1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO XUNG đột dân tộc, NGUYÊN NHÂN và CÁCH hòa GIẢII

23 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quan hệ giữa các nhóm, liên tục có các cuộc xung đột và hợp tác. Nhưng vấn đề cơ bản đối với bất kỳ xã hội nào, đó là các cuộc xung đột. Khi nói xung đột giữa các nhóm là chúng ta nghĩ tới cách mạng, sự bất đồng tôn giáo, đụng độ dân tộc, cạnh tranh giới, cạnh tranh lao động. Nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga P.Xorokin thống kê rằng, trong vòng 24 thế kỷ của lịch sử nhân loại, cứ 4 năm thì có một năm có xung đột bạo lực: chiến tranh, cách mạng, bạo động. Xung đột giữa các nhóm (hay là xung đột xã hội ở nghĩa rộng) được chia thành:

Trang 1

Xung đột dân tộc - nguyên nhân và cách hòa giải

1 Định nghĩa và phân loại xung đột dân tộc

Trong quan hệ giữa các nhóm, liên tục có các cuộc xung đột và hợp tác.Nhưng vấn đề cơ bản đối với bất kỳ xã hội nào, đó là các cuộc xung đột Khi nóixung đột giữa các nhóm là chúng ta nghĩ tới cách mạng, sự bất đồng tôn giáo, đụng

độ dân tộc, cạnh tranh giới, cạnh tranh lao động Nhà xã hội học người Mỹ gốcNga P.Xorokin thống kê rằng, trong vòng 24 thế kỷ của lịch sử nhân loại, cứ 4 nămthì có một năm có xung đột bạo lực: chiến tranh, cách mạng, bạo động Xung độtgiữa các nhóm (hay là xung đột xã hội ở nghĩa rộng) được chia thành:

Xung đột chính trị: Xung đột giành chính quyền, quyền quyết định, ảnhhưởng, uy tín

Xung đột kinh tế xã hội (hay là xung đột xã hội ở nghĩa hẹp): Xung đột giữasức lao động và tiền lương, chẳng hạn, xung đột giữa công đoàn và những ngườithuê lao động

Xung đột dân tộc: Xung đột giành quyền lợi và lợi ích của các cộng đồngdân tộc

Xung đột dân tộc có những tính chất cơ bản như các cuộc xung đột xã hộikhác Bởi vì cơ sở của nó là sự phân phối không đồng đều quyền lực, sức mạnh vàtài nguyên giữa các nhóm Từ góc độ tâm lý học, thì bất kỳ cuộc xung đột nào xuấthiện là do việc tri giác sự khác nhau về lợi ích (lợi ích hữu hình hoặc là vô hình).Điều này dẫn tới đẩy mạnh sự đồng nhất xã hội và các quá trình nhóm trung tâm

Nhưng cần phải tính đến việc các cuộc xung đột dân tộc có những nét đặctrưng mang tính văn hoá xã hội bởi vì những khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tôngiáo và những đặc điểm tâm tính của các bên tham gia vào xung đột dân tộc.Chẳng hạn, những bất đồng về việc sử dụng ngôn ngữ và những chính sách vềngôn ngữ là cội nguồn của nhiều cuộc xung đột Căng thẳng giữa các dân tộcthường dẫn tới căng thẳng giữa các phe phái Xung đột dân tộc căng thẳng vì cácbên xung đột có những cách hoà giải khác nhau: ở nền văn hoá này tránh xa xungđột, còn ở nền văn hoá khác thì thích sự đối đầu trực tiếp (Gudykunst, Bond,1997)

Theo V.A.Chiskov ngày nay xung đột dân tộc ở dạng “thuần tuý” hầu nhưkhông tồn tại (Chiskov, 1997) Trên thực tế chúng ta thấy những cuộc xung độthỗn tạp Không ngạc nhiên khi chính các chuyên gia xung đột học thường không

Trang 2

thể đi tới thống nhất, đó là cuộc xung đột loại nào - xung đột dân tộc dưới chiêubài chính trị hay là ngược lại.

Rõ ràng là hầu hết tất cả các cuộc xung đột trên lãnh thổ Liên bang Xô viết

cũ có thể xếp vào xung đột dân tộc, bởi vì:

‘Với thành phần dân số đa dân tộc của Liên xô và các quốc gia mới ngàynay, hầu như mọi xung đột bên trong, xung đột kinh tế xã hội hoặc là chính trị đều

có sắc thái dân tộc, điều này làm sâu sắc và phức tạp hơn các xung đột vì màu sắc

xúc cảm của nó” (Chiskov, 1997, tr.304).

Có nhiều cách phân loại xung đột dân tộc Khi lấy tiêu chí phân loại là lãnhthổ và có hoặc không có biên giới quốc gia hoặc là biên giới hành chính, người tachia thành các loại xung đột sau: xung đột giữa các quốc gia; xung đột địa phương(Kozvirev, 1999) Theo hình thức đối đầu, người ta chia thành: xung đột phi bạolực và xng đột bạo lực

Theo mục đích mà các bên tham gia xung đột trong cuộc đấu tranh giànhnguồn tài nguyên hạn hẹp, chia thành:

- Xung đột xã hội, trong đó đòi quyền bình đẳng công dân (từ quyền côngdân đến vị thế kinh tế bình đẳng)

- Xung đột ngôn ngữ văn hoá, trong các cuộc xung đột này những yêu cầuđưa ra đề cập tới vấn đề gìn giữ hoặc là phục hồi các chức năng của ngôn ngữ vàvăn hoá dân tộc

- Xung đột chính trị, nếu như các dân tộc thiểu số tham gia vào xung đột đòiquyền chính trị (từ việc tự trị của chính quyền địa phương đến ly khaihoàn toàn)

- Xung đột lãnh thổ - yêu cầu thay đổi biên giới, sát nhập với quốc gia khác

có chung “nguồn gốc” về lịch sử văn hoá hoặc là thành lập quốc gia độc lập mới(Iamxkov, 1997)

Nhưng cả trong trường hợp này cũng phải hiểu rằng, trong cùng một cuộcxung đột, các bên tham gia có thể cùng lúc đặt ra một vài nhiệm vụ, cả đòi quyềnchính trị, vị thế bình đẳng và cả nâng cao vị thế của ngôn ngữ…

Các nhà xã hội học, chính trị học và dân tộc học khi cố gắng tách xung độtkhỏi các hiện tượng gần giống khác, thường chỉ xem xét xung đột là cuộc đấutranh thực sự giữa các nhóm, là sự đụng độ của những hành vi trái ngược, chẳng

Trang 3

hạn, họ định nghĩa “xung đột dân tộc” như là bất kỳ dạng đối đầu vệ quốc nào,chính trị hoặc là vũ trang mà ở đó các bên hoặc là một trong các bên huy động lựclượng, hành động hoặc là bị hại do dấu hiệu khác biệt dân tộc (Chiskov, 1997,tr.476) Với cách hiểu như vậy thì xung đột là giai đoạn có những mâu thuẫn căngthẳng nhất và được thể hiện trong hành động xung đột, và có ngày bắt đầu chínhxác - ngày bắt đầu đối đầu.

Nhưng theo quan điểm của nhà tâm lý học khi tính đến sự vận động củaxung đột, thì bản thân sự đối đầu giữa các nhóm có những mục đích trái ngượcnhau trong cuộc đấu tranh giành nguồn tài nguyên hạn hẹp (lãnh thổ, chính quyền,

uy tín) chỉ là một trong các giai đoạn của xung đột Giai đoạn này được gọi là tình

huống xung đột khách quan Có thể nói rằng, ở mọi nơi trên trái đất đều có mâu

thuẫn giữa các cộng đồng dân tộc hoặc là căng thẳng giữa các cộng đồng dân tộc ởnghĩa rộng Không có một xã hội nào là không có xung đột

Thông thường đó là sự căng thẳng giữa cộng đồng dân tộc đa số và dân tộcthiểu số Sự căng thẳng này có thể ở dạng che giấu, âm ỷ Trong trường hợp này,căng thẳng thể hiện ở sự cạnh tranh xã hội bằng cách so sánh đánh giá nhóm mìnhvới nhóm khác một cách có lợi cho nhóm mình Những căng thẳng giữa các dântộc trong một trường học ở Mỹ có học sinh thuộc nhiều thành phần dân tộc doRotheram-Borus (1993) tiến hành nghiên cứu cũng là xung đột dân tộc Những họcsinh Phổ thông Trung học ít khi giao tiếp với dân tộc khác, thích sử dụng tiếng mẹ

đẻ hơn, họ có thái độ thờ ơ hoặc là hung hãn với những học sinh cùng lớp thuộcdân tộc khác

Bà Rotheram khẳng định rằng, chính trong căng thẳng giữa các dân tộc thì

“yếu tố dân tộc trở nên rõ ràng hơn và có một ý nghĩa đặc biệt, nó như là dấu hiệuđồng nhất của cá nhân (Rotheram-Borus, 1993, 97); 70% học sinh gốc châu Mỹ Latinh, Mỹ gốc Phi và da trắng - nhấn mạnh thuộc tính dân tộc của mình

Những kết quả này đặc biệt rõ khi so sánh với những số liệu do Rotheram Borus thu được ở “trường học liên kết lý tưởng” ở trường học này học sinh thuộccác dân tộc khác nhau được giáo dục như nhau và tính đồng nhất dân tộc thể hiện

-rõ ở những học sinh có định hướng với hai nền văn hoá

Mâu thuẫn giữa các nhóm mặc dù đóng vai trò quyết định dẫn tới hành vixung đột, nhưng chúng không có mối quan hệ trực tiếp Một mặt, để xuất hiệnhành vi xung đột, thì mâu thuẫn giữa các nhóm phải được nhận thức, nhưng khôngbắt buộc phải là mâu thuẫn thực Xung đột giả mạo khi “ý thức” những mâu thuẫnkhông tồn tại, có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng Mặt khác, không phải

Trang 4

tất cả mọi mâu thuẫn lợi ích đều phát triển thành hành vi xung đột Nói cách khác,

giai đoạn nhận thức và mổ xẻ một cách xúc cảm xung đột rất quan trọng Những

dân tộc thiểu số có vị thế thấp chịu sự “bất bình đẳng của lịch sử” có mong muốnphục hồi sự bình đẳng, nhưng điều này không nhất thiết trỗi dậy phản ứng lập tức.Thông thường trong thời gian nhiều năm họ tập trung lực lượng để trả thù Nhiềuthế kỷ đã trôi qua kể từ khi người Do Thái bị đuổi khỏi vùng đất thánh, nhưngchính yếu tố này là cơ sở của cuộc đấu tranh lâu dài nhằm lấy lại chúng

Nếu như tình huống xung đột khách quan đã được nhận thức thì thậm chí cảnhững sự kiện ngẫu nhiên và cả khi là vô lý, nhưng do tính xúc cảm trong quan hệgiữa các dân tộc cũng có thể dẫn đến tương tác xung đột - một giai đoạn căngthẳng nhất của xung đột Tuy nhiên, khi tình huống xung đột đã được nhận thức thì

sự cạnh tranh xã hội có thể không chuyển thành tương tác xung đột, bởi vì thôngthường, những nhóm có vị thế thấp sẽ đấu tranh với nhóm có vị thế cao nếu như họnhận thức được quan hệ giữa họ không chỉ là vô lý, mà còn là quan hệ không ổnđịnh Chính tình huống bất ổn định gây nên sự tan giã vương quốc Xô Viết trởthành thời điểm thuận lợi nhất để “báo thù” cho “chấn thương” đã mang đến chohầu hết các dân tộc của Liên bang Xô Viết cũ trong vài thế kỷ

Giai đoạn tương tác xung đột dân tộc có xu hướng tự phát triển hoặc là leothang, nghĩa là các bên chuyển từ chiến thuật “nhẹ” sang “nặng”: từ những hành viđám đông không mang tính bạo lực (Mít tinh, biểu tình, những hành động khánglệnh toàn quốc) đến những đụng độ mà sớm hay muộn sẽ dẫn tới đổ máu (giữaOseti và Inguseti là vùng phía bắc Oseti Alani hoặc là giữa Kirgidia và Uzbekistan

ở vùng Osxkon của Kirgidia ) và thậm chí dẫn tới xung đột quân sự, chiến tranhchính trị dân tộc (Armenia - Aderbazan, Grudia - Abkhadia) (Strelexki, 1997)

Các nhà tâm lý học còn đưa ra một giai đoạn nữa của xung đột - đó là hoàgiải Mục bốn của chương này chúng tôi sẽ phân tích hoà giải Còn bây giờ chúngtôi nhấn mạnh rằng, theo quan điểm của nhà tâm lý học, xung đột không chỉ bắtđầu từ khi bắt đầu hành vi xung đột, và không kết thúc cùng với việc kết thúcchúng Sau khi kết thúc sự đối đầu trực tiếp - thời kỳ “hàn gắn vết thương”- xungđột có thể thể hiện ở dạng cạnh tranh xã hội, định kiến và hình ảnh kẻ thù Thậmchí vào giữa những năm 90, có 24% người được hỏi trên 60 tuổi, nghĩa là nhữngngười đã từng trải chiến tranh thế giứoi thứ hai vẫn coi những người Đức là kẻ thùxưa của dân tộc Nga (Zdravolmuxlov, 1996)

Như vậy, xung đột dân tộc là bất kỳ một dạng cạnh tranh nào giữa các

nhóm - trong tất cả các trường hợp, từ sự đối đầu thực tế để giành nguồn tài nguyên hạn hẹp đến sự khác nhau lợi ích một cách giả định - khi một trong những

Trang 5

bên đối kháng tri giác bên kia là dân tộc 1 Chúng tôi nhấn mạnh tới việc tri giác sựkhác nhau về lợi ích, điều này theo quan điểm của nhà xã hội học và chính trị học

là sự thu hẹp khái niệm xung đột dân tộc trong khoa học xã hội Nhưng việc giảithích khái niệm xung đột dân tộc sẽ trở nên toàn diện hơn khi thêm vào thành tốtâm lý, bởi vì nó phân tích các quá trình nhận thức và động cơ trước khi xảy ranhững sự đụng độ trực tiếp, có thể ảnh hưởng tới sự leo thang và có thể tồn tại saukhi xung đột kết thúc

2 Sự xuất hiện xung đột dân tộc

Ba vấn đề chính trong tâm lý học khi nghiên cứu quan hệ giữa các dân tộclà: xuất hiện, diễn biến và hoà giải xung đột dân tộc Cả các nhà xã hội học, chínhtrị học và tâm lý học đều quan tâm đến việc tìm ra nguyên nhân của xung đột dântộc Hướng tiếp cận xã hội học phân tích mối liên hệ giữa sự phân tầng xã hội vớithuộc tính dân tộc của người dân khi giải thích nguyên nhân xung đột Theo hướngtiếp cận chính trị học thì “một trong những cách phổ biến nhất để giải thích nguyênnhân xung đột là vai trò của giới thượng lưu, mà trước hết là của đội ngũ trí thức

và đội ngũ chính trị trong việc huy động tình cảm dân tộc, trong căng thẳng dân tộc

và trong việc leo thang của căng thẳng dân tộc tới mức xung đột công khai(Chiskov, 1997, tr.312-313)

Trong tâm lý học, các nguyên nhân của xung đột dân tộc thường được xemxét trong phạm vi của các học thuyết tổng hợp hơn Cần nhấn mạnh rằng, hầu nhưtất cả các quan điểm tâm lý học đều chia ra các nguyên nhân xã hội của xung độtgiữa các nhóm và các nguyên nhân cạnh tranh xã hội và thù địch thể hiện tronghành động và trong tưởng tượng hoặc là thù địch trong tưởng tượng một cách côngkhai hoặc không công khai Trong tiếng Anh có những từ khác nhau dùng để chỉhai loại nguyên nhân: nguyên nhân - reason (cái mà vì nó diễn ra hành động xungđột, mục đích của hành động) và nguyên cớ - cause (cái dẫn đến hành động thùđịch hoặc là cạnh tranh giữa các nhóm) Phần lớn các nhà tâm lý học không nghingờ vào sự hiện diện các nguyên nhân (reason) trong tất cả hoặc là trong một sốcác cuộc xung đột giữa các nhóm và họ cũng ngầm hiểu rằng đó là xung đột lợiích, xung đột những mục đích đối lập trong cuộc đấu tranh giành nguồn tài nguyênhạn hẹp nào đó, nhưng họ nhường quyền nghiên cứu những vấn đề này cho cácngành xã hội khác Họ đưa ra những đặc điểm tâm lý của những nguyên nhân(causes):

1 Một số tác giả gọi xung đột dân tộc ở nghĩa rộng là căng thẳng dântộc khi xem căng thẳng dân tộc như là hành động xung đột, một khái niệmgần nhất với xung đột dân tộc ở nghĩa hẹp

Trang 6

1 Xung đột giữa các nhóm là sản phẩm của những đặc điểm tâm lý tổng

hợp Việc xuất hiện nhiều các xung đột xã hội làm cho nhiều nhà lý luận đi tìm

nguyên nhân thù địch với những người cùng giống nòi ở dạng nhu cầu xâm kíchhay là tìm nguyên nhân về sự kích động của loài người

Tác giả của một trong những quan điểm tâm lý xã hội đầu tiênU.Mac.Daugơn (1871-1938) gán cho đấu tranh tập thể “bản năng đánh nhau”

Hướng tiếp cận này gọi là mô hình thuỷ lực, bởi vì xâm kích, theo quan điểm của

U.Mac.Dawgơn, không phải là phản ứng với sự tức giận, mà là xung động bảnnăng nào đó ở trong cơ thể của con người

Mô hình thuỷ lực cũng là nền tảng trong tư tưởng của Freud về nguyên nhânchiến tranh trong lịch sử nhân loại Freud cho rằng, sự thù địch giữa các nhóm làtất yếu và luôn tồn tại bởi vì xung đột lợi ích giữa mọi người về nguyên tắc chỉ cóthể giải quyết bằng bạo lực Con người có ham muốn vô lý-ham muốn chết Hammuốn này lúc ban đầu thì hướng vào bên trong, nhưng sau đó hướng ra thế giớibên ngoài, bởi vì, điều này tốt hơn cho con người Sự thù địch này cũng có lợi chonhóm bởi vì nó làm nhóm ổn định, hình thành nên tình cảm chung ở các thành viênnhóm Thù địch với một nhóm nào đó dẫn tới việc liên kết một số nhóm khác.Trong thời kỳ chiến tranh, hình thành nên liên kết các bộ tộc hoặc là liên kết cácquốc gia mà sự đối đầu trong phạm vi các quốc gia này bằng cách tạo ra nhữngcấm đoán, điều này diễn ra chẳng hạn, trong thời kỳ chiến tranh của các quốc gia

Hy Lạp chống ngoại xâm Theo quan điểm của Freud, sự đối địch với con người,với nhóm và thậm chí với cả các liên kết nhóm là có lợi, dẫn tới không tránh khỏibạo lực (Frớt, 1992)

Nhà nghiên cứu thứ ba về mô hình thuỷ lực là nhà dân tộc học người úcK.Lorens (1903-1989) Luận điểm cơ bản của ông là hành vi bạo lực của conngười trong chiến tranh, trong tội phạm…là hậu quả của tính bạo lực bẩm sinh mộtcách sinh học Nhưng nếu như ở thú vật, sự hung bạo nhằm để bảo tồn chủng loạithì đối với con người với đặc tính xâm kích người cùng chủng loại, thì nó nhằmbảo tồn nhóm Thông thường, những người thuộc nền văn hoá truyền thống tuânthủ điều giáo huấn… “không sát hại” trong nhóm Thậm chí những kẻ hay sinh sự

da đỏ Iut ở bắc Mỹ cũng tuyệt đối cấm kỵ giết hại những người cùng bộ tộc TheoLorens khi tuân theo điều cấm kỵ này, nhưng lại không có lối thoát cho xâm kích

ở dạng bạo lực với “người khác” nên họ thường hay bị thần kinh hơn những ngườithuộc các nền văn hoá khác (Lorens, 1994)

Trong tất cả các quan điểm trên, sự thù địch là sản phẩm của “bản tính vô lýcủa con người” Một số tác giả còn tranh luận về nền tảng sinh học của sự vô lý tập

Trang 7

thể Họ xem xét con người như là sự nhầm lẫn của tiến hoá Những học thuyết giảithích xung đột giữa các nhóm bằng những kích động xâm kích tổng hợp gặp phảivấn đề lớn khi giải thích các tình huống không có tương tác xung đột giữa cácnhóm Các nhà nghiên cứu theo trường phái của Freud tìm thêm những bằng chứng

về những tính chất chung trong các xu hướng xâm kích khi phân tích những hoàncảnh đặc biệt mà trong đó sự thù địch với các nhóm khác biểu hiện bằng hànhđộng

Quan điểm cổ điển thuộc dạng này là học thuyết về tính quyết định của sựthất vọng đến xâm kích của N.Muiler và Đ Dollar Theo quan điểm này, kích độngxâm kích tổng hợp sẽ chuyển thành hành vi xâm kích chỉ khi con người bị thấtvọng nghĩa là khi một điều kiện bất kỳ nào ngăn cản cá nhân đạt được mục đíchmong muốn2

L.Berkovic sử dụng các điều cơ bản của quan điểm thất vọng- xâm kích và

mở rộng khái niệm khách thể xâm kích tới toàn nhóm Ông cho rằng khách thể củaxâm kích không chỉ là các cá nhân riêng lẻ, mà còn cả những ai giống họ theo dấuhiệu nào đó Berkovic sử dụng tư tưởng này để giải thích nguyên nhân của các lànsóng bất bình và xung đột chủng tộc có liên quan tới định kiến chủng tộc, bởi vìchủng tộc và dân tộc là những dấu hiệu đầu tiên để so sánh Ông xem “sự thiếuthốn một cách tương đối” xuất hiện khi so sánh những nhóm mình với nhóm khác

và gây ra cảm giác bị né tránh và bị xâm hại quyền lợi là nguồn gốc của thất vọng

và của xâm kích tiềm năng3

Kiểu “So sánh nhìn lên” này, giải thích phản ứng xâm kích của những ngườithiểu số tại Mỹ để làm cho quyền lợi của họ được cải thiện chút ít (Mayer, 1997).Tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ khả năng khái quát hoá của xâm kíchtrong trường hợp con người không chịu tác động thất vọng một cách trực tiếp, màchỉ là nhân chứng thụ động Chẳng hạn, khi xem cảnh bạo lực trong đoạn phimchiếu để làm thực nghiệm, làm phản ứng xâm kích của họ mạnh lên, đặc biệt là khi

họ gặp người có thể làm cho họ liên tưởng tới nhân vật trong đoạn phim vừa xemtheo dấu hiệu dân tộc

Nhưng khi xem xét xung đột giữa các nhóm, thì quan điểm những đặc điểmtâm lý tổng hợp gặp phải những vấn đề nghiêm trọng, thậm chí cả khi đưa thêmnhững biến số Hạn chế cơ bản của tất cả các hướng tiếp cận này đều quy mâu

2 Nếu như sự so sánh với “bình ga” thì đó vẫn chỉ là “bình ga”, nhưng nó chỉ xịt ra chất độc khi và chỉ khi dùng búa đập vào nó.

3 Trong quan hệ giữa các dân tộc thì “sự thiếu thốn tương đối” là việc tri giác vị thế của nhóm mình tồi tệ so với vị thế của nhóm khác

Trang 8

thuẫn giữa các nhóm thành xung đột bên trong nhân cách hoặc là xung đột liênnhân cách, còn nếu có xung đột nhóm như Berkovic đề cập thì cũng không chú ýtới vai trò của chuẩn mực, giá trị và những cái khác điều chỉnh hành vi xã hội.

2 Những khác biệt cá nhân là nền tảng của xung đột giữa các nhóm Trong

số các hướng tiếp cận phân tích sự khác biệt cá nhân trong quan hệ của cá nhân vớicác nhóm khác, thì quan điểm nhân cách độc đoán là quan trọng nhất Dự ánnghiên cứu nổi tiếng “Nhóm từ Berkli” (T Adormo, tr 308) tiến hành ở Mỹ sauchiến tranh thế giới thứ hai, ngay từ đầu đã cố gắng đưa ra chân dung các cá nhân

có tư tưởng bài trừ Do Thái - những tên phát-xít tiềm năng (Adorno và đồng sự2001) T Adorno (1903-1969) và những đồng nghiệp của mình dựa trên tư tưởngcủa Frớt về việc hình thành thái độ đối với nhóm khác từ quá trình xã hội hóa củatrẻ từ thời thơ ấu, trong đó có cả mối quan hệ cảm xúc của trẻ trong gia đình.Những người được giáo dục trong gia đình thống trị các mối quan hệ hình thức vàquy định rõ ràng, thì một phần bạo lực đổ lên những ai không đồng nhất với họ,nghĩa là lên những nhóm bên ngoài

Quan hệ với người Do Thái ở Đức vào những năm 30 thể hiện trong địnhkiến cũng như trong hành động tới mức tiệt chủng Kết qủa nghiên cứu cho thấynhững người có quan điểm bài trừ Do Thái thì cũng có định kiến rõ ràng chốngcác cộng đồng dân tộc khác Khi đề nghị những người thực nghiệm bày tỏ thái độđối với hai dân tộc không tồn tại trên thực tế, thì chính những người có tư tưởngbài trừ Do Thái không thích những nhóm giả định này Họ có xu hướng chung làkhông thích những nhóm khác và ưa thích nhóm mình

Các nhà nghiên cứu từ Berkli nhận thấy những người sùng bái chủ nghĩaphát -xít có những nét nhân cách tương đối bền vững và có thể chỉ ra nhờ thang đo

F (thang đo Phát -xít) do họ tự thiết kế Kết quả là họ đã đưa ra loại nhân chủngmới có tên gọi là nhân cách độc đoán Ngoài nét tính cách là không thích nhómkhác, họ còn có nhữung nét tính cách khác như:

- Chủ nghĩa công ước (sùng bái những chuẩn mực xã hội truyền thống)

- Tuân thủ tuyệt đối chính quyền và uy quyền.

- Xâm kích độc đoán (tìm những người không tuân thủ chuẩn mực công ước

để kết tội, ruồng bỏ và xử phạt họ)

- Tính vô cảm (không thích những cái chủ quan mang tính tưởng tượng, cảm

xúc)

Trang 9

- Định khuôn trong tư duy và mê tín dị đoan

- Tư duy cứng nhắc và sùng bái bạo lực (tư duy những phạm trù cứng rắn

kiểu như: mạnh-yếu, cai trị - bị trị, thủ lĩnh-quân và ủng hộ những phương pháplãnh đạo cứng rắn)

-Vô kỷ luật và thái độ vô liêm sỉ (thù địch, thái độ độc ác đối với toàn nhân

loại

- Phóng chiếu (tin vào các cuộc mưu phản và tương lai mù mịt của nhân

loại)

- Có thái độ thù địch với gái mại dâm.

Adorno không cho rằng, một dân tộc nào đó có nhiều nhân cách độc đoánhơn, khi nhấn mạnh rằng phần lớn người dân “bình thường” Nhưng theo quanđiểm của ông, những cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế, đảo chính chính trị cóthể làm cho nhân cách độc đoán trở nên phổ biến trong một khoảng thời gian ở mộtđất nước nào đó, chẳng hạn, nhân cách độc đoán phổ biến ở Đức sau khi thất bạitrong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhấtI và hiệp định hoà bình quốc tế Véc-sây.Adorno nhìn thấy trong cách phân loại loài người của mình tính xã hội và tính vậnđộng Đó là sự khác biệt cơ bản nhất so với cách phân loại một cách sinh học vàtĩnh tại của những người theo quan điểm Hitle bằng cách chia mọi người thành

“những con cừu” và “những con dê” Nhưng trong trường hợp này lại đặt ra câuhỏi: Hệ thống làm nảy sinh ra những nét nhân cách độc đoán hay là những nét tínhcách cá nhân tạo ra hệ thống độc đoán? Ngoài ra, quan điểm nhân cách độc đoánkhông phải là quan điểm tâm lý xã hội với đúng nghĩa của nó, bởi vì trong xungđột giữa các nhóm không phải chỉ có sự tham gia của những cá nhân riêng lẻ, mà làcủa toàn thể cộng đồng

3 Học thuyết mâu thuẫn thực tế Học thuyết này xuất phát từ giả định rằng,

xung đột giữa các nhóm là sản phẩm của những lợi ích nhóm đối lập nhau, khi chỉmột trong các nhóm trở thành người chiến thắng và xâm hại lợi ích của nhóm cònlại

Nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất theo quan điểm này trong tâm lý xã hội làSerif Ông đưa ra giả thuyết rằng, sự phụ thuộc lẫn nhau về chức năng của hainhóm ở dạng cạnh tranh sẽ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới thù địch, thể hiện ởcác định khuôn tiêu cực và định kiến và cả ở việc phát triển tính cố kết nhóm Tất

cả những điều này dẫn tới hành vi thù địch Đây là hướng tiếp cận duy nhất phân

Trang 10

tích xung đột giữa các nhóm, trong đó nguyên nhân (reason) của sự thù địch giữacác nhóm (xung đột lợi ích kinh tế) xem xét cùng với nguyên nhân (cause.)

Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới các nghiên cứu của Serif năm 1949-1953 là

ký ức mới nhất về những điều khủng khiếp diễn ra trong chiến tranh thế giới thứhai và cực điểm của “chiến tranh lạnh” Mục đích của nhà tâm lý học Mỹ này làvạch ra chiến thuật để biến quan hệ thù địch giữa các nhóm, mà trước tiên là nhữngquan hệ giữa các cường quốc -thành quan hệ hợp tác và bằng cách đó để ngăn chặnchiến tranh thế giới thứ ba Để kiểm tra giả thuyết của mình, Serif và những đồngnghiệp tiến hành một số thực nghiệm ngoài trời ở các trại hè thiếu nhi nam Cuộcđua giữa hai nhóm con trai đã đi đến hiệu ứng tâm lý xã hội giống như xung độtgiữa các nhóm Xung đột lợi ích - cuộc chiến giành phần thưởng rất nhanh chóngchuyển thành thù địch xâm kích Cùng với điều này còn thấy rằng, sự tương tác vớinhóm bị đánh giá không thiện chí làm tăng sự cố kết nhóm và hình thành nênnhững hiện tượng mới về tính đồng nhất nhóm

ý nghĩa nghiên cứu của Serif là ở chỗ, chính từ những nghiên cứu này bắtđầu phát triển hướng tiếp cận tâm lý xã hội trong việc nghiên cứu quan hệ giữa cácnhóm, khi tìm nguồn gốc thù địch dân tộc không phải ở những đặc trưng của cánhân - tất cả mọi người có đặc điểm xâm kích hay là một số người có tính cách độcđoán, mà là ở tính chất của bản thân mối tương quan giữa các nhóm Nhưng Serif

đã bỏ qua những quy luật bên trong không kém phần bản chất của các quá trìnhtâm lý xã hội khi chỉ giới hạn việc giải thích nguyên nhân của xung đột bằng việcphân tích những tương tác nhìn thấy trực tiếp, chẳng hạn, nhiều lúc xung đột dântộc là giả tạo khi không có xung đột lợi ích thực tế Những xung đột như thế đượcgọi là xung đột tàn sát hoặc là xung đột nổi loạn khi không có mục đích rõ ràng,nhưng nó để lại hậu quả nghiêm trọng Chẳng hạn, các nhà xã hội không thể giảithích một cách rõ ràng, vì sao mùa hè 1989 những người Thổ Nhĩ Kỳ - Mexkhetinx

bị tàn sát chứ không phải các dân tộc thiểu số khác sống ở thung lũng Fergan Việcphân tích thêm các biến số -các quá trình tâm lý đặc biệt liên quan tới thành viênnhóm sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này

Trang 11

ra các điều kiện tối thiểu cần thiết để làm xuất hiện hành vi phân biệt đối xử vớicác thành viên của nhóm khác Giữa các nhóm tham gia vào thực nghiệm không cóxung đột lợi ích hoặc là thù địch trước đây Những người thực nghiệm - học sinhAnh-không tương tác với nhau trong nhóm cũng như ở cấp liên nhóm Các nhómnày chỉ tồn tại trong tri giác của học sinh Họ được biết rằng, nhóm được hìnhthành trên cơ sở là kết quả nghiên cứu của thực nghiệm trước đó Nhưng trên thực

tế người ta xếp những người thực nghiệm vào các nhóm một cách ngẫu nhiên

Nói cách khác, việc phạm trù hoá xã hội các nhóm khi tham gia vào thựcnghiệm đã bỏ qua tất cả các biến số thường hay dùng để xác định tính cố kết nhóm

và sự đối kháng giữa các nhóm Tuy vậy, nhưng khi lựa chọn cách phân chia tiềnthưởng khi tham gia vào thực nghiệm cho các thành viên nặc danh của nhóm mình

và nhóm kia, thì việc tạo sự khác biệt có lợi cho nhóm mình quan trọng hơn là việcchia cho các thành viên của nhóm mình nhiều tiền hơn, nếu như các thành vên

“nhóm khác” giành được nhiều tiền hơn Như vậy, những người thực nghiệm sẵnsàng trả giá bằng sự mất mát về vật chất để đổi lấy sự đồng nhất xã hội tích cực.Những số liệu này, theo Tajfel chứng minh rằng, bản thân việc phạm trù hoá xã hội

đủ để tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nhóm và thù địch với nhóm khác là khôngthể tránh khỏi

Đa số các thực nghiệm ở Anh được tiến hành với mẫu nghiên cứu là những

nhóm có khác biệt tối thiểu và có vị thế như nhau Nhưng trên thực tế, đây là

trường hợp hiếm có trong tương tác giữa các nhóm Khi nghiên cứu các nhóm đa

số và thiểu số cho thấy, thành viên của nhóm đa số có xu hướng cạnh tranh xã hội

rõ ràng hơn Nhưng xu hướng này chỉ đến một giới hạn nhất định Những nhómmạnh, kiểm soát tình hình trong xã hội một cách tuyệt đối, tin tưởng vào vị thế củamình và có sự đồng nhất tích cực, “cho phép mình không thể hiện sự cạnh tranh xãhội và giành quyền cho nhóm thiểu số “hưởng thụ” tính đồng nhất tích cực củamình” (Taylok, Moghaddam, 1987, tr 71) Chẳng hạn, tầng lớp thượng lưu da trắng

ở Mỹ thể hiện thái độ xã hội khoan dung với các nhóm thiểu số về chủng tộc và vềdân tộc, còn những người da trắng trung lưu có những định kiến dân tộc rõ ràng

Chúng ta lại quay về các nhóm có xung đột lợi ích thực tế Các nhà tâm lýhọc Anh không phủ nhận rằng cũng có những cuộc xung đột giữa các nhóm do cácnguyên nhân khách quan: các nhóm đấu tranh để giành lợi ích thực tế - lãnh thổ,huy hiệu thể thao như trong trường hợp thực nghiệm của Serif với những cậu bé

Nhưng có trường hợp khác khi sự thay đổi vị thế tương đối của nhóm cũngdẫn tới cạnh tranh xã hội Mục đích ở đây là coi nhóm mình tốt hơn nhóm khác dùchỉ là trong con mắt của chính mình và bằng cách như vậy để duy trì sự đồng nhất

Ngày đăng: 03/07/2021, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w