Mục tiêu nghiên cứu đề tài là phân tích, đánh giá, so sánh hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong chương trình nông thôn mới ở một số xã trong thành phố Hà Tĩnh để từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ và chất lượng của một số tiêu chí trong nông thôn mới.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thiện luận văn này đều đã được cảm ơn, các thông tin tham khảo, trích dẫn đều đã được chỉ rõ tác giả và nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ Thầy, Cô giáo trong Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Huế,
Khoa Tài nguyên đất và Môi trường – Nông nghiệp, Phòng Đào tạo Sau Đại học
Tôi xin gửi lời cám ơn trân trọng và lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô giáo
Đặc biệt tôi xin gửi lời cám ơn, lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Minh Hiếu, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cám ơn đến UBND thành phố Hà Tĩnh, UBND các xã Thạch
Hạ, Thạch Trung, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, các tổ
chức, cá nhân, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 2
2.1 Mục đích đề tài 2
2.2 Yêu cầu của đề tài 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 3
1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.3 Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai 6
1.1.4 Quan điểm xây dựng quy hoạch sử dụng đất 10
1.1.6 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất 13
1.2 KHÁI NIỆM VỀ NÔNG THÔN MỚI 14
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay 14
1.2.2 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 15
1.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới 18
1.2.4 Căn cứ tính pháp lý xây dựng nông thôn mới 22
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở NƯỚC TA 23
1.3.1 Cộng hòa Liên Bang Đức 23
Trang 41.3.2 Nhật Bản 24
1.3.3 Malaysia 25
1.3.4 Việt Nam 25
1.4 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 26
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 28
2.2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.3 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu 29
2.3.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 33
3.2 ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI XÃ THẠCH TRUNG 36
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Thạch Trung 36
3.2.2 Quy hoạch 39
3.2.3 Giao thông 42
3.2.4 Thủy lợi 44
3.2.5 Trường học 45
3.2.6 Cơ sở vật chất văn hóa 46
3.2.7 Chợ 47
3.2.8 Bưu điện 48
3.2.9 Cơ sở hạ tầng y tế 48
3.2.10 Môi trường 49
Trang 53.2.11 Các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới xã Thạch Trung 51
3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI XÃ THẠCH HẠ 52
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Thạch Hạ 52
3.3.2 Quy hoạch 56
3.3.3 Giao thông 58
3.3.4 Thủy lợi 59
3.3.5 Trường học 60
3.3.6 Cơ sở vật chất văn hóa 61
3.3.7 Chợ 63
3.3.8 Bưu điện 64
3.3.9 Cơ sở hạ tầng y tế 64
3.3.10 Môi trường 64
3.3.11 Các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới xã Thạch Hạ 66
3.4 SO SÁNH CÁC TIÊU CHÍ CỦA 2 XÃ THẠCH TRUNG VÀ THẠCH HẠ 67
3.4.1 So sánh các tiêu chí của 2 xã Thạch Trung và Thạch Hạ 67
3.4.2 So sánh ý kiến của người dân đối với các tiêu chí của 2 xã Thạch Trung và Thạch Hạ 68
3.5 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 69
3.5.1 Đối với thành phố Hà Tĩnh 69
3.5.2 Đối với xã Thạch Trung 70
3.5.3 Đối với xã Thạch Hạ 71
3.5.4 Nguyên nhân của những hạn chế 71
3.6 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY HIỆU QUẢ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TRONG THỜI GIAN TỚI 73
3.6.1 Giải pháp về công tác tuyên truyền 73
3.6.2 Giải pháp về nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 74
3.6.3 Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ 75
Trang 63.6.4 Tăng cường hiệu lực lãnh đạo, quản lý của các tổ chức Đảng, các cấp chính
quyền, và các tổ chức đoàn thể nhân dân 75
3.6.5 Tăng cường liên kết với các xã trong huyện và các địa phương trong vùng 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
Kết luận 77
Kiến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Tiếng Việt 80
Tiếng Anh 82
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm khí hậu của thành phố Hà Tĩnh 32
Bảng 3.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 đến 2014 34
Bảng 3.3 Cơ cấu kinh tế xã Thạch Trung 38
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất trước và sau khi quy hoạch xã Thạch Trung 41
Bảng 3.5 Đường giao thông xã Thạch Trung 43
Bảng 3.6 Công trình thủy lợi xã Thạch Trung 44
Bảng 3.7 Hệ thống trường học trên địa bàn xã Thạch Trung 45
Bảng 3.8 Tổng hợp các nhà văn hóa thôn của xã Thạch Trung 46
Bảng 3.9 Sân thể thao theo quy hoạch của xã Thạch Trung 47
Bảng 3.10 Quy hoạch chợ của xã Thạch Trung 48
Bảng 3.11 Nghĩa trang xã Thạch Trung 49
Bảng 3.12 Các nguồn vốn đầu tư và giải ngân xây dựng kết cấu hạ tầng xã Thạch Trung 51
Bảng 3.13 Hiện trạng sử dụng đất xã Thạch Hạ 52
Bảng 3.14 Hoạt động sản xuất trồng trọt của xã Thạch Hạ 53
Bảng 3.15 Hoạt động sản xuất chăn nuôi của xã Thạch Hạ 54
Bảng 3.16 Hiện trạng sử dụng đất trước quy hoạch và quy hoạch xã Thạch Hạ 57
Bảng 3.17 Đường giao thông được cứng hóa trước và sau khi thực hiện quy hoạch xã Thạch Hạ 59
Bảng 3.18 Hệ thống trạm bơm nước thủy lợi của xã Thạch Hạ 59
Bảng 3.19 Hệ thống hồ chứa nước xã Thạch Hạ 60
Bảng 3.20 Hệ thống trường học trên địa bàn xã Thạch Hạ 60
Bảng 3.21 Hệ thống khu trung tâm xã Thạch Hạ 61
Bảng 3.22 Nhà hội quán thôn của xã Thạch Hạ sau khi thực hiện quy hoạch 62
Bảng 3.23 Các sân thể thao cấp thôn của xã Thạch Hạ 63
Bảng 3.24 Các nguồn vốn đầu tư và giải ngân xây dựng kết cấu hạ tầng xã Thạch Hạ 66
Bảng 3.25 So sánh các tiêu chí đã đánh giá của 2 xã 67
Bảng 3.26 Kết quả phỏng vấn người dân về nông thôn mới 68
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Vị trí địa lý thành phố Hà Tĩnh 31
Hình 3.2 Tốc đô tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 đến 2014 34
Hình 3.3 Cơ cấu các loại đất của xã Thạch Trung 37
Hình 3.4 Sơ đồ quy hoạch nông thôn mới xã Thạch Trung 40
Hình 3.5 Hiện trạng sử dụng đất trước và sau quy hoạch xã Thạch Trung 42
Hình 3.6 Hiện trạng sử dụng đất xã Thạch Hạ 53
Hình 3.7 Hoạt động sản xuất trồng trọt của xã Thạch Hạ 54
Hình 3.8 Sơ đồ quy hoạch nông thôn mới xã Thạch Hạ 56
Hình 3.9 Hiện trạng sử dụng đất trước và sau khi quy hoạch xã Thạch Hạ 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh,
có lợi thế về vị trí và tiềm năng phát triển công nghiệp, thủy sản, thương mại, dịch vụ
Với mục tiêu xây dựng thành phố Hà Tĩnh trở thành đô thị loại II trong thời gian tới,
nhu cầu đầu tư về hạ tầng thiết yếu và cơ sở vật chất ngày càng tăng thì cần có quy
hoạch sử dụng đất hợp lý Đơn vị hành chính của thành phố Hà Tĩnh gồm có 10
phường và 6 xã lân cận, để phát triển đồng đều giữa các phường và xã trong thành
phố, đồng thời hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới của cả nước thành phố
Hà Tĩnh đã tiến hành lập kế hoạch và quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho 6 xã
thuộc địa bàn thành phố Chương trình nông thôn mới ở thành phố Hà Tĩnh đã bắt đầu
từ đầu năm 2010 và phát triển mạnh trong vài năm gần đây Chương trình xây dựng
nông thôn mới đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của người dân sống trong
vùng đó Nó rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ở trong vùng, cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần của người dân sống trong xã, nâng cao dân trí, đào tạo
nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận thức chính trị đúng đắn, đóng vai trò làm
chủ nông thôn mới
Tuy nhiên để một xã hoàn thành các tiêu chí về đích nông thôn mới thì cần phải phát triển toàn diện về các hạng mục công trình xây dựng, cơ sở vật chất văn hóa, an
sinh xã hội
Vấn đề đặt ra là cần phải có một kế hoạch xây dựng nông thôn mới và đồ án quy hoạch nông thôn mới vừa đạt tiêu chuẩn Quốc gia vừa phù hợp với điều kiện và vị
thế của địa phương để đảm bảo việc xây dựng nông thôn mới tại địa bàn được hợp lý,
đảm bảo cho sự phát triển và làm thay đổi bộ mặt nông thôn ven thành phố Trong đó,
quy hoạch sử dụng đất được coi là tiền đề để xây dựng các quy hoạch khác Dựa trên
quy hoạch sử dụng đất để phát triển một số chỉ tiêu khác trong việc xây dựng nông
thôn mới
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với mong muốn làm rõ những mặt tích cực cũng như hạn chế của quá trình xây dựng nông thôn mới so
với quy hoạch sử dụng đất Sau 4 năm triển khai xây dựng chương trình nông thôn mới
tại địa bàn các xã thì cần có đánh giá về chương trình để nhằm điều chỉnh quy hoạch
sử dụng đất cho hợp lý đồng thời đảm bảo phát triển bền vững và xứng tầm nông thôn
ven đô thị, chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả thực hiện
quy hoạch sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới tại thành phố Hà Tĩnh”
Trang 112.2 Yêu cầu của đề tài
- Các thông tin, số liệu, tài liệu trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và đảm bảo đúng thực tiễn của địa bàn nghiên cứu
- Việc phân tích, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học, có định tính, định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp
- Những đề xuất kiến nghị giải pháp thực hiện quy hoạch nông thôn mới trên cơ
sở tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật, đặc biệt là luật Đất đai 2013, Luật bảo
vệ Môi trường và một số luật liên quan, đồng thời phải phù hợp với điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội của địa phương
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và thực hiện xây dựng nông thôn mới, phân tích các chính sách của Nhà nước và địa phương đối với việc xây
dựng nông thôn mới
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới đối với một số xã trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, rút ra
những ưu điểm, nhược điểm, những tồn tại và hạn chế từ đó đề xuất những giải pháp
để thực hiện các tiêu chí liên quan đến quy hoạch sử dụng đất một cách phù hợp
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất
Theo FAO: "Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra
phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và
đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách
tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải
làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi
nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất" [35]
Về mặt bản chất: Đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư
liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, quy hoạch sử
dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế,
kỹ thuật và pháp chế Trong đó:
Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai
Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật
Hay cách khác: "Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế,
kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và
có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử
dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi
trường" [18]
Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê
đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đặc biệt là chuyển diện tích trồng lúa có hiệu
quả cao sang các mục đích phi nông nghiệp, sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng cây
lâu năm, chuyển đất trồng cây lâu năm sang đất trồng cây hàng năm Như vậy, mục
đích của quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ, thúc
đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao
Trang 13Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữ vai trò quan trọng, là cơ sở để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Nó được xây dựng dựa trên
định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị, yêu cầu bảo vệ môi
trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; Hiện trạng quỹ đất và nhu
cầu sử dụng; Định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học kỹ thuật; kết quả thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước Những năm gần đây, quy hoạch sử dụng đất đã
góp phần không nhỏ tạo ra kết quả đáng khích lệ, giúp cho việc khai thác, sử dụng
đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tiềm năng, nguồn lực về đất, mở
rộng diện tích đất canh tác, nâng cao chất lượng đất, đảm bảo an toàn lương thực
Qua những lý luận trên cho thấy, quy hoạch sử dụng đất là bước không thể thiếu được trong quá trình sử dụng đất hợp lý và có vai trò quan trọng trong quản lý
Nhà nước về đất đai
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan
trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của
quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
- Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản
xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối quan hệ giữa người với
sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan hệ sản xuất (quan hệ giữa
người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nẩy sinh
quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh định,
thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu
và quyền sử dụng đất giữa những người chủ đất - giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản
xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận
của phương thức sản xuất của xã hội Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp,
quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và
nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai:
phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô ) Ở nước ta, quy hoạch sử
dụng đất phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; Góp
phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và
nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử
dụng đất góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và
môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích
trên với nhau
Trang 14- Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài
nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; quy hoạch sử dụng đất
đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều
phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế -
xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và
ổn định
Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố
kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ), từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về
sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược,
tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài
(cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu
dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để
phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất thường từ trên 10
năm đến 20 năm hoặc lâu hơn
Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ
cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và
nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch
mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính
phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như:
+ Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;
+ Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
+ Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;
+ Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng;
+ Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất;
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ
Trang 15- Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị
và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy
định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thể hiện cụ thể trên mặt
bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch
kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và
môi trường sinh thái
- Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp
biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển
kinh tế trong một giai đoạn nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày
càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử
dụng đất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều
chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch
Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn
ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất
lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
1.1.3 Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai
Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên đất tuân theo quy luật phát triển kinh tế khách quan Quyền sở hữu Nhà nước về đất
đai là cơ sở để bố trí các ngành, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đưa nền
kinh tế thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thúc đẩy và mở rộng sản xuất Nhà nước thực
hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sử
dụng cho các ngành, đơn vị, cá nhân sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan hệ đất đai
thông qua quy hoạch Như vậy, quy hoạch sử dụng đất thực hiện đồng thời 2 chức
năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc
biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
Một là, tuân theo sự quản lý Nhà nước về đất đai
Đây là nguyên tắc quan trọng của quy hoạch sử dụng đất vì theo Điều 1 của Luật đất đai năm 2013: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống
nhất quản lý về đất đai” [21] Quyền quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước được
thực hiện theo luật pháp và được thể hiện ở nhiều mặt như đại diện chủ quyền quốc gia
về lãnh thổ; Quyền giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân; Quyền cho các tổ chức nước ngoài thuê đất; Quyền xác định khung giá đất;
Quyền giám sát, xử lý vi phạm Luật đất đai Để thực hiện quyền quản lý tập trung,
thống nhất của mình, Nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cơ bản về
quy hoạch sử dụng đất, công cụ tài chính, pháp luật và các chính sách kinh tế khác
Trang 16Quy hoạch sử dụng đất nước ta là hệ thống các biện pháp của Nhà nước nhằm quản lý, sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý và hiệu quả Nó có mối quan hệ chặt chẽ với
chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
Trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa to lớn,
giúp cho quản lý đất đai chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả và các chỉ tiêu, chủ trương cả
Nhà nước được thực hiện tốt Ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề đất đai đã được
thể hiện trong hệ thống văn bản pháp luật như hiến pháp, pháp luật và các văn bản
dưới luật Những văn bản này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai Do đó, quy hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng trong
việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất
Mỗi chủ sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất mà Nhà nước cho phép, không có
quyền sở hữu đất Các mối quan hệ liên quan đến sử dụng đất đều phải tuân theo sự
quản lý của Nhà nước
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tồn tại cơ bản, gắn liền với hoạt động của con người, của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước,
có vai trò quan trọng đối với con người và khác mọi tư liệu sản xuất khác là không
bị phá huỷ theo thời gian, hơn nữa nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng
đất ngày càng tốt lên Mặt khác, chúng ta đều biết, đất đai có hạn về diện tích, trong
khi đó, dân số không ngừng tăng nhanh, gây áp lực lớn đối với đất đai Điều này
đòi hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả Sử dụng đất tiết kiệm tức là
phải bố trí hài hoà giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hạn chế tối đa việc sử
dụng đất canh tác có hiệu quả sang các mục đích phi nông nghiệp, đảm bảo an toàn
lương thực quốc gia, thoả mãn nhu cầu nông sản phẩm cho toàn xã hội và nguyên
liệu cho công nghiệp, đồng thời cân đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích
Điều này khẳng định tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, ngoài ra rất cần có
quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết có giá trị thực tiễn cao đến cấp xã, cần gắn
liền quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành công nghiệp và dịch vụ như du
lịch, chế biến nông sản, phát triển ngành nghề thủ công mà thị trường đòi hỏi, đồng
thời có những biện pháp bảo vệ đất, đảm bảo cho sử dụng đất bền vững Chống suy
thoái và ô nhiễm đất là một trong những biện pháp bảo vệ đất
Việt Nam, với đặc điểm là đất đồi núi chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc, lại nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng
hoá diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất dinh
dưỡng dẫn đến thoái hoá Quan trọng hơn nữa là do hậu quả của việc chặt phá, đốt
rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ nên đất bị thoái hoá ngày
càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hoá ngày
Trang 17Quá trình ô nhiễm đất ở Việt Nam do nguyên nhân là sử dụng không hợp lý phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật và kích thích sinh trưởng, các chất thải không qua
xử lý ở các vùng đông dân cư, đô thị và khu công nghiệp, các chất độc do chiến tranh
để lại Theo Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường: “Khi sản lượng của ngành nông
nghiệp được quan tâm hơn trong Luật Đất đai mới và nền kinh tế thị trường, kéo theo
khả năng suy thoái đất sẽ tăng lên, việc sử dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật
cũng sẽ tăng
Trong số những hoá chất đó được sản xuất từ Trung Quốc và Nga Đây là hai nước không tuân theo những nguyên tắc chung của thế giới về việc sản xuất và sử
dụng hoá chất Do đó, việc sử dụng những hoá chất này gây nguy hiểm và làm ô
nhiễm môi trường” [34] Tuy nhiên, về quy mô vùng bị ô nhiễm không lớn, chỉ xảy ra
ở ven một số thành phố lớn, khu công nghiệp và vùng gia công kim loại không có
công nghệ xử lý chất thải độc hại và những nơi chuyên canh, thâm canh không hợp lý
Những năm gần đây, do áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nên Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất
khẩu gạo hàng đầu thế giới Tuy nhiên, sự thâm canh nông nghiệp với sử dụng nhiều
phân bón hàm lượng và cách thức không hợp lý đã làm đất sản xuất nông nghiệp ngày
càng ô nhiễm Theo Nguyễn Hữu Ôn và Ngô Ngọc Hưng: “Hàm lượng nhiễm
Cadmim(Cd) của đất lúa đồng bằng sông Cửu Long thay đổi từ 0,01 - 0,05 mg/kg
Hàm lượng này còn rất thấp nhưng việc sử dụng phân lân là nghiên cứu lâu dài trong
nông nghiệp nên cần có những quy định cho việc hạn chế tăng hàm lượng Cd trong
đất” [19] Theo Nguyễn Khắc Thời: “Nguồn phế thải công ty giấy Bãi Bằng chứa
nhiều độc tố khác nhau và thải ra 3 nguồn cơ bản (nguồn nước rửa gỗ, tre, nứa khoảng
12.800m3, nguồn nước đen có tro, xỉ than từ xưởng động lực đổ ra sông Lô với công
suất 2.500m3 và nguồn nước thải kiềm, nước rửa bể lọc với công suất 4.000m3) đã làm
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đất, hệ sinh thái đất và quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây trồng, đặc biệt là cây lúa” [22] Đây là một thử thách lớn cho các
nhà quy hoạch cũng như các nhà quản lý trong giai đoạn nước ta đang thực hiện tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá: khôi phục các làng nghề truyền thống và tạo điều
kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển
Ba là, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thủy điện, dầu khí đều đòi hỏi phải có đất Việc bố trí công trình của các
ngành trên thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân dài
hạn với tiêu chí: những khoanh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ
đất không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp Với trường hợp
giao đất cho nhu cầu khai thác khoáng sản, người ta thường phải lường trước mọi hậu
quả có thể xảy ra cho các đơn vị mất đất và đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả giảm
bớt những ảnh hưởng xấu của nó Dựa trên thực trạng, vấn đề bức xúc mà ngành đang
Trang 18vấp phải và xu thế phát triển của từng ngành kinh tế để xây dựng quy hoạch sử dụng
đất đai trên cơ sở hợp thành của các quy hoạch ngành Có như vậy, quy hoạch sử dụng
đất mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Đối với ngành nông nghiệp, Nguyễn Thiện Luân và Phùng Hữu Hảo đã khẳng định: "Công tác quy hoạch trong những năm qua đã góp phần quan trọng đưa kinh tế
nông nghiệp nước ta phát triển nhanh, bền vững, đạt được những thành tựu kỳ diệu:
trên cơ sở tích cực chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo sản xuất hàng hoá, bảo đảm
an ninh lương thực và xuất khẩu 3,5 - 4 triệu tấn gạo/năm, tỷ suất hàng hoá trong nông
sản ngày càng cao, nhiều nông sản có vị thế trên trường quốc tế " [17]
Bốn là, quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể Việc bố trí giữa các ngành đòi hỏi phải
có sự phân bố hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển tổng hợp Các đơn vị sản xuất
nông nghiệp căn cứ vào nghĩa vụ giao nộp cho Nhà nước và các nhu cầu tiêu dùng nội
bộ mà xác định quy mô diện tích trồng từng loại cây, số đầu gia súc từng loại Bên
cạnh đó, việc sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề,
việc tổ chức lao động và năng suất lao động, đến tư liệu sản xuất
Quy hoạch sử dụng đất phải có sự kết hợp hài hoà nhu cầu sử dụng đất của các ngành, tổ chức lãnh thổ hợp lý mới giúp cho việc phát triển các ngành cân đối theo chỉ
tiêu và nhu cầu sử dụng đất đã định
Năm là, phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Mỗi vùng khác nhau có các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau nên phương án quy hoạch xây dựng phù hợp cho từng vùng cũng khác nhau Theo Nguyễn
Đình Bồng: "Chất lượng công trình, tính khoa học, thực tiễn, khả thi của phương án
quy hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào chất lượng của tài liệu điều tra cơ bản (điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai )" [8]
Thực tế cho thấy, các cơ sở sản xuất nông nghiệp thường đầu tư lớn cho các công trình liên quan: nhà ở, thuỷ lợi, giao thông và những công trình này khai thác
hết công suất nếu vị trí xây dựng của chúng là hợp lý Bên cạnh đó, để tăng năng suất
cây trồng phải xác định cơ cấu sử dụng đất thích hợp và cơ cấu luân canh hợp lý trên
địa bàn lãnh thổ đó Vì vậy, khi quy hoạch sử dụng đất cần phải tính toán sao cho
chúng sử dụng có hiệu quả nhất cả hiện tại và tương lai lâu dài
Qua những lý luận trên cho thấy, khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phải tuân theo những nguyên tắc trên mới đảm bảo phương án đó có tính khả thi và
tạo điều kiện sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội
Trang 191.1.4 Quan điểm xây dựng quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống và là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá, an ninh và quốc phòng Đất đai có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá sâu sắc trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Do đó, khi xây dựng phương án quy hoạch sử
dụng đất cần dựa trên những quan điểm nhất định
- Sử dụng quỹ đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững:
Sử dụng quỹ đất hợp lý, tiết kiệm, hiện quả và bền vững tức là sử dụng tiềm năng quỹ đất kết hợp với phát triển quỹ đất theo hướng làm tăng độ phì của đất, khai hoang, lấn
biển, mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế đầu tư trên đất, bảo vệ môi trường, đa
dạng sinh học và tạo hệ sinh thái bền vững
Hiện nay, thế giới có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất phù hợp với từng điều kiện, trình độ và phương
thức sử dụng đất ở mỗi vùng, quốc gia Ở Việt Nam những năm gần đây, sản xuất
nông nghiệp đã gắn phương thức sử dụng đất theo truyền thống với phương thức sử
dụng đất theo hướng hiện đại, chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp
Quá trình sử dụng đất canh tác đã rất chú trọng và đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng
dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật về giống, công thức luân canh phù hợp để bồi
dưỡng, cải tạo và tăng độ phì cho đất, đưa đất chưa sử dụng vào sản xuất, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất đồng thời bảo vệ môi trường
Dựa trên điều kiện thực tế của Việt Nam, Nguyễn Đình Bồng đã dự báo: "Phát triển quỹ đất nông nghiệp hiện có, đưa diện tích sản xuất nông nghiệp từ 9.345.000 ha
năm 2000 lên 10.000.000 ha vào năm 2010 , cải tạo quỹ đất chưa sử dụng để đưa vào
mục đích sản xuất nông nghiệp khoảng 1.000.000 ha, thủy sản 100.000 ha" [7]
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì quá trình đô thị hoá ngày càng tăng, đồng nghĩa là diện tích đất nông nghiệp sẽ giảm để dành đất cho phát triển đô thị Do
đó, phương án quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo sự hài hoà giữa các nhu cầu sử
dụng đất, ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, đồng thời không làm ảnh hưởng đến môi
trường, đa dạng sinh học và tạo hệ sinh thái bền vững Dựa trên quy hoạch phát triển
vùng đô thị và nông thôn đã được Chính phủ phê duyệt và kế hoạch đầu tư và các quy
hoạch khác thì kế hoạch sử dụng đất ngắn hạn và trung hạn để phát triển đô thị và
nông thôn cũng phải có những biện pháp để bảo vệ đất nông nghiệp và đảm bảo cho sự
phát triển bền vững
Trang 20- Bảo vệ diện tích đất trồng lúa hợp lý để đảm bảo an ninh lương thực, bảo đảm diện tích phủ rừng ở mức độ cần thiết để bảo vệ môi trường
Theo báo cáo đề dẫn an toàn lương thực cho vùng đồng bằng sông Hồng của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường: "Ở những nước phát triển, lương thực cơ bản
cung cấp nhiều nhất là 60% nhu cầu calo Ở Việt Nam, do thành phần dinh dưỡng
ngoài lương thực còn ít nên phần chủ yếu lấy calo từ lương thực Vì vậy, việc dành
khoảng 250 kg thóc/người/năm là cần thiết" [3] Qua con số trên cho thấy, vấn đề an
toàn lương thực đến nay ở nước ta không phải là cấp thiết nhưng do có sự phân bố
không đồng đều giữa các khu vực nên việc đảm bảo an toàn lương thực trên phạm vi
cả nước là quan trọng Vì vậy, theo Nguyễn Đình Bồng: "Phải bảo vệ nghiêm ngặt
4.000.000 ha đất lúa , điều chỉnh quy hoạch, chuyển một phần diện tích đất canh tác
hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản" [7]
Để đảm bảo sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm và bền vững thì việc bảo vệ
và nâng cao diện tích che phủ rừng là việc làm không thể thiếu
Trong điều kiện tự nhiên chưa có tác động của con người, đất miền núi luôn được che phủ bởi một thảm thực vật mà phổ biến là rừng cây các loại Trải qua hàng
nghìn năm, lớp thảm thực vật đã tạo nên một tầng đất mặt nhiều mùn, chất dinh
dưỡng, có kết cấu, khả năng giữ màu, giữ ẩm tốt Do nhận thức "hám lợi" trước mắt
của một số người, dẫn đến hiện tượng khai thác rừng bừa bãi Theo Trần An Phong:
"Nghệ An, hàng năm có tới 200.000 tấn gỗ lậu vận chuyển ra ngoài tỉnh" [20] Đồng
thời việc phát rẫy làm nương không hợp lý làm lớp thảm rừng biến mất, đất bị tác
động của lượng mưa lớn, gây rửa trôi và xói mòn, mất dần chất dinh dưỡng và khả
năng sản xuất Do đó, để bảo vệ đất, đảm bảo cho việc sử dụng lâu dài, Nhà nước ta
phải thực hiện tốt chính sách giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước Đây là khâu đột phá,
là vấn đề trung tâm, then chốt và cũng là biện pháp về kinh tế, quản lý để bảo vệ và sử
dụng có hiệu quả đất đai Giao đất, giao rừng cần kết hợp chặt chẽ với quy hoạch sử
dụng đất trong vùng để đảm bảo việc sử dụng đất hợp lý
- Phương án quy hoạch sử dụng đất phải cân đối quỹ đất cho các nhu cầu khác nhau
Để đảm bảo cân đối quỹ đất cho các nhu cầu đòi hỏi phải sử dụng đất hợp lý để phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng các khu dân cư mới, hiện đại, phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng đất trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của xã hội có xu hướng tăng nhanh Điều này đòi hỏi con người phải có những tác động vào thiên nhiên, tạo ra ngày càng nhiều của cải
vật chất nuôi sống xã hội Do đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các ngành nghề
Trang 21Việt Nam là một nước đang tiến hành công cuộc đổi mới, với cơ chế quản lý mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên đặc trưng của nó là cạnh tranh, ở lĩnh vực đất
đai càng thể hiện rõ nét Đó là cạnh tranh về mục đích sử dụng, giữa khu vực nông
thôn và đô thị Công cụ quan trọng giải quyết vấn đề này là quy hoạch sử dụng đất
Quá trình phát triển xã hội, không những quan hệ đất đai gắn liền với sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp mà còn liên quan đến sự phát triển của tất cả các ngành Đây
chính là yêu cầu của thực tiễn phải có quy hoạch sử dụng đất với đầy đủ nội dung với
việc bố trí hợp lý giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành: nông nghiệp, công nghiệp,
xây dựng, dịch vụ và các khu dân cư như quan điểm phát triển của ngành [15]
Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện như một công cụ quản
lý quá trình giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ
cấu sử dụng đất phù hợp giữa các ngành, tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu
kinh tế hợp lý trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
1.1.5 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: Nhiệm vụ
đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch;
phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội dung và
phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất được phân
loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm
giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay
tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo
lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc:
từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ
mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao gồm:
Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và
tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch sử
dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để các
ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất
của ngành và địa phương mình; Làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng
năm (căn cứ để giao cấp đất, thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật
Đất đai); Phục vụ cho công tác thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai
Như vậy có thể hiểu rằng mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn
Trang 22cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu
về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các
ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy
hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất
của ngành mà đặc biệt là vấn đề quy hoạch sử dụng đất trong quy hoạch nông thôn
mới trong giai đoạn hiện nay
1.1.6 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước, nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử khác nhau là rất khác nhau
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai;
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về sử dụng đất trong kỳ quy hoạch;
- Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;
- Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;
- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển KT-XH; hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù
hợp với cơ cấu kinh tế; khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; hình
thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà
giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình
Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất
phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước
Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: Cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp,
quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là
cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là
phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy
hoạch vĩ mô
Trang 23Đối với Luật Đất đai năm 2013, quy hoạch sử dụng đất chỉ được thực hiện ở 03 cấp: Cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện; nội dung quy hoạch sử dụng đất theo Luật
Đất đai năm 2003, quy định: Cơ quan có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của
nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng; việc lấy ý kiến được tiến hành theo hình thức, nội dung và thời gian
lấy ý kiến nhân dân cụ thể; việc xây dựng báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến
của nhân dân và hoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình
Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cơ quan tổ chức lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng thực hiện Quy định này góp phần tăng cường hơn nữa tính công
khai, dân chủ trong quản lý, sử dụng đất Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc thực
hiện quy hoạch sử dụng đất trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới
1.2 KHÁI NIỆM VỀ NÔNG THÔN MỚI
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
“Nông thôn là một phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [11]
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có
nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống
vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề
kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới:
- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các
tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động
cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ
chức thực hiện
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển
Trang 24khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành
phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và
cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ
thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức
thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận
Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân
phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới
Đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa giai đoạn
2010 - 2020:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần và cư dân nông thôn được nâng cao;
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa được giữ gìn và phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ;
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
1.2.2 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM được ban hành Quyết định số 491/QĐ/TTg ngày
16 tháng 04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ [10] Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
gồm 19 tiêu chí để đánh giá xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về nông thôn mới
Tiêu chí 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, trong quy hoạch nông thôn mới
có 3 nội dung quy hoạch là quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch
phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; quy hoạch phát triển
các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo
tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Tiêu chí 2: Giao thông, tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa 100% đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; tỷ lệ km đường
trục thôn, xóm được cứng hóa ít nhất 70% đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao
thông vận tải; tỷ lệ 100% km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa;
Trang 25đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện với tỷ lệ ít nhất
70%
Tiêu chí 3: Thủy lợi, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ km trên mương do xã quản lý được kiên cố hóa ít nhất là 85%
Tiêu chí 4: Điện, hệ thống điện phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện;
tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn phải đạt từ 98% trở lên
Tiêu chí 5: Trường học, tỷ lệ trường học các cấp mầm non, tiểu học, trung học
cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia từ 80% trở lên
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa, nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn
đạt quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 100%
Tiêu chí 7: Chợ nông thôn, mỗi xã phải có ít nhất một chợ và được xây dựng đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
Tiêu chí 8: Bưu điện, mỗi xã đều có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, có Internet đến mỗi thôn
Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư, trong xã không có nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng ít nhất là 80%
Tiêu chí 10: Thu nhập, thu nhập bình quân đầu người trên năm so với mức bình quân chung của tỉnh đạt 1,4 lần
Tiêu chí 11: Hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của xã không quá 5% trên tổng số hộ
Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động, tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp không quá 35% trên tổng số người trong độ tuổi làm việc
của xã
Tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất, mỗi xã đều có tổ hợp tác hoặc hợp tác
xã hoạt động có hiệu quả
Tiêu chí 14: Giáo dục, phổ cập giáo dục trung học trên toàn xã; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) đạt ít nhất
là 85%; tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 35% lao động toàn xã
Tiêu chí 15: Y tế, tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt ít nhất 30%; y tế xã đạt chuẩn quốc gia
Tiêu chí 16: Văn hóa, xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 26Tiêu chí 17: Môi trường, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia ít nhất là 85%; các cơ sở sản xuất kinh doanh 100% đều đạt tiêu chuẩn
về môi trường; trên địa bàn xã không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các
hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; nghĩa trang trên địa bàn đều được xây
dựng theo quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, tỷ lệ cán bộ xã đạt chuẩn 100%; trong xã có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định;
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”
Tiêu chí 19: An ninh, trật tự xã hội trong xã được giữ vững
Trong 19 tiêu chí trên thì tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch là tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất vì rất nhiều tiêu chí khác cần dựa vào tiêu chí quy hoạch
để thực hiện và đánh giá Tuy nhiên các tiêu chí có thể đã đạt chỉ tiêu trước khi có quy
hoạch nông thôn mới
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành thông tư 54/2009/TT - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện bộ 19 quốc gia về nông
thôn mới đây là căn cứ để các địa phương chỉ đạo việc xây dựng , phát triển nông thôn
mới, đồng thời là cơ sở để đánh giá công nhận xã đạt nông thôn mới
Cụ thể, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội- môi trường theo chuẩn mới bao gồm: Bố trí mạng lưới giao thông, điện, đường, trường học các cấp, trạm xá,
trung tâm văn hóa, thể thao xã, nhà văn hóa, và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ
thống thông tin liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lí rác thải, hệ thống cấp thoát nước,
công viên cây xanh, hồ sinh thái [4]
Nhà ở nông thôn đạt chuẩn Bộ Xây dựng phải có các chỉ tiêu như diện tích nhà
ở đạt từ 14m2 trở lên trên mỗi người, niên hạn sử dụng công trình nhà ở từ 20 năm trở
lên, có đủ công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sinh hoạt, kiến trúc, mẫu nhà ở phải phù
hợp với phong tục tập quán, lối sống của từng dân tộc, từng vùng miền [4]
Đối với chỉ tiêu trường học, Thông tư quy định, một xã có các điểm trường mầm non, nhà trẻ có cơ sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia phải đảm bảo tất cả các nhóm
trẻ, lớp mẫu giáo được phân chia theo độ tuổi và tổ chức cho trẻ ăn bán trú Diện tích
sử dụng bình quân tối thiểu 12m2 trở lên mỗi trẻ (ở nông thôn và miền núi), 8m2 mỗi
trẻ (ở thành phố và thị xã)
Tiêu chí về y tế được quy định cụ thể như sau: người dân được coi là tham gia bảo hiểm y tế khi đã tham gia một trong các hình thức do ngân sách nhà nước hoặc
quỹ bảo hiểm xã hội, đóng bảo hiểm y tế, áp dụng đối với các đối tượng nghèo, người
dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6
Trang 27tuổi hoặc hình thức tự đóng toàn bộ chi phí bảo hiểm y tế hoặc được ngân sách nhà
nước hỗ trợ một phần
Thông tư cũng quy định , tất cả các xã nông thôn mới đều phải có hệ thống thủy lợi cơ bản, đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh, có nhà văn hóa và khu thể thao xã
đạt chuẩn của Bộ Văn Hóa, Thể thao và du lịch, có điểm phục vụ bưu chính viễn
thông, có internet đến thôn, có tổ hợp tác xã hoạt động hiệu quả [4]
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có thể bổ sung tiêu chí hoặc quy định mức đạt của các tiêu chí cho phù hợp xây dựng với điều kiện
cụ thể của địa phương, nhưng không thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí Quốc gia
1.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng NTM được thể hiện trong chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM (được quy định tại Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04 tháng 6 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ) gồm 11 nội dung sau:
Nội dung 1: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của bộ tiêu chí Quốc gia về NTM Đến năm 2011 cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ
sở đầu tư xây dựng NTM, thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020;
Nội dung 2:Phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chuấn số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong bộ tiêu chí
Quốc gia về NTM;
- Nội dung:
+ Hoàn thiện đường giao thông đến UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 35% xã đạt tiêu chuẩn (các trục đường của xã được nhựa
hóa hoặc bê tông hóa) và đến năm 2020 có 70% số xã đạt tiêu chuẩn (các trục đường
thôn xóm được cứng hóa);
+ Hoàn thiện hệ thống các công trình được đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và đến
năm 2020 có 95% số xã đạt tiêu chuẩn;
Trang 28+ Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa, thôn đạt tiêu chuẩn,
đến năm 2020 có 75% xã đạt tiêu chuẩn;
+ Hoàn thiện hệ thống công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn và đến năm 2020 có 75% số xã đạt tiêu chuẩn;
+ Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và đến năm 2020 có 75% số xã
đạt tiêu chuẩn;
+ Hoàn thành trụ sở UBND xã và công trình phụ trợ Đến năm 2015 có 65% số
xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt tiêu chuẩn;
+ Cải tạo, xây dựng mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 45% số xã đạt tiêu chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến năm
2020 có 77% số xã đạt tiêu chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nôi đồng
theo quy hoạch)
Nội dung 3: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10; 12 trong bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn;
Nội dung 4: Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiếu chí số 11 của bộ tiêu chí Quốc gia NTM;
Trang 29- Nội dung:
+ Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo, nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỉ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30A/2008/NQ-CP, ngày 27 tháng 12 năm
2008 của Chính phủ) theo tiêu chí Quốc gia về NTM;
+ Tiếp tục triển khai chương trình quốc gia về giảm nghèo;
+ Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
Nội dung 5: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM Đến năm 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
- Nội dung:
+ Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
+ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
+ Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh
tế nông thôn
Nội dung 6: Phát triển Giáo dục – Đào tạo ở nông thôn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và số 14 của bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
Đến năm 2015 có 45% số xã đạt tiêu chuẩn và đến năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của bộ tiêu chí Quốc gia NTM;
Nội dung 7: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và số 15 của bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
Đến năm 2015 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn và đến năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực y
tế, đáp ứng yêu cầu bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
Nội dung 8: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và số 16 của bộ tiêu chí Quốc gia NTM
Đến năm 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% có điểm bưu điện và
điểm Internet đạt chuẩn Đến năm 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70%
có điểm bưu điện Internet đạt chuẩn
Trang 30Nội dung 9: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong bộ tiêu chí Quốc gia NTM; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp về sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế,
công sở và khu dịch vụ công cộng, thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi
trường sinh thái trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 35% số xã đạt tiêu chuẩn và đến
thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang cải tạo
nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây
xanh ở các công trình công cộng
Nội dung 10: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, Đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong bộ tiêu chí Quốc gia về NTM Đến năm 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 có 95% số xã đạt chuẩn;
để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
+ Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng NTM
Trang 31Nội dung 11: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
- Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của bộ tiêu chí Quốc gia về NTM Đến năm 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và có 95% số xã đạt chuẩn;
trên địa bàn theo yêu cầu của xây dựng NTM
1.2.4 Căn cứ tính pháp lý xây dựng nông thôn mới
Căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ ngành Trung ương, UBND thành phố, huyện…, liên quan đến chương trình xây dựng nông thôn mới như Nghị
quyết, Quyết định, Thông tư… chủ yếu đó là:
- Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của
Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hện bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ Xây dựng
về việc ban hành tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn và quy chuẩn kỹ thuật
Quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 32/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thật Quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc Gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010-2020;
- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04 tháng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch
xây dựng xã NTM;
Trang 32- Thông báo số 221/TB-VPCP ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng tại hội nghị trực tuyến triển khai Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của Bộ xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông
thôn mới
- Thông tư 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông
thôn mới
- Thông tư Liên tịch số 51/2013/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 02 tháng 12 năm 2013 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số
26/2011/TTLT-BNNPTNT-BHKĐT-BTC hướng dẫn một số nội dung thực hiện
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật về nông thôn mới của các Bộ ngành liên quan
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở NƯỚC TA
1.3.1 Cộng hòa Liên Bang Đức
Không gian nông thôn trong tiếng anh là “ Rural area” (hay còn gọi là Country) trong tiếng Đức là “ Der landliche raum” theo cục Liên Bang về xây dựng và quản lý
không gian của Đức thì không gian nông thôn được coi là một phạm trù không gian với
mật độ dân cư cao hay thấp, và đối lập với không gian đô thị Trong không gian nông
thôn bao gồm các điểm dân cư sinh sống, cùng các ngôi nhà, cái sân, mảnh vườn, các
diện tích công năng, các cơ sở hạ tầng như đường sá giao thông, công khuôn viên, quảng
trường, hệ thống cung ứng điện, nước hệ thống tiêu thoát nước thải, rác thải, các điểm
phục vụ cho hoạt động công ích như: Trường học, trạm xá, câu lạc bộ, sân thể thao
Vậy cuối cùng thì không gian nông thôn trong xu thế mới còn là nơi thường trú của một tiểu bộ phận cư dân đô thị cùng chung sống với cư dân nông thôn Theo
Riedel (1988) thì không gian nông thôn thực hiện các chức năng sau:
- Chức năng định cư: Cung cấp các khoản không gian để xây dựng nhà ở,
khoản không gian cho các hoạt động kinh tế và nghỉ dưỡng dành cho các cư dân sinh
sống ở nông thôn
- Chức năng sản xuất: Thông qua các việc cung cấp lương thực thực phẩm và
Trang 33- Chức năng nghỉ dưỡng: Thông qua việc gìn giữ và bảo tồn sự đa dạng về văn
hóa và cảnh quan nhằm phục vụ cho nghỉ dưỡng, giải trí
- Chức năng dịch vụ cho các ngành: Như sản suất kinh doanh phi nông nghiệp,
phát triển cơ sở hạ tầng, khai thác nguyên vật liệu và lưu trữ các chất thải từ đô thị
- Chức năng sinh thái: Là duy trì khoảng không gian trú ngụ của động vật thông
qua việc đảm bảo những yếu tố cơ bản và cần thiết cho sự sống như (nước, đất và không
khí), cũng như chức năng bảo vệ các nguồn gốc quý hiếm và đa dạng sinh học [1]
Ngoài ra không gian nông thôn còn đóng góp tích cực trong việc gìn giữ và ổn định cư dân xã hội Là một thành phần quan trọng của di sản văn hóa nông thôn Trong
xu thế mới người ta đã chứng minh là một văn hóa không gian hấp dẫn và mang đăc
tính của sản xuất nông nghiệp có tác dụng và tạo công ăn việc làm cũng như đẩy mạnh
quá trình hình thành giá trị Các dự án phát triển không gian nông thôn không thể chỉ
bó hẹp trong một chức năng nhất định mà cần phải phân tán sự rủi ro, ví dụ phát triển
nông thôn kết hợp với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng
Ở Đức trong những năm qua người ta đã tập trung xây dựng các Chương trình phát triển không gian nông thôn cho tương lai Trong đó, khuyến khích việc xây dựng
các mẫu hình mới về phát triển nông thôn Chính Liên Bang Đức, tiểu Bang và cộng
đồng Châu Âu dành một khoản lớn để thực hiện chương trình này Mục tiêu chính của
nó là nâng cao vị thế cạnh tranh của không gian nông thôn trong thị trường cung ứng
lao động của các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực Nông – Lâm –
Ngư nghiệp, chế biến lương thực thực phẩm Tiếp đó là gìn giữ cảnh quan thiên nhiên
và cảnh quan văn hóa Thông qua đó đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp và công tác chặt
chẽ giữa các ngành: nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và thủy lợi Trong đó
người ta lưu ý đặc biệt đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ chủng loại và khoảng
không gian sinh sống của động thực vât Mục tiêu tiếp theo là nâng cao chất lượng
cuộc sống ở vùng quê cũng như hỗ trợ cho việc phát triển tổng hợp bền vững cùng nông
thôn, thực thi nghị định khung về tài nguyên nước và sự án sử dụng năng lượng tái tạo
sinh khối Mục tiêu cuối cùng là kích thích cho sự phát triển của các vùng miền [1]
1.3.2 Nhật Bản
Từ thập tiên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hoàn thành và phát triển phong trào “ Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng
nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước
Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản
phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã
lôi cuốn sự quan tâm không chỉ nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất
nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia
Trang 34trong khu vực Đông Nam Á đã thu hút được những thành công nhất định trong phát
triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng
một sản phẩm”
Nhưng kinh nghiệm của phong trào “ Mỗi ngày một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu
vực và quốc qua có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát
triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mình [1]
1.3.3 Malaysia
Chính phủ nước này cho rằng cơ sở để PTNT là phát triển vốn xã hội (giáo dục, sức khỏe), tăng cường quản trị cấp địa phương, đầu tư nghiên cứu và khuyến nông,
cung cấp các thể chế hỗ trợ như giao thông, tài chính…Đặc biệt, cần xác định nông
dân là nền tảng phát triển quốc gia Rất nhiều nỗ lực và nguồn lực đã được đầu tư để
cải thiện phúc lợi của ngời dân nông thôn, bao gồm phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất Kinh nghiệm của Malaysia cũng chỉ ra rằng, các phơng pháp tiếp cận và các
mô hình PTNT cần được triển khai đặc thù theo địa phơng với thời gian phụ thuộc vào
tình hình kinh tế, chính trị, nguồn lực tài chính…[1]
1.3.4 Việt Nam
Hiện tại chương trình NTM ở Việt Nam đã phổ biến đến toàn bộ các tỉnh thành, đến từng huyện và từng xã Theo đó, thống nhất trong cả nước bộ máy giúp việc điều
phối nông thôn mới các cấp là: Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương; Văn
phòng điều phối nông thôn mới tỉnh; Văn phòng nông thôn mới huyện; cán bộ chuyên
trách nông thôn mới xã Công tác tuyên truyền, vận động đã được các cơ quan Trung
ương và địa phương tích cực thực hiện với nhiều hình thức phù hợp Nhờ đó, nhận
thức của phần lớn cán bộ và người dân về xây dựng nông thôn mới đã có chuyển biến
rõ rệt Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước
Người dân ngày càng tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước;
tích cực, chủ động tham gia xây dựng quê hương với nhiều cách làm sáng tạo, góp
phần huy động được nhiều nguồn lực đóng góp cho xây dựng nông thôn mới Chương
trình đã huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện, trong đó mức độ tham gia của
người dân đạt cao Đặc biệt, từ năm 2014, Quốc hội đã bổ sung 15.000 tỷ đồng vốn
trái phiếu Chính phủ, là động lực thúc đẩy tiến độ thực hiện và thu hút các nguồn lực
khác để đầu tư cho Chương trình Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, trong giai đoạn 2011 - 2014 đã huy động được khoảng 591.170 tỷ đồng đầu tư
cho Chương trình Trong đó, ngân sách nhà nước (bao gồm các chương trình, dự án
khác) là 192.269 tỷ đồng; tín dụng: 285.859 tỷ đồng; doanh nghiệp là 31.887 tỷ đồng;
dân góp 68.733 tỷ đồng; các nguồn khác là 12.421 tỷ đồng Nhờ có sự vào cuộc của cả
Trang 35mới có bước chuyển ngày càng mạnh mẽ hơn Theo báo cáo mới nhất của Ban Chỉ đạo
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nếu tháng 5/2014, cả nước
mới có 185 xã đạt chuẩn nông thôn mới, thì đến cuối năm 2014, con số này đã tăng lên
tới 785 xã (chiếm 8,8% tổng số xã trên toàn quốc) Đồng thời, cũng đã có 1.285 xã đạt
từ 15 đến 18 tiêu chí; 2.836 xã đạt từ 10 đến 14 tiêu chí; 2.964 xã đạt từ 5 đến 9 tiêu
chí;… và không còn xã trắng tiêu chí [21]
1.4 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Cường (2013) về thuận lợi và khó khăn trong việc lập quy hoạch sử dụng đất trong nông thôn mới tại xã Hòa Châu,
huyện Hòa Vang, thành phố Đà nẵng như sau
- Về thuận lợi:
+ Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tuân thủ các nguyên tắc, căn cứ, trình tự, nội dung, phương án theo quy định của Luật Đất đai Việc giao đất, cho thuê
đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi cơ bản đã bám sát và tuân thủ
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Qua thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã cơ cấu lại việc sử dụng đất phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sử
dụng đất trong nông nghiệp nông thôn phù hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, hạn chế hiệu quả việc chuyển đất lúa nước sang mục đích khác
+ Đất dành cho công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển khu dân cư nông thôn được mở rộng cơ bản đáp ứng nhu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của xã
- Khó khăn, tồn tại + Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn, chưa dự báo chính xác về nhu cầu quỹ đất cho các mục đích sử dụng,
dẫn đến tình trạng vừa dự báo thiếu, vừa thừa quỹ đất, dẫn đến thường phải điều chỉnh
quy hoạch sử dụng đất Công tác quy hoạch sử dụng đất thiên về sắp xếp các loại đất
theo mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế - xã hội,
môi trường nhằm bảo đảm phát triển bề vững trong sử dụng đất, chưa phát huy cao
tiềm năng đất đai
+ Việc bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất chuyên trồng lúa nước và dành quỹ đất cho các lĩnh vực xã hội như y tế, văn hóa, thể dục thể thao, giáo dục đào tạo chưa được
đề cập đúng mức trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Sự phối hợp với các Phòng, Ban ngành trong công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhìn chung chưa tốt, chưa thực sự thống nhất, cần phải chấn chỉnh,
Trang 36xã còn lúng túng trong việc gắn kết giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát
triển ngành, quy hoạch xây dựng khu dân cư nông thôn
+ Việc chấp hành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong nhiều trường hợp chưa nghiêm Tình trạng sử dụng đất vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thường xảy ra
+ Việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết và quy hoạch chi tiết xây dựng chưa được thực hiện hoặc thực hiện còn hình thức, ít hiệu
quả, nhiều nơi chưa được coi trọng; việc xây dựng các phương án quy hoạch để lựa
chọn chưa thật khách quan [14]
Trang 37Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu, đánh giá tính hợp lý về quy hoạch sử dụng đất của nông thôn mới của 2 xã Thạch Trung và Thạch Hạ trong thành phố Hà Tĩnh
- Điều tra đánh giá tiến độ và chất lượng chương trình nông thôn mới so với quy hoạch sử dụng đất của nông thôn mới của 2 xã Thạch Trung và Thạch Hạ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ và chất lượng của một số tiêu chí trong xây dựng chương trình nông thôn mới tại thành phố Hà Tĩnh
2.2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu cụ thể đối với 02 xã điển hình là
xã Thạch Hạ (đại diện cho các xã đã hoàn thành 19 tiêu chí Quốc gia về nông thôn
mới) và xã Thạch Trung (đại diện cho các xã chưa hoàn thành 19 tiêu chí Quốc gia về
nông thôn mới) Trong đó nghiên cứu cụ thể về một số tiêu chí sau đây: số 1 (quy
hoạch); số 2 (giao thông); số 3 (thủy lợi); số 5 (trường học); số 6 (cơ sở vật chất văn
hóa); số 7 (chợ); số 15 (cơ sở hạ tầng y tế); số 17 (môi trường)
- Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá giai đoạn 4 năm từ năm 2011 đến năm 2014
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình xây dựng nông thôn mới theo đồ án Quy hoạch nông thôn mới của các xã trong địa bàn thành phố Hà Tĩnh
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Tĩnh
- Nghiên cứu, đánh giá thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong quy hoạch nông thôn mới của 2 xã Thạch Trung và Thạch Hạ
- Những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện các tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới và đề xuất giải pháp điều chỉnh để phát huy hiệu quả quy hoạch sử dụng đất
Trang 382.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu
a, Phương pháp thu thập thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp là nguồn thông tin cơ bản nhằm giúp cho việc tổng hợp, đánh giá và đưa ra những nhận định trên cơ sở những kết quả đã được công bố, công khai,
Nguồn số liệu này được thu thập thông qua các kênh sau:
- Thu thập các văn bản liên quan đến đất đai, hệ thống các văn bản luật và dưới luật, các chương trình, nghị quyết, quyết định của Trung ương, tỉnh và huyện có liên quan
- Bản đồ, các bảng biểu thống kế, kiểm kê đất đai
- Các báo cáo, tài liệu liên quan của tỉnh và huyện giai đoạn 2010-2014
- Các công trình đã nghiên cứu
- Các tài liệu, giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan
b, Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Việc thu thập số liệu sơ cấp có ý nghĩa rất quan trọng, vì vậy, việc lựa chọn phương pháp thu thập phù hợp sẽ quyết định đến hiệu quả nghiên cứu, tính khả thi của
kết quả nghiên cứu cũng như hạn chế thời gian, công sức và chi phí Trong đề tài này,
đã được sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi
+ Đối tượng phỏng vấn: Một số hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn 2 xã nghiên cứu
+ Nội dung phỏng vấn: Các vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới, việc thực hiện các tiêu chí trong nông thôn mới và mức độ hài lòng của người dân về các
tiêu chí đó
+ Địa điểm phỏng vấn: Tại hộ gia đình
- Phương pháp thiết kế bảng câu hỏi: Gồm câu hỏi mở và câu hỏi đóng
Số lượng bảng câu hỏi: Mỗi xã sẽ phỏng vấn 30 hộ gia đình và cá nhân
- Phương pháp chọn mẫu điều tra
Việc chọn mẫu điều tra được thực hiện qua các bước như: Xác định tổng thể mẫu; danh sách chọn mẫu; phương pháp chọn mẫu, quy mô mẫu; nhận diện đơn vị
mẫu và kiểm tra quá trình chọn mẫu
Trong quá trình nghiên cứu, tiến hành áp dụng các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Trang 39- Phương pháp quan sát: Được áp dụng trong trong những trường hợp khảo sát tình hình về quy hoạch các tiêu chí, về xây dựng cơ sở vật chất của xã
2.3.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Trên cơ sở các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra tiến hành tổng hợp, phân tích, mô tả, so sánh và đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn các xã
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a, Vị trí địa lý
Hình 3.1 Vị trí địa lý thành phố Hà Tĩnh
Thành phố Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung bộ có vị trí địa lý từ 18° - 18°24’ vĩ
độ Bắc, 105053’-105056’ kinh độ Đông, nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách thủ đô
Hà Nội 340 km, thành phố Vinh 50 km về phía Bắc; cách thành phố Huế 314 km về
phía Nam và cách biển Đông 12,5 km
- Phía Bắc giáp: Huyện Thạch Hà và huyện Lộc Hà
- Phía Tây giáp: Xã Thạch Đài, xã Thạch Tân, sông Cày (huyện Thạch Hà)
- Phía Nam giáp: Xã Cẩm Bình, xã Cẩm Vịnh (huyện Cẩm Xuyên)
- Phía Đông giáp: Sông Đồng Môn (huyện Thạch Hà, Lộc Hà)