Trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC – ASEAN Economic Community), tự do di chuyển lao động ngành nghề là một trong những yếu tố cút lỗi của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN. Kể từ khi trở thành thành viên của ASEAN vào năm 1995, Việt Nam luôn tích cực và chủ động thực thi các cam kết về hợp tác kinh tế nói chung và tự do di chuyển lao động nói riêng trong khuôn khổ ASEAN. Để thực thi các cam kết về tự do phát triển lao động, Việt Nam luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nước thông qua hoạt động hóa các quy định liên quan. Cách tiếp cận về tự do di chuyển lao động của ASEAN trong Cộng đồng kinh tế ASEAN tương đối đặc thù, đó là di chuyển lao động có quản lý và tạo điều kiện hơn cho sự di chuyển của lao động. Hiện nay, trong bối cảnh Cộng đồng kinh tế ASEAN đã được hình thành, các quốc gia thành viên vẫn tiếp tục triển khai những biện pháp được ghi nhận trong các văn kiện của ASEAN để thúc đẩy hội nhập sâu hơn về lao động. Vì vậy, em xin chọn đề bài 03: “Bình luận các nội dung về tự do di chuyển lao động theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025” làm đề bài cho bài tập học kỳ lần này. Bài làm của em sẽ phân tích và bình luận về tự do di chuyển lao động; từ đó khuyến nghị việc “nâng cấp” hiệu quả pháp lý của các văn bản hiện hành quy định về tự do di chuyển lao động, cải thiện cơ chế thực thi và giám sát thực thi các cam kết liên quan cũng như ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề nhằm thúc đẩy hơn khi chuyển giao động nội khối trong giai đoạn tiếp theo của AEC.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN
ĐỀ BÀI: 03
“Bình luận các nội dung về tự do di chuyển lao động theo
Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể
xây dựng AEC 2025”
Hà Nội, 2021
1
HỌ VÀ TÊN
MSSV
NHÓM
LỚP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG 1
I – Một số vấn đề khái quát chung về tự do di chuyển lao động theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025 1
1 Giới thiệu về Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 1
2 Tiếp cận của ASEAN về tự do di chuyển lao động 1
II – Các nội dung về tự do di chuyển lao động theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025 2
1 Về đối tượng của tự do di chuyển lao động 2
2 Về phạm vi tự do di chuyển lao động 3
3 Về biện pháp thực hiện tự do di chuyển lao động 3
4 Một số đánh giá về tự do di chuyển lao động 4
4.1 Mặt tích cực 4
4.2 Mặt hạn chế 5
III – Thực tiễn và một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động tự do di chuyển lao động 6
1 Thực tiễn hoạt động tự do di chuyển lao động 6
1.1 Tình hình thực hiện hoạt động tự do dịch chuyển lao động trong ASEAN 6
1.2 Một số thách thức đặt ra đối với việc tự do di chuyển lao động 6
2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động tự do di chuyển lao động 6
2.1 Đối với ASEAN 7
2.2 Đối với Việt Nam 7
KẾT LUẬN 8
PHỤ LỤC 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
2
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC – ASEAN Economic Community),
tự do di chuyển lao động ngành nghề là một trong những yếu tố cút lỗi của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN Kể từ khi trở thành thành viên của ASEAN vào năm 1995, Việt Nam luôn tích cực và chủ động thực thi các cam kết về hợp tác kinh tế nói chung và tự do di chuyển lao động nói riêng trong khuôn khổ ASEAN Để thực thi các cam kết về tự do phát triển lao động, Việt Nam luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nước thông qua hoạt động hóa các quy định liên quan
Cách tiếp cận về tự do di chuyển lao động của ASEAN trong Cộng đồng kinh tế ASEAN tương đối đặc thù, đó là di chuyển lao động có quản lý và tạo điều kiện hơn cho sự di chuyển của lao động Hiện nay, trong bối cảnh Cộng đồng kinh
tế ASEAN đã được hình thành, các quốc gia thành viên vẫn tiếp tục triển khai những biện pháp được ghi nhận trong các văn kiện của ASEAN để thúc đẩy hội
nhập sâu hơn về lao động Vì vậy, em xin chọn đề bài 03: “Bình luận các nội dung
về tự do di chuyển lao động theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025” làm đề bài cho bài tập học kỳ lần này Bài
làm của em sẽ phân tích và bình luận về tự do di chuyển lao động; từ đó khuyến
nghị việc “nâng cấp” hiệu quả pháp lý của các văn bản hiện hành quy định về tự do
di chuyển lao động, cải thiện cơ chế thực thi và giám sát thực thi các cam kết liên quan cũng như ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề nhằm thúc đẩy hơn khi chuyển giao động nội khối trong giai đoạn tiếp theo của AEC
3
Trang 4NỘI DUNG
I – Một số vấn đề khái quát chung về tự do di chuyển lao động theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025
1 Giới thiệu về Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC
ASEAN là tổ chức quốc tế khu vực với tốc độ tăng trường kinh tế nhanh1 Năm
2015 các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký tuyên bố về việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) cho phép tự do di chuyển vốn, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề trong khu vực Để hỗ trợ việc dịch chuyển lao động giữa các thành viên, chính phủ các nước đã đồng ý ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) cho phép lao động được di chuyển tự do nội khối, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp thị thực và làm việc của các chuyên gia ASEAN cũng như lao động lành nghề
Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu được ghi nhận trong các văn kiện nền tảng về tự
do di chuyển lao động lành nghề, ASEAN đã lần lượt thông qua Bản Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 (AEC Blueprint 2025) năm 2007 và Bản Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025 (AEC Blueprint 2025) năm 2015 Tại Tiểu mục A5 của AEC Blueprint 2015 ghi nhận nội dung và chương trình hành động cụ thể về tự do di chuyển lao động lành nghề, tuy nhiên các chương trình hành động được đề cập đến tại Tiểu mục A5 không phải là chương trình, hành động chung ở cấp độ khu vực mà
là cấp độ quốc gia và liên quan đến hoạt động hài hòa hóa, tiêu chuẩn hóa nhằm tạo thuận lợi cho sự di chuyển của thể nhân như: trong cấp thị thực (visa), tăng cường hợp tác giữa các thành viên Mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN – ASEAN Universiti Network), phát triển năng lực và tiêu chuẩn cốt lõi đối với việc làm và kỹ năng của người đào tạo trong những lĩnh vực dịch vụ
2 Tiếp cận của ASEAN về tự do di chuyển lao động
Tự do di chuyển lao động ASEAN là kết quả tất yếu của quá trình hội nhập khu vực, đặc biệt là sự hình thành của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) nhằm xây
dựng ASEAN trở thành“một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất”, có tính cạnh
tranh cao, phát triển đồng đều các nền kinh tế và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Trong đó, tự do di chuyển lao động là một trong những yếu tố cốt lỗi Trong khuôn khổ ASEAN, tự do di chuyển lao động không có nghĩa là các quốc gia thành viên sẽ thực hiện nghĩa vụ xoá bỏ các rào cản về tiếp cận thị trường lao động mà ASEAN chỉ hướng tới mô hình di chuyển lao động có quản lý và tạo thuận lợi hơn cho lao động được di chuyển trong khối
Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về tự do di chuyển lao động trong ASEAN Tuy nhiên hiểu theo một cách đơn giản thì tự do di chuyển lao động
là hiện tượng người lao động di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia kia có kèm theo thay đổi về chỗ ở và thường trú Quá trình chuyển lao động diễn ra vì các lý như di cư do áp lực tôn giáo, chính trị, hoặc vì kinh tế (do động cơ thu nhập hay môi trường làm việc thúc đẩy) Tự do di chuyển lao động trong ASEAN còn xuất phát từ nhân tố nội tại, đó là sự chênh lệch về trình độ lao động giữa các quốc gia thành viên ASEAN Di chuyển lao động trong ASEAN là hệ quả của tốc độ tăng
1 Thu nhập bình quân trên đâu người của ASEAN tăng từ 2.373 USD vào năm 2007 lên tới 4.034 USD vào năm 2016,
https://www.aseanstats.org/wp-content/uploads/2018/02/AEC_Chartbook_2017.pdf , truy cập 05/09/2018.
4
Trang 5trưởng kinh tế nhanh và chênh lệch khoảng cách rất đáng kể trong nội của ASEAN2 Như vậy, sự tăng trưởng kinh tế không đồng đều và sự chênh lệch về trình độ lao động giữa các nước thành viên đã dẫn tới sự khan hiếm lao động có tay nghề thấp hoặc trung bình cả nước phát triển, trong khi đó, các nước kém phát triển và đang phát triển sức lao động có tay nghề thích hợp trung bình thiếu hụt lao động có tay nghề cao
II – Các nội dung về tự do di chuyển lao động theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025
1 Về đối tượng của tự do di chuyển lao động
AEC chính thức được hình thành vào ngày 31/12/2015 và AEC Blueprint 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa AEC Blueprint 20153 và tiếp tục phát triển những chương trình, biện pháp phù hợp với thực tiễn hội nhập của ASEAN Đối với hoạt động tự do di chuyển lao động lành nghề, AEC Blueprint 2025 dành Tiểu mục A5 quy định về việc tạo thuận lợi cho sự di chuyển của lao động kỹ năng và doanh nhân Điểm tiến bộ trong AEC Blueprint 2025 về tự do di chuyển lao động lành nghề, đó là văn kiện đã ghi nhận cụ thể về các khuôn khổ thể chế cấp khu vực như 8 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs)4, Hiệp định tự do di chuyển thể nhân (MNP) và Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF) Để tạo thuận lợi hơn cho quá trình dịch chuyển của lao động lành nghề, ASEAN khuyến khích các quốc gia thành viên cam kết sâu rộng hơn trong khuôn khổ MNP, cải thiện MRAs hiện hành
và có thể bổ sung MRAs mới
Tự do di chuyển lao động chỉ áp dụng đối với đối tượng doanh nhân (Business visitors), lao động lành nghề (Skilled labour) và nhân tài (Talents), gọi chung là lao động có kĩ năng Lao động có kĩ năng cao sở hữu kiến thức và kỹ năng thực hiện các nhiệm vụ phức tạp, thích nghi nhanh với sự thay đổi của công nghệ và ứng dụng sáng tạo thông qua quá trình đào tạo và công việc của họ5 Trong tuyên bố Bali II năm 2002, tại Mục 3 của Tuyên bố ghi nhận AEC sẽ thiết lập ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở thống nhất, trong đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự do di chuyển của khách du lịch, lao động có kĩ năng và nhân tài Hiến chương ASEAN và
Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC Blueprint 2015 và AEC Blueprint 2025 tiếp tục khẳng định đối tượng người lao động được tự do di chuyển trong khu vực bao gồm nhóm lao động có kĩ năng
Tiêu chí được đặt ra của ASEAN là chỉ lao động lành nghề được tự do di chuyển trong khu vực, điều này khác với Liên minh châu âu (EU) là tất cả mọi lao động đều được tự do di chuyển Sở dĩ ASEAN lập ra giới hạn này là vì nếu cho tất cả lao động di chuyển một cách tự do kể cả lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo thì những đối tượng này sẽ sang các nước phát triển hơn để tìm kiếm việc làm, sẽ
2 Mauro Testaverde, Hary Moroz, Claire H.Hollweg & Achim Schillen (2017), Di dân để tìm kiếm cơ hội vượt qua rào
cản dịch chuyển ở Đông Nam Á, Ngân hàng thế giới, tr.5
3 ASEAN Economic Community Blueprint 2015 tại: https://asean.org/wp-content/uploads/archive/5187-10.pdf
4 8 lĩnh vực bao gồm: tư vấn kỹ thuật, kiến trúc, kế toán, du lịch, điều dưỡng, hành nghề y, hành nghề nha khoa và khảo sát.
5 Insitute of Labour Science and Social Affairs & International Labour Organization, Skilled labour a determining factor for sustainable growth of the nation, 2014, https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangbok/ -ilo-hanoi/ documents/publication/wcms_428969.pdf , truy cập 5/4/2020.
5
Trang 6gây ra sự hỗn loạn về lao động do những lao động không có kỹ năng không đáp ứng được trình độ, tiêu chuẩn theo yêu cầu nên không thể tham gia vào thị trường lao động của những nước đó, từ đó dẫn đến hệ quả là bài toán nhập cư chưa giải quyết được
2 Về phạm vi tự do di chuyển lao động
ASEAN thực hiện tự do di chuyển tạm thời trong 8 lĩnh vực ngành nghề bao gồm kế toán, hành nghề y, nha khoa, kĩ thuật, điều dưỡng, kiến trúc, khảo sát và du lịch6 Tự do di chuyển lao động ASEAN chỉ áp dụng đối với những lao động di chuyển tạm thời trong khối, tuy nhiên, các văn bản hiện hành của ASEAN không quy định về khoảng thời gian di chuyển tạm thời Đối với ngành nghề được phép tự
do di chuyển trong ASEAN, 8 ngành nghề được lựa chọn là 8 ngành nghề mà các quốc gia thành viên ASEAN đã ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau Công nhận trình độ hoặc công nhận lẫn nhau là kết quả của việc quốc gia đồng ý với hệ thống quy định của quốc gia khác tương đương, tương thích hoặc ít nhất là có thể chấp nhận được với hệ thống quy định của quốc gia chủ nhà7 Công nhận lẫn nhau giúp cho người hành nghề thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường và hành nghề tại các quốc gia khác Bên cạnh đó, công nhận lẫn nhau giúp cho quốc gia nhập khẩu tận dụng được các kỹ năng mà lao động nước khác mang vào nước mình, tăng cường lợi thế so sánh của nước đó trong một số lĩnh vực hành nghề nhất định8 và tăng cường học hỏi thực tiễn, kinh nghiệm tốt nhất để từ đó nâng cao tiêu chuẩn nghề nghiệp, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực
3 Về biện pháp thực hiện tự do di chuyển lao động
Để phù hợp với cách tiếp cận di chuyển lao động có quản lý và tạo thuận lợi hơn cho lao động được di chuyển trong khối, các biện pháp thực hiện tự do di chuyển lao động trong ASEAN bao gồm: ký kết các thoả thuận công nhận lẫn nhau (Mutual Recognition Arrangments – MRAs), kí kết MNP và tham gia Khung tham chiếu trình độ ASEAN (ASEAN Qualification Reference Framework – AQRF) Nhìn chung, việc ký kết MRAs trong ASEAN nhằm hướng tới mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho lao động lành nghề được tự do di chuyển trong khối Tùy thuộc từng ngành nghề, ASEAN sẽ thiết kế MRAs sao cho phù hợp với ngành nghề đó Mục tiêu của việc ký kết thỏa thuận là nhằm tạo thuận lợi cho tính linh động của các ngành nghề du lịch, nhằm dễ dàng trao đổi thông tin dựa trên năng lực giáo dục và đào tạo dành cho các nghề du lịch và cung cấp các cơ hội hợp tác, xây dựng năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực trong các nước thành viên ASEAN9
Về MNP, việc ký kết hướng tới thiết lập cơ chế tự do hóa và thuận lợi hóa hơn đối với dòng di chuyển tự do của lao động có kỹ năng thông qua hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan của ASEAN trong các lĩnh vực thương mại hàng hoá,
6 Mục A5.19 Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint).
7 Shintaro Hamanaka and Sufian Jusoh, The emerging ASEAN Approach to Mutual Recognition: A Comparision with
Europe, Trans-Tasman, and North America, IDE Discussion Papers, 2016, p.4
8 The ASEAN Services, ASEAN Handbook on Liberalisation of Profesional Services through mutual recognition in
ASEAN: Engineering Services, Jakarta, Indonesia, p.20
9 Điều 1 MRA-TP
6
Trang 7dịch vụ, di cư và lao động10 Trên cơ sở nội dung của hiệp định các quốc gia thành viên sẽ đưa ra biểu cam kết cụ thể đối với việc nhập cảnh tạm thời và lưu trú tạm
thời của thể nhân Theo đó, các quốc gia sẽ cam kết theo nguyên tắc “chọn-cho”
đối với các rào cản tiếp cận thị trường và rào cản đối xử quốc gia trong biểu cam kết Trong quá trình cam kết, các quốc gia có thể lựa chọn cam kết toàn bộ, cam kết kèm theo những hạn chế (đặt ra một số điều kiện đối với mở cửa tiếp cận thị trường
và đối xử quốc gia) và không cam kết (áp dụng với bất kỳ điều kiện nào đối với mở cửa tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia)
Theo Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015, MRA là công cụ chính sách quan trọng để dịch chuyển lao động có kỹ năng, tạo thuận lợi cho thương mại giữa các bên11 Cùng với đó, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025 đã có những quy định chi tiết hơn và mở rộng các biện pháp chiến lược về cam kết MNP Để hỗ trợ MRA, các quốc gia thành viên ASEAN đã xây dựng AQRF nhằm khuyến khích việc phát triển các khung trình độ phù hợp để có thể hỗ trợ việc học tập suốt đời, khuyến khích phát triển các cách tiếp cận ở cấp độ quốc gia, hỗ trợ quá trình dịch chuyển lao động Về nguyên tắc, AQRF dựa trên cách hiểu đã được nhất trí giữa các quốc gia thành viên và mời các quốc gia tham gia trên cơ sở tự nguyện AQRF được thiết
kế nhằm tạo nên những tác động tích cực và cân bằng lên khung trình độ quốc gia, không yêu cầu các quốc gia phải thay đổi hệ thống trình độ quốc gia
4 Một số đánh giá về tự do di chuyển lao động
4.1 Mặt tích cực
Thứ nhất, mục tiêu của Kế hoạch tổng thể xây dựng ASEAN 2015 và 2025
về vấn đề tự do di chuyển lao động nhằm tạo ra sự hài hòa về các tiêu chuẩn và kỹ năng lao động, đồng thời hướng đến tạo dựng một thị trường lao động thống nhất và
có chất lượng cao Các quốc gia thành viên là chủ thể có quyền quyết định đối với việc mở cửa thị trường lao động của nước mình, trong khi đó, ASEAN chỉ đóng vai trò hỗ trợ thiết lập cơ chế khu vực nhằm tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động nội khối Hiện nay, MRAs là công cụ chủ yếu được các nước thành viên sử dụng để thúc đẩy sự di chuyển của lao động12 Mặc dù MRAs được thiết kế theo cách thức khác nhau nhưng điểm chung của 8 MRAs là căn cứ trên cơ sở nội luật, quốc gia quyết định việc cấp phép hành nghề đối với người lao động có kĩ năng
Bên cạnh MRAs, MNP được ký kết nhằm tạo cơ sở pháp lý nền tảng đối với
sự di chuyển tạm thời của thể nhân liên quan tới các hoạt động thương mại hàng
hóa, dịch vụ và đầu tư MNP quy định về các vấn đề mang tính chất “khung” để có
biện pháp ảnh hưởng tới nhập cảnh và cư trú tạm thời đối với lao động lành nghề thuộc 4 nhóm Theo đó, các quốc gia sẽ đưa ra cam kết cụ thể dựa trên quy định của pháp luật quốc gia về thủ tục, tiêu chí nhập cảnh và cư trú tạm thời
Thứ hai, tự do di chuyển lao động lành nghề góp phần nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong khối Trong thị trường lao động ASEAN, lao động không có
10 The ASEAN Secretariat, ASEAN Integration in Services, Jakarta, 2015, p.32
11 aec_2015_progress_and_key_achievements_04.11.2015.pdf
12 Chia,S.Y.(2011), Free flow of skilled labor in the AEC, in Urata, S and M.Okabe (eds.), Toward a Competitive ASEAN Single Market: Sectoral Analysis.ERIA Research Project Report 2010-03,pp.205-279.Jakarta:ERIA.
7
Trang 8kỹ năng, kĩ năng trung bình chiếm đa số cho nên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành yêu cầu cấp thiết trong tiến trình hội nhập khu vực Để thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy sự dịch chuyển của lao động trong khối, các quốc gia thành viên cần phải chủ động trong việc thay đổi các chính sách, pháp luật trong nước về lao động sao cho phù hợp như cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo để hài hòa hóa với các tiêu chuẩn khu vực
Thứ ba, nhờ các thỏa thuận công nhận, lao động trong ASEAN nói chung và
lao động Việt Nam nói riêng sẽ có cơ hội học tập, nghiên cứu và làm việc trong các môi trường chuyên nghiệp, phát triển của các nước trong ASEAN Hoạt động hợp tác tự do di chuyển lao động giữa các thành viên còn góp phần tăng cường đầu tư và
mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ của mỗi nước thành viên, từ đó dẫn tới nhất thể hóa thị trường của nền kinh tế các nước thành viên, nâng cao khả năng cạnh tranh và tốc độ liên kết kinh tế ASEAN Bên cạnh đó, được làm việc với một thị trường lao động lớn, cạnh tranh cao cũng như đa dạng chuyên môn, các nhà đầu tư Việt Nam có thể thấy được tầm nhìn bao quát để đánh giá được chỗ đứng của mình
và đưa ra các chính sách phát triển nguồn lao động phù hợp với khu vực cũng như với thế giới
Thứ tư, khi lao động có tay nghề được tự do di chuyển trong ASEAN mà
không có rào cản hay sự phân biệt đối xử nào giữa các thành viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở ra cơ hội tuyển dụng nhân lực có trình độ cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập
Thứ năm, tự do di chuyển lao động góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc
làm trong nước Lao động của các nước thành viên sẽ có cơ hội sang làm việc tại các thị trường trong khu vực
4.2 Mặt hạn chế
Thứ nhất, AEC Blueprint là văn kiện quy định cụ thể về chiến lược và các
biện pháp thực hiện tự do di chuyển lao động trong ASEAN và việc thực hiện các biện pháp trên được nhìn nhận như là nghĩa vụ của quốc gia thành viên nhưng không mang tính rằng buộc mà phụ thuộc vào khả năng thực hiện của thành viên13
Đa số văn kiện quy định về tự do di chuyển lao động là “luật mềm” 14 , số còn lại là
các thỏa thuận mang tính ràng buộc pháp lý nhưng trong đó lại không quy định cụ thể về việc thực thi của các quốc gia và cơ chế giám sát thực thi của ASEAN
Thứ hai, lợi ích và cơ hội người lao động được hưởng từ các chính sách,
pháp luật về tự do di chuyển lao động trong ASEAN chưa đáng kể, họ cho rằng MRAs giống như một trong những chỉ số để đánh giá chất lượng (mang lại danh tiếng…) hơn là biện pháp tạo thuận lợi cho sự dịch chuyển của chuyên gia15
13 Amador, J.S., , ASEAN social-cutural community: An assessment of its institutional propects,
https://papers.ssrn.com/sol13/papers.cfm?abstract_id=1803830 , truy cập 15/4/2020
14 Trong tổng số văn kiện pháp lý (legal instruments) về lĩnh vực hợp tác kinh tế giữa các quốc gia thành viên viên ASEAN, có 9 văn kiện quy định chuyên biệt về tự do di chuyển lao động, ASEAN Legal instruments, http://agreement.asean.org/home/index/12html
15 Fukunaga Y., Assessing the Progress of ASEAN MRAs on Professional Services, ERIA’s AEC Scorecard Phase IV
Project, 2015, p.9
8
Trang 9Thứ ba, 8 ngành nghề được tự do dịch chuyển lao động có thể thấy không
phải là thế mạnh của toàn bộ các nước ASEAN Ví dụ: ngành du lịch của Thái Lan rất phát triển thu hút hơn 20 triệu khách du lịch nhưng các quốc gia khác thì du lịch không thực sự phát triển ASEAN có nhiều ngành khác quan trọng đến kinh tế cần
sự tự do dịch chuyển như may mặc, thương mại, giải trí… Do vậy, lượng lao động được tự do dịch chuyển chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng lực lượng lao động ASEAN Bên cạnh đó trình độ lao động giữa các nước trong khu vực còn hạn chế và có sự chênh lệch lớn Nguồn lao động trong khu vực tuy nhiều nhưng có trình độ khác nhau nê sẽ khó cạnh tranh trong lao động
III – Thực tiễn và một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động tự do di chuyển lao động
1 Thực tiễn hoạt động tự do di chuyển lao động
1.1 Tình hình thực hiện hoạt động tự do dịch chuyển lao động trong ASEAN
Khi AEC được thành lập sẽ có nhiều cơ hội để người lao động dịch chuyển sang các nước trong khu vực để tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập và tích lũy những kinh nghiệm mới cho bản thân Theo số liệu 2013, tổng số lao động di chuyển trong nội bộ các nước ASEAN là 6,5 triệu người, trong đó, tỷ lệ lao động từ các nước ASEAN chỉ chiếm 34,6% ASEAN có 3 quốc gia là điểm đến chính của lao động nhập cư đó là Malaysia, Singapore và Thái Lan (chiếm 90%) Tại Singapore, 45% lâo động nhập cư là từ Malaysia Tại Thái Lan, 50.8% lao động nhập cư là từ Myanmar Từ Thái Lan và Việt Nam, khoảng 160-200 nghìn lao động
di cư mỗi năm đến những nước Đông Á phát triển hơn, trong đó có Nhật Bản và Hàn Quốc
Tính đến nay, Việt Nam đã thực hiện tương đối tốt nghĩa vụ nội luật hóa các cam kết về tự do di chuyển lao động lành nghề thông qua việc sửa đổi ban hành luật mới Các quy định của pháp luật Việt Nam về mở cửa thị trường lao động đối với lao động từ các nước thành viên ASEAN tương thích với các quy định trong các văn kiện liên quan của ASEAN và cam kết của Việt Nam trong các gói cam kết tại các vòng đàm phán về thương mại dịch vụ ASEAN
1.2 Một số thách thức đặt ra đối với việc tự do di chuyển lao động
Thứ nhất, dẫn tới tình trạng mất cân bằng về lực lượng lao động giữa các
quốc gia trong khu vực Người lao động sẽ có xu hướng di chuyển đến quốc gia đem lại cho họ mức lương cao, các chính sách lao động phù hợp Vì vậy sẽ ảnh hưởng tới chính sách an ninh xã hội của các nước trong việc kiểm soát người lao động
Thứ hai, việc tự do dịch chuyển lao động sẽ tạo nên cuộc cạnh tranh khốc liệt
đối với lao động trong nước Nếu nguồn lao động trong nước còn nhiều yếu kém mà không khắc phục được những nhược điểm đang tồn tại, thì sẽ trở nên yếu thế hơn
trong cuộc cạnh tranh khốc liệt ngay trên “sân nhà”.
9
Trang 10Thứ ba, việc tự do dịch chuyển nguồn lao động cũng tạo nên sự chênh lệch,
gia tăng khoảng cách phát triển kinh tế ngày một lớn giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển trong khu vực
Thứ tư, đối với những người quản lý, nếu không có những chiến lược nhân
sự và chế độ đãi ngộ hợp lý thì sẽ khó giữ chân được người có nhân lực cao dẫn đến
tình trạng “chảy máu chất xám”
2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động tự do di chuyển lao động
2.1 Đối với ASEAN
Tiếp tục phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động giữa các nước thành viên ASEAN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu về nhu cầu lao động ở các nước thành viên, tiến tới thiết lập trung tâm thông tin khu vực ASEAN, trong đó các vấn đề về lao động như thị trường, nhân lực, việc làm, các chính sách, chương trình đào tạo nâng cao tay nghề,… là nội dung quan trọng
Tạo sự đột phá về chất lượng đào tạo nghề nghiệp, chú trọng đầu tư nâng cao đội ngũ lao động chuyên môn có tay nghề lao động ở 8 ngành nghề được tự do dịch chuyển lao động, thực hiện tái cấu trúc lại một số ngành theo hướng hiện đại bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất lao động
Cho phép nhập cảnh và tạo điều kiện thuận lợi trong cập nhật visa, hộ chiếu, ,
di chuyển của các chuyên gia và lao động có tay nghề cao tham gia vào thương mại, hàng hoá, dịch vụ và đầu tư Đồng thời, tăng cường thể chế của ASEAN và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên
2.2 Đối với Việt Nam
Việt Nam cần nới lòng hơn các điều kiện về tiếp cận thị trường đối với lao động lành nghề trong khối thông qua những quy định thông thoáng hơn nhằm tạo điều kiện cho lao động nước ngoài được phép tiếp cận thị trường lao động Việt Nam trong thời gian tới Cần đẩy nhanh hoàn thiện các quy định, tiêu chuẩn cần thiết trong những ngành nghề ASEAN đã ký MRAs thông qua việc tăng cường xây dựng các bộ tiêu chuẩn phù hợp, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư cơ sở vật chất để có thể cạnh tranh được với nguồn nhân lực chất lượng cao trong khối
a, Đối với cá nhân
- Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, khả năng ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh
- Trang bị cho bản thân tác phong làm việc chuyên nghiệp, đạo đức, tinh thần
kỷ luật cao và trách nhiệm trong công việc
- Tìm hiểu trước về pháp luật và phong tục tập quán của quốc gia mà mình định đến làm việc để chủ động hoà nhập cộng đồng hơn
b, Đối với doanh nghiệp và nhà nước
Đối với doanh nghiệp trẻ, yêu cầu đặt ra là phải tập trung chuẩn bị về kiến thức và kỹ năng, thông tin về AEC và định vị vị trí của Việt Nam trong đó, luôn đổi mới và sáng tạo và nhận thức được thị trường AEC là thị trường lao động mở
10