Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Hà Nội ... Bộ môn là bộ phận chịu trách nhiệm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐOÀN VĂN CƯỜNG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG
NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐOÀN VĂN CƯỜNG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG
NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 9 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Lê Quân
2 PGS.TS Phạm Văn Thuần
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ ở bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Nghiên cứu sinh
ĐOÀN VĂN CƯỜNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm
ơn tới Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy đã cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Lê Quân và PGS.TS Phạm Văn Thuần - hai cán bộ hướng dẫn khoa học đã tận tâm giúp đỡ và chỉ dẫn cho tôi những kiến thức cũng như phương pháp luận trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn các trường đại học định hướng nghiên cứu trong Đại học Quốc gia Hà Nội và các đơn vị có liên quan đã cung cấp tài liệu; lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Tổ chức Cán bộ và các đồng nghiệp, những người thân, gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả!
Nghiên cứu sinh
ĐOÀN VĂN CƯỜNG
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Phạm vi nghiên cứu 5
8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
9 Luận điểm bảo vệ 10
10 Những đóng góp mới của luận án 10
11 Cấu trúc của luận án 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG
BỘ MÔN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 12
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Nghiên cứu về trường đại học nghiên cứu 12
1.1.2 Nghiên cứu về đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng
nghiên cứu 14
1.1.3 Nghiên cứu về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học
định hướng nghiên cứu 18
1.1.4 Vấn đề đặt ra cho luận án 23
1.2 Một số khái niệm cơ bản 24
1.2.1 Khái niệm bộ môn, trưởng bộ môn và đội ngũ trưởng bộ môn 24
1.2.2 Khái niệm trường đại học định hướng nghiên cứu 26
1.2.3 Khái niệm đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu.28 1.2.4 Khái niệm phát triển đội ngũ trưởng bộ môn 29
Trang 61.3 Đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu 32
1.3.1 Trường đại học định hướng nghiên cứu 32
1.3.2 Đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu 39
1.4 Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu 53 1.4.1 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học
định hướng nghiên cứu 53
1.4.2 Mô hình lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực 57
1.4.3 Nội dung phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu 59
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường
đại học định hướng nghiên cứu 71
1.5.1 Các yếu tố khách quan 71
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 73
Kết luận Chương 1: 75
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG
BỘ MÔN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 76
2.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường
đại học nghiên cứu 76
2.1.1 Kinh nghiệm của Singapore 76
2.1.2 Kinh nghiệm của Mỹ 77
2.1.3 Kinh nghiệm ở Đài Loan, Trung Quốc 79
2.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 79
2.2 Khái quát về trường đại học định hướng nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam -
Đại học Quốc gia Hà Nội 80
2.3 Giới thiệu tổ chức khảo sát 82
2.3.1 Mục đích khảo sát thực trạng 82
2.3.2 Nội dung khảo sát 82
2.3.3 Phương pháp khảo sát, đối tượng và công cụ khảo sát 82
2.3.4 Chuẩn đánh giá 83
2.3.5 Mẫu khảo sát và địa bàn khảo sát 83
2.4 Thực trạng năng lực đội ngũ trưởng bộ môn trong các trường đại học
định hướng nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 84
Trang 72.4.1 Cơ cấu đội ngũ trưởng bộ môn theo trình độ, kinh nghiệm 84
2.4.2 Cơ cấu đội ngũ trưởng bộ môn theo giới tính, độ tuổi 87
2.4.3 Năng lực đội ngũ trưởng bộ môn 88
2.4.4 Phẩm chất đội ngũ trưởng bộ môn 107
2.5 Thực trạng phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Hà Nội 114
2.5.1 Xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí vị trí trưởng bộ môn 114
2.5.2 Thực trạng hoạt động phát triển đội ngũ trưởng bộ môn 115
2.5.3 Đánh giá kết quả phát triển đội ngũ trưởng bộ môn 129
2.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển đội ngũ trưởng
bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Hà Nội 132
2.7 Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường
đại học định hướng nghiên cứu ở Đại học Quốc gia Hà Nội 134
2.7.1 Ưu điểm 134
2.7.2 Tồn tại, hạn chế 136
Kết luận Chương 2: 138
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM.140 3.1 Định hướng phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học
định hướng nghiên cứu ở Việt Nam 140
3.2 Nguyên tắc xây dựng các giải pháp 143
3.2.1 Đảm bảo tính pháp lý 143
3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa 143
3.2.3 Đảm bảo tính hệ thống 143
3.3 Giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở Việt Nam 144
3.3.1 Tổ chức xây dựng khung năng lực trưởng bộ môn đặc thù của trường
đại học định hướng nghiên cứu 144
3.3.2 Lập quy hoạch đội ngũ trưởng bộ môn gắn với chiến lược phát triển
đội ngũ nhà khoa học đầu ngành 148
3.3.3 Quản lý tuyển chọn và sử dụng đội ngũ trưởng bộ môn theo khung
năng lực trưởng bộ môn 155
3.3.4 Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ trưởng bộ môn dựa vào năng lực 160
Trang 83.3.5 Đánh giá trưởng bộ môn theo kết quả thực hiện công việc dựa vào năng lực 167
3.3.6 Tạo điều kiện thúc đẩy tự chủ học thuật cho trưởng bộ môn 173
3.4 Khảo nghiệm và thử nghiệm giải pháp 176
3.4.1 Khảo nghiệm giải pháp 176
3.4.2 Thử nghiệm giải pháp 181
Kết luận Chương 3: 188
KẾT LUẬN 190
1 Kết luận 190
2 Khuyến nghị 191
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA
TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 193
TÀI LIỆU THAM KHẢO 194
PHỤ LỤC 0
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBKH : Cán bộ khoa học CBQL : Cán bộ quản lý CNH : Công nghiệp hóa CNTT : Công nghệ thông tin
KH&CN : Khoa học và công nghệ NCKH : Nghiên cứu khoa học NCS : Nghiên cứu sinh NCV : Nghiên cứu viên NNL : Nguồn nhân lực QLGD : Quản lý giáo dục KT-CN : Kỹ thuật - Công nghiệp KT-XH : Kinh tế - Xã hội
TBM : Trưởng bộ môn SĐH : Sau đại học
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp các tiêu chí năng lực của trưởng bộ môn qua các công trình
nghiên cứu đã công bố 49
Bảng 1.2: Tổng hợp xây dựng khung năng lực của trưởng bộ môn trong trường
đại học định hướng nghiên cứu 52
Bảng 2.1: Thang đánh giá 83
Bảng 2.2: Thống kê mẫu khảo sát 84
Bảng 2.3: Mức độ hiểu biết chương trình đào tạo (ĐH và SĐH) của ĐNTBM 88
Bảng 2.4: Đánh giá về trình độ chuyên môn của đội ngũ trưởng bộ môn 88
Bảng 2.5: Đánh giá về nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ trưởng bộ môn 90
Bảng 2.6: Đánh giá về năng lực tự học và sáng tạo của đội ngũ trưởng bộ môn 91
Bảng 2.7: Đánh giá về năng lực ngoại ngữ và ứng dụng CNTT của ĐNTBM .92
Bảng 2.8: Đánh giá về kỹ năng NCKH và tổ chức NCKH của ĐNTBM 93
Bảng 2.9: Đánh giá về năng lực bồi dưỡng phát triển ĐNGV của ĐNTBM 94
Bảng 2.10: Đánh giá về năng lực quản lý hoạt động dạy học của ĐNTBM 95
Bảng 2.11: Đánh giá về năng lực quản lý tài sản bộ môn của ĐNTBM .96
Bảng 2.12: Đánh giá về năng lực phát triển môi trường giáo dục của ĐNTBM 97
Bảng 2.13: Đánh giá về năng lực quản lý hành chính của đội ngũ trưởng bộ môn 98
Bảng 2.14: Đánh giá về năng lực quản lý công tác thi đua - khen thưởng của
đội ngũ trưởng bộ môn 98
Bảng 2.15: Đánh giá về năng lực xây dựng hệ thống thông tin của ĐNTBM 99
Bảng 2.16: Đánh giá về năng lực kiểm tra đánh giá của đội ngũ trưởng bộ môn 100
Bảng 2.17: Đánh giá về năng lực phân tích và dự báo của đội ngũ trưởng bộ môn 101 Bảng 2.18: Đánh giá về năng lực thiết kế, định hướng và triển khai của ĐNTBM 102
Bảng 2.19: Đánh giá về khả năng quyết đoán, có bản lĩnh đổi mới, tự chịu
trách nhiệm thích ứng với công việc mới của đội ngũ trưởng bộ môn 103
Bảng 2.20: Đánh giá về năng lực hiểu biết các vấn đề xã hội và phối hợp với
cộng đồng của đội ngũ trưởng bộ môn 104
Bảng 2.21: Đánh giá về khả năng xây dựng, phát triển các mối quan hệ và hỗ trợ
cộng đồng của đội ngũ trưởng bộ môn 105
Bảng 2.22: Đánh giá về năng lực hợp tác quốc tế của đội ngũ trưởng bộ môn 106
Trang 11Bảng 2.23: Đánh giá về sự chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước của ĐNTBM 108
Bảng 2.24: Đánh giá về lòng yêu nghề và tận tuỵ với nghề của ĐNTBM 109
Bảng 2.25: Đánh giá về tinh thần trách nhiệm trong công tác, đoàn kết hợp tác
với đồng nghiệp của ĐNTBM 111
Bảng 2.26: Đánh giá về lối sống của ĐNTBM 112
Bảng 2.27: Đánh giá mức độ hiệu quả của công tác xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí
vị trí trưởng bộ môn theo đối tượng khảo sát 115
Bảng 2.28: Đánh giá mức độ thực hiện công tác quy hoạch trưởng bộ môn
theo đối tượng khảo sát 117
Bảng 2.29: Đánh giá mức độ hiệu quả của công tác tuyển chọn trưởng bộ môn
theo đối tượng khảo sát 120
Bảng 2.30: Thống kê số lượng các khoá ĐT-BD ngắn hạn dành cho TBM 122
Bảng 2.31: Khảo sát công tác ĐT-BD dành cho TBM 123
Bảng 2.32: Đánh giá hiệu quả công tác bố trí, sử dụng TBM 125
Bảng 2.33: Tổng hợp các tiêu chí ảnh hưởng đến phát triển ĐNTBM 133
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về mức độ cấp thiết của các giải pháp đề xuất 178
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về mức độ khả thi của các giải pháp đề xuất 180
Bảng 3.3: Khảo sát đánh giá tính hiệu quả trước và sau khi thực hiện giải pháp 185
Bảng 3.4: Khảo sát đánh giá mức độ hài lòng trước và sau khi thực hiện giải pháp 186 Bảng 3.5: Thống kê các kết quả bộ môn đạt được sau khi thực hiện giải pháp 187
Trang 12DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Cấu phần của tổ chức 33
Hình 1.2: Đặc điểm trường đại học nghiên cứu theo cách tiếp cận quản trị tổ chức 36
Sơ đồ 1.3: Mô hình phát triển nguồn nhân lực của Leonard Nadle 58
Sơ đồ 1.4 Các nguyên tắc của mô hình phát triển giảng viên 59
Sơ đồ 1.5: Các nội dung phát triển đội ngũ trưởng bộ môn 60
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đội ngũ trưởng bộ môn theo trình độ và chức danh 85
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu đội ngũ trưởng bộ môn theo kinh nghiệm quản lý và
kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu khoa học 86
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu đội ngũ trưởng bộ môn theo giới tính 87
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu đội ngũ trưởng bộ môn theo độ tuổi 87
Biểu đồ 2.5: Đánh giá mức độ hiệu quả của công tác xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí
vị trí trưởng bộ môn 114
Biểu đồ 2.6: Đánh giá mức độ hiệu quả của quy hoạch trưởng bộ môn 116
Biểu đồ 2.7: Đánh giá mức độ phù hợp của công tác tuyển chọn trưởng bộ môn 120
Hình 2.8: Đánh giá về chính sách đãi ngộ đội ngũ trưởng bộ môn 128
Biểu đồ 2.9: Đánh giá về công tác đánh giá kết quả phát triển của trưởng bộ môn 132
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong trường ĐH và cao đẳng, bộ môn và các đơn vị tương đương (phòng thí nghiệm, labo, trung tâm, nhóm nghiên cứu…) thuộc khoa là các đơn vị chuyên môn nhỏ nhất nhưng lại có ý nghĩa to lớn trong hoạt động đào tạo, KH&CN và quản lý ĐNGV Bộ môn là bộ phận chịu trách nhiệm về nội dung chất lượng, tiến độ giảng dạy, học tập của một hoặc một số học phần hoặc chuyên ngành trong chương trình đào tạo,
kế hoạch giảng dạy chung của khoa, trường; nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thực hiện các hoạt động học thuật và tham gia phát triển ĐNGV, CBKH của bộ môn, khoa
và trường Vì vậy, những năm gần đây vai trò của bộ môn trong trường ĐH ngày một nâng cao, trở thành nhân tố lõi quyết định chất lượng hoạt động GD&ĐT, KH&CN của nhà trường
Trong bộ môn, TBM là người đứng đầu có vị trí quan trọng nhất, giúp hiệu trưởng và trưởng khoa điều hành, tổ chức các hoạt động đào tạo, KH&CN của bộ môn cũng như quản lý ĐNGV Chính vì vậy, TBM phải đáp ứng một số tiêu chuẩn để đảm bảo giữ vững vai trò, trách nhiệm của mình TBM không chỉ là giảng viên, nhà khoa học mà còn là nhà quản lý, nhà lãnh đạo Ngoài có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, năng lực quản lý chuyên nghiệp, TBM còn phải có uy tín trong lĩnh vực mình đảm trách, có thể chủ động, sáng tạo tiếp cận xu thế phát triển của thế giới và yêu cầu đổi mới GDĐH ở Việt Nam
Quá trình hội nhập quốc tế là tất yếu đối với tất cả lĩnh vực, trong đó đào tạo NNL cần phải chủ động để tiếp cận với trình độ đào tạo của khu vực và thế giới, tạo tiền đề để hội nhập kinh tế Để đáp ứng nhu cầu đó, ngành GD&ĐT phải nỗ lực nhiều hơn nữa, đặc biệt phải đảm bảo chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế, tham gia đóng góp vào nền tri thức nhân loại nên yêu cầu đối với các TBM ngày càng cao, đòi hỏi các TBM luôn phải được quan tâm phát triển từng ngày
Cùng với sự phát triển của KT-XH, GD&ĐT luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm với nhiều chủ trương, chính sách đổi mới Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam
theo hướng chuẩn hoá, HĐH, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó
Trang 14đổi mới cơ chế QLGD, phát triển ĐNGV và CBQL giáo dục là khâu then chốt” [30]
Hiện nay, giáo dục Việt Nam đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình đào tạo, NNL xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ ĐH, SĐH phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH Đó là bởi chủ trương thường xuyên phát triển ĐNGV và CBQL giáo dục, trong
đó có ĐNTBM Yêu cầu đổi mới khiến cho các TBM không thể tự bằng lòng với những
gì đang có mà phải luôn thay đổi, phát triển bản thân dù là người được lựa chọn và đã đáp ứng những tiêu chuẩn ở thời điểm trước
Về lý luận, phát triển ĐNTBM không những đảm bảo cho ĐNTBM của trường
ĐH luôn được cập nhật những tri thức hiện đại, cách thức tiếp cận GD&ĐT phù hợp với yêu cầu mới đặt ra của xã hội để tổ chức các hoạt động đào tạo, NCKH của bộ môn,
mà còn giúp nhà trường luôn duy trì một đội ngũ CBQL chuyên môn có chất lượng Vai trò của phát triển ĐNTBM giúp cho nhà trường có NNL vững chắc, làm việc với hiệu quả cao nhất, giúp phát huy tối đa tiềm năng của con người và đảm bảo chất lượng GD&ĐT cho xã hội Vì vậy, phát triển ĐNTBM là một công tác hết sức quan trọng không chỉ tác động tới hoạt động quản trị nhân sự mà còn có ảnh hưởng tới các hoạt động chuyên môn, gián tiếp ảnh hưởng đến đầu ra của mọi trường ĐH
Trong hai loại hình trường ĐH (định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng), trường ĐHĐHNC có vai trò ưu việt hơn trong việc duy trì sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới nhằm dẫn dắt tiến bộ xã hội cũng như thúc đẩy sự giàu mạnh của quốc gia Trường ĐHĐHNC giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển GD&ĐT, KH&CN, KT-XH và văn hóa của một quốc gia; là nơi tạo ra tầng lớp tinh hoa của xã hội về mặt tri thức, trí tuệ và dẫn dắt hệ thống GDĐH về mặt học thuật [87] Bộ môn trong trường ĐHĐHNC mà đứng đầu là các TBM càng được coi trọng bởi chức năng, nhiệm vụ trực tiếp hướng tới đạt mục tiêu hoạt động của nhà trường Tuy nhiên, yêu cầu đối với bộ môn nói chung và TBM nói riêng ở trường ĐHĐHNC có những đặc thù riêng, tập trung nhiều vào các hoạt động KH&CN bên cạnh chuyển giao tri thức với tính tự chủ cao Điều này đặt ra vấn
đề sẽ có sự khác biệt về khung năng lực của ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC với các trường ĐH khác Để phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC có hiệu quả thì cần thiết phải nghiên cứu một cách sâu sắc về khung năng lực này
Trang 15Hiện nay, ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC đã đáp ứng được các quy định của Nhà nước về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức Tuy nhiên, trên thực tế trước sự thay đổi nhanh chóng của KH&CN, toàn cầu hoá hướng tới nền kinh tế tri thức, nhiều TBM đã khá lúng túng khi thực hiện chức năng là những người tổ chức các hoạt động KH&CN của bộ môn và dẫn dắt ĐNGV; đồng thời là các nhà khoa học, hợp tác quốc
tế trong NCKH và chuyển giao công nghệ Khung năng lực cũng được thay đổi thường xuyên theo yêu cầu bối cảnh mới Vì thế, trong quá trình hoạt động, các TBM có thể đáp ứng năng lực vào thời điểm này nhưng chưa chắc còn phù hợp vào thời điểm sau Rất nhiều kỹ năng, yêu cầu riêng đối với ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC vẫn còn thiếu và yếu ở hiện tại, đặt ra vấn đề cấp thiết phải nghiên cứu và thực hiện phát triển ĐNTBM đúng hướng, liên tục và thường xuyên
Trong bối cảnh phát triển GD&ĐT Việt Nam theo định hướng “Chuẩn hóa -
Xã hội hóa - HĐH” và tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường ĐH
hiện nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới các vấn đề, cũng như các giải pháp hữu hiệu để phát triển NNL nói chung và đội ngũ CBQL nói riêng trong trường ĐH Tuy nhiên, bài toán phát triển đội ngũ CBQL chuyên môn, trong đó có ĐNTBM ở mỗi trường ĐH đến nay vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về vấn đề phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC Do vậy, tính cấp thiết đặt ra hiện nay là các trường ĐHĐHNC phải rà soát lại công tác phát triển ĐNTBM của mình, đánh giá để tìm ra căn cứ xây dựng chiến lược và thực hiện công tác phát triển ĐNTBM của mình một cách toàn diện, hiệu quả đáp ứng yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ trong bối cảnh mới
Với những lý do nêu trên, đồng thời dựa vào cơ sở lý thuyết các mô hình tiếp cận phát triển NNL theo năng lực và dưới góc độ quản lý, NCS chọn đề tài nghiên
cứu “Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên
cứu ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp Đại học Quốc gia Hà Nội”, với mong
muốn có những đóng góp cụ thể và thiết thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong công tác phát triển NNL, đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và đội ngũ CBQL chuyên môn (cụ thể là ĐNTBM) nói riêng trong trường ĐHĐHNC mà Việt Nam đang tập trung xây dựng
Trang 162 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án xây dựng khung lý thuyết đặc thù về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC làm căn cứ để đánh giá thực trạng tại các trường thuộc ĐHQGHN, chỉ ra những hạn chế hiện nay Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở ĐHQGHN nói riêng và ứng dụng cho các trường ĐHĐHNC ở Việt Nam nói chung
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ TBM trong trường ĐHĐHNC
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chính: Các trường ĐHĐHNC ở Việt Nam cần thực hiện những giải pháp gì để phát triển ĐNTBM trong bối cảnh hiện nay?
Để thực hiện câu hỏi trên, luận án cần phải giải đáp những câu hỏi cụ thể sau:
- Khung lý thuyết đặc thù về phát triển ĐNTBM trong các trường ĐHĐHNC ở Việt Nam là gì?
- Khung năng lực TBM để đáp ứng yêu cầu hoạt động của trường ĐHĐHNC ở Việt Nam hiện nay là gì?
- Thực trạng năng lực và hoạt động phát triển ĐNTBM trong các trường ĐHĐHNC thuộc ĐHQGHN như thế nào?
- Các trường ĐHĐHNC thuộc ĐHQGHN cần làm gì để nâng cao hiệu quả phát triển ĐNTBM trong thời gian tới?
5 Giả thuyết khoa học
Thứ nhất, phát triển ĐNTBM trong các trường ĐHĐHNC ở Việt Nam có mối
quan hệ với khung năng lực TBM Khung năng lực là căn cứ để đánh giá, xác định những nội dung cụ thể để phát triển ĐNTBM hiệu quả
Thứ hai, công tác phát triển ĐNTBM trong các trường ĐHĐHNC ở Việt Nam
vẫn còn những hạn chế, bất cập trước yêu cầu đổi mới GD&ĐT Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp dựa trên trên lý luận về phát triển NNL và đặc điểm lao động, phẩm chất, năng lực đặc thù của TBM trong trường ĐHĐHNC thì có thể phát
Trang 17triển ĐNTBM đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng NNL và hoạt
động chuyên môn đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động phát triển ĐNTBM để tìm ra các giá trị kế thừa và “khoảng trống” mà luận án cần giải quyết
6.2 Nghiên cứu các vấn đề về phát triển NNL, ĐNTBM, trường ĐHĐHNC để xây dựng khung lý luận về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
6.3 Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
6.4 Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ để phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL chuyên môn một cách hiệu quả trong thời gian tới
6.5 Thực hiện khảo nghiệm và thử nghiệm để đánh giá khách quan về tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất nhằm hoàn chỉnh hơn, giúp các giải pháp của luận án khi triển khai thực tế có hiệu quả
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2013-2020 Các giải pháp đề xuất nhằm
hoàn thiện công tác phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam tới năm
2025, tầm nhìn năm 2030
7.2 Không gian nghiên cứu: Luận án tập trung vào nghiên cứu, khảo sát thực
trạng phát triển ĐNTBM đối với các bộ môn chuyên ngành trong trường ĐHĐHNC
ở Việt Nam Thực hiện nghiên cứu và khảo sát trường hợp ĐHQGHN, cụ thể tại 06 trường ĐH thành viên thuộc ĐHQGHN gồm: Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Ngoại ngữ, Trường ĐH Công nghệ, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH Giáo dục
7.3 Nội dung nghiên cứu: Xây dựng tiêu chuẩn năng lực của TBM; nghiên cứu
nội dung, quy trình phát triển ĐNTBM điển hình trong trường ĐHĐHNC (06 trường
ĐH thành viên) thuộc ĐHQGHN
7.4 Chủ thể thực hiện phát triển ĐNTBM là nhà trường, cụ thể là đội ngũ
CBQL trong các trường ĐHĐHNC như: Ban chủ nhiệm khoa, các vị trí quản lý hành chính, Ban giám hiệu nhà trường
Trang 188 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử yêu cầu việc nghiên cứu về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam trước hết phải kế thừa những kết quả nghiên cứu của những người đi trước Do vậy, NCS đã tích cực trong việc tìm hiểu các tài liệu khoa học viết về phát triển đội ngũ CBQL giáo dục Trên cơ
sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, luận án tiếp tục hoàn thiện khung lý luận để phân tích các vấn đề cơ bản ở các chương sau Ngoài ra, phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Các quan
hệ đó luôn được xem xét trong sự vận động, biến đổi
Trên cơ sở đó, đề tài luận án được nghiên cứu theo những cách tiếp cận sau:
- Tiếp cận năng lực: Là phương án chuẩn hóa các năng lực để điều khiển hành
vi hoạt động của ĐNTBM trong trường ĐH
- Tiếp cận lịch sử: Chuyển từ nhấn mạnh “số lượng, chất lượng” sang yếu tố tiềm năng con người Phát triển ĐNTBM theo tiếp cận lịch sử, tôn trọng tính kế thừa
và bối cảnh lịch sử “TBM vừa là CBQL cấp thấp, vừa là CBQL chuyên môn, vừa là nhà chuyên môn trong trường ĐH”
- Tiếp cận thực tiễn: Phát triển ĐNTBM theo tiếp cận vận dụng những kinh nghiệm của thế giới và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của hệ thống GDĐH Việt Nam; đồng thời tôn trọng tính thực tiễn riêng có của định danh CBQL cấp bộ môn trong trường ĐH
- Tiếp cận phát triển NNL: Dựa trên năng lực là kế thừa các thành tựu về khoa học quản trị NNL, sự tối ưu hóa năng suất lao động của NNL và ĐNTBM trong các trường ĐH, luận án nghiên cứu dựa trên mô hình tiếp cận phát triển NNL theo năng lực để xây dựng khung lý thuyết đặc thù
8.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Các dữ liệu thực hiện luận án được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đạt mục tiêu nghiên cứu Luận án sử dụng cả hai nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
8.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Trang 19Tài liệu thứ cấp là tài liệu đã được công bố chính thức, được công nhận về độ tin cậy của dữ liệu Có thể dữ liệu thứ cấp có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải thích và thảo luận, diễn giải Các nguồn tài liệu thứ cấp chủ yếu gồm: Sách giáo khoa, công trình nghiên cứu, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, sách tham khảo, luận án, thông tin thống kê, tài liệu văn thư, Internet
Dữ liệu thứ cấp của luận án được thu thập từ các nguồn: Báo cáo của các trường ĐHĐHNC thuộc ĐHQGHN; các văn bản, quyết định liên quan đến phát triển ĐNTBM; các nghiên cứu trong và ngoài nước, các số liệu đã được công bố về ĐNTBM, phát triển ĐNTBM trong trường ĐH
Nghiên cứu sinh thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tài liệu uy tín và có căn
cứ khoa học, ví dụ như sách, giáo trình, luận án tiến sĩ và các báo cáo khoa học khác Các nguồn tài liệu này sẽ được đề cập chi tiết ở các phần sau của luận án
Các tài liệu này cung cấp những thông tin cần thiết cho phần nghiên cứu cơ sở
lý luận và thực tiễn của đề tài luận án, đánh giá được thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển ĐNTBM trong các trường ĐHĐHNC
8.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án
sử dụng kết hợp cả phương pháp phỏng vấn sâu và khảo sát đánh giá
- Phỏng vấn sâu:
+ Mục tiêu: Xem xét ý kiến đánh giá của các chuyên gia, CBQL trong lĩnh vực GD&ĐT, KH&CN, quản trị NNL về xây dựng khung năng lực và hoạt động phát triển ĐNTBM
+ Đối tượng: Phỏng vấn khoảng 10-15 chuyên gia và CBQL hoạt động trong lĩnh vực GD&ĐT, KH&CN
+ Thu thập thông tin: Để đảm bảo chất lượng phỏng vấn và thu thập đầy đủ các thông tin liên quan, nội dung câu hỏi phỏng vấn cơ bản được xây dựng trên cơ sở nội dung phát triển ĐNTBM và lý luận về các yêu cầu năng lực đối với TBM Các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại văn phòng làm việc Mỗi cuộc phỏng vấn trung bình kéo dài 20-30 phút, về các nội dung đã nêu Tất cả đối tượng tham gia phỏng vấn đều rất quan tâm ủng hộ nghiên cứu và sẵn sàng cung cấp các thông tin khi được đề nghị cũng
Trang 20như chia sẻ các quan điểm riêng của cá nhân Kết quả rút ra không chỉ dựa vào việc tổng hợp lại những ý kiến cá nhân riêng rẽ theo từng nội dung cụ thể mà còn được tập hợp thành quan điểm chung đối với những vấn đề mà các đối tượng phỏng vấn có cách nhìn tương tự như nhau
- Khảo sát đánh giá:
+ Đối tượng: Khảo sát khoảng 448 bảng hỏi với đối tượng khảo sát là Ban giám hiệu, CBQL cấp trường (phòng/khoa), giảng viên và các TBM trong 06 trường ĐHĐHNC thuộc ĐHQGHN
+ Mục tiêu điều tra chọn mẫu: Để thu thập ý kiến đánh giá của đối tượng khảo sát Do đó, việc sử dụng phiếu điều tra trên diện rộng sẽ giúp NCS thu thập được các nhận định, đánh giá của những người có liên quan về từng nhận định, đánh giá để khắc hoạ thực trạng ĐNTBM và phát triển ĐNTBM cũng như xây dựng hệ thống giải pháp mang tính cấp thiết và khả thi cho phát triển ĐNTBM ở ĐHQGHN giai đoạn tới
+ Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được hình thành trên cơ sở lựa chọn nội dung tiêu chí đánh giá theo khung năng lực và quy trình phát triển ĐNTBM đã được tổng hợp từ các dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia, CBQL
Người tham gia khảo sát đưa ra ý kiến đánh giá bằng cách khoanh tròn hoặc đánh dấu (X) vào mức đồng ý của mình theo thang do Likert
+ Chọn mẫu và thu thập số liệu: Đối với cuộc điều tra chọn mẫu, nhằm đảm bảo tính đại diện của mẫu, phiếu điều tra được gửi tới đối tượng khảo sát trực tiếp và ngẫu nhiên
- Khảo nghiệm và thử nghiệm
8.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
Luận án sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu như sau:
8.3.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Luận án sử dụng phương pháp phân tích trong cả 03 chương Phân tích trước hết là phân chia các vấn đề của luận án thành những phần nhỏ có mối quan hệ tương quan từ lý luận đến thực tiễn, từ năng lực TBM tới phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam Phân tích từng nội dung của quy trình phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC và đánh giá hiệu quả ở các mặt khác nhau Từ đó, phát hiện
ra thuộc tính, bản chất của từng khía cạnh và giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên
Trang 21cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung, phức tạp từ những yếu tố bộ phận
ấy Điều đó giúp cho các vấn đề được xem xét một cách thấu đáo, cặn kẽ
Nhiệm vụ của phân tích sử dụng trong luận án là thông qua cái riêng để tìm cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ quát
Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để có được cái nhìn tổng thể về sự vật và hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung, cái khái quát Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra bản chất, quy luật vận động quyết định mức độ phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Trong quá trình sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, luận án có sử dụng các số liệu thống kê đã qua xử lý, các công thức toán học và kinh tế lượng, các biểu đồ để giúp thấy rõ hơn đặc trưng, xu hướng, quy mô, tỷ trọng của hiện tượng, nội dung và vấn đề nghiên cứu
8.3.2 Phương pháp logic và lịch sử
Là phương pháp xem xét, trình bày quá trình nghiên cứu lý thuyết vấn đề ở các không gian và thời gian khác nhau, đánh giá tác động của phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC tới năng lực TBM theo một trình tự liên tục và nhiều mặt
Sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải đảm bảo tính liên tục về thời gian, làm
rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển từ thấp đến cao, làm rõ mối quan hệ đa dạng trong phát triển đội ngũ CBQL chuyên môn với các vấn đề khác liên quan đến
nó Đồng thời đặt quá trình phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam trong mối quan hệ tương tác qua lại giữa các yếu tố ảnh hưởng
8.3.3 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này cho phép thông qua tất cả số liệu thống kê mô tả về thực trạng năng lực TBM và công tác phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam, đưa ra tính quy luật về phát triển đội ngũ CBQL chuyên môn
Luận án sử dụng phương pháp này chủ yếu ở Chương 2 để thống kê về thực trạng và so sánh, phân tích các chỉ tiêu đã xây dựng ở khung lý luận, từ đó tìm ra hướng cho các giải pháp phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam phù hợp với bối cảnh mới
Trang 229 Luận điểm bảo vệ
9.1 Để phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam, điều kiện thiết yếu là phải xây dựng được khung năng lực TBM vừa phù hợp với quy định của Nhà nước đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý GDĐH, vừa phù hợp với đặc thù của trường ĐHĐHNC
9.2 Phát triển ĐNTBM giai đoạn hiện nay là phát triển NNL quản lý chuyên môn quan trọng của các trường ĐHĐHNC Vì thế nội dung, phương pháp phát triển ĐNTBM phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển NNL nói chung, mặt khác phải dựa trên đặc trưng TBM ở các trường ĐHĐHNC
9.3 Hệ thống giải pháp phát triển ĐNTBM được xác định trên cơ sở logic nghiên cứu của luận án, môi trường hoạt động và mối quan hệ giữa nghiên cứu, đào tạo, quản
- Xây dựng nội dung, quy trình phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
- Tập hợp các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
10.2 Về mặt thực tiễn
Luận án đề xuất 06 giải pháp phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam có tính cấp thiết và khả thi cao, nhằm sớm đưa các trường này trở thành trường ĐHNC có vị trí cao trong khu vực và trên thế giới
Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu hữu ích đối với các nhà QLGD nói chung, giúp ích cho quá trình phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam nói riêng hiện nay và trong thời gian tới
Trang 2311 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại
học định hướng nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong các trường
đại học định hướng nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định
hướng nghiên cứu ở Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về trường đại học nghiên cứu
Ở Việt Nam chưa hình thành các trường ĐHNC thực sự, mà ĐHQGHN, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh và một số trường ĐH lớn, có uy tín khác mới đang hướng tới xây dựng trường ĐHĐHNC Chính vì vậy, những nghiên cứu về trường ĐHNC chủ yếu ở các tác phẩm của nước ngoài Các tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu về vai trò cũng như hoạt động của trường ĐHNC và nêu bật sự khác biệt của trường ĐHNC với các trường ĐH khác, cụ thể:
Walshok, Mary Lindenstein nghiên cứu vai trò của trường ĐHNC đối với nền kinh tế, nơi làm việc và cộng đồng Cuốn sách đề cập đến mối quan hệ giữa trường ĐHNC và nhu cầu tri thức của xã hội hậu công nghiệp, tập trung vào tầm quan trọng ngày càng tăng của việc tạo ra kiến thức và ứng dụng nó đối với sự thịnh vượng KT-
XH Nó cũng thảo luận về cách trường ĐHNC có thể xây dựng mối liên kết tốt hơn giữa việc mở rộng kiến thức trong cả nhà trường và xã hội, có thể tăng các ứng dụng
và khả năng tiếp cận kiến thức đó Các tác giả không chỉ đưa ra khái niệm về trường ĐHNC mà còn chỉ ra những thách thức mà trường phải đối mặt, cũng như vai trò của trường ĐHNC trong việc phát triển kiến thức và ứng dụng cho nền KT-XH [176]
Philip G Altbach lại đưa ra quan điểm về vai trò của trường ĐHNC là thúc đẩy nền kinh tế tri thức quốc gia và toàn cầu với nghiên cứu chuyên sâu tại các trường ĐHNC ở các nước đang phát triển trong bài báo khoa học “Advancing the national and global knowledge economy: the role of research universities in developing countries” Ông cho rằng, trường ĐHNC là một phần trung tâm của tất cả hệ thống học thuật Trường ĐHNC cũng là cầu nối quan trọng trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia với vai trò phát triển tri thức toàn cầu Các sản phẩm nghiên cứu tại trường ĐHNC không chỉ được ứng dụng phổ biến trong sản xuất mà còn giúp các nước “xuất khẩu tri thức” Tuy nhiên, khi nghiên cứu ở các nước đang phát triển, tác giả nhận thấy cơ chế cho sự tham gia của trường ĐHNC trong nền kinh tế tri thức toàn cầu rất
Trang 25phức tạp và bao gồm các vấn đề về chuyển giao, sử dụng công nghệ, hợp tác và các yếu tố khác Tuy nhiên, tác giả không thể không khẳng định vai trò quan trọng của trường ĐHNC trong hệ thống giáo dục quốc gia cũng như góp phần vào phát triển tri thức toàn cầu [124]
Philip G Altbach, Jorge Balan cho rằng trường ĐHNC là trung tâm của hệ thống học thuật thế giới Cuốn sách “World class worldwide: Transforming Research
Universities in Asia an Latin America” đã đưa ra định hướng chuyển đổi sang trường
ĐHNC của các nước đang phát triển ở châu Á và châu Mỹ Latin là một biện pháp hiệu quả nhằm thúc đẩy phát triển nghiên cứu và ứng dụng cho nền KT-XH của mỗi quốc gia Thông qua trường ĐHNC, những thách thức về công nghệ mà nền sản xuất ở các nước đang phát triển phải đối mặt sẽ được giải quyết Đây cũng là hướng phát triển
hệ thống GDĐH hiện đại của thế kỷ XXI [125]
Frank T Rothaermel, David N Ku thì chỉ ra vai trò của trường ĐHNC thông qua việc phân tích sự khác biệt với những trường ĐH khác, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá ở bài báo “Intercluster Innovation Differentials: The Role of Research Universities” Dựa trên chức năng sản xuất tri thức, trường ĐHNC làm tăng sự đổi mới các nguồn lực tài chính, trí tuệ và nguồn vốn nhân lực Đặc biệt, các tác giả cho rằng trường ĐHNC đóng vai trò quan trọng là nguồn cung cấp tri thức và tạo ra NNL chất lượng cao giúp khu vực công tăng hiệu suất lao động [136]
Peter McPherson, David Shulenburger cũng nhấn mạnh vai trò của trường ĐHNC trong việc đáp ứng các mục tiêu quốc gia trong bài báo khoa học “Expanding Undergraduate Education to Meet National Goals: The Role of Research Universities” Các tác giả cho rằng mục tiêu GD&ĐT chất lượng cao không chỉ dừng lại ở việc đào tạo công nghệ đã có, điều này sẽ làm cho nền KT-XH khó phát triển Quan trọng trong 04 năm ĐH, người học cần phải sáng tạo liên tục và tự tạo ra những tri thức mới Muốn mở rộng hoạt động GD&ĐT chất lượng cao thì cần phải mở rộng các trường ĐHNC [163]
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về trường ĐHNC khá ít ỏi Trên cơ sở trình bày lịch sử ra đời và khái niệm liên quan đến trường ĐHNC, Nguyễn Chí Hải và Nguyễn Hồng Nga đã phân tích một số đặc điểm của trường ĐHNC trên thế giới, đồng
Trang 26thời đưa ra những thách thức trong việc hình thành một trường ĐHNC theo đúng nghĩa tại Việt Nam [48]
Phạm Thị Ly cũng có hai công trình nghiên cứu về trường ĐHNC, đó là: “Tiêu chí nhận diện ĐHNC và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng ĐHNC” và “Mười đặc điểm của trường ĐHNC hiện đại” Trong đó, tác giả đã phân tích rất kỹ những đặc điểm của một trường ĐHNC, vai trò và sự cần thiết xây dựng trường ĐHNC ở Việt Nam [86; 87]
Nhận xét chung:
- Các nghiên cứu nêu trên đã mang lại giá trị lớn về lý luận và thực tiễn như: + Xác định được hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về trường ĐHNC như khái niệm, sứ mệnh, đặc điểm Đặc biệt, các nghiên cứu nhấn mạnh về vai trò của trường ĐHNC trong phát triển nền GD&ĐT chất lượng cao và đạt được mục tiêu tăng trưởng KT-XH của mỗi quốc gia
+ Xây dựng các tiêu chí về trường ĐHNC và sự cần thiết hình thành trường ĐHNC ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
- Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên cũng còn có một số hạn chế, đó là: + Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét các vấn đề về trường ĐHNC
ở nước ngoài với bối cảnh khác nhau
+ Việc nghiên cứu thực tiễn xây dựng trường ĐHNC ở Việt Nam gần như không có Các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở lý thuyết Số lượng bài nghiên cứu về trường ĐHNC ở Việt Nam còn rất ít, thể hiện vấn đề xây dựng trường ĐHNC ở Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mực
1.1.2 Nghiên cứu về đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu
Nghiên cứu của nước ngoài tập trung vào ĐNTBM nhưng ở khía cạnh nhận diện về năng lực mà ĐNTBM cần phải có, như:
Đại học Melbourne cho rằng chức vụ quản lý trong trường ĐH nói chung, TBM nói riêng đã cụ thể hóa bằng các tiêu chí năng lực bao gồm: trình độ, thuộc tính, kỹ năng và kiến thức
- Về trình độ: phải đạt trình độ SĐH phù hợp với kinh nghiệm liên quan; hoàn thành một bằng cấp hoặc chứng nhận có kinh nghiệm làm việc liên quan
Trang 27- Về các thuộc tính: được chia nhỏ để các hành vi cụ thể thực hiện các yêu cầu của từng vị trí như tính linh hoạt, tính sáng tạo, tính chuyên nghiệp, tính toàn vẹn, tính độc lập
- Về các kỹ năng: bao gồm các kỹ năng như đàm phán, viết, lãnh đạo, xây dựng đội nhóm, quản lý dự án và quản lý nói chung
- Về kiến thức: hiểu biết thấu đáo về hoạt động giảng dạy, GDĐH, NCKH, có kiến thức, kỹ năng thực tế [179]
Một số nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra vấn đề nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐHNC, cụ thể:
Nghiên cứu của Hattie & Marsh chỉ ra rằng với các CBQL chuyên môn (trong
đó có ĐNTBM) trong trường ĐHNC, ngoài việc đánh giá họ dưới góc độ giảng dạy, tiêu chuẩn về nghiên cứu và gây ảnh hưởng tới đội ngũ phía dưới thông qua năng lực chuyên môn, năng lực định hướng của họ cũng là một trong những tiêu chuẩn vô cùng quan trọng trong công tác đánh giá CBQL chuyên môn của các trường Bài báo “The relationship between research and teaching-a metaanalysis” đã giúp người đọc nhận diện về ĐNTBM trong trường ĐHNC trước hết phải có năng lực chuyên môn, đặc biệt năng lực nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho những thành viên còn lại trong bộ môn [141]
Bài báo khoa học của Steffensen, Rogers & Speakman với nhóm đối tượng là trung tâm, phòng thí nghiệm, labo, bộ môn trong trường ĐHNC chỉ ra tầm quan trọng của các CBQL chuyên môn đối với các đơn vị đó là vô cùng quan trọng Những CBQL chuyên môn này cần phải được đánh giá thường xuyên để có thể nhận diện và ĐT-BD kịp thời nhằm thực hiện được những nhiệm vụ của trường một cách hiệu quả Năng lực chuyên môn được đánh giá trước hết ở năng lực NCKH, chỉ đạo tổ chức các hoạt động NCKH theo chuyên ngành [170]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Ghonji trong bài báo “Analysis of the some effective teaching quality factors within faculty members of agricultural and natural resources colleges in Tehran University” đã tập trung vào xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng ĐNGV và CBQL chuyên môn theo đánh giá của hội đồng khoa học thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng… Những phân tích của nhóm tác giả thông qua hệ thống yếu tố ảnh hưởng đã chỉ ra năng lực chuyên môn,
Trang 28trong đó có năng lực giảng dạy và đặc biệt năng lực NCKH là rất quan trọng, quyết định năng lực của TBM [137]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Phiakoksong và các cộng sự tập trung làm rõ những tiêu chí về năng lực, phẩm chất cần thiết đối với đội ngũ CBQL chuyên môn trong trường ĐHNC trong bài báo khoa học “An Application of Structural Equation Modeling for Developing Good Teaching Characteristics Ontology, Informatics in Education” Bằng cách sử dụng phương pháp định lượng, nhóm tác giả đã làm rõ được
sự ảnh hưởng của tính cách, phẩm chất cần thiết đối với đội ngũ CBQL chuyên môn trong trường ĐHNC Từ đó, những khuyến nghị để phát triển ĐNTBM trong trường ĐHNC là tập trung phát triển các năng lực chuyên môn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh năng lực NCKH của TBM [164]
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐH, đặc biệt là trong các trường ĐHNC đã được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu
Ở Việt Nam, quan niệm về TBM là nhà quản lý, nhà lãnh đạo chuyên môn trong một trường ĐH nên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với chất lượng đào tạo và NCKH của nhà trường Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu tập trung nhiều cho việc phân tích, tìm hiểu vai trò của ĐNTBM
Nguyễn Quốc Dũng đã nghiên cứu về “Vai trò TBM cơ sở cho công tác định hướng đổi mới, phát triển nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay” trình bày trong hội thảo khoa học Tác giả đã nghiên cứu vai trò của TBM ở khía cạnh thực tiễn khi xem xét chi tiết tại bộ môn cơ sở của Trường Cao đẳng nghề KT-CN Việt Nam - Hàn Quốc
Vì vậy, kết quả nghiên cứu khá hẹp, tính phổ quát chưa cao [23]
Còn Ngô Thị Hiên nghiên cứu về “Vai trò của TBM trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục chính trị ở Trường Cao đẳng nghề KT-CN Việt Nam - Hàn Quốc hiện nay” Cũng với cách tiếp cận khá hạn hẹp, tác giả chỉ ra các khó khăn trong việc giáo dục chính trị cho sinh viên và khẳng định vai trò quan trọng của TBM trong công tác quản lý [55]
Tương tự, vai trò của TBM cũng được Nguyễn Thị Hậu nghiên cứu trong tác phẩm “Vị trí, vai trò của bộ môn, TBM ở trường ĐH, cao đẳng” Ở đây, nghiên cứu mang tính lý thuyết dựa trên việc mô tả lại vai trò TBM theo quy định trong “Điều lệ trường ĐH” [52]
Trang 29Theo một cách tiếp cận khác, Cao Cự Giác đặt vấn đề nghiên cứu “Vai trò của TBM ở trường ĐH và cao đẳng trong bối cảnh giáo dục cạnh tranh và hội nhập” Với giới hạn nghiên cứu rộng hơn, tác giả đã chỉ ra nhiệm vụ, trách nhiệm của bộ môn trong hoàn cảnh mới Từ đó, cho thấy vai trò của TBM cũng như đề xuất một số giải pháp để tăng cường vai trò của TBM đáp ứng yêu cầu của GDĐH hiện nay [36]
Những nghiên cứu sâu hơn không chỉ đề cập đến vai trò của TBM mà còn tìm
ra các giải pháp nâng cao vai trò của TBM trong điều kiện nhất định, như:
Ngô Trí Hiệp đặt hướng nghiên cứu giải pháp “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của bộ môn, TBM trong Trường ĐH Y khoa Vinh” Từ lý luận về vai trò, trách nhiệm của TBM nói chung, tác giả phân tích thực trạng hoạt động của bộ môn thuộc các khoa ở Trường ĐH Y khoa Vinh Trên cơ sở đó chỉ ra các vấn đề còn tồn tại và đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của bộ môn mà trước hết là TBM nhằm giải quyết những hạn chế trong thời gian tới [56]
Tương tự, một nghiên cứu khác về thực tiễn của Hoàng Thị Lộc “Nâng cao vai trò của bộ môn, TBM trong đổi mới GDĐH của Trường ĐH Kinh tế Nghệ An” đã đưa ra những yêu cầu về vai trò của TBM trong bối cảnh đổi mới GD&ĐT hiện nay
Từ đó, tác giả đánh giá thực tiễn và đưa ra một số giải pháp khả thi [79]
Lê Văn Minh bỏ qua bước phân tích thực trạng mà tập trung vào “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công việc của TBM” Những giải pháp được đề cập nhằm nâng cao hiệu quả của TBM về khía cạnh lãnh đạo và quản lý, công tác giảng dạy và sinh viên, công tác NCKH, quản lý nhân sự Những giải pháp này mang tính lý luận
và có giá trị tham khảo cao [89]
Không đặt trực tiếp vấn đề nghiên cứu về TBM, Trần Thị Hảo nghiên cứu về
“Kinh nghiệm hoạt động của bộ môn trong quá trình quản lý chuyên môn” Trong đó, trên cơ sở tổng hợp những giải pháp hiệu quả mà Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ
An đã thực hiện để nâng cao vai trò của TBM trong thời gian qua, tác giả chỉ ra những kinh nghiệm hoạt động của bộ môn cần phát huy cũng như cần phải giải quyết trong bối cảnh hiện nay [50]
Tương tự, Ninh Duy Hùng đưa ra quan điểm nghiên cứu về “Kinh nghiệm tổ chức hoạt động của bộ môn trong quá trình quản lý chuyên môn và bài học rút ra đối với TBM ở trường cao đẳng, ĐH” Với cách tiếp cận rõ ràng hơn, tác giả chỉ ra kinh
Trang 30nghiệm quản lý cấp bộ môn với nhiều khía cạnh như: nhận thức, xây dựng đội ngũ, quá trình giảng dạy Từ đó, đưa ra yêu cầu về TBM trong trường ĐH, cao đẳng và biện pháp nâng cao chất lượng ĐNTBM [60]
Như vậy, có thể thấy những nghiên cứu về TBM ở trường ĐH thường tập trung vào vai trò của ĐNTBM cũng như các giải pháp nâng cao vai trò của đội ngũ này trong bối cảnh đổi mới GDĐH Dù các cách tiếp cận có thể khác nhau về giới hạn nghiên cứu nhưng kết quả nghiên cứu khá tương đồng
Do hiện nay ở Việt Nam chưa có trường ĐHNC, mà mới chỉ có ĐHQGHN, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh và một số trường ĐH lớn khác là xác định theo ĐHĐHNC Vì vậy, các nghiên cứu trong nước gần như không đề cập một cách rõ ràng việc nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
Nhận xét chung:
Giá trị mà các nghiên cứu đã đạt được là các nhà khoa học đều khẳng định TBM trong trường ĐH có vị trí, vai trò quan trọng, quyết định chất lượng GDĐH Tuy nhiên, ở khía cạnh cụ thể hơn lại rất hiếm hoi các nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC Vì vậy, hệ thống lý luận về chuẩn năng lực của TBM trong trường ĐHĐHNC đặc thù hoàn toàn thiếu vắng
1.1.3 Nghiên cứu về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu
Cũng như các vị trí QLGD khác, để đảm bảo chất lượng ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC, các trường không thể không quan tâm đến công tác phát triển đội ngũ này
Về phát triển CBQL của trường ĐH nói chung và đội ngũ CBQL cấp bộ môn nói riêng được đề cập trong cuốn sách “Inovation in University Management” (Đổi mới trong quản lý trường ĐH) của Sanyal Bikas C., theo đó khi nói đến cơ cấu đội ngũ CBQL ở trường ĐH cần lưu ý giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên ngành… và chức trách đảm nhiệm Các yếu tố này một mặt liên quan đến chính sách của mỗi nước, mặt khác liên quan đến quan điểm phát triển đội ngũ của chính trường ĐH, nó sẽ tác động lên việc đánh giá và phát triển nghề nghiệp của cán bộ ở trường ĐH [169]
Trong tập tài liệu về “Quản lý GDĐH cấp cơ sở” (10 tập) do UNESCO/ International Institute for educational Planning-Paris xuất bản năm 1995, trong đó tập
6 và tập 7 trình bày về vấn đề quản lý nhân sự trong trường ĐH Với sự tổng thuật
Trang 31phát triển cán bộ học thuật nói chung và đội ngũ CBQL cấp bộ môn nói riêng ở các trường ĐH ở một số nước trên thế giới, tài liệu tóm lược vấn đề chính là: Các trường quyết định việc phát triển học thuật của ĐNGV mà đầu mối là các TBM; các chính sách tác động trực tiếp tới việc phát triển học thuật ở trường ĐH Tuy nhiên, không
có công thức chung về chiến lược phát triển học thuật cho mọi trường ĐH mà tuỳ đặc thù của nhà trường, việc phát triển ĐNTBM và ĐNGV làm khoa học sẽ được thực hiện khác nhau [169]
Ở Việt Nam, có thể thấy một số nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL cấp cơ sở trong trường ĐH như:
Luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD của Ngô Thị Kiều Oanh với đề tài: “Phát triển đội ngũ CBQL cấp khoa tại trường ĐH theo hướng chuẩn hóa” đã nghiên cứu làm sáng tỏ thêm những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc phát triển đội ngũ CBQL trong trường ĐH nói chung, trong đó đi sâu vào lý luận phát triển đội ngũ trưởng khoa tại trường ĐH theo hướng chuẩn hóa, từ đó đã đề xuất được khung chuẩn
và nhiều biện pháp hiệu quả để phát triển đội ngũ trưởng khoa nói riêng Luận án đã cho NCS một số gợi ý quan trọng trong việc xác định khung năng lực, đánh giá một phần thực trạng của đội ngũ CBQL trong trường ĐH và đưa ra các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam giai đoạn hiện nay [94]
Có nhiều bài viết nghiên cứu về hoạt động phát triển ĐNTBM trong trường
ĐH, tiêu biểu như:
Bài nghiên cứu trong hội thảo khoa học của Nguyễn Như An tập trung xác định
“Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển ĐNTBM trường ĐH” Theo đó, tác giả chỉ ra chủ thể quản lý phát triển ĐNTBM của trường ĐH Tác giả cho rằng các yếu tố khách quan bao gồm quá trình toàn cầu hoá, nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin; quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển đội ngũ QLGD; quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý từ cơ chế hành chính tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT tác động không nhỏ tới công tác phát triển ĐNTBM trong trường ĐH hiện nay Ngoài ra, yếu tố chủ quan cũng ảnh hưởng đến công tác này, bao gồm: nhận thức của CBQL cấp trên; nhu cầu khẳng định bản thân; hoàn cảnh gia đình, sức khỏe của TBM [1]
Trang 32Theo hướng tiếp cận khác, Thái Văn An trong “Phát triển ĐNTBM ở trường
ĐH, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH” chỉ ra các vấn đề và giải pháp phát triển ĐNTBM liên quan đến nội dung chương trình giảng dạy và các yêu cầu chất lượng giảng viên [2]
Nghiên cứu thực tiễn, Nguyễn Văn Hạnh trong “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý bộ môn và phát triển ĐNTBM ở Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Việt Đức hiện nay” đã phân tích thực trạng bộ môn của Khoa Khoa học Cơ bản và chỉ ra thuận lợi, khó khăn mà các bộ môn gặp phải Từ
đó đưa ra 07 giải pháp nhằm phát triển ĐNTBM Nghiên cứu đưa ra nhiều gợi ý cho việc phát triển ĐNTBM trong trường ĐH, nhất là các bộ môn khoa học cơ bản [49]
Nguyễn Thị Thanh Hương tìm hiểu sự cần thiết phát triển ĐNTBM trong “Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của bộ môn và phát triển ĐNTBM” Từ đó, tác giả đưa ra nhiều giải pháp phát triển ĐNTBM nói chung vừa đáp ứng yêu cầu lý luận và thực tiễn [67]
Tương tự, Nguyễn Khánh Ly trong “Phát triển ĐNTBM đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH và hội nhập quốc tế” cũng nêu vấn đề lý luận làm cơ sở cho công tác phát triển ĐNTBM Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích bối cảnh hiện nay với những yêu cầu đổi mới GDĐH để đưa ra một số định hướng trong phát triển ĐNTBM ở các trường ĐH, cao đẳng [88]
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về TBM cũng như phát triển ĐNTBM, nhưng giới hạn trong trường ĐHNC với những đặc thù riêng lại chưa được đề cập đến Chỉ có một số nghiên cứu về trường ĐHNC cũng như về CBQL trong trường được thực hiện như: “Trường ĐHNC: tiêu chí nào đánh giá được giảng viên” của Cảnh Chí Dũng [19]; “Báo cáo tổng hợp Đề tài NCKH cấp Bộ: Nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng mô hình trường ĐHNC của Việt Nam” của Nguyễn Trọng Giảng [38]; “ĐHNC” của Trương Quang Học [59]; “Tiêu chí nhận diện ĐHNC và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng ĐHNC” của Phạm Thị Ly [86]…
đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để xây dựng mô hình, tiêu chí nhận diện trường ĐHNC ở Việt Nam; xác định tiêu chí đánh giá giảng viên và CBQL trong trường ĐHNC trên thế giới, trên cơ sở đó đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn mà giảng viên và CBQL cần phải có để đáp ứng nhu cầu hoạt động của trường ĐHĐHNC ở Việt Nam
Trang 33Như vậy, với sứ mệnh của mỗi trường ĐH, có thực hiện được hay không, không chỉ cần sự góp sức của toàn thể cán bộ, viên chức trong nhà trường mà mỗi bộ môn
có vị trí đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ trọng tâm trong trường ĐH là GD&ĐT và NCKH Các hoạt động này phải được triển khai từ đơn vị thấp nhất nhưng quan trọng nhất đó là cấp bộ môn TBM không chỉ đóng vai trò là người quản lý chuyên môn mà còn là người quản lý, điều hành rất nhiều lĩnh vực khác nhau TBM trong mỗi trường
ĐH, đặc biệt là trường ĐHNC luôn đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, hiện nay chưa
có quy định, tiêu chuẩn hay khung năng lực chi tiết nào cho đội ngũ này Điều lệ trường ĐH cũng chỉ nhắc chung chung các điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực của TBM hoặc quy định của các trường cũng chỉ trên cơ sở nhắc lại quy định của Điều lệ trường
ĐH, chưa cụ thể hóa được các tiêu chuẩn, tiêu chí hay khung năng lực cho vị trí này
và đặc biệt cụ thể hóa nó vào từng trường cụ thể
Trong khi đó, những kết quả nghiên cứu về phát triển NNL mới chỉ đề cập tới những vấn đề chung của NNL và từng bước giải quyết, tháo gỡ các khó khăn trước mắt của những vấn đề cơ bản này Hiện nay, vấn đề phát triển đội ngũ CBQL chuyên môn trong trường ĐH nói chung, ĐNTBM nói riêng chưa được đề cập đến, chưa có nghiên cứu nào đề xuất xây dựng khung năng lực chuẩn cho đội ngũ này, đặc biệt là cho ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam
Nhận xét chung:
- Giá trị mà các nghiên cứu trên đã đạt được là:
+ Giúp NCS xác định được một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển ĐNTBM bắt đầu từ vị trí, vai trò của họ trong trường ĐH, đặc biệt là trong trường ĐHĐHNC
Họ đều khẳng định phát triển ĐNTBM là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay
+ Các nhà QLGD chỉ ra rằng có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về ĐNTBM, nhưng tiếp cận năng lực và tiếp cận quản lý phát triển NNL phát huy hiệu quả nhất khi nghiên cứu vấn đề phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
+ Các tài liệu nghiên cứu tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau để chỉ ra những nội dung, quy trình phát triển ĐNTBM cần thiết mà trường ĐHĐHNC phải thực hiện
để nâng cao chất lượng đội ngũ này Phân tích những đặc thù của trường ĐHĐHNC
và các yêu cầu về ĐNTBM làm căn cứ cho việc hình thành khung lý luận về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC
Trang 34+ Các tài liệu công bố chỉ rõ quan điểm: Việc phát triển ĐNTBM trong trường
ĐH nói chung đều luôn phải đối mặt với các thuận lợi, khó khăn do chịu ảnh hưởng, tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Vì thế các hoạt động quy hoạch, ĐT-BD, đánh giá và áp dụng chính sách đãi ngộ, tạo động lực cho ĐNTBM hướng tới đảm bảo tiêu chuẩn nghề nghiệp là chìa khóa để giải quyết các vấn đề Tuy nhiên, những hoạt động này phải được thực hiện dựa trên mối quan hệ quản lý NNL nói chung, trong bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam và hội nhập quốc tế
+ Các nghiên cứu cung cấp cho NCS bức tranh toàn cảnh về phát triển ĐNTBM trong bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam Với mục tiêu phát triển ĐNTBM làm nền tảng
để nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH, các trường ĐH nói chung và trường ĐHĐHNC nói riêng đã và đang không ngừng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp phù hợp
- Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế, cụ thể:
+ Mặc dù các tài liệu nghiên cứu đã hình thành khung lý thuyết về phát triển ĐNTBM trong trường ĐH, nhưng lại chưa có lý luận đầy đủ về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC dựa trên nền tảng điều kiện khách quan và chủ quan đặc thù của nhà trường trong mối quan hệ tương quan với hệ thống GDĐH của quốc gia Các nghiên cứu về phát triển CBQL giáo dục khá đầy đủ nhưng chưa xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá về năng lực ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC Các nghiên cứu trong nước cũng đã hướng tới xu thế chuẩn hóa ĐNTBM, nhưng mới chỉ nhìn nhận ở từng góc độ, nội dung cụ thể của phát triển đội ngũ và hướng tới chuẩn hóa trên cơ sở các
vị trí đã có bộ tiêu chuẩn Việc chuẩn hóa đến TBM chưa được quan tâm nhiều
Mới chỉ tồn tại lý thuyết về phát triển NNL QLGD nói chung mà chưa có lý thuyết về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC Các công trình nghiên cứu còn mang tính tổng quát, chưa hệ thống Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể, độc lập về phát triển ĐNTBM trong các trường ĐH Bên cạnh đó, lý thuyết về phát triển đội ngũ QLGD nói chung chưa nêu bật được đặc trưng riêng có của phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC như điều kiện, tiêu chuẩn, yếu tố ảnh hưởng… và
xu hướng phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC trong bối cảnh hiện nay
+ Chưa có khung lý thuyết về phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC với nội dung và quy trình rõ ràng làm nền tảng cho nghiên cứu thực tiễn Đặc biệt, thiếu vắng những nghiên cứu hướng tới phát triển ĐNTBM đủ về số lượng, có cơ cấu hợp
Trang 35lý, đảm bảo chất lượng với các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lý nhằm phát triển đội ngũ này
+ Chưa có lý thuyết về đánh giá đối với công tác phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC trong mối quan hệ với các yếu tố ảnh hưởng
+ Chưa có những nghiên cứu mà đối tượng chỉ tập trung vào phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam với đầy đủ các đánh giá về nội dung, quy trình phát triển đội ngũ
+ Chưa có nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC mà vấn đề này thường được nghiên cứu ở một khía cạnh trường ĐH nói chung nên chưa làm nổi bật được đặc trưng của trường ĐHĐHNC và vai trò của ĐNTBM Chưa có nghiên cứu nào đưa ra cái nhìn tổng thể về sự phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC với những đặc thù cũng như đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng trong mối tương quan với sự đổi mới GDĐH của đất nước và hội nhập quốc tế
+ Các giải pháp đưa ra để phát triển ĐNTBM mới dành cho trường ĐH thông thường, chưa hướng tới sự vận dụng lý thuyết phát triển NNL vào phát triển ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC theo quy trình phát triển và thực hiện đồng bộ các khâu trong quy trình phát triển
1.1.4 Vấn đề đặt ra cho luận án
Sau khi tổng quan các nghiên cứu có liên quan, có thể rút ra kết luận:
- Thứ nhất, phát triển ĐNTBM là một tất yếu khách quan và là chìa khóa cho
sự phát triển bền vững của mỗi trường ĐH nói chung và trường ĐHĐHNC nói riêng
- Thứ hai, để có thể phát triển ĐNTBM hiệu quả, khai thác hết năng lực đội
ngũ này, các nhà quản lý cần phải có những biện pháp phù hợp và thường xuyên
- Thứ ba, hiện chưa có nghiên cứu đầy đủ cả lý luận và thực tiễn về phát triển
ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế với nhiều biến động
Các vấn đề trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có nghiên cứu mới để có thể khắc phục những bất cập đang có và nâng cao năng lực ĐNTBM để giúp các trường
ĐHĐHNC phát triển xứng tầm Vì vậy, NCS lựa chọn đề tài “Phát triển ĐNTBM
trong trường ĐHĐHNC ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp ĐHQGHN)” để có được
sự nghiên cứu sâu rộng về nội dung, quy trình phát triển ĐNTBM trong trường
Trang 36ĐHĐHNC đáp ứng tiêu chuẩn trong bối cảnh đổi mới GDĐH với mục đích có thể ứng dụng trong quản lý và phát triển ĐNTBM trong các trường ĐHĐHNC ở Việt Nam một cách phù hợp, hiệu quả nhất Đề tài luận án này cũng không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu nào đã có Trong luận án, NCS sẽ kế thừa những giá trị nghiên cứu như những khảo sát, số liệu hay hệ thống cơ sở lý luận trong phạm vi nghiên cứu của mình, đồng thời cũng có các đóng góp riêng có thể bổ sung cho những thiếu sót mà những tài liệu trước chưa đưa ra
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm bộ môn, trưởng bộ môn và đội ngũ trưởng bộ môn
1.2.1.1 Bộ môn
Trên thế giới, cấu trúc các cơ sở GDĐH không hoàn toàn đồng nhất như nhau
Có cơ sở GDĐH vận hành theo 4 cấp quản lý: Cấp cao nhất là ĐH (ví dụ: ĐH Harvard,
ĐH California ); cấp dưới trực tiếp của các ĐH này là trường thành viên gọi là School
và cũng có thể gọi là Faculty (dịch sang tiếng Việt là khoa nhưng thực chất là trường con); cấp dưới trực tiếp của các trường con này được gọi là Academic Department tương đương khái niệm cấp khoa thường gọi ở trường ĐH của Việt Nam; cấp cuối cùng của các ĐH này chính là bộ môn mà tiếng Anh gọi là Devision và các đơn vị tương đương như phòng thí nghiệm, labo, trung tâm, nhóm nghiên cứu
Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành của Luật GDĐH, cơ sở GDĐH gồm có:
“ĐH, học viện và trường ĐH” Các “ĐH” được thành lập năm 1993-1994 gồm có 02 ĐHQG (ĐHQGHN, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh) và 03 ĐH vùng (ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng, ĐH Thái Nguyên) - ở đây có các trường ĐH thành viên Các ĐHQG và ĐH vùng thì có 03 cấp quản lý là: cấp ĐHQG, cấp trường và cấp khoa Ngoài ra, có hàng trăm trường chỉ có 02 cấp trong cấu trúc bộ máy, đó là Trường - Khoa Riêng bộ môn được coi là đơn vị chuyên môn Khái niệm bộ môn và đơn vị tương đương được vận dụng đa dạng trong các cơ sở GDĐH ở Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm bộ môn và các đơn vị tương đương dùng trong luận án này sẽ là khái niệm được định danh tại Điều 14 Luật
GDĐH [101] và Điều 16 Điều lệ trường ĐH [111]: “Bộ môn là đơn vị chuyên môn
thuộc khoa trong trường ĐH”
Cụ thể hơn, Cao Cự Giác đã đưa ra định nghĩa: “Bộ môn là đơn vị chuyên môn của trường dưới sự chỉ đạo trực tiếp của trưởng khoa và hiệu trưởng, thực hiện công tác
Trang 37đào tạo, NCKH; trực tiếp quản lý viên chức của đơn vị nhằm đảm bảo công tác chuyên môn của bộ môn, của khoa và trường; tham gia giáo dục, rèn luyện sinh viên” [36]
Trần Thị Hảo thì cho rằng: “Bộ môn là nơi trực tiếp tổ chức và quản lý những hoạt động sinh hoạt chuyên môn, trực tiếp xây dựng đề cương môn học, định hướng phương pháp dạy học phù hợp, tổ chức các hoạt động về chuyên môn sâu trong hiện thực hóa kế hoạch hoạt động của khoa, các biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy, NCKH, nâng cao chất lượng đội ngũ cho giảng viên” [50]
Nguyễn Thị Hậu lại đưa ra một khái niệm đơn giản: “Bộ môn là đơn vị chuyên môn thuộc khoa trong trường ĐH Quy định về tổ chức và hoạt động của bộ môn được thể hiện cụ thể trong quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường” [52]
Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa chung về bộ môn như sau: “Bộ môn là đơn vị
chuyên môn về đào tạo, KH&CN của một hoặc một số ngành, chuyên ngành đào tạo thuộc khoa trong trường ĐH, cao đẳng Hoạt động của bộ môn theo quy chế tổ chức
và hoạt động của nhà trường, trực tiếp thực hiện các hoạt động để giúp nhà trường đạt được mục tiêu đặt ra”
1.2.1.2 Trưởng bộ môn
Trưởng bộ môn vừa là người lãnh đạo, vừa là người quản lý chuyên môn trong trường ĐH Hiện có hai cách phân loại CBQL, đó là phân loại theo cấp quản lý và phân loại theo chức năng quản lý:
- Phân loại theo cấp quản lý, CBQL gồm: Trưởng khoa là người quản lý cấp khoa, còn hiệu trưởng là người quản lý cấp trường TBM không giữ vai trò quản lý hành chính
- Phân loại theo chức năng: Người quản lý theo chức năng là người có trách nhiệm giám sát, theo dõi, đôn đốc hoạt động của người dưới quyền theo một chuyên môn hoặc kỹ năng hẹp, hoạt động trong một phạm vi rất chuyên biệt Theo quan niệm này, TBM là người quản lý theo chức năng hay người quản lý chuyên môn, là trưởng
bộ phận phụ trách trực tiếp một hoặc một số chuyên ngành, học phần, lĩnh vực nghiên cứu thuộc khoa trong trường và chủ yếu là lãnh đạo, quản lý chuyên môn, học thuật, hành chính sư phạm của bộ môn và ĐNGV
Theo Điều lệ trường ĐH [111], TBM là giảng viên cơ hữu, người đứng đầu bộ môn thuộc khoa trong trường ĐH TBM vừa là cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, vừa là cán
Trang 38bộ quản lý chuyên môn của bộ môn TBM phải có đủ tiêu chuẩn của giảng viên ĐH,
có kinh nghiệm giảng dạy, NCKH và năng lực quản lý, có trình độ tiến sĩ TBM có nhiệm kỳ 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại Độ tuổi bổ nhiệm của TBM phải bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được ít nhất 01 nhiệm kỳ Tuy nhiên, những quy định cứng nhắc này hiện không còn thực sự phù hợp với yêu cầu đổi mới hoạt động của ĐNTBM, đặc biệt là trong trường ĐHĐHNC Lý do và đề xuất, kiến nghị các hướng khắc phục các hạn chế này sẽ được NCS trình bày ở phần giải pháp và khuyến nghị của luận án
Như vậy, có thể quan niệm: TBM là người đứng đầu bộ môn, có trình độ và uy
tín chuyên môn cao, có năng lực lãnh đạo và quản lý, thiên về quản lý các hoạt động chuyên môn (đào tạo và NCKH), tác động đến đối tượng quản lý là những người có tri thức, trình độ cao Đây chính là điểm đặc biệt nổi bật của chủ thể quản lý cũng như
khách thể quản lý
1.2.1.3 Đội ngũ trưởng bộ môn
Đội ngũ được hiểu là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục đích nhất định [111] Trong một tổ chức, đội ngũ bao gồm những người lao động được sử dụng vào một công việc nào đó do bộ phận hoặc đơn vị quản lý Đội ngũ này nằm trong NNL Những người lao động này có cùng lý tưởng, mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần
Từ quan niệm trên, ĐNTBM là tập hợp những người giữ chức TBM có uy tín,
có trình độ chuyên môn cao và thực hiện công tác quản lý ở cấp bộ môn tại trường
ĐH và cao đẳng, được tổ chức thành một lực lượng cùng chung sứ mệnh là thực hiện mục tiêu GDĐH đã đề ra cho trường đó Trong một trường, họ có thể cùng hay không
cùng chuyên môn, làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau hướng tới mục tiêu chung của nhà trường Họ là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực GDĐH [111]
1.2.2 Khái niệm trường đại học định hướng nghiên cứu
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập về khái niệm trường ĐHNC ở trong
và ngoài nước như:
Trương Quang Học cho rằng: “Một trường ĐH hiện đại, chất lượng cao phải là nơi giao thoa của ba chức năng: đào tạo, NCKH và phục vụ xã hội Trong đó, NCKH
Trang 39có tác động quyết định tới chất lượng của hai chức năng kia và tới chất lượng chung của nhà trường Nếu trường ĐH không có NCKH thì chỉ nên xem là trường phổ thông cấp ba rưỡi” [59]
Bên cạnh việc đặt trọng tâm vào hoạt động NCKH, Phạm Thị Ly phát triển khái niệm và bổ sung thêm tính chất quy tụ đội ngũ của trường ĐHNC: “Trường ĐHNC là một trường ĐH đặt trọng tâm vào hoạt động NCKH và đào tạo SĐH, là nơi quy tụ và đào tạo giới nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như có những kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc phát triển tri thức của nhân loại” [87]
Nguyễn Trọng Giảng tiếp cận định nghĩa trường ĐHNC trên cơ sở đưa ra các đặc tính quan trọng để xác định trường ĐHNC trong hệ thống các trường ĐH: chất lượng NCKH và sự đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, ĐNGV giỏi, tỷ lệ sinh viên SĐH
so với sinh viên ĐH, cơ chế quản trị dân chủ [38]
Ngoài ra, còn nhiều định nghĩa khác, song định nghĩa được công bố bởi Hiệp hội các trường ĐH Hoa Kỳ, nhóm 8 trường ĐH Australia, nhóm các trường ĐHNC hàng đầu Châu Âu và nhóm 9 trường ĐH tinh hoa của Trung Quốc năm 2013 được đông đảo nhà nghiên cứu đón nhận Do đó, bản dịch của Phạm Thị Ly đã đưa ra: “Các ĐHNC được định nghĩa bởi những cam kết nghiên cứu và xuyên suốt của họ với hoạt động NCKH; bởi sự ưu tú, bề rộng và khối lượng những kết quả nghiên cứu của họ; bởi cách thức văn hóa khoa học thẩm thấu, lan tỏa trong mọi hoạt động của họ, từ giảng dạy, nghiên cứu đến gắn kết với doanh nghiệp, Chính phủ và cộng đồng xã hội Việc đào tạo bậc ĐH ở các ĐHNC được hưởng lợi to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lớp học hay phòng thí nghiệm với các giáo sư và NCS đang làm việc ở tuyến đầu của tri thức Đào tạo SĐH ở các ĐHNC được làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các NCS trong việc thực hiện nghiên cứu, còn chất lượng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong trường thì được lợi rất nhiều nhờ sự sáng tạo và năng lượng của các NCS Các ĐHNC thường chỉ là số ít trong hệ thống GDĐH của mỗi nước, nhưng bao giờ cũng chiếm một phần đáng kể các thành quả nghiên cứu của quốc gia” [87]
Trong khuôn khổ luận án, NCS đề xuất sử dụng định nghĩa phù hợp với bối cảnh
của Việt Nam hiện nay để triển khai nghiên cứu là: Trường ĐHNC là trường ĐH thực
hiện đầy đủ các chức năng đào tạo, NCKH và phục vụ xã hội Trong đó, NCKH là cốt
Trang 40lõi nhằm góp phần phát triển tri thức nhân loại, đồng thời chuyển giao kiến thức thông qua giảng dạy và gắn NCKH với thực tiễn, phục vụ nhu cầu xã hội Mọi hoạt động của nhà trường đều hướng tới những nghiên cứu sáng tạo, có chất lượng nên quy tụ những người phù hợp tham gia ở các cấp bậc, đặc biệt là SĐH
Riêng ở Việt Nam, chúng ta còn tiếp cận với một thuật ngữ đặc biệt là “trường ĐHĐHNC” (cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu) Trong điều kiện hệ thống GDĐH của Việt Nam hiện nay, các trường ĐH (cơ sở GDĐH) chưa đảm bảo đầy đủ điều kiện
để trở thành trường ĐHNC bởi những hạn chế về chất lượng NCKH và sự đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, ĐNGV giỏi, tỷ lệ sinh viên SĐH so với sinh viên ĐH, cơ chế quản trị dân chủ… do những nguyên nhân khách quan và chủ quan Tuy nhiên, một số trường ĐH đã và đang nỗ lực để trở thành trường ĐHNC theo tiêu chuẩn quốc tế Trong quá trình đó, họ trở thành những trường ĐHĐHNC Hay nói cách khác, ở Việt Nam hiện nay, hệ thống GDĐH mới được xác định là có trường ĐHĐHNC, chưa có trường ĐHNC một cách chính thức Trường ĐHĐHNC cung cấp cho xã hội NNL có khả năng nghiên cứu, sáng tạo cao để phục vụ công việc ở các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, được chuyển giao các tri thức, kết quả nghiên cứu hiện đại một cách nhanh chóng để ứng dụng thực tiễn Trong tương lai, các trường ĐHĐHNC của Việt Nam sẽ phát triển, biến đổi cả chất và lượng để trở thành trường ĐHNC
Do đó, khái niệm trường ĐHĐHNC cũng được xây dựng dựa trên khái niệm
về trường ĐHNC đã được các nhà nghiên cứu đưa ra nhưng phù hợp với thực tiễn
điều kiện của Việt Nam hiện nay: “Trường ĐHĐHNC là trường ĐH đặt trọng tâm
vào hoạt động NCKH và đào tạo SĐH hướng tới ứng dụng thực tiễn Hoạt động giảng dạy hướng tới việc đào tạo giới nghiên cứu chuyên nghiệp, đồng thời các hoạt động NCKH được đẩy mạnh đóng góp cho việc phát triển tri thức của nhân loại, gắn kết với doanh nghiệp, Chính phủ và cộng đồng xã hội Trường ĐHĐHNC từng bước phát triển và hoạt động theo mục tiêu trở thành trường ĐHNC với việc có thể đáp ứng đầy
đủ các tiêu chuẩn quốc tế của trường ĐHNC”
1.2.3 Khái niệm đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu
Do trường ĐHĐHNC có tính đặc thù riêng trong hoạt động nên ĐNTBM trong trường ĐHĐHNC cũng được định vị với khái niệm phù hợp