụ không thể thiếu và rất đắc lực cho việc quản lý hành chính cũng như quản lý đất đai Tùy theo chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
xã hội, tùy theo những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi nước mà quy hoạch có những hình thức, đặc điểm, mức độ rất khác nhau Tuy có nhiều quan điểm khác nhau
về QHSDĐ nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung đó là việc tổ chức lãnh thổ hợp lý, các biện pháp bảo vệ sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm nhằm đem lại hiệu quả cao
1.2.1.1 Cộng hoà Liên Bang Nga
Quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Nga chú trọng việc tổ chức lãnh thổ, các biện pháp bảo vệ và sử dụng đất với các nông trang và các đơn vị sử dụng đất nông nghiệp Quy hoạch sử dụng đất của Nga được chia thành 2 cấp: quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết
Quy hoạch chi tiết với mục tiêu cơ bản là tổ chức sản xuất lãnh thổ trong các
xí nghiệp hàng đầu về sản xuất nông nghiệp như các nông trang, nông trường Nhiệm
vụ cơ bản của quy hoạch chi tiết là tạo ra những hình thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo
ra những điều kiện cần thiết để làm tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc
sử dụng những trang thiết bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên
Quy hoạch chi tiết sẽ đưa ra phương án sử dụng đất nhằm bảo vệ và khôi phục độ phì của đất, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất, ngăn chặn việc sử dụng đất không hiệu quả, làm tăng điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, điều kiện nghỉ ngơi của người dân [26]
1.2.1.2 Cộng hoà Liên Bang Đức
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, vị trí của quy hoạch sử dụng đất được xác định trong
hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang, vùng, tiểu vùng và
đô thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị
Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất:
Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện
Trang 31tích mặt nước, đất hoang là 35%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và cơ
sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn liên bang Cũng giống như bất kỳ quốc gia công nghiệp có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và giao thông ở Đức đang ngày càng gia tăng Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao từ trước tới giữa thập kỷ
80, trong khi đó, diện tích nhà chủ yếu tăng trong hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt là đất dành làm địa điểm làm việc như thương mại, dịch vụ, quản lý hành chính phát triển một cách không cân đối Quá trình ngoại ô hoá liên tục và tốn kém về đất đai cũng góp phần quan trọng vào thực tế này [22]
1.2.1.3 Nhật Bản
Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản được phát triển từ rất lâu, đặc biệt được đẩy mạnh vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20 QHSDĐ ở Nhật Bản không những chú ý đến hiệu quả KT-XH, mà còn rất chú trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro của tự nhiên như động đất, núi lửa QHSDĐ ở Nhật Bản chia ra: QHSDĐ tổng thể và QHSDĐ chi tiết
QHSDĐ tổng thể ở Nhật Bản được xây dựng cho một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên Mục tiêu của QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài hạn khoảng từ 15 – 30 năm nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch sử dụng đất chi tiết Nội dung của quy hoạch này không quá đi vào chi tiết từng loại đất mà chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác
QHSDĐ chi tiết ở Nhật Bản được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương với cấp xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5 – 10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất cụ thể, không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có những quy định chi tiết cho các loại đất như: về hình dáng, chiều cao xây dựng, quy mô diện tích Đối với quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở Nhật Bản hết sức coi trọng đến việc tham gia ý kiến của các chủ sử dụng đất, cũng như tổ chức thực hiện phương án khi đã được phê duyệt Do vậy, tính khả thi của phương án cao và người dân cũng chấp hành quy hoạch sử dụng đất rất tốt [22]
1.2.1.4 Trung Quốc
Ở Trung Quốc, công tác QHSDĐ từ lâu đã là vấn đều rất được quan tâm và chú trọng Chính phủ Trung Quốc đã tập trung nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng tuân theo QH, QHSDĐ lâu dài và bền vững Chính vì vậy, ngày nay mạng lưới giao thông,
hệ thống đô thị với các đặc khu kinh tế của Trung quốc phát triển rất mạnh sánh ngang tầm với các cường quốc có nền kinh tế phát triển trên thế giới
Trang 32Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước của Trung Quốc được lập lần đầu tiên vào năm 1987, lần thứ hai vào năm 1998 và lần thứ ba vào năm 2003; nội dung quy hoạch qua các lần dần dần được hoàn thiện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển Quy hoạch bao gồm các loại hình: Quy hoạch tổng thể (bắt buộc theo luật mang tính chiến lược, toàn diện, quy định chính sách); quy hoạch chuyên ngành (mang tính chuyên đề, đặc thù); quy hoạch chi tiết (quy hoạch bố trí trên thực địa)
Trung Quốc coi trọng việc phát triển KT-XH bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển KT-XH
Trong kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn của Nhà nước, của các địa phương đều được dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử dụng tiết kiệm, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất Đến nay, Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng thể đến chi tiết cho các vùng và các địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định sử dụng đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường
Để quy hoạch tổng thể phù hợp với phân vùng chức năng, các quy định liên quan của pháp luật Trung Quốc đã yêu cầu mọi hoạt động phát triển các nguồn tài nguyên phải nhất quán với phân vùng chức năng
Một trong những ảnh hưởng tích cực của quy hoạch tổng thể và sơ đồ phân vùng chức năng là việc giảm thiểu xung đột đa mục đích nhờ xác định được các sử dụng tương thích cho phép ưu tiên ở các khu vực cụ thể [26]
1.2.1.5 Hàn Quốc
Để quản lý tài nguyên đất, Hàn Quốc quy định việc lập quy hoạch sử dụng đất ở theo các cấp sau: quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất vùng thủ đô; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, quy hoạch sử dụng đất vùng đô thị cơ bản Kỳ quy hoạch đối với cấp quốc gia, cấp tỉnh là 20 năm, quy hoạch sử dụng đất vùng đô thị cơ bản và kế hoạch sử dụng đất là 10 năm Sau 5 năm sẽ tiến hành rà soát để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển và thị trường QHSDĐ là nền tảng, căn cứ cho các quy hoạch khác như quy hoạch giao thông, xây dựng đô thị,… QHSDĐ chỉ khoanh định các khu vực chức năng: đất đô thị, đất để phát triển đô thị, đất nông nghiệp, đất bảo tồn thiên nhiên Trên cơ sở các khu chức năng sẽ lập QHSDĐ chi tiết để triển khai thực hiện
Năm 1972 “Luật Sử dụng và Quản lý đất đai quốc gia” chia toàn bộ đất đai cả
nước thành 10 loại phân khu sử dụng Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển, gọi là đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc cần phải duy trì ra, cấm tất cả mọi khai thác Ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí; đảm
Trang 33bảo cung ứng đất làm nhà ở một cách hợp lý “Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc’’, mục đích là phân tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với
“Phương án phát triển khu vực” để kích thích tăng trưởng của vùng sâu, vùng xa, thu hút nhân khẩu quay về Theo “Kế hoạch quản lý khu vực thủ đô” của Nam Hàn đưa ra năm 1981, thì cấm tiến hành khai thác quy mô lớn ở thủ đô để tránh việc nhân khẩu ồ
ạt đổ vào, sau đó là dùng phương thức chế độ quản lý tổng nghạch khống chế số lượng chiêu sinh đại học khu vực Hán Thành Trên thực tế, Hàn Quốc sau hai, ba mươi năm
nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại Dùng “Chính sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi thường đất đai quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng công trình công cộng của chính phủ gặp khó khăn và bế tắc [26]
1.2.1.6 Thái Lan
Trong những năm gần đây Thái Lan đã có nhiều cố gắng lớn trong xây dựng quy hoạch nông thôn để phát triển kinh tế, ổn định xã hội Thái Lan đã có sự đầu tư tương đối lớn cho việc xây dựng hệ thống mạng lưới giao thông phục vụ sản xuất, nối liền các khu sản xuất với khu chế biến và thị trường tiêu thụ Quá trình quy hoạch nông thôn tại các làng xã được xây dựng theo các mô hình và nguyên lý hiện đại mới Khu dân cư được bố chí tập trung, trung tâm làng xã là nơi xây dựng các công trình công cộng, các khu sản xuất được bố trí thuận tiện nằm trong khu vực vòng ngoài
Kết quả sau 7 lần thực hiện kế hoạch 5 năm, Thái Lan đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế nông nghiệp rõ rệt, các vùng nông thôn đề có cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông phát triển, dịch vụ công cộng nâng cao, đời sống nông thôn được cải thiện không ngừng [24]
1.2.1.7 Liên bang Australia (Úc)
Ở Liên bang Australia (Úc) hầu hết các Tiểu bang đều có cơ quan quy hoạch riêng (Planning Commision) trực thuộc Chính phủ Tiểu bang, người đứng đầu cơ quan quy hoạch là thành viên Chính phủ có quyền hạn tương đương các Bộ trưởng khác (hàm Bộ trưởng) Quy hoạch tổng thể không gian và phân vùng sử dụng đất do ngân sách Nhà nước Tiểu bang cấp, quy hoạch chi tiết do các công ty trúng thầu tự bỏ sau
đó tính vào giá các khu đất hoặc các toà nhà bán đấu giá sau này Ở Liên bang Úc khi tiến hành quy hoạch điều đầu tiên người ta chú trọng là phân bổ sử dụng đất làm sao cho sử dụng có hiệu quả nhất điều kiện tự nhiên sẵn có bảo đảm phát triển bền vững và
có môi trường tốt Thông thường các khu có hồ, rừng cây được giữ tối đa trong quá trình quy hoạch Các khu nhà ở thường được bố trí ven các dòng sông, bờ biển, gần
hồ Các khu sản xuất bố trí xa khu dân cư, xa nguồn nước Trong các khu dân cư chú trọng bố trí đầy đủ các khu dịch vụ thương mại, trường học Thông thường khu trường học và trung tâm thương mại được bố trí ở vị trí gần trung tâm nhất để thuận lợi cho mọi công dân trong khu Tuy nhiên, bệnh viện thông thường được bố trí ở phía ngoài
Trang 34khu dân cư, thuận lợi về giao thông nhưng xa các đường cao tốc hoặc nhà ga để tránh tiếng ồn và để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Tất cả các khu đô thị mới hiện nay khi thiết kế thường gắn với sử dụng tiết kiệm năng lượng, đèn chiếu sáng dùng đèn tiết kiệm, các nhà ở sử dụng tối đa pin năng lượng mặt trời, nước thải sinh hoạt được xử lý
và theo đường ống riêng dành cho tưới cây và rửa xe để tiết kiệm nước [22]
1.2.2 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Ở nước ta công tác quy hoạch sử dụng đất là một ngành mới được triển khai thực hiện, kinh nghiệm thực tế ít, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật đơn giản Do vậy, việc
áp dụng các khoa học kỹ thuật vào công tác thiết kế xây dựng các đồ án quy hoạch còn nhiều hạn chế: Ở miền Bắc quy hoạch sử dụng đất đai được đặt ra và xúc tiến từ năm
1962 do ngành nông nghiệp chủ trì và lồng vào công tác phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp nhưng thiếu sự phối hợp của các ngành có liên quan Kết quả là xác định phương hướng phát triển nông - lâm nghiệp cho từng vùng lãnh thổ thường chỉ được ngành chủ quản thông qua Khía cạnh pháp lý trong các văn bản này hầu như không có
và cũng không được đặt ra; tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất ở nước ta chia
Từ những năm 1975 - 1978: Nước ta đã soạn thảo và được chính phủ phê duyệt phương án phân vùng sản xuất nông - lâm và công nghiệp chế biến nông lâm sản theo bảy vùng trên địa bàn cấp tỉnh Các phương án phân vùng nông lâm nghiệp của tỉnh đã được đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có tính toán quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên, các loại đất khác chưa được đề cập tới, do mục đích đề
ra ngay từ đầu chỉ để phục vụ phát triển nông lâm nghiệp, do thiếu nguồn tài liệu điều tra cơ bản, nên chưa tính được khả năng đầu tư, làm cho tính khả thi của phương án này còn thấp [20]
1.2.2.2 Thời kỳ 1981 - 1986
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã quyết định: “Xúc tiến công tác
điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ, phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau (1986-1990)” Các bộ,
ngành các tỉnh, huyện đã tham gia triển khai chương trình lập sơ đồ phát triển và phân
Trang 35bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến năm 2000 Trong thời kỳ này gần 500 huyện của cả nước tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể
1.2.2.3 Thời kỳ luật đất đai đầu tiên năm 1987 đến trước luật đất đai năm 1993
Đây là thời kỳ công tác QHSDĐ đã có cơ sở pháp lý quan trọng, song công tác QHSDĐ chưa được tiến hành như luật đã định Nguyên nhân của vấn đề này, là do nền kinh tế nước ta mới chuyển sang cơ chế thị trường Đây là thời kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc, cùng với vai trò quản lý tập trung của HTX sản xuất nông nghiệp, đã tăng quyền tự chủ cho nông hộ và thực thi nhiều chính sách đổi mới khác
Thời kỳ này công tác QHSDĐ ở cấp xã nổi lên nhiều vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất, giãn dân và một số xã đô thị hoá rõ rệt Đây là mốc đánh dấu quan trọng cho thời
kỳ triển khai QHSDĐ đai cấp xã trên cả nước, tuy nhiên còn nhiều hạn chế về nội dung và phương pháp
Để thực hiện nghị quyết Đại hội kịp thời xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1986-1990) Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã yêu cầu các ngành, các địa phương, các
cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo và khẩn trương triển khai chương trình lập tổng sơ
đồ phát triển và phân bố lực lượng phát triển ở nước ta cho thời kỳ 1986-1990 Một trong những mục tiêu và yêu cầu đặt ra với tổng sơ đồ là: Tổng sơ đồ phải là cơ sở cho việc tiến hành các vùng quy hoạch các vùng chuyên môn hoá lớn, các vùng trọng điểm
về lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp các quy hoạch xây dựng vùng (khu cụm công nghiệp, du lịch, xây dựng thành phố )
Kết quả là phần quy hoạch sử dụng đất đai trong tổng sơ đồ về nội dung và cơ sở khoa học đã được nâng lên một bước Quy hoạch sử dụng đất đai lãnh thổ hành chính
đã được đề cập đến ở cấp huyện, tỉnh và cả nước Còn quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa được đề cập đến, thời kỳ này chủ yếu là quy hoạch HTX nông nghiệp
Cuối năm 1987 Luật đất đai đầu tiên của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành đã có một số điều nói về quy hoạch đất đai Tuy nhiên Luật đất đai năm 1987 chưa đưa ra nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai
Ngày 15/04/1991, Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã ra thông tư số: 106/QHKH/RĐ hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất đai
Đây là thông tư đầu tiên của Tổng cục kể từ khi thành lập về vấn đề quy hoạch đất đai
Trong những thông tư này đã quy hoạch sử dụng đất đai một cách tương đối cụ thể Qua 2 năm thực hiện, nhiều tỉnh đã lập kế hoạch cho một nửa số xã trong tỉnh bằng kinh phí địa phương, tuy nhiên các cấp lãnh thổ hành chính lớn hơn chưa được triển khai [20]
1.2.2.4 Thời kỳ sau luật đất đai 1993 đến trước khi luật đất đai 2003 được ban hành
Luật Đất đai 1993 ra đời, đây được coi là thời kỳ đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp, sau một thời gian dài tuyệt đối hoá về công hữu đất đai ở miền Bắc và
Trang 36buông lỏng công tác này ở các tỉnh miền Nam, dẫn đến tình trạng có quá nhiều diện tích đất không có chủ sử dụng Mặt khác, Luật Đất đai 1993 ra đời đã đưa ra được các điều khoản cụ thể và luật sửa đổi 1998 đã bổ sung các điều khoản một cách chặt chẽ hơn Công tác QHSDĐ đã được chia làm 4 cấp: cấp cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã Đến năm 2000, Bộ TN&MT đã xây dựng QHSDĐ cả nước đến năm 2010 và KHSDĐ đến năm 2005 để chính phủ trình quốc hội khoá IX Đây là lần đầu tiên có một báo cáo về QH- KHSDĐ tương đối đầy đủ các khía cạnh về chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Đến năm 2002 đã có 54/61 tỉnh, huyện trực thuộc trung ương, trên 300 huyện thị và khoảng 5000 xã, xã đã lập QHSDĐ
Thông qua QHSDĐ chính phủ đã đề ra các chính sách hợp lý cho việc khai, phục hoá, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tuy nhiên việc quy hoạch còn nhiều hạn chế, đồng thời với bất cập trong quản lý đã dẫn đến ô nhiễm môi trường, lãng phí đất và bị giảm thiểu các tài nguyên khác như: nước, rừng, khí hậu…[19]
1.2.2.5 Giai đoạn sau khi có Luật đất đai 2003 đến Luật đất đai 2013
Hiện nay, cùng với sự gia tăng về dân số thời kỳ CNH-HĐH đang diễn ra mạnh
mẽ, Việt Nam gia nhập với nền kinh tế thế giới (WTO, AFTA, ASIAN…) nên nhu cầu
sử dụng đất ngày càng trở nên đa dạng trong mọi lĩnh vực phát triển Việc bố trí đất đai thế nào cho hợp lý, khoa học, có hiệu quả cân đối trên cả ba mặt: kinh tế - xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng vẫn đang là một vấn đề cấp bách Công cụ QHSDĐ
là “đòn bẩy” cho một địa phương, một khu vực, một đất nước phát triển bền vững trong tương lai
Để phù hợp với tình hình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, Luật đất đai 2003 và nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 ra đời; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004, thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, của huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh, quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, phường, thị trấn, quy hoạch sử dụng đất chi tiết của các khu công nghệ cao, khu kinh tế Quy hoạch sử dụng đất của các vùng lãnh thổ là một phần nội dung quan trọng của quy hoạch sử dụng đất của cả nước Đó là các công cụ quan trọng và tạo điều kiện hết sức thuận lợi trong công tác quy hoạch ở nước ta [23]
1.2.2.6 Giai đoạn sau khi có Luật đất đai 2013
Sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; Bộ Tài nguyên và Môi trương đã ban hành Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 Quy định chi tiết lập, điều chỉnh quy hoạch, kế
Trang 37hoạch sử dụng đất Theo Luật đất đai 2013 và các văn bản hiện hành, công tác lập quy hoạch sử dụng đất được tiến hành ở 3 cấp: cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện;
riêng quy hoạch sử dụng đất cấp xã được tích hợp trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện Cũng theo các văn bản trên, cấp huyện sẽ lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm
và được UBND tỉnh phê duyệt trước ngày 31 tháng 12 của năm trước
Như vậy, sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực, năm 2014 các huyện trên cả nước đã lập kế hoạch sử dụng đất năm 2015 và được UBND các tỉnh phê duyệt trước ngày 31 tháng 12 năm 2014 Hiện nay, Quốc hội đã phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch
sử dụng đất toàn quốc đến năm 2020, một số tỉnh và một số huyện có biến động lớn cũng đang tiến hành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 [19]
* Những mặt đạt được trong công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý đất đai; bảo đảm đất đai được quản lý thống nhất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội Ở Việt Nam, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được “luật hóa” và bắt đầu được triển khai chính thức từ Luật Đất đai năm 1988 Gần 30 năm qua, các quy định pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo hành lang pháp lý và trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước về đất đai
Công tác QHSDĐ của các cấp, các ngành đã bước đầu đi vào nề nếp, trở thành
cơ sở quan trọng để định hướng cho phát triển thống nhất và đồng bộ; trở thành công
cụ để quản lý, và cũng trở thành phương tiện để đảm bảo sự đồng thuận xã hội Quá trình triển khai công tác QHSDĐ các cấp đã hình thành được một hệ thống quy trình
và định mức trong hoạt động của lĩnh vực này, đảm bảo tiến hành một cách thống nhất, liên thông với chi phí hợp lý, phù hợp với những điều kiện về nhân lực và cơ sở
hạ tầng hiện có
Quy hoạch sử dụng đất đã tích cực hỗ trợ cho phát triển kinh tế được cân đối nhất
là trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư mới, khu đô thị mới trên phạm vi cả nước; có tác dụng tích cực trong việc điều tiết thị trường, góp phần ổn định giá đất, tạo cơ sở thực tế cho các cuộc giao dịch về đất đai và tổ chức các cuộc đấu giá quyền sử dụng đất
Quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch cũng là dịp sinh hoạt dân chủ ở cơ sở, nhờ
đó mà công dân tham gia cụ thể vào sự nghiệp chung có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích thiết thân của mình, trật tự xã hội được đảm bảo, củng cố lòng tin của nhân dân vào chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh
Trang 38* Những tồn tại chủ yếu trong công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Mặc dù công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên, chất lượng quy hoạch sử dụng đất chưa đáp ứng được yêu cầu, vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Những tồn tại chủ yếu trong công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam là:
- Nhận thức chưa đồng đều, độ đồng thuận chưa cao, còn có ý kiến cho rằng không có khái niệm về quy hoạch sử dụng đất mà chỉ có khái niệm về quy hoạch kiến trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.v.v, do đó, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đơn vị còn bị hạn chế, thiếu đồng bộ và có trường hợp ảnh hưởng xấu đến chất lượng quy hoạch, chưa thực chất, còn thiên về hình thức
và chạy theo các thủ tục hành chính, tiến hành thống kê, phân bố về số lượng mà thiếu những tính toán về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, nên tính khả thi của các phương
án quy hoạch không cao; các giải pháp tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, không kịp thời;
công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch chưa được coi trọng
- Quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất, Nhiều địa phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát chuyển mục đích sử dụng đất tạo ra tình hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động xấu đến môi trường Một số nơi nôn nóng trong phát triển công nghiệp, muốn tranh thủ các nhà đầu tư nên đã cho phép thu hồi, san lấp mặt bằng một lượng lớn đất nông nghiệp để lập khu công nghiệp, sau đó do thiếu vốn nên các dự án thực hiện cầm chừng, đất đai lại bị bỏ hoang trở thành “dự án treo”, người bị thu hồi đất mất việc làm dẫn đến lãng phí nguồn lao động và tài nguyên đất đai, Việc chấp hành các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất không đúng với quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất chưa trở thành “Bản Hiến pháp của đời sống”, tính phổ cập chưa cao, có khi lại bị lợi dụng việc điều chỉnh quy hoạch để làm lợi cho cá nhân hay một nhóm người, quy trình điều chỉnh quy hoạch chưa thật hợp lý để đảm bảo tính kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
- Việc chuyển đổi số lượng lớn đất trồng lúa sang mục đích phi nông nghiệp trong một thời gian ngắn, nhất là tại các vùng trồng lúa có điều kiện canh tác tốt, cơ sở
hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện mà thiếu cân nhắc đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội - môi trường lâu dài đã tác động tiêu cực sản xuất và đời sống của một bộ phân nông dân và đe doạ mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
- Mặc dù việc “đồn điền đổi thửa” đã thực hiện thành công ở nhiều địa phương nhưng chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch chỉnh trang đồng ruộng nên đất sản xuất
Trang 39vẫn còn bị phân bố manh mún trên 70 triệu thửa đất gây trở ngại lớn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Diện tích rừng tuy có tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá, suy giảm cả về chất lượng và số lượng; việc quản lý rừng còn nhiều bất cập, tác động của sản xuất lâm nghiệp đối với quá trình xoá đói giảm nghèo còn nhiều hạn chế, đa số người dân ở miền núi chưa thể sống ổn định với nghề rừng, do đó công tác trồng rừng, bảo vệ rừng và phát triển rừng còn rất nhiều khó khăn
- Đất giao thông còn thiếu so với nhu cầu phát triển, mật độ đường bộ đạt mức trung bình trong khu vực nhưng mật độ quốc lộ còn ở mức rất thấp (0,053 km/km2) nếu so sánh với Trung Quốc (0,2 km/km2) hay Thái Lan (0,11 km/km2) Việc bố trí các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, khu dân cư bám sát các trục đường chính đã ảnh hưởng đến an toàn giao thông, gây lãng phí trong đầu tư và hạn chế khả năng nâng cấp, mở rộng
- Diện tích cho phát triển đô thị tăng nhanh, cơ cấu sử dụng đất chưa hợp lý: đất
ở chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu là nhà ở theo hộ gia đình độc lập (Hà Nội 80%, thành phố
Hồ Chí Minh 72%), đất giao thông đô thị còn thiếu, chỉ khoảng 4-5km/km2 (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, ), tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 13%
trong khi yêu cầu trung bình là 20- 25%, đất giao thông tĩnh chỉ đạt chưa đầy 1% trong khi yêu cầu phải là 3 - 3,5%, hệ số sử dụng đất thấp, chủ yếu là đường 1 tầng.[10]
- Diện tích đất công nghiệp tuy tăng nhanh (bình quân tăng 7.000ha/năm) nhưng việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải, thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kinh tế - xã hội Nhiều khu, cụm công nghiệp không phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế dẫn đến tình trạng triển khai chậm tiến độ, tỷ lệ lấp đầy thấp,
để hoang hóa trong nhiều năm
- Các loại đất công trình hạ tầng xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao tuy luôn được bố trí tăng cường về diện tích đất, nhưng so với nhu cầu vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ
- Phần lớn đất bãi thải và xử lý chất thải là lộ thiên hoặc đổ tự nhiên tại các bãi rác tạm, hầu hết các khu vực nông thôn chưa có quy hoạch khu vực thu gom rác thải;
chưa có các khu bãi chôn lấp và xử lý chất thải nguy hại một cách triệt để và lâu dài,
1.2.3 Tình hình chung về quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Quảng Bình
Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất luôn đảm bảo sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành như: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông - Vận tải, Công nghiệp, Giáo dục, Y tế, bảo đảm quy hoạch,
Trang 40kế hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội địa phương Sau khi quy hoạch được phê duyệt đều được công bố công khai tại trụ sở UBND các huyện, UBND xã, phường, thị trấn, tại khu vực có quy hoạch sử dụng đất
và trên các phương tiện thông tin đại chúng, nơi công cộng để người dân được biết, thực hiện và giám sát theo đúng quy định của pháp luật Chất lượng quy hoạch được đảm bảo, quy hoạch cấp trên thể hiện được nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới, quy hoạch sử dụng đất cấp dưới phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên
Để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo công tác kiểm tra quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn nhằm hạn chế quy hoạch treo Đối với những dự án chưa có trong quy hoạch thì tiến hành điều chỉnh, bổ sung quy hoạch trước khi giao đất, cho thuê đất, bảo đảm công tác giao đất cho thuê
đất luôn phù hợp với quy hoạch
Để phù hợp với chính sách, Luật Đất đai trong thời kỳ mới và đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011 -
2015 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 18/3/2013
Về quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã có 8 huyện, thị xã, thành phố đã lập xong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch 5 năm kỳ đầu (2011-2015) đã được UBND tỉnh ra Quyết định phê duyệt; Toàn tỉnh có 159/159 đơn vị đã lập xong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đạt 100%
Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở cấp tỉnh, huyện, xã đảm bảo tuân thủ theo đúng nội dung hướng dẫn tại Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việc lập, phê duyệt hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, huyện, xã đã có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh [19]
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Vũ Thành Quynh (2010), đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận” và đã có kết luận: Thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Ninh Hải đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Ninh Hải theo hướng thương mại dịch
vụ, công nghiệp và nông nghiệp, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đáp ứng nhu cầu của người dân Thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm
2010 từng bước tăng cường công tác quản lý và sử dụng hiệu quả quỹ đất, phân bổ quỹ đất cho các ngành, các mục đích sử dụng một các hợp lý và hiệu quả trên quan điểm bảo vệ đất bảo vệ môi trường sinh thái Tác giả cũng đã nêu ra những bất cập trong