Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá được tình hình thực hiện công tác quy hoạch và di dời nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn nghiên cứu; Đánh giá được phong tục tập quán an táng và xu thế sử dụng những hình thức táng mới trên địa bàn huyện Thạch Hà; Đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý và sử dụng đất nghĩa trang một cách hợp lý.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÂN VĂN QUÝ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ,
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
HUẾ - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÂN VĂN QUÝ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ,
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 8850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN HỮU NGỮ
HUẾ - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tất cả các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào hoặc chưa từng sử dụng để bảo vệ học vị nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Thân Văn Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ Thầy, Cô giáo trong Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Huế, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường – Nông nghiệp, Phòng Đào tạo Sau Đại học
Tôi xin gửi lời cám ơn trân trọng và lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô giáo
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Ngữ, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cám ơn đến UBND huyện Thạch Hà, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Hà, Chi cụ Thống kê huyện Thạch Hà, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Thạch Hà, các tổ chức, cá nhân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Trang 5TÓM TẮT
Đánh giá được thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà và đề xuất được các biện pháp quản lý, sử dụng một cách hợp lý, đảm bảo cảnh quan và phát triển bền vững về môi trường
Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; tài liệu, số liệu về tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa, thu thập các số liệu về thống kê đất đai, tình hình biến động đất nghĩa trang, nghĩa địa; thu thập văn bản, nghị quyết, nghị định, thông tư, điều luật của cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương có liên quan đến nghĩa trang, nghĩa địa
Đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà
Đánh giá được tình hình thực hiện công tác quy hoạch và di dời nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn nghiên cứu
Đánh giá được phong tục tập quán an táng và xu thế sử dụng những hình thức táng mới trên địa bàn huyện Thạch Hà
Đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý và sử dụng đất nghĩa trang một cách hợp lý
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 MỤC TIÊU CHUNG 2
2.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC 2
3.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Khái quát về đất đai và quản lý đất đai 4
1.1.2 Khái quát về quản lý, sử dụng và quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa 7
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 18
1.2.1 Các loại hình nghĩa trang đang sử dụng ở Việt Nam 18
1.2.2 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang tại Việt Nam 20
1.2.3 Tổng quan chung về hệ thống nghĩa trang nhân dân trên toàn tỉnh Hà Tĩnh 22
1.2.4 Một số quy định về nghĩa trang mai táng tại các nước trên thế giới 24
1.2.5 Các văn bản pháp quy tại Việt Nam 25
1.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 28
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 30
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 30
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 30
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 30
2.4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 31
2.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa 31
2.4.4 Phương pháp bản đồ 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ 32
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41
3.1.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội 45
3.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ 47
3.2.1 Thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà 47
3.2.2 Tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất nghĩa trang, nghĩa địa của huyện Thạch Hà qua các năm gần đây 47
3.2.3 Đánh giá tình hình thực hiện một số công tác quản lý nhà nước về đất đai liên quan đến vấn đề quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà 48
3.2.4 Điều tra tình hình quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn nghiên cứu 50
3.2.5 Đánh giá chung về tình hình quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa 66
3.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ 67
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà 67
3.3.2 Tổng hợp chi tiết diện tích các nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà 71
Trang 83.3.3 Tình hình biến động đất nghĩa trang, nghĩa địa giai đoạn 2005 - 2016 72
3.3.4 Đánh giá tình hình sử dụng đất tại một số khu vực nghĩa trang 74
3.3.5 Đánh giá chung về tình hình sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa 82
3.4 ĐÁNH GIÁ VỀ PHONG TỤC TẬP QUÁN AN TÁNG VÀ XU THẾ SỬ DỤNG NHỮNG HÌNH THỨC TÁNG MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ 82
3.4.1 Phong tục tập quán của người Hà Tĩnh trong việc an táng và sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa 82
3.4.2 Xu thế sử dụng những hình thức an táng mới 84
3.5 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA HỢP LÝ 85
3.5.1 Giải pháp quản lý 85
3.5.2 Giải pháp quy hoạch 87
3.5.3 Giải pháp tuyên truyền, xã hội hoá việc huy động các nguồn vốn 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 KẾT LUẬN 89
2 KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 94
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt Có nghĩa là
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa qua các năm 23
Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu nghĩa trang và mai táng ở các nước 25
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nghĩa trang 25
Bảng 1.4 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng nghĩa trang 26
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Thạch Hà qua các năm 42
Bảng 3.2 Tổng dân số và cơ cấu dân số phân theo giới tính và khu vực 43
Bảng 3.3 Tổng quát chung việc điều tra, phỏng vấn tình hình quản lý đất nghĩa trang nghĩa địa 51
Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn cán bộ phòng ban cấp huyện 53
Bảng 3.5 Điều tra, phỏng vấn tình hình quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa cấp xã 55
Bảng 3.6 Một số ý kiến của cán bộ xã về việc đưa ra biện pháp quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa 59
Bảng 3.7 Tổng hợp ý kiến của các hộ dân về tình hình quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa 60 Bảng 3.8 Hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa của các xã trên địa bàn huyện 70
Bảng 3.9 Tổng hợp số điểm có mồ mã trên địa bàn huyện Thạch Hà đến năm 2016 71
Bảng 3.10 So sánh diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa qua các năm 73
Bảng 3.11 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại khu vực nghĩa trang vùng bãi cát Thạch Lưu, Thạch Vĩnh, Bắc Sơn 79
Bảng 3.12 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm khu vực vực nghĩa trang vùng bãi cát Thạch Lưu, Thạch Vĩnh, Bắc Sơn 80
Bảng 3.13 Kết quả phân tích mẫu không khí xung quanh khu vực nghĩa trang vùng bãi cát Thạch Lưu, Thạch Vĩnh, Bắc Sơn 81
Bảng 3.14 Kết quả phân tích chất lượng môi trường đất khu vực nghĩa trang vùng bãi cát Thạch Lưu, Thạch Vĩnh, Bắc Sơn 81
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Vị trí huyện Thạch Hà trong tỉnh Hà Tĩnh 32
Hình 3.2 Sơ đồ hệ thống thủy văn của tỉnh Hà Tĩnh 37
Hình 3.3 Tình trạng chôn cất không theo quy hoạch tại nghĩa trang Cồn Đâu, xã Tượng Sơn, huyện Thạch hà 54
Hình 3.4 Tình trạng chôn cất thưa thớt tại nghĩa trang Bãi Cát, xã Thạch Lưu, huyện Thạch hà 54
Hình 3.5 Nghĩa trang tập tung, được quy hoạch tại nghĩa trang Cồn Hát Chung, xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà 54
Hình 3.6: Tình trạng bao chiếm đất theo dòng họ tại nghĩa trang Bãi Con, xã Thạch Tiến, huyện Thạch hà 57
Hình 3.7: Quy hoạch chỉnh trang nghĩa địa Cu Cu, xã Tượng Sơn, huyện Thạch hà 58
Hình 3.8: Một góc khu cát táng tại nghĩa tra Cồn Hát Chung, xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà 58
Hình 3.9: Công trình Đập Khe Xai tại xã Thạch Xuân, huyện Thạch hà 59
Hình 3.10: Xây dựng lăng mộ theo nhiều hình dạng khác nhau 65
Hình 3.11: Khu nghĩa trang đồng bào theo đạo Công Giáo tại xã Thạch Thắng 66
Hình 3.12: Xây dựng lăng mộ đồ sộ, cầu kỳ tại nghĩa trang Nhà Trẻn xã Thạch Kênh 66
Hình 3.13: Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa huyện Thạch Hà 69
Hình 3.14 Nghĩa trang Luồng Miếu tại xã Thạch Hải 75
Hình 3.15 Nghĩa trang trên vùng Bãi Cát tại xã Thạch Lưu 76
Hình 3.16 Nghĩa trang vùng Bãi Cát tại xã Bắc Sơn 76
Hình 3.17 Một số hình ảnh tại CV Nghĩa trang Phúc Lạc Viên, xã Bắc Sơn 77
Biểu đồ 3.1 So sánh giá trị sản xuất của huyện Thạch Hà qua các năm 41
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Thạch Hà năm 2016 42
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu ý kiến lựa chọn vị trí chôn cất trong nghĩa địa 63
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu ý kiến tuân thủ định mức diện tích lăng mộ 64
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu ý kiến xây dựng kiến trúc lăng, mộ 64
Biểu đồ 3.6: Cơ cấu sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2016 68
Biểu đồ 3.7: Cơ cấu ý kiến về việc hỏa táng 85
Trang 12số lượng, có vị trí cố định trong không gian Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý
một cách hợp lý, sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững
Từ bao đời nay, địa táng là một trong những phong tục phổ biến của dân tộc ta, việc tổ chức tang lễ và chôn cất người chết là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc xây dựng lăng mộ cho người chết tại các địa phương còn diễn ra ồ ạt với quy mô ngày một lớn nhưng hầu như chưa có chế tài nào quản lý gây nên sự lãng phí về của cải vật chất, diện tích đất
sử dụng và ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân tại địa phương có nghĩa địa và mỹ quan cả khu vực
Đất nghĩa trang, nghĩa địa đang trở thành vấn đề lớn, cần quan tâm đặc biệt là khu vực đô thị Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu của người dân tăng cao thì vấn đề lễ nghĩa càng được xem trọng Cá biệt, một bộ người dân có thu nhập cao thường có xu hướng đòi hỏi đất sử dụng cho chôn cất người thân của mình cũng phải xứng tầm, dẫn đến xây dựng tự phát những ngôi mộ xa hoa, giá trị hàng tỷ đồng, khuôn viên khu mộ
có khi lên tới hàng ngàn mét vuông đất Trong khi đó, những người có thu nhập thấp, những người nghèo lại chôn thân nhân của mình tại những nghĩa địa không hợp quy hoạch vì chi phí thấp Từ đó, công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa gặp nhiều khó khăn
Theo số liệu thống kê các loại đất tại tỉnh Hà Tĩnh năm 2016, trong số 599.030,70 ha diện tích đất tự nhiên trên toàn tỉnh thì đã có 4.663,67 ha diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa Trong khi đó, đất ở chỉ có diện tích là 11.794,56 ha Như vậy,
có thể nói Hà Tĩnh là một trong các tỉnh có tỷ lệ diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa thuộc loại cao so với cả nước, bằng 0,78% diện tích tự nhiên và bằng 39,54% diện tích đất ở của toàn tỉnh Tuy nhiên, diện tích nghĩa trang chính thức có quy hoạch và tổ chức quản lý theo quy định vẫn chỉ dừng ở con số hết sức khiêm tốn về số lượng lẫn quy mô Từ đó, xảy ra tình trạng sử dụng đất lãng phí, xây dựng lăng mộ tùy tiện, bề thế Nhiều khu vực dân cư còn mai táng trên đồng ruộng, trong các khu rừng phòng
hộ, xen kẽ trong các khu vực có dân cư sinh sống… gây ảnh hưởng nặng nề đến cảnh quan, môi trường
Huyện Thạch Hà là huyện bao quanh thành phố Hà Tĩnh, ngoài nhu cầu sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn thì còn phải chịu nhiều sức ép trong quá
Trang 13trình mở rộng và xây dựng thành phố và nhu cầu chôn cất của một phần thành phố Hà Tĩnh Việc các nghĩa địa phát triển ngày một lớn, người dân tự chôn cất, xây dựng lăng
mộ gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường Việc mua bán, lấn chiếm đất công để chôn cất vẫn còn diễn ra
Trên địa bàn huyện hiện tại đang xây dựng Công viên Nghĩa trang Phúc Lạc Viên – Đài hóa thân Hoàn Vũ với quy mô 29 ha, tuy nhiên, tại đây chủ yếu là phục vụ cho thành phố Hà Tĩnh và một số người có thu nhập cao, còn lại đất các khu nghĩa địa làng xã, nghĩa địa gia đình Những vấn đề trên đã và đang ẩn chứa nhiều điều nguy hại, trở thành lực cản đối với công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa Đây cũng là vấn đề
mà các nhà khoa học và các nhà quản lý đang rất quan tâm nghiên cứu Xuất phát từ
những lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:“Đánh giá thực
trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 MỤC TIÊU CHUNG
Đánh giá được thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà và đề xuất được các biện pháp quản lý, sử dụng một cách hợp lý, đảm bảo cảnh quan và phát triển bền vững về môi trường
Đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về vấn đề quản
lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa Đồng thời, cung cấp nguồn thông tin đáng tin cậy làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa cũng như các vấn đề môi trường liên quan đối với loại hình sử dụng đất này
Trang 143.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN
- Xây dựng luận cứ cho các chương trình, dự án quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của ngành, địa phương
- Cung cấp cho lãnh đạo và các ban nghành của huyện các thông tin cơ bản về hiện trạng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà Làm cơ sở để định hướng cho việc thực hiện các phương án quy hoạch, quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý
- Là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ, hợp lý và đảm bảo
vệ sinh môi trường Sử dụng quỹ đất tiết kiệm, tránh lãng phí trong việc tổ chức tang
lễ và xây mộ Tạo sự hoàn thiện phát triển bền vững cho môi trường sống
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Khái quát về đất đai và quản lý đất đai
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Có nhiều khái niệm khác nhau về đất, theo phương diện nhìn nhận của mỗi lĩnh vực mà người ta đưa ra khái niệm về đất đai để phục vụ cho mục đích nghiên cứu chuyên môn Tuy nhiên, hiện nay người ta thường dùng hai khái niệm là đất (soil) và đất (land) Khái niệm đất (soil) là lớp đất mặt của võ trái đất gọi là thổ nhưỡng Khái niệm đất (land) được hiểu là đất đai theo quy mô không gian, vị trí địa lý, cộng đồng lãnh thổ, môi trường
Theo V.V Đoccutraiep (1846 – 1903): đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác động của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và tuổi địa phương [1]
Theo Villam (1863 – 1939) – Viện sĩ thổ nhưỡng nông hóa Liên Xô (cũ) cho rằng: đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng [1]
Theo quan điểm của C.Mac: đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông - lâm nghiệp [4]
Theo quan điểm của FAO thì đất đai được nhìn nhận như một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả những thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Như vậy, đất được hiểu là tổng thể nhiều yếu tố: khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người [23]
Nếu như nhìn nhận đất đai trên phương diện từ vạt đất thì đất đai là một phần
cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên
và dưới bề mặt đất [21]
Trong quản lý nhà nước về đất đai, người ta thường đề cập đến đất đai theo khái niệm đất (land)
1.1.1.2 Khái quát về quản lý đất đai
a Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản của đất đai nhằm nắm chắc về chất lượng, số lượng từng loại đất ở từng vùng, từng địa
Trang 16phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất quy hoạch, kế hoạch, sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc bỏ hoang, bỏ hóa, làm cho đất xấu đi
Quản lý nhà nước về đất đai thống nhất trong cả nước là thống nhất về đường lối, chính sách đất đai của Đảng và Chính phủ, thể hiện cụ thể ở Luật đất đai, những văn bản dưới luật phải được triển khai đồng bộ và thống nhất từ Trung ương tới địa phương, làm cho người sử dụng đất hiểu được pháp luật và thực hiện đúng pháp luật
về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai nhằm cung cấp các hồ sơ, tài liệu số liệu liên quan đến đất đai trong cả nước, giúp cho Chính phủ và các ngành, các địa phương có kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, là cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý
Tóm lại, thực chất của quản lý đất đai là quản lý con người sử dụng đất: mỗi loại đất ở mỗi vùng khác nhau được nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các chủ sử dụng với mục đích được pháp luật quy định Quản lý nhà nước về đất đai được xây dựng trên nền tảng học thuyết Mác - Lênin: “đất đai là đối tượng lao động và tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được’’[23]
b Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Theo điều 13 Luật đất đai năm 1993 thì nội dung quản lý Nhà nước về đất đai gồm có 07 nội dung:
- Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính;
- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất;
- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất;
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất;
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai [14]
Theo Khoản 2, Điều 6, Luật đất đai 2003 thì quản lý nhà nước về đất đai bao gồm 13 nội dung:
Trang 17- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Thống kê, kiểm kê đất đai;
- Quản lý tài chính về đất đai;
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
lý vi phạm pháp luật về đất đai;
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai [14]
Theo Điều 22, Luật đất đai 2013 thì quản lý Nhà nước về đất đai gồm có 15 nội dung:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
Trang 18- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và
sử dụng đất đai
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [16]
1.1.2 Khái quát về quản lý, sử dụng và quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa
1.1.2.1 Các định nghĩa, khái niệm liên quan đến nghĩa trang, nghĩa địa
Con người cũng như mọi sinh vật khác sinh ra, tồn tại và phát triển trên trái đất đều tuân theo quy luật sinh tồn cơ bản nhất của tự nhiên là "sinh - lão - bệnh - tử"
Trong xã hội loài người, con người sau khi chết sẽ được mai táng theo những nghi thức truyền thống với ý niệm đưa người đã khuất về nơi an nghỉ cuối cùng và giúp cho linh hồn người chết được siêu thoát Tập tục mai táng chính là sự bày tỏ niềm thương tiếc, lòng biết ơn của con cháu với công dưỡng dục, sự biết ơn của cộng đồng xã hội với công lao đóng góp của người đã khuất
Theo quan niệm phương Tây, nghĩa trang là nơi mà thi thể người chết và di hài
sau khi chết được chôn cất Trong tiếng Anh, từ nghĩa trang là cemetery có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp là κοιµητήριον: nơi an nghỉ - vùng đất dành riêng cho việc chôn cất[5]
Tuy nhiên, cách thức quản lý, sử dụng đất và các hoạt động tưởng nhớ người đã khuất được thực hiện tùy theo phong tục tập quán, tôn giáo của từng địa phương, trong từng giai đoạn nhất định
Còn ở Việt Nam, nơi chôn cất người chết được gọi là nghĩa trang, nghĩa địa hoặc bãi tha ma Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm rõ ràng để phân biệt các thuật ngữ: nghĩa trang, nghĩa địa, bãi tha ma
Điều 2 Nghị định 23/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 của Chính phủ về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang quy định:
- Nghĩa trang là nơi táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau
và được quản lý, xây dựng theo quy hoạch
- Phần mộ cá nhân là nơi táng thi hài, hài cốt của người chết
Trang 19- Táng là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết, các hình thức táng người chết bao gồm các hình thức: Mai táng, hỏa táng và các hình thức táng khác
Mai táng: Là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết
ở một địa điểm dưới mặt đất Trong mai táng gồm có: Chôn cất một lần là hình thức mai táng thi hài vĩnh viễn; hung táng là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ được cải táng; cải táng là việc chuyển xương cốt từ mộ hung táng sang hình thức táng khác; Cát táng là hình thức mai táng hài cốt sau khi cải táng hoặc lưu tro cốt sau khi hỏa táng [9]
Hỏa táng: Hỏa táng (bao gồm cả điện táng) là thực hiện việc thiêu thi hài hoặc
hài cốt ở nhiệt độ cao
- Hoạt động xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng là hoạt động bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng
- Cơ sở hỏa táng là cơ sở vật chất bao gồm lò hỏa táng và các công trình phụ trợ khác như khu văn phòng, khu kỹ thuật, khu lưu trữ tro cốt, nhà tang lễ, các công trình
hạ tầng kỹ thuật
- Quy hoạch nghĩa trang vùng tỉnh là việc tổ chức hệ thống các nghĩa trang, cơ
sở hỏa táng, nhà tang lễ trong địa giới hành chính của một tỉnh phù hợp với quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, quy hoạch sử dụng đất và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Quy hoạch chi tiết xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng là việc tổ chức không gian, phân khu chức năng và tổ chức hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật cho một nghĩa trang, cơ sở hỏa táng
- Cải tạo và mở rộng nghĩa trang là việc chỉnh trang, nâng cấp các công trình trong nghĩa trang đang sử dụng và xây dựng mới theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với diện tích mở rộng nhằm bảo đảm về cảnh quan, môi trường
- Đóng cửa nghĩa trang là việc không cho phép tiếp tục thực hiện các hoạt động táng trong nghĩa trang
- Di chuyển nghĩa trang là thực hiện việc chuyển toàn bộ thi hài, hài cốt trong nghĩa trang đến một nghĩa trang khác được xây dựng theo quy hoạch
- Dịch vụ nghĩa trang bao gồm tổ chức tang lễ, mai táng; xây mộ, cải táng, chăm sóc mộ, tu sửa mộ; bảo quản, lưu giữ tro cốt và dịch vụ phục vụ việc thăm viếng, tưởng niệm
Trang 20- Dịch vụ hỏa táng bao gồm tổ chức tang lễ, hỏa táng thi hài hoặc hài cốt và bảo quản, lưu giữ tro cốt
- Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang, hỏa táng là người trực tiếp ký hợp đồng
sử dụng dịch vụ nghĩa trang hoặc là người có quan hệ với người được táng đứng tên ký hợp đồng sử dụng dịch vụ nghĩa trang, hỏa táng
- Giá dịch vụ nghĩa trang là toàn bộ các chi phí được tính đúng, tính đủ cho phần mộ cá nhân và mức lợi nhuận hợp lý để thực hiện dịch vụ nghĩa trang
- Giá dịch vụ hỏa táng là toàn bộ các chi phí hỏa táng được tính đúng, tính đủ cho một ca hỏa táng và mức lợi nhuận hợp lý để thực hiện dịch vụ hỏa táng[9]
1.1.2.2 Các quy định liên quan đến nghĩa trang
a Các quy định về quản lý và sử dụng nghĩa trang
Hoạt động xây dựng, quản lý, sử dụng ngĩa trang và cơ sở hỏa táng phải tuân thủ các nguyên tắc:
- Tất cả các nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải được quy hoạch Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng tuân thủ pháp luật về quy hoạch, xây dựng, bảo vệ môi trường
- Khuyến khích đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phục vụ cho nhiều địa phương, sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm tối đa đất, kinh phí xây dựng và đảm bảo yêu cầu môi trường và cảnh quan xung quanh
- Việc quản lý đất nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải tuân thủ theo pháp luật về đất đai, tiết kiệm và hiệu quả; bảo đảm an toàn, an ninh và vệ sinh môi trường
- Việc táng được thực hiện trong các nghĩa trang, trường hợp táng trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải bảo đảm vệ sinh môi trường và được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Việc táng phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
- Vệ sinh trong mai táng, hỏa táng và vệ sinh trong xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng thực hiện theo quy định của Bộ Y tế
- Chủ đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng có trách nhiệm quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng theo quy định của Nghị định này và các quy định hiện hành khác có liên quan
- Các đối tượng bảo trợ xã hội khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định hiện hành
Trang 21- Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng phải tuân thủ các quy định về quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng theo quy định của Nghị định này và các quy định hiện hành khác có liên quan
- Cơ quan quản lý nhà nước về nghĩa trang theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng; kiến nghị hoặc xử lý các vi phạm về quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng trên địa bàn theo thẩm quyền[9]
* Đơn vị quản lý nghĩa trang
Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp quản lý nghĩa trang của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lựa chọn đơn vị quản lý nghĩa trang được đầu tư xây dựng
từ nguồn vốn ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật hiện hành về cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích
Các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng nghĩa trang từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước trực tiếp quản lý vận hành hoặc thuê quản lý nghĩa trang do mình đầu tư
Đơn vị quản lý nghĩa trang có trách nhiệm:
- Quản lý nghĩa trang theo quy định của pháp luật và quy chế quản lý nghĩa trang được phê duyệt
- Đảm bảo có đủ nguồn lực, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, bảo hộ lao động cần thiết phục vụ hoạt động táng trong nghĩa trang đáp ứng yêu cầu về môi trường và an toàn lao động; người lao động phải có hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm theo quy định
- Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang, cung cấp các dịch vụ nghĩa trang cho người
sử dụng, bảo đảm chất lượng dịch vụ đồng thời cung cấp thông tin cho tổ chức và cá nhân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật
- Xử lý nước thải trong nghĩa trang đảm bảo quy chuẩn môi trường theo quy định, ký hợp đồng với đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn hoặc tự xử lý chất thải rắn phát sinh từ nghĩa trang tuân thủ theo các quy định của pháp luật về quản
lý chất thải
- Báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng nghĩa trang hàng năm với cơ quan quản
lý nhà nước về nghĩa trang theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
* Nội dung quản lý nghĩa trang
- Đối với nghĩa trang đã đóng cửa:
+ Định kỳ chăm sóc, bảo quản, gìn giữ phần mộ, tro cốt tại các nhà lưu giữ, duy
tu bảo dưỡng các công trình trong nghĩa trang
Trang 22+ Bảo đảm các quy định về vệ sinh môi trường trong nghĩa trang
+ Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang
+ Quy định, chỉ dẫn khách thăm viếng, tưởng niệm và quản lý các hoạt động trong nghĩa trang
- Đối với nghĩa trang đang sử dụng:
+ Quản lý sử dụng đất, xây dựng phần mộ, bia mộ và các công trình trong nghĩa trang tuân theo quy hoạch xây dựng, quy chế quản lý nghĩa trang được người có thẩm quyền phê duyệt
+ Giám sát quản lý hoặc trực tiếp cung cấp các dịch vụ nghĩa trang
* Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang
Nội dung của hồ sơ nghĩa trang:
- Sơ đồ vị trí các khu chức năng, lô mộ, nhóm mộ, hàng mộ và phần mộ; sơ đồ
vị trí các ô lưu giữ tro cốt tại nhà lưu giữ tro cốt;
- Tất cả các phần mộ trong nghĩa trang, các ô lưu giữ tro cốt tại nhà lưu giữ tro cốt đều phải được đánh số;
- Có sổ theo dõi hoạt động táng trong nghĩa trang, lưu giữ tro cốt tại nhà lưu giữ tro cốt theo thời gian và lưu trữ các thông tin cơ bản của người được táng, lưu giữ tro cốt và thân nhân
- Đơn vị quản lý nghĩa trang có trách nhiệm lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang đồng thời cung cấp thông tin cho tổ chức và cá nhân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật
* Chi phí quản lý nghĩa trang
- Đối với các nghĩa trang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước thì chi phí quản lý được lấy từ nguồn thu dịch vụ nghĩa trang và nguồn vốn ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật
- Đối với các nghĩa trang do các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, chi phí quản
lý được lấy từ nguồn thu dịch vụ nghĩa trang
* Giá dịch vụ nghĩa trang
- Giá dịch vụ nghĩa trang phải được tính đúng, tính đủ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương và phải được niêm yết công khai
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định giá dịch vụ nghĩa trang do đơn vị quản lý nghĩa trang cung cấp đối với các nghĩa trang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh
Trang 23- Tổ chức, cá nhân tự quyết định giá dịch vụ nghĩa trang do mình cung cấp trên
cơ sở phương án khai thác kinh doanh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận đối với các nghĩa trang do mình đầu tư xây dựng
* Quy chế quản lý nghĩa trang
Các nghĩa trang phải có quy chế quản lý, nội dung cơ bản của quy chế quản lý nghĩa trang bao gồm:
- Các quy định về ranh giới, quy mô nghĩa trang và các khu chức năng trong nghĩa trang;
- Các quy định về xây dựng, cải tạo, chỉnh trang, duy tu, bảo dưỡng, bảo trì các công trình xây dựng, các phần mộ trong nghĩa trang;
- Quy định về các loại dịch vụ trong nghĩa trang và giá dịch vụ nghĩa trang, giá chuyển nhượng quyền sử dụng phần mộ cá nhân;
- Các quy định về việc tiếp nhận đăng ký, tổ chức mai táng; lưu giữ tro cốt trong nghĩa trang;
- Các quy định về hoạt động lễ nghi, chỉ dẫn khách thăm viếng, tưởng niệm và quản lý các hoạt động trong nghĩa trang;
- Các quy định về bảo vệ nghĩa trang và bảo vệ môi trường;
- Các hành vi vi phạm và quy định xử phạt;
- Trách nhiệm của đơn vị quản lý và người sử dụng dịch vụ, thăm viếng nghĩa trang
Thẩm quyền phê duyệt quy chế quản lý nghĩa trang:
- Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp quản lý nghĩa trang phê duyệt quy chế quản lý nghĩa trang đối với các nghĩa trang được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn;
- Tổ chức, cá nhân phê duyệt quy chế quản lý nghĩa trang được đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; sau khi ban hành phải gửi Ủy ban nhân dân theo phân cấp quản lý nghĩa trang để quản lý, giám sát, kiểm tra việc thực hiện
* Trách nhiệm của đơn vị quản lý nghĩa trang
Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp quản lý nghĩa trang của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lựa chọn đơn vị quản lý nghĩa trang được đầu tư xây dựng
từ nguồn vốn ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật hiện hành về cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích Các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng nghĩa trang từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước trực tiếp quản lý vận hành hoặc thuê quản lý nghĩa trang do mình đầu tư
Trang 24Trách nhiệm của đơn vị quản lý nghĩa trang:
- Quản lý nghĩa trang theo quy định của pháp luật và quy chế quản lý nghĩa trang được phê duyệt
- Đảm bảo có đủ nguồn lực, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, bảo hộ lao động cần thiết phục vụ hoạt động táng trong nghĩa trang đáp ứng yêu cầu về môi trường và an toàn lao động; người lao động phải có hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm theo quy định
- Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang, cung cấp các dịch vụ nghĩa trang cho người
sử dụng, bảo đảm chất lượng dịch vụ đồng thời cung cấp thông tin cho tổ chức và cá nhân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật
- Xử lý nước thải trong nghĩa trang đảm bảo quy chuẩn môi trường theo quy định, ký hợp đồng với đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn hoặc tự xử lý chất thải rắn phát sinh từ nghĩa trang tuân thủ theo các quy định của pháp luật về quản
lý chất thải
- Báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng nghĩa trang hàng năm với cơ quan quản
lý nhà nước về nghĩa trang theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ nghĩa trang
- Tuân thủ các quy định của nghĩa trang và các quy định của pháp luật có liên quan
- Thực hiện các trách nhiệm theo thỏa thuận với đơn vị quản lý nghĩa trang
b Các quy định về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang
Các nguyên tắc đối với hoạt động xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang
- Tất cả các nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải được quy hoạch Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng tuân thủ pháp luật về quy hoạch, xây dựng, bảo vệ môi trường
- Khuyến khích đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phục vụ cho nhiều địa phương, sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm tối đa đất, kinh phí xây dựng và đảm bảo yêu cầu môi trường và cảnh quan xung quanh
- Việc quản lý đất nghĩa trang, cơ sở hỏa táng phải tuân thủ theo pháp luật về đất đai, tiết kiệm và hiệu quả; bảo đảm an toàn, an ninh và vệ sinh môi trường
- Việc táng được thực hiện trong các nghĩa trang, trường hợp táng trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải bảo đảm vệ sinh môi trường và được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân các cấp theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trang 25- Việc táng phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
- Vệ sinh trong mai táng, hỏa táng và vệ sinh trong xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng thực hiện theo quy định của Bộ Y tế
- Chủ đầu tư xây dựng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng có trách nhiệm quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng theo quy định của Nghị định này và các quy định hiện hành khác có liên quan
- Các đối tượng bảo trợ xã hội khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định hiện hành
- Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng phải tuân thủ các quy định về quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng theo quy định của Nghị định này và các quy định hiện hành khác có liên quan .[9]
- Cơ quan quản lý nhà nước về nghĩa trang theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng; kiến nghị hoặc xử lý các vi phạm về quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng trên địa bàn theo thẩm quyền
Quy định diện tích đất tối đa cho một phần mộ cá nhân
- Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ hung táng và chôn cất một lần tối đa không quá 5 m2
- Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ cát táng tối đa không quá 3 m2.[9]
Quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng nghĩa trang
- Hoạt động xây dựng nghĩa trang phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật
- Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng nghĩa trang [9]
Hỗ trợ, ưu đãi đầu tư xây dựng nghĩa trang
- Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nghĩa trang theo quy định của pháp luật
- Các tổ chức và cá nhân đầu tư xây dựng nghĩa trang được nhà nước:
+ Cấp đất xây dựng nghĩa trang lâu dài và không thu tiền sử dụng đất
+ Hỗ trợ xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào
+ Hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng tuỳ theo quy mô, hình thức đầu tư, công nghệ được áp dụng và tác động đến môi trường của
dự án
Trang 26+ Hỗ trợ đầu tư và hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư
- Khuyến khích xã hội hoá đầu tư xây dựng nghĩa trang và sử dụng các hình thức táng mới văn minh hiện đại, góp phần thay đổi tập quán cũ, tiết kiệm quỹ đất, bảo
vệ môi trường, tuỳ theo tình hình cụ thể và khả năng của mình, chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ chi phí táng cho những người sử dụng địch vụ này
Chính sách xã hội đối với các đối tượng đặc biệt
- Người vô gia cư không có thân nhân hoặc có thân nhân nhưng không có điều kiện lo việc táng, khi chết ở địa phương nào thì chính quyền địa phương nơi đó có trách nhiệm lo toàn bộ chi phí táng phù hợp với điều kiện của địa phương
- Người không có thân nhân sống ở địa phương nào thì khi chết chính quyền địa phương đó có trách nhiệm tổ chức táng ở nghĩa trang tại địa phương với chi phí được lấy từ tài sản của người chết (nếu có) hoặc từ ngân sách địa phương
- Người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nguyện vọng được táng tại Việt Nam sau khi chết được xem xét, cho phép táng tại các nghĩa trang ở Việt Nam
- Đối với các trường hợp chết do thiên tai, dịch bệnh, chính quyền địa phương các cấp có trách nhiệm hỗ trợ, tổ chức táng cho người chết, bảo đảm yêu cầu về an toàn, vệ sinh phòng dịch, không gây ô nhiễm môi trường theo quy định của Bộ Y tế
- Đối với các mộ vô chủ hoặc không còn thân nhân chăm sóc, trường hợp hết thời hạn táng theo quy định, đơn vị quản lý nghĩa trang được phép di chuyển mộ tới vị trí khác trong nghĩa trang hoặc tới các nghĩa trang khác theo quy hoạch
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng các chế độ, chính sách xã hội, trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết đối với các đối tượng đặc biệt trong việc táng khi chết trình Thủ tướng Chính phủ ban hành
c Quy định về quy hoạch, xây dựng, cải tạo, đóng cửa và di chuyển nghĩa trang
Yêu cầu quy hoạch địa điểm nghĩa trang
- Phù hợp với các điều kiện địa hình, điều kiện địa chất, địa chất thủy văn và khả năng khai thác quỹ đất
- Phù hợp với tổ chức phân bố dân cư và kết nối công trình hạ tầng kỹ thuật
- Đáp ứng nhu cầu táng trước mắt và lâu dài của khu vực lập quy hoạch
- Bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
Trang 27- Khuyến khích quy hoạch các nghĩa trang phục vụ cho nhiều địa phương khác nhau và các nghĩa trang có sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm đất, kinh phí xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Nội dung quy hoạch địa điểm nghĩa trang
- Xác định phạm vi phục vụ của các nghĩa trang
- Xác định nhu cầu táng và lựa chọn các hình thức táng phù hợp với điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, tín ngưỡng, phong tục và tập quán tốt, văn hoá, văn minh và bảo đảm tiết kiệm đất, hạn chế ô nhiễm môi trường
- Xác định các nghĩa trang cần đóng cửa, di chuyển hoặc cải tạo mở rộng để tiếp tục sử dụng
- Xác định vị trí và quy mô của các nghĩa trang xây dựng mới
- Dự báo tác động môi trường
Quy hoạch xây dựng nghĩa trang
- Các nghĩa trang xây dựng mới hoặc mở rộng đều phải lập quy hoạch xây dựng nghĩa trang
- Yêu cầu đối với quy hoạch xây dựng nghĩa trang:
+ Xác định cụ thể vị trí, quy mô, ranh giới của nghĩa trang
+ Xác định các hình thức táng sử dụng trong nghĩa trang
+ Đánh giá tác động môi trường
+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phân cấp trách nhiệm tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng nghĩa trang trên địa bàn tỉnh theo các quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng
Xây dựng mới hoặc mở rộng nghĩa trang
Trang 28- Xây dựng mới hoặc mở rộng nghĩa trang phải tuân theo quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật phải được xây dựng đồng bộ
- Xây dựng mộ, bia mộ và các công trình khác trong nghĩa trang phải tuân theo các quy định của pháp luật về xây dựng
- Kích thước, kiểu dáng các mộ, bia mộ và khoảng cách giữa các mộ, phải tuân thủ theo các quy định của quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Cải tạo nghĩa trang
- Các nghĩa trang được cải tạo khi vẫn còn phù hợp với quy hoạch xây dựng nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan, môi trường chưa phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành
- Nội dung cải tạo nghĩa trang:
+ Xác lập ranh giới nghĩa trang theo quy hoạch đã được phê duyệt (nếu chưa có)
+ Trồng cây xanh bao quanh, cây xanh trong nghĩa trang
+ Cải tạo, chỉnh trang, nâng cấp các công trình hạ tầng kỹ thuật trong nghĩa trang
Đối với diện tích đất chưa sử dụng phải phân khu vực táng rõ ràng, phân lô mộ, nhóm mộ, hàng mộ, quy định về diện tích, kích thước và kiến trúc mộ
Đóng cửa nghĩa trang
- Các nghĩa trang phải được đóng cửa khi không còn diện tích sử dụng, không
có điều kiện mở rộng và không gây ô nhiễm môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép mà có khả năng khắc phục
- Các nhiệm vụ phải thực hiện khi đóng cửa nghĩa trang:
+ Việc đóng cửa nghĩa trang do cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thông báo công khai
+ Khắc phục ô nhiễm môi trường trước khi đóng cửa nghĩa trang (nếu có)
+ Cải tạo, chỉnh trang lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật, mộ chí và các công trình trong nghĩa trang, trồng cây xanh, thảm cỏ trong và xung quanh nghĩa trang
+ Các nghĩa trang trong đô thị hoặc trong khu dân cư nông thôn phải có tường rào hoặc hàng rào cây xanh bao quanh với chiều cao đủ bảo đảm cho dân cư xung quanh không bị ảnh hưởng
+ Đối với nghĩa trang nằm bên đường quốc lộ phải trồng cây xanh ngăn cách bảo đảm không ảnh hưởng tới mỹ quan, người tham gia giao thông
Trang 29Di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ
- Các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ phải di chuyển khi:
+ Gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan nghiêm trọng mà không có khả năng khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng, không phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
+ Phục vụ các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng theo quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Các nhiệm vụ phải thực hiện khi di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ:
+ Thông báo về việc di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ
+ Tiến hành công tác di chuyển vào các nghĩa trang được xây dựng và quản lý theo quy hoạch
+ Trong quá trình di chuyển phải bảo đảm các yêu cầu về vệ sinh môi trường
+ Thực hiện các chính sách về giải tỏa, đền bù theo quy định của pháp luật
Trách nhiệm cải tạo, đóng cửa, di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp dưới, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan thực hiện việc cải tạo, đóng cửa, di chuyển các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý
- Các nghĩa trang, phần mộ riêng lẻ nằm trong khu đất giải tỏa phải di chuyển
để thực hiện các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng thì chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng và di chuyển được tính trong tổng mức đầu tư của các dự án này [9]
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Các loại hình nghĩa trang đang sử dụng ở Việt Nam
Các loại hình nghĩa trang đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay khá phong phú, đa dạng Chúng được phân loại phụ thuộc theo công nghệ táng, phương cách quản lý, tín ngưỡng, tôn giáo v.v
1.2.1.1 Phân loại theo công nghệ táng dân tộc
Nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế nằm phổ biến ở hầu hết các dân tộc Việt Nam
Nhà mồ phổ biến ở một số dân tộc ít người miền núi cao Trung Trung Bộ và Tây Nguyên, nhà mồ là nơi lưu giữ hài cốt trên mặt đất sau khi bốc mộ
Nghĩa trang địa táng chôn thi hài theo tư thế ngồi của đồng bào Chăm
Trang 301.2.1.2 Phân loại theo phương cách quản lý
Loại hình nghĩa trang công cộng do chính quyền quản lý như: nghĩa trang nhân dân, nghĩa trang nhân dân đô thị, nghĩa trang liệt sỹ
Loại hình nghĩa trang tôn giáo do các tổ chức tôn giáo thành lập và quản lý như:
nghĩa trang của các chức sắc tôn giáo, nghĩa trang dành riêng cho các tín đồ tôn giáo
Loại hình nghĩa trang hội đoàn do các tổ chức hội đoàn nghề nghiệp, hội đoàn đồng hương và các bang hội người Hoa thành lập và quản lý như: nghĩa trang chùa nghệ sỹ (Tp Hồ Chí Minh), nghĩa trang của các bang hội người Hoa (bang Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông)
Loại hình nghĩa trang thuộc sở hữu tư nhân do người dân tự thành lập và quản
lý trên phần đất được giao quyền sử dụng như: các nghĩa trang gia đình, nghĩa trang dòng họ
1.2.1.3 Phân loại theo công nghệ táng
Nghĩa trang địa táng: Hiện nay nghĩa trang địa táng là loại hình đang phổ biến trên hầu hết các vùng miền của nước ta Trong địa táng, lại được chia thành:
- Nghĩa trang hung táng: Là nơi diễn ra quá trình phân hủy các tổ chức phần mềm cơ thể, xương cốt sau đó được bốc đưa đi nơi khác
- Nghĩa trang chôn cất một lần: Là nghĩa trang hung táng nhưng không cải táng bốc xương cốt
- Nghĩa trang cát táng: Là nghĩa trang chỉ chôn cất xương cốt sau khi cất bốc tại nghĩa trang hung táng hoặc hỏa táng
- Nghĩa trang hung táng và chôn cất một lần, nghĩa trang hung táng và cát táng như: nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội), nghĩa trang Truông Bồng Bông (Thủ Dầu Một)
Nghĩa trang địa táng và kết hợp hoả táng: nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội), nghĩa
trang Bình Hưng Hòa (thành phố Hồ Chí Minh)
1.2.1.4 Phân theo vùng địa lý và theo phong tục tập quán truyền thống
Từ vĩ tuyến 17 trở ra: nghĩa trang hung táng và nghĩa trang cát táng phân bố chủ yếu ở các khu vực người Kinh sinh sống
Từ vĩ tuyến 17 trở vào: phổ biến là nghĩa trang chôn cất một lần
Trong tất cả các loại nghĩa trang trên, nghĩa trang hung táng là nghĩa trang tiềm
ẩn khả năng tác động đến môi trường đất, nước ngầm lớn nhất, tiếp sau đến nghĩa trang chôn một lần và cuối cùng là nghĩa trang cát táng
Trang 311.2.2 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng đất nghĩa trang tại Việt Nam
1.2.2.1 Khái quát tình hình sử dụng đất nghĩa trang tại Việt Nam
Theo các số liệu thống kê, hiện nay tỷ lệ diện tích đất nghĩa trang khá lớn
Trong đó, đa phần (chiếm khoảng 80%) là các nghĩa trang nhân dân riêng của các phường, xã, làng, bản, cụm dân cư vẫn đang hoạt động không thuộc sự quản lý của chính quyền địa phương Trong các nghĩa trang nhân dân đã khảo sát, hiện tại tỷ lệ sử dụng diện tích đất dùng cho mai táng là khá cao, lên tới 60 - 90% tổng diện tích đất nghĩa trang Diện tích đất dành cho giao thông nội bộ hiện thường chiếm từ 9,35 - 20,07%; diện tích đất dành cho cây xanh là từ 0 -16%
Theo các kết quả khảo sát chất lượng môi trường đã được thực hiện tại một số nghĩa trang đô thị và điểm dân cư xung quanh (thực hiện tại khu vực các nghĩa trang
đô thị của thành phố Hà Nội, Huế, Việt Trì, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Sầm Sơn) về chất lượng nước mặt và nước ngầm cho thấy: so với Tiêu chuẩn 505 BYT/QĐ ngày 13/4/1992 của Bộ Y tế về vệ sinh đối với chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt thì độ
pH thường là axit, hàm lượng Coliform từ 20 - 3.667 lần, hàm lượng BOD5 và COD của nước mặt và nước ngầm vượt quá từ 2 đến hơn 15 lần, hàm lượng NO3
Việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km² Theo Sở LĐ,TB&XH Hà Nội, trên toàn địa bàn Thủ đô chỉ có 7 nghĩa trang do thành phố quản lý, trong đó có 2 nghĩa trang liệt sỹ là nghĩa trang Ngọc Hồi và nghĩa trang Sài Đồng Tất cả các nghĩa trang đều đang rất xập xệ và quá tải Phần đất dành để an táng cho người đã khuất của các nghĩa trang trên địa bàn Thủ đô đang cạn kiệt qua từng ngày Việc triển khai xây dựng thêm các nghĩa trang phục vụ nhu cầu mai táng cho người dân là chủ trương rất đúng đắn và cấp thiết Theo Uỷ ban nhân dân
Trang 32Thành phố Hà Nội, sẽ đóng cửa các nghĩa trang Vạn Phúc, Xuân Đỉnh, Mai Dịch 1, Yên Kỳ 1 từ năm 2013 Nghĩa trang Văn Điển chỉ duy trì hỏa táng, đồng thời đóng cửa các nghĩa trang phân tán trong khu vực nội đô, trồng cây xanh cách ly
Tại Đà Nẵng, vấn đềđất nghĩa trangcàng cấp bách hơn khi tất cả các nghĩa trang lớn của thành phố đều đã trở nên quá tải Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 3 nghĩa trang là Hòa Khương, Hòa Sơn và Hòa Ninh Nghĩa trang ở Hòa Khương hết chỗ Nghĩa trang Hòa Sơn còn 1 ha đất dự phòng Còn nghĩa trang Hòa Ninh đang phải
mở rộng do áp lực di dời giải tỏa mồ mả từ các vùng dự án quá lớn Theo Ban Quản
lýnghĩa trang thành phố Đà Nẵng, trung bình mỗi tháng có khoảng 60 trường hợp xin đất an táng Năm 2012, số mộ phải cải táng từ các vùng dự án khoảng 37.000 mộ và hiện có hơn 2.000 ngôi mộ nằm xen lẫn trong khu vực dân cư sẽ phải di dời để giải phóng mặt bằng Nhìn chung,đất nghĩa trang tại thành phố Đà Nẵngcũng đang dần cạn kiệt, quá tải Tình trạng trên đang là vấn đề lo ngại của toàn thành phố
Không chỉ Hà Nội, Đà Nẵng mà ở thành phố Hồ Chí Minhđất (TPHCM) nghĩa trangcũng đã và đang trở nên quá tải nghiêm trọng Theo số liệu của Chi cục Thống
kê TPHCM, mỗi năm tại TPHCM có khoảng 23 - 24 ngàn người chết Nhu cầu chôn cất tại các nghĩa trang đang tăng cao, và hầu hết các nghĩa trang hiện nay đều quá tải, hết đất Nghĩa trang Bình Hưng Hòa đang giải tỏa để xây dựng khu dân cư, đất nghĩa
đoạn 2).Đất nghĩa trang Gò Dưa(Thủ Đức) cũng đang ở mức báo động, chỉ còn lại chủ yếu là đất rẻo, đất nơi khuất Với nhu cầu địa táng tăng cao như hiện nay, chỉ trong một thời gian ngắn nữa thì nghĩa trang này cũng sẽ hết chỗ
1.2.2.2 Khái quát tình hình quản lý nghĩa trang tại Việt Nam
Do nghĩa trang là một hệ thống hạ tầng xã hội thiết yếu với sự đầu tư, xây dựng
và quản lý của chính quyền đô thị nên hiện công tác quy hoạch xây dựng nghĩa trang nhân dân đô thị cũng đã được đề cập trong nội dung nghiên cứu của các đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát thực tế tại 15 đô thị từ loại đặc biệt đến loại V (thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Nha Trang,…) cho thấy, trong nội dung quy hoạch chung, tại phần hiện trạng, phần lớn các đồ án chỉ dừng ở mức nêu tên, vị trí, diện tích nghĩa trang nhân dân hiện có, hoàn toàn không đề cập đến công nghệ táng cũng như hiện trạng công tác quản lý quy hoạch, xây dựng nghĩa trang
Về định hướng quy hoạch phát triển lâu dài, nội dung một số đồ án quy hoạch chung cũng chỉ đưa ra địa điểm, diện tích xây dựng nghĩa trang nhân dân theo một số quy định chưa đầy đủ của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 4449:1987 về quy hoạch xây
Trang 33dựng đô thị và Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam 1997 và đề xuất áp dụng thêm công nghệ táng (hỏa táng) mà không giải thích cơ sở lựa chọn cũng như không đề cập đến khoảng cách đến khu dân cư gần nhất và hệ thống hạ tầng kỹ thuật của nghĩa trang Thậm chí một số đồ án quy hoạch chung còn không đề cập bất cứ thông tin vào về vấn đề hiện trạng và quy hoạch nghĩa trang nhân dân đô thị, kể cả về vị trí lẫn quy mô diện tích
Năm 1992, UBND Thành phố Hà Nội khởi công xây dựng Đài Hoá thân Hoàn
vũ tại nghĩa trang Văn Điển với 2 lò điện táng và chính thức đi vào hoạt động năm
1996 Tuy nhiên, những năm đầu thực hiện điện táng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi từ tập tục hung táng (mai táng) sang điện táng, do vậy số lượng phục vụ chỉ chiếm 10 - 15% tổng số đám tang tại nghĩa trang Văn Điển Đến nay, ngoài việc nâng cao chất lượng phục vụ, việc nhận thức của người dân cũng thay đổi, cùng với việc hưởng ứng thực hiện nếp sống văn hoá - văn minh trong tang lễ của người dân Thủ đô cũng có nhiều chuyển biến tích cực đã nâng tỷ lệ lên từ 65 - 70% đám tang tại Văn Điển (500 ca điện táng/700 đám tang tại Văn Điển, với 16 ca/ngày) với mức chi phí hỏa táng là 2.850.000 đồng/ca
Nghĩa trang nhân dân Hội An tọa lạc trong khuôn viên rộng trên địa bàn xã Cẩm Hà, TP Hội An (tỉnh Quảng Nam) Nghĩa trang nằm cạnh tuyến đường liên tỉnh
Đà Nẵng - Hội An, rất thuận lợi cho người và phương tiện khi tham gia mai táng người quá cố Tuy nhiên, qua nhiều năm nghĩa trang đã quá tải, quỹ đất ngày càng hạn hẹp Nhà hỏa táng Hội An bị bỏ hoang phế, đã xuống cấp nghiêm trọng, hư hỏng, nằm chỏng chơ, nhiều trang thiết bị như ống dẫn nước, bê tông bị kẻ cắp đập phá, bẻ nát
để lấy vật liệu xây dựng
1.2.3 Tổng quan chung về hệ thống nghĩa trang nhân dân trên toàn tỉnh Hà Tĩnh
So sánh số liệu thống kê đất nghĩa trang nghĩa địa của các huyện, thị, thành phố tại các năm 2010, 2015, 2016
Theo số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có 599.066,74 ha diện tích đất tự nhiên thì có 4.711,24 ha đất nghĩa trang, nghĩa địa (NTD); chiếm 0,79% diện tích đất tự nhiên và chiếm 5,47% diện tích đất phi nông nghiệp toàn tỉnh Trong đó, các huyện có diện tích đất nghĩa trang nghĩa địa lớn như Thị xã Hồng Lĩnh, huyện Đức Thọ, huyện Nghi Xuân, huyện Can Lộc, huyện Thạch
Hà, huyện Lộc Hà ; các huyện có diện tích ít như huyện Vũ Quang, huyện Hương Khê, huyện Kỳ Anh
Trang 34Bảng 1.1 So sánh diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa qua các năm
TT Phân theo địa bàn
Tổng diện tích
tự nhiên
Diện tích đất nghĩa địa
Tổng diện tích
tự nhiên
Diện tích đất nghĩa địa
Tổng diện tích
tự nhiên
Diện tích đất nghĩa địa
Trang 35Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã có quy hoạch một số nghĩa trang tập trung như Nghĩa trang Phúc Lạc Viên – Đài hóa thân Hoàn Vũ ở huyện Thạch Hà, nghĩa trang Cồn Hát Chung ở huyện Thạch Hà, nghĩa trang khu Tái định cư Hói Trung, nghĩa trang khu Tái định cư Khe Ná – Khe Gỗ ở huyện Vũ Quang, Chỉnh trang nghĩa trang Đồng Chăm tại thành phố Hà Tĩnh, nghĩa trang liệt sỹ huyện Lộc Hà
Trong giai đoạn năm 2010 đến nay, đất NTD toàn tỉnh giảm 68,08 ha, tập trung
ở các huyện Hương Sơn giảm 91,54 ha, Can Lộc giảm 136,49 ha, thị xã Kỳ Anh giảm 115,34 ha Nguyên nhân đất NTD giảm là là do số liệu thống kê trước đây thiếu chính xác, nay số liệu theo đo đạc chính quy (có điều tra, đối soát) và diện tích đất nghĩa địa
ở các huyện có cồn cát ven biển, vùng cát nội đồng (gồm đất nghĩa địa, một phần đất cát chưa sử dụng và đất có cây lâm nghiệp trồng rãi rác)
Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Hà Tĩnh thì đến năm 2020, diện tích đất sử dụng cho nghĩa trang, nghĩa địa toàn tỉnh là 4.842,77 ha, tăng 131,53
ha Tùy theo thực trạng từng huyện, thành phố mà quy hoạch đất đai đến năm 2020 cần tăng hay giảm diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa khác nhau Một số huyện nhu cầu sử dụng đất nghĩa trang đòi hỏi cao Do đó, tính đến năm 2020 cần mở rộng thêm diện tích đất nghĩa trang
Hiện nay, ngoài hệ thống nghĩa trang liệt sĩ được thực hiện theo quy hoạch thì tỉnh đã triển khai đầu tư xây dựng các nghĩa trang nhân dân
1.2.4 Một số quy định về nghĩa trang mai táng tại các nước trên thế giới
Tùy theo thực trạng đất đai của mỗi nước khác nhau mà có quy định về các tiêu chuẩn nghĩa trang khác nhau Theo như số liệu phân tích một số chỉ tiêu của các nước:
Pháp, Thái Lan, Đài Loan, Canada cho thấy, ngoài quy định khoảng cách nhà tang lễ, nghĩa trang đến khu dân cư; hệ số sử dụng cây xanh là giống nhau, còn lại các chỉ tiêu được quy định khác nhau ở các nước (bảng 1.2)
Trang 36Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu nghĩa trang và mai táng ở các nước
1 Nhà tang lễ
2 Nghĩa trang 2.1 Nghĩa trang hung táng
2.2 Nghĩa trang cát táng
2.3 Nghĩa trang mai táng một lần
2.4 Nghĩa trang xanh (công viên, vườn tưởng niệm)
(Nguồn: Sở Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế,2006)
1.2.5 Các văn bản pháp quy tại Việt Nam
+ TCVN 4449, 1987: Quy hoạch xây dựng đô thị
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nghĩa trang
Vị trí Công trình Đơn vị Tiêu chuẩn cho
1.000 dân Diện tích
Nghĩa địa bố trí ở ngoại thành cách khu dân cư gần nhất > 1,5 km, diện tích 7 - 8
m2/mộ Diện tích an táng 60 - 70% diện tích nghĩa trang
(Nguồn: Sở Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế, 2006)
Trang 37+ Thông tư 01/2016/TT-BXD ngày 01 tháng 02 năm 2016 của Bộ Xây dựng về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng
Bảng 1.4 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng nghĩa trang
Quy định Hung táng, hôn cất một lần Cải táng Quy mô và tỷ lệ sử dụng đất nghĩa trang
Quy mô sử dụng đất nghĩa trang 5m
2
/mộ chông cất một lần 3m2/mộ
Tỷ lệ sử dụng đất trong nghĩa trang
Tối đa 60%
diện tích đất dùng để chôn cất
Tối thiểu 40%
diện tích đất cho công trình giao thông tối thiểu 10% và cây xanh 25%
Tối đa 50%
diện tích đất dùng để chôn cất
Tối thiểu 50%
diện tích đất cho công trình giao thông và các công trình phụ trợ
- Quy định khoảng cách an toàn với môi trường (ATVMT) của nghĩa trang nhỏ nhất từ nghĩa trang đến đường bao khu dân cư, trường học, bệnh viện, công sở
Vùng đồng bằng
Khoảng cách ATVMT tối thiểu của nghĩa trang hung táng là 1.500m khi chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng, và 500m khi có hệ thống thu gom và xử lý nước thải
Khoảng cách ATVMT tối thiểu của nghĩa trang hung táng là 2.000 m khi chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng, và 500 m khi có hệ thống thu gom và xử lý nước thải
Trang 38Quy định Hung táng, hôn cất một lần Cải táng Quy mô và tỷ lệ sử dụng đất nghĩa trang
- Đối với nghĩa trang chôn cất một lần, khoảng cách ATVMT tối thiểu 500 m
- Khoảng cách ATVMT tối thiểu từ nghĩa trang hung táng đến công trình khai thác nước sinh hoạt tập trung là 2.500 m
- Khoảng cách ATVMT tối thiểu từ nghĩa trang hung táng tới đường giao thông vành đai đô thị, đường sắt là 200 m và phải có cây xanh bao quanh nghĩa trang
- Khoảng cách ATVMT nhỏ nhất từ công trình hỏa táng xây dựng mới đến khu dân cư, công trình công cộng và dân dụng gần nhất là 500 m
- Trong vùng ATVMT của nghĩa trang được thực hiện các hoạt động canh tác nông, lâm nghiệp, được xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thủy lợi, tuyến và trạm điện, hệ thống thoát nước, truyền tải xăng dầu
Nhà tang lễ
- Một nhà tang lễ phục vụ tối đa 250.000 dân
- Khoảng cách ATVMT nhỏ nhất từ nhà tang lễ xây dựng mới:
Hạn mức đất phần mộ cá nhân
Hạn mức đất cho một phần mộ cá nhân thực hiện theo quy định cụ thể như sau:
- Đối với một phần mộ hung táng và chôn cất một lần: hạn mức đất tối đa không quá 5,0 m2
- Đối với một phần mộ cát táng và hỏa táng: hạn mức đất tối đa không quá 3,0 m2
Hạn mức đất xây dựng tượng đài, bia tưởng niệm
Hạn mức đất xây dựng một tượng đài hoặc một bia tưởng niệm như sau:
- Đối với nghĩa trang cấp IV: hạn mức đất tối đa không quá 50,0 m2
- Đối với nghĩa trang cấp II, III: hạn mức đất tối đa không quá 100,0 m2 [22]
Trang 391.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
- Dự án “Điều tra đánh giá hiện trạng, đề xuất các tiêu chí quy hoạch chọn địa điểm, giải pháp công nghệ và tổ chức quản lý các khu nghĩa trang trong QHXD
đô thị”
+ Không bố trí quy hoạch nghĩa trang trong nội thị
+ Đóng cửa (>3 năm) đối với các nghĩa trang hung táng trong nội thị, cải tạo thành công viên nghĩa trang
+ Nghĩa trang cát táng có thể đặt trong nội thị dưới dạng nghĩa trang công viên
+ Không bố trí nghĩa trang khu vực nguồn nước hoặc nơi có cửa sổ địa chất thủy văn
+ Loại đất phù hợp thuộc nhóm hạt cát có kích thước 0,6 – 2 mm, độ ẩm thích hợp nhất là 50 – 70 %
+ Khoảng cách tối thiểu đến khu dân cư gần nhất:
Chôn cất một lần: 500m
+ Khoảng cách tối thiểu đến công trình khai thác nước sinh hoạt: 2.500m
+ Khoảng cách tối thiểu đến đường giao thông chính: 300m
+ Khoảng cách tối thiểu mép nước đối với khu vực gần sông, hồ, biển:
Hung táng: 500m Cát táng: 100m + Nghĩa trang nội thị: 0,4 – 0,6 m2/1 dân đô thị
- Đề tài nghiên cứu khoa học RD08- 01(2001): “Hướng dẫn quy hoạch xây
dựng và quản lý nghĩa trang trong quy hoạch phát triển đô thị”
+ Xác định quy mô căn cứ và dự báo tăng trưởng dân số, tỷ lệ tử, công nghệ
mai táng, quỹ đất, địa hình, địa chất thủy văn
+ Công nghệ mai táng phụ thuộc điều kiện kinh tế và tập quán
+ Chỉ tiêu mai táng:
Hung táng: 8 m2/mộ Chôn cất một lần: 4 m2/mộ
Trang 40Hỏa táng: 0,06 m2/mộ + Tăng cường đầu tư công nghệ mai táng hiện đại
+ Tỷ lệ cây xanh đảm bảo như sau:
Mặc dù có nhiều tác giả nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, nhưng vấn đề quản lý và sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Thạch Hà nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho chính quyền huyện cũng như các ban ngành liên quan tổng hợp, cập nhật, nắm bắt thông tin liên quan đến lĩnh vực này và góp phần tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất này Do đó, đề tài “Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh” là một điểm mới trong hệ thống các nghiên cứu khoa học về lĩnh vược quản lý, sử dụng quỹ đất nghĩa trang, nghĩa địa