1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LA nghiên cứu tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần của giáo viên và học sinh các trường trung học cơ sở tại đà nẵng

240 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tác Động Của Chương Trình Giáo Dục Sức Khỏe Tâm Thần Đến Hiểu Biết Về Sức Khỏe Tâm Thần Của Giáo Viên Và Học Sinh Các Trường Trung Học Cơ Sở Tại Đà Nẵng
Tác giả Bùi Thị Thanh Diệu
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Quang Sơn, PGS.TS Trần Thành Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BÙI THỊ THANH DIỆU NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TÂM THẦN ĐẾN HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ THANH DIỆU

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TÂM THẦN ĐẾN HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI ĐÀ NẴNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội, Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ THANH DIỆU

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TÂM THẦN ĐẾN HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI ĐÀ NẴNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên

Mã số: 91 31 04 01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Quang Sơn

Hà Nội, Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn của quí Thầy/Cô giáo Kết quả luận án thể hiện tính trung thực, khách quan, phản ánh đúng thực tế Các nguyên tắc đạo đức được đảm bảo trong suốt quá trình nghiên cứu

Tác giả

Bùi Thị Thanh Diệu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành quá trình học tập, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã đào tạo, hỗ trợ chúng tôi trong suốt thời gian qua Tại đây, tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức, kỹ năng và có thêm những trải nghiệm mới Vì vậy, tôi xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến quí Thầy/Cô giáo trong chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên

Lòng biết ơn sâu sắc nhất cho phép tôi gửi đến GS.TS Bahr Weiss; TS Amie Pollack; TS Trần Văn Công; đặc biệt là PGS.TS Đặng Hoàng Minh; PGS.TS Lê Quang Sơn và PGS.TS Trần Thành Nam Xin cảm ơn Thầy/Cô đã động viên, hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án

Trân trọng cảm ơn Phòng Giáo dục và đào tạo các quận/huyện; giáo viên; học sinh và Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã cùng tôi tham gia nghiên cứu này

Xin gửi lời cảm ơn đến Thầy/Cô giáo cũ; anh/chị/em lớp nghiên cứu sinh chương trình Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên Khóa 2016 – 2019; đồng nghiệp; bạn bè; các em sinh viên đã chia sẻ, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình mình, những người đã luôn yêu thương và ủng hộ tôi

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm Tác giả luận án

Bùi Thị Thanh Diệu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

6.1 Đối tượng nghiên cứu 3

6.2 Khách thể nghiên cứu 4

7 Phạm vi nghiên cứu 4

7.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu 4

7.2 Phạm vi về địa bàn và khách thể nghiên cứu 4

8 Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu 5

8.1 Nguyên tắc nghiên cứu Error! Bookmark not defined 8.2 Phương pháp nghiên cứu 5

9 Đóng góp của luận án 7

9.1 Đóng góp về lý luận 7

9.2 Đóng góp về thực tiễn 7

10 Cấu trúc của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TÂM THẦN ĐẾN HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN 9

1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần trên thế giới 9

Trang 6

1.2 Nghiên cứu về vai trò của giáo viên trong việc nâng cao hiểu biết về sức khỏe

tâm thần học sinh 25

1.3 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần 32

1.4 Nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần ở Việt Nam 34

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE ĐẾN HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN 40

2.1 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần 40

2.2 Chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần 46

2.3 Tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần 50

2.4 Đánh giá tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần 58

2.5 Đặc điểm tâm lý của giáo viên và học sinh trung học cơ sở 60

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 66

3.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 66

3.2 Tổ chức nghiên cứu 68

3.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 73

3.3.3 Phương pháp thống kê toán học 95

3.4 Đạo đức nghiên cứu 101

Tiểu kết chương 3 103

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TÂM THẦN 104

4.1 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần của giáo viên 104

4.1.1 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến kiến thức về sức khỏe tâm thần của giáo viên 104

4.1.2 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến thái độ đối với người bệnh tâm thần của giáo viên 118

Trang 7

4.1.3 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hành vi

tìm kiếm trợ giúp của giáo viên 125

4.2 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần của học sinh 129

4.2.1 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến kiến thức về sức khỏe tâm thần của học sinh 129

4.2.2 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khoẻ tâm thần đến thái độ đối với người bệnh tâm thần của học sinh ………

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần 138

4.3.1 Các yếu tố dự báo sự thay đổi trong hiểu biết về sức khỏe tâm thần của giáo viên dưới tác động của chương trình giáo dục sức khoẻ tâm thần 138

4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần của học sinh 139

4.4 Các đề xuất cho việc sử dụng chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần trong các trường trung học cơ sở 142

Tiểu kết chương 4 145

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 146

1 Kết luận 146

1.1 Về lý luận 146

1.2 Về thực tiễn 147

2 Khuyến nghị 148

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 164

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng mô tả GV tham gia nghiên cứu 66 Bảng 3.2 Mô tả HS tham gia nghiên cứu 67

Bảng 4.1 Khả năng nhận diện các rối loạn tâm thần của GV trước và

sau khi tham gia chương trình giáo dục SKTT 99

Bảng 4.2 Kết quả về khả năng nhận diện rối loạn tâm thần của GV

Bảng 4.3 Khả năng tìm kiếm thông tin về rối loạn tâm thần của GV 105

Bảng 4.4 Biểu hiện khả năng tìm kiếm thông tin của GV nhóm thực

Bảng 4.5 Mối tương quan giữa các biểu hiện trong khả năng tìm

kiếm thông tin về rối loạn tâm thần 108

Bảng 4.6 Niềm tin vào nguyên nhân gây rối loạn tâm thần của GV 2

Bảng 4.16 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tác động của chương

Bảng 4.17 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả tác động

Bảng 4.18 Yếu tố dự báo sự thay đổi trong hiểu biết về SKTT của HS 137

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.2 Quá trình tìm kiếm và chọn lọc tài liệu 73

Biểu đồ 4.1 Khả năng nhận diện rối loạn tâm thần của GV trước tập

Biểu đồ 4.4 Kiến thức về SKTT của HS dưới góc độ khu vực 128

Biểu đồ 4.5 Hiểu biết về SKTT của HS nhóm thực nghiệm qua 2 lần

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các rối loạn tâm thần ngày càng trở nên phổ biến và chiếm 14 gánh nặng bệnh tật toàn cầu Trên thế giới, rối loạn tâm thần ảnh hưởng đến gần 20% thanh thiếu niên [132] và phần lớn các rối loạn tâm thần khởi phát trước năm 25 tuổi [86;

tr 593] Tại Việt Nam, ước tính gần 15% dân số mắc các rối loạn tâm thần phổ biến,

3 triệu người bị rối loạn tâm thần nặng [142] Các rối loạn tâm thần có xu hướng gia tăng nhưng đội ngũ chăm sóc không đủ để đáp ứng nhu cầu của xã hội, đặc iệt là ở các nước đang phát triển [81; tr 2] Riêng ở Việt Nam, thống kê cho thấy có 850 ác

s tâm thần cho 90 triệu người, tương đương với 1 ác s /100.000 dân và tập trung chủ yếu ở các thành phố phát triển, một số nơi không có ác s tâm thần [135] Điều này cho thấy, SKTT là vấn đề cần được quan tâm bởi toàn xã hội, từ chuyên gia y

tế, nhà giáo dục, gia đình… và hơn hết là mỗi cá nhân cần trang bị cho mình những hiểu biết nhất định

Mặt khác, trường học là nơi HS được học tập, giao lưu, kết bạn và được giáo dục toàn diện về nhân cách Mặc dù đa số trẻ em đều có thể thích nghi với môi trường học đường song vẫn có một số em gặp không ít khó khăn dẫn đến các vấn đề tâm bệnh Nếu không được nhận diện, can thiệp, điều trị sớm, các rối loạn tâm thần

sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội Điều đó làm gia tăng nguy cơ thất bại học tập, bỏ học giữa chừng, phạm pháp hay các vấn đề xã hội khác Trước áp lực học tập, sức p từ gia đình, nhà trường và các lực lượng giáo dục, đặc iệt là phụ huynh cùng thầy/cô giáo thường ch quan tâm đến sức khỏe thể chất và thành tích học tập hơn là SKTT khiến t lệ rối loạn ở HS ngày càng tăng Theo Hội Y học dự ph ng Việt Nam, các bệnh lý về sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi HS, sinh viên cao hơn hẳn so với t lệ người mắc bệnh ở quần thể chung và có

xu hướng tăng lên trong những năm gần đây [137]

Bên cạnh đó, phần lớn thời gian trong tuần (30h/tuần) HS tham gia các hoạt động ở trường nên hơn hết, trường học chính là nơi tốt nhất để sàng lọc, phát hiện, can thiệp và phòng ngừa những tổn thương tâm lý [64; tr 2] Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh GV đóng vai tr đặc iệt quan trọng trong việc phát hiện,

ph ng ngừa và hỗ trợ làm giảm thiểu các rối loạn tâm thần ở HS [66; tr 58] Để làm

Trang 12

được điều này, GV cần có những hiểu iết nhất định về SKTT Từ đó, các chương trình can thiệp, giáo dục về SKTT được xây dựng, triển khai trong các trường học ở khắp nơi trên thế giới Kết quả từ những nghiên cứu này cho thấy, tập huấn có thể nâng cao hiểu iết về SKTT cho GV; HS qua đó làm giảm t lệ tổn thương, ỏ học

và các rối loạn tâm thần khác [81; tr 2] Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục SKTT nhằm nâng cao hiểu biết về SKTT cho người dân nói chung, GV, HS nói riêng Các nghiên cứu ở Việt Nam mới ch tập trung vào thực trạng hiểu biết về SKTT của GV; HS và các chương trình giáo dục SKTT chuyên biệt về trầm cảm, tự kỷ…

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “nghiên cứu tác động của chương trình

giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT của GV và HS các trường THCS tại Đà Nẵng” được lựa chọn làm đề tài luận án

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này có mục đích đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT (The Guide) đến hiểu biết về SKTT của GV và HS các trường THCS tại Đà Nẵng, qua đó khẳng định tính hiệu quả của chương trình đối với việc nâng cao hiểu biết về SKTT cho GV, HS và đề xuất cho việc sử dụng chương trình đối với các trường THCS Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Chương trình giáo dục SKTT có tác động làm tăng hiểu biết về SKTT (cụ thể là tăng kiến thức, giảm thái độ kỳ thị và tăng hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp) cho GV các trường THCS tại Đà Nẵng hay không?

Câu hỏi 2: Chương trình giáo dục SKTT có tác động làm tăng hiểu biết về SKTT (tăng kiến thức và giảm thái độ kỳ thị) cho HS các trường THCS tại Đà Nẵng không?

Câu hỏi 3: Sự thay đổi trong hiểu biết về SKTT của GV và HS THCS tại Đà Nẵng dưới tác động của chương trình giáo dục SKTT có liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, khu vực, độ tuổi, bằng cấp, số năm làm việc… hay không?

Trang 13

Câu hỏi 4: Các yếu tố thuộc chương trình, yếu tố người dạy, yếu tố người học, yếu tố bối cảnh… ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả tác động của chương trình giáo dục SKTT tại các trường THCS Đà Nẵng?

4 Giả thuyết nghiên cứu

Giải thuyết 1: Chương trình giáo dục SKTT có thể tác động làm tăng kiến thức, giảm thái độ kỳ thị đối với người bệnh tâm thần và tăng hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp cho GV các trường THCS tại Đà Nẵng

Giả thuyết 2: Chương trình giáo dục SKTT có thể tác động làm tăng kiến thức, giảm thái độ kỳ thị đối với người bệnh tâm thần cho HS các trường THCS tại

Đà Nẵng

Giả thuyết 3: Sự thay đổi trong hiểu biết về SKTT dưới tác động của chương trình giáo dục SKTT có liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, khu vực, khối lớp ở HS và các yếu tố bằng cấp, khu vực, số năm làm việc, độ tuổi…

ở GV

Giả thuyết 4: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc chương trình, yếu tố người dạy, yếu tố người học, yếu tố bối cảnh… đến hiệu quả tác động của chương trình giáo dục SKTT tại các trường THCS Đà Nẵng là khác nhau

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan lịch sử nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT trên thế giới và ở Việt Nam

- Xây dựng cơ sở lý luận về tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT

- Đánh giá thực trạng tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT của GV; HS các trường THCS tại Đà Nẵng

- Đưa ra một số đề xuất cho việc sử dụng chương trình giáo dục SKTT ở các trường THCS

6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT của GV và HS các trường THCS tại Đà Nẵng

Trang 14

7.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

- Hiểu biết về SKTT của GV được đánh giá thông qua các iểu hiện sau: (1) kiến thức về rối loạn tâm thần gồm khả năng nhận diện rối loạn tâm thần cụ thể; khả năng tìm kiếm thông tin về SKTT; niềm tin về yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây rối loạn tâm thần; (2) thái độ đối với người bệnh tâm thần gồm sự kỳ thị và mức độ sẵn sàng với người bệnh; (3) hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp, trong nghiên cứu này chúng tôi không quan sát hành vi mà ch đánh giá trên cở sở lựa chọn của

GV về nguồn trợ giúp

- Hiểu biết về SKTT của HS được đánh giá qua các iểu hiện: (1) kiến thức

về SKTT; (2) thái độ đối với người bệnh tâm thần

- Nội dung tập huấn chương trình giáo dục SKTT: nghiên cứu này giới hạn chọn 4/6 module của chương trình giáo dục SKTT “The Guide” để GV triển khai cho HS, cụ thể là module 1: Sự kỳ thị với bệnh tâm thần; Module 2: Sức khoẻ tâm thần và rối loạn tâm thần; Module 3: Thông tin cụ thể về rối loạn tâm thần; Module 4: Nguyên nhân và hình thức hỗ trợ rối loạn tâm thần

- Phạm vi đánh giá: hiệu quả tác động của chương trình giáo dục SKTT được đánh giá thông qua: (1) sự thay đổi trong hiểu biết về SKTT của GV giữa trước và sau khi tham gia chương trình thực nghiệm; (2) sự thay đổi trong hiểu biết về SKTT của HS giữa trước và sau khi tham gia chương trình thực nghiệm Kết quả được so sánh với nhóm kiểm chứng

7.2 Phạm vi về địa bàn và khách thể nghiên cứu

- Luận án giới hạn chọn 80 GV và 2539 HS các trường THCS trên 3 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng (cụ thể là Quận Hải Châu; Quận Sơn Trà; Huyện Hòa Vang) làm khách thể nghiên cứu

Trang 15

8 Nguyên tắc nghiên cứu

8.1 Nguyên tắc hệ thống

Nguyên tắc hệ thống ch ra rằng cần xem xét sự vật, hiện tượng trên nhiều mặt, đặt chúng trong các mối liên hệ khác nhau và trong từng điều kiện cụ thể để tìm ra bản chất, quy luật vận động của sự vật, hiện tượng Nguyên tắc này được vận dụng trong luận án để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiểu biết về SKTT của GV; HS cũng như các yếu tố tác động đến hiệu quả của chương trình giáo dục SKTT Ngoài ra, nguyên tắc hệ thống c n được vận dụng để xem xét sự tác động, ảnh hưởng của các nguồn lực như phụ huynh; ban giám hiệu; GV; HS khác Việc vận dụng nguyên tắc này giúp xác định những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình nghiên cứu

8.2 Nguyên tắc phát triển

Nguyên tắc phát triển yêu cầu xem xét các sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động phát triển và biến đổi không ngừng Nguyên tắc này được vận dụng trong luận án để xem xét mức độ hiểu biết về SKTT của GV, HS theo độ tuổi Nội dung

và vấn đề nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở đặc điểm tâm lý lứa tuổi THCS Đồng thời, hiểu biết về SKTT được xem là quá trình động, có thể thay đổi theo thời gian

HS, GV Đồng thời, nguyên tắc này là cơ sở để lấy sự thay đổi trong hiểu biết về

SKTT của GV, HS làm tiêu chí đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục

10 Phương pháp luận nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp cận theo lý thuyết hoạt động Vận dụng

lý thuyết hoạt động vào nghiên cứu, lý giải sự hình thành và phát triển tâm lý người

Trang 16

gọi là phương pháp tiếp cận hoạt động Phương pháp tiếp cận hoạt động dựa trên những nguyên tắc sau:

- Tâm lý cũng như ý thức được nẩy sinh, hình thành và phát triển ởi hoạt động, hoạt động được xem là quy luật chung nhất của tâm lý người

- Hoạt động vừa tạo ra tâm lý, vừa sử dụng tâm lý làm khâu trung gian của hoạt động tác động vào đối tượng, đó là nguyên tắc thống nhất ý thức và hoạt động

- Tất cả các quá trình tâm lý, các chức năng tâm lý kể cả ý thức, nhân cách phải được nghiên cứu trong cấu trúc của hoạt động, ngh a là khi nghiên cứu quá trình, chức năng tâm lý nào phải xem nó được thúc đẩy ởi động cơ nào, nhằm mục đích gì và vận hành ằng các phương tiện, công cụ nào?

Theo lý thuyết hoạt động, cuộc đời con người là một d ng hoạt động, trong

mà có thể tách rời khỏi sự tiến ộ và thành đạt trong giáo dục

Gắn liền với hoạt động dạy là hoạt động học Hoạt động học nhằm tiếp thu những điều của hoạt động dạy truyền thụ và iến những điều tiếp thu được thành năng lực thể chất và năng lực linh thần, thành phẩm chất và năng lực, thành nhân cách Hoạt động dạy và hoạt động học cùng thực hiện cơ chế di sản xã hội Đây là hai hoạt động gắn liền nhau, cả thầy và trò cùng trở thành chủ thể của hoạt động, cùng thực hiện mục đích chung là hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ

Nghiên cứu này vận dụng lý thuyết hoạt động trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục SKTT, đó là phát huy vai tr chủ thể của người dạy lẫn người học Người dạy đóng vai tr là tổ chức, điều khiển, người học là chủ thể của hoạt động học Ngoài ra, cả GV và HS cùng hướng đến mục đích chung là tăng kiến thức

Trang 17

về SKTT, thay đổi thái độ và có hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp, qua đó tạo ra sự phát triển lành mạnh cho HS

11 Phương pháp nghiên cứu

11.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm tìm hiểu tổng quan, cơ sở lý luận và lựa chọn công cụ khảo sát Việc nghiên cứu được thực hiện bằng các phương pháp:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết

- Phương pháp phân loại, khái quát và hệ thống hóa lý thuyết

11.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục SKTT, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia

11.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý kết quả thu được từ nghiên cứu thực tiễn Các phép thống kê được sử dụng trên phần mềm SPSS 23.0

12 Đóng góp của luận án

12.1 Đóng góp về lý luận

- Tổng quan các nghiên cứu về triển khai và đánh giá tác động của chương

trình giáo dục SKTT; tổng hợp, khái quát hóa lý thuyết về chương trình giáo dục SKTT và đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT

- Khẳng định về mặt lý luận khả năng thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi của

GV, HS dưới tác động của chương trình giáo dục SKTT

12.2 Đóng góp về thực tiễn

- Thích nghi hóa thang đo thái độ kỳ thị đối với người bệnh tâm thần; niềm tin vào nguyên nhân gây rối loạn tâm thần và chương trình giáo dục SKTT trong trường học (The Guide)

Trang 18

- Chứng minh được hiệu quả tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT của GV và HS Chương trình đã làm tăng nhận thức, giảm thái

độ kỳ thị, thay đổi hành vi tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp của GV; HS Do đó, chương trình này có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập cho sinh viên chuyên ngành cử nhân Tâm lý học và có thể sử dụng làm tài liệu tập huấn, nghiên cứu triển khai nhằm nâng cao hiểu biết về SKTT cho HS, GV ở các trường phổ thông trung học tại Việt Nam

- Xác định các yếu tố cần thiết để triển khai thành công chương trình giáo dục SKTT tại các trường THCS Việt Nam

- Mở ra hướng nghiên cứu mới như triển khai chương trình giáo dục SKTT ở các trường học trên các khu vực, t nh/thành khác nhau nhằm so sánh sự khác biệt văn hóa, vùng miền Nghiên cứu này có thể mở rộng để xây dựng chương trình can thiệp nhằm nâng cao hiểu biết về SKTT cho người dân trong cộng đồng nói chung

13 Cấu trúc của luận án

Luận án được trình bày theo cấu trúc sau:

Chương 3 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần của giáo viên và học sinh trung học cơ sở tại Đà Nẵng

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Các công trình khoa học liên quan đến luận án

Phụ lục

Trang 19

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TÂM THẦN ĐẾN HIỂU BIẾT VỀ SỨC KHỎE

TÂM THẦN 1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hiểu biết về sức khỏe tâm thần trên thế giới

Với nguy cơ hơn 25 dân số mắc bất kỳ một rối loạn tâm thần và mọi người

có thể ị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, SKTT là vấn đề đáng lo ngại trên toàn thế giới [133] Chính vì thế, các nghiên cứu về SKTT được quan tâm, chú trọng, đặc iệt là ở các nước phát triển Theo Liên đoàn SKTT thế giới, thực hiện khảo sát tại

14 nước (6 nước đang phát triển, 8 nước phát triển), có đến 50 trường hợp bệnh tâm thần nghiêm trọng ở các nước phát triển và 85 trường hợp bệnh nghiêm trọng

ở nước đang phát triển không nhận được điều trị trong 12 tháng (WFMH) Mức độ bệnh nhân được hưởng lợi từ các dịch vụ chăm sóc không ch bị ảnh hưởng bởi chất lượng và tính sẵn sàng của dịch vụ mà còn bởi kiến thức, hiểu iết về SKTT của chính họ [124; tr 25] Thuật ngữ "hiểu biết về SKTT" (mental health literacy) được

Jorm và đồng nghiệp định ngh a đầu tiên vào năm 1997, đó là “các kiến thức và

niềm tin về những rối loạn tâm thần à c thể gi p họ nhận diện, quản lý hoặc phòng ngừa” [46; tr 396]

Kể từ khi giới thiệu thuật ngữ hiểu iết về SKTT , một loạt các nghiên cứu

đã được tiến hành trên các nhóm dân số tại nhiều quốc gia trên thế giới Kết quả từ những nghiên cứu này cho thấy có sự khác biệt về văn hóa, niềm tin… liên quan đến rối loạn tâm thần ở các quốc gia, dân tộc Ở các nước phát triển, ệnh tật là hiện tượng khoa học tự nhiên, có phương pháp điều trị y tế, sử dụng công nghệ để chẩn đoán và điều trị Ở các nước đang phát triển, ệnh tật là kết quả của hiện tượng siêu nhiên và ph p thuật, từ đó thúc đẩy sự cầu nguyện hoặc các can thiệp khác về tinh thần [66; tr 58] Đối với người châu Á/Thái Bình Dương, ệnh tâm thần là những căn ệnh mà người mắc phải có những suy ngh hay hành động ất thường Gia đình Châu Á thường hổ th n với những hành động này Gia đình thường trách mắng người ệnh không iết và không chịu dùng ý chí để thay đổi những hành vi ất thường (nghiên cứu của Ganasen, 2008) [68; tr 24] Bên cạnh đó, ệnh tâm thần c n

Trang 20

được giải thích ằng niềm tin huyền í, được giải thích ởi nguyên nhân từ ma thuật hay do nghiệp chướng từ kiếp trước Vì thế, những người xung quanh thường kỳ thị

và định kiến với ệnh nhân và kết quả là, người bệnh n tránh các triệu chứng tâm ệnh, thậm chí che dấu nó [68; tr 25] Kết quả tương tự được ghi nhận ở các nước đang phát triển khác, đặc biệt là châu Phi (nghiên cứu của Ganasen, 2008) Một nghiên cứu ở Nigeria tiến hành tại làng Karfi, kiểm tra kiến thức, thái độ và niềm tin

về nguyên nhân, iểu hiện và điều trị ệnh tâm thần Hơn một phần ba số người được hỏi tin rằng nguyên nhân chính của ệnh tâm thần là do lạm dụng ma túy và

do ý muốn của Thiên Chúa [68; tr 26] Niềm tin này ảnh hưởng chặt chẽ đến cách thức chữa trị ệnh Nghiên cứu thực hiện tại Malaysia cho thấy người dân tin vào các lực lượng siêu nhiên và do ph p thuật của các thầy lang gây ra Vì thế, những người ệnh tâm thần thường được hỗ trợ ằng ph p thuật, thảo mộc hoặc nước thánh Ở các nước đang phát triển, thầy lang thường là các nhà cung cấp, chăm sóc SKTT ưa thích [66; tr 59 - 60]

Mặt khác, những nghiên cứu liên quan đến hiểu iết về SKTT cho thấy niềm tin sai lệch và định kiến về rối loạn tâm thần ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp cận dịch vụ của người ệnh Do đó, khái niệm hiểu biết về SKTT được bổ sung bao

gồm: 1 hả n ng nhận ra các rối oạn cụ thể hoặc các oại c ng th ng t

hác nhau 2 iến thức và niề tin về các yếu tố nguy cơ và nguy n nh n 3 iến thức và niề tin về sự tự can thiệp 4 iến thức và niề tin về sự tr gi p chuy n nghiệp 5 thái độ đối với người rối loạn tâm thần và tì iế sự gi p đ 6 iết cách tì th ng tin về SKTT (Jorm, 2011) [46] Trên cơ sở này, các chương trình

giáo dục SKTT được triển khai nhằm nâng cao kiến thức, tăng niềm tin vào hình thức hỗ trợ chuyên nghiệp và giảm thái độ kỳ thị cho các nhóm khách thể khác nhau Vì vậy, chúng tôi lựa chọn cách tổng quan, điểm luận tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT trên ba mặt: (1) kiến thức về SKTT; (2) thái độ đối với người rối loạn tâm thần; (3) niềm tin vào sự trợ giúp chuyên nghiệp,

cụ thể như sau:

Trang 21

1.1.1 Nghiên cứu tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến kiến thức về sức khỏe tâm thần

Đã có nhiều nghiên cứu về sự tác động của chương trình giáo dục SKTT đến kiến thức về SKTT được thực hiện Những nghiên cứu này hướng đến nhiều nhóm khách thể khác nhau như cộng đồng, người chăm sóc hay tập trung vào trường học Tuy nhiên, trong khái niệm hiểu biết về SKTT thì cần có sự kết nối trực tiếp giữa kiến thức, thái độ cũng như niềm tin vào hình thức hỗ trợ rối loạn tâm thần và hơn nữa, các yếu tố này cũng có mối quan hệ với nhau Do đó, khi triển khai các chương trình giáo dục SKTT, các tác giả thường hướng đến cả ba mục tiêu này song hiệu quả và mức độ tác động, ảnh hưởng của nó đến từng biểu hiện kiến thức, thái độ và niềm tin trợ giúp là khác nhau

Theo hướng tác động vào kiến thức, phải kể đến chương trình được thực hiện

từ khá sớm của Petchers tại Hoa Kỳ vào năm 1988 Nghiên cứu được thực hiện trên

102 HS THCS Nội dung chương trình gồm tài liệu giảng dạy các khái niệm cơ ản

về SKTT và video hướng dẫn sử dụng kèm theo Chương trình đơn thuần ch cung cấp kiến thức, thông tin về một số loại rối loạn tâm thần như trầm cảm, tâm thần phân liệt, lo âu Tác động của chương trình được đánh giá thông qua việc so sánh khả năng nhận diện rối loạn tâm thần của HS trước và sau can thiệp Sau thực nghiệm, điểm số về kiến thức của HS tăng lên Như vậy, x t về hiệu quả tác động, chương trình này đã đạt được mục tiêu [105; tr 1102 - 1105]

Năm 1998, tác giả Esters triển khai và đánh giá tác động của chương trình nâng cao kiến thức về rối loạn tâm thần cho 20 HS tại trường THCS ở Mỹ Chương trình gồm nhiều bài giảng cung cấp kiến thức cơ ản về một số rối loạn tâm thần cụ thể Chương trình được giảng dạy trong 3 tuần, mỗi tuần 1 giờ học và được thực hiện bởi chuyên gia trong l nh vực SKTT Hiệu quả tác động của chương trình được đánh giá thông qua hiểu biết về SKTT của HS nhóm thực nghiệm và so sánh với 20

HS nhóm chứng qua 3 lần khảo sát: trước, sau và sau 12 tuần can thiệp Kết quả cho thấy điểm kiến thức về SKTT tăng so với nhóm chứng và giảm không đáng kể sau

12 tuần Nghiên cứu này cũng đánh giá được tính khả thi, hiệu quả tuy nhiên số lượng HS tham gia tương đối ít nên khó để thuyết phục [63; tr 243 - 250]

Trang 22

Năm 2000, Wyn cùng cộng sự đã nghiên cứu tác động của chương trình

“nâng cao nhận thức – giảm khoảng cách xã hội đối với người rối loạn tâm thần” Nghiên cứu của Wyn hướng đến nhóm khách thể là GV và HS tại Úc Để đánh giá tác động của chương trình đến kiến thức về SKTT, nhóm tác giả đã đưa ra bộ tài liệu hỗ trợ, hướng dẫn xây dựng chương trình tập huấn cho các trường Bộ tài liệu gồm nội dung giảng dạy và bảng hỏi đánh giá mức độ hiểu biết về SKTT sau tập huấn, được xây dựng theo hướng mở để từng trường điều ch nh, thay đổi cho phù hợp Chương trình được giảng dạy bởi chuyên gia trong l nh vực SKTT Tuy nhiên, nghiên cứu này không có trắc nghiệm hay bảng hỏi đánh giá kiến thức trước và sau can thiệp HS và GV ch hoàn thành bảng hỏi sau khi được tập huấn Do đó, kết quả không thể hiện được sự thay đổi về các ch báo khoảng cách xã hội cũng như không thể đánh giá được sự thay đổi trong kiến thức về SKTT của GV, HS X t về mục tiêu, nghiên cứu này không chứng minh được hiệu quả, không ch ra được mức độ tác động của chương trình đến kiến thức về SKTT Tuy nhiên ước đầu chương trình cũng đã cung cấp cho GV và HS những thông tin cơ ản về SKTT [134; tr 594

- 601] Cũng tại Úc, một năm sau, Jorm tiến hành nghiên cứu tác động của chương trình can thiệp đến kiến thức về SKTT của HS trong phạm vi 50 trường trung học

Số trường được chia thành nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm Chương trình được thiết kế thành các bài giảng với các hoạt động đi kèm và một số tài liệu phát tay nhằm cung cấp thông tin cho HS Chương trình k o dài trong 3 năm HS được đánh giá ằng bảng kiểm ở từng giai đoạn khác nhau trong Tuy nhiên, kiến thức về SKTT của HS không thay đổi sau thực nghiệm Mặc dù theo đánh giá của GV và quản lý nhà trường là đã có những cải thiện tích cực ở môi trường học đường song chương trình đã không đạt được mục tiêu [46; tr 396 - 401]

Ngoài ra, tác giả Swagata Bapat đã đánh giá tác động của chương trình

“Read the Play” tại Úc năm 2009 40 huấn luyện viên và quản lý câu lạc bộ thể thao

đã tham gia thực nghiệm Chương trình được tiến hành trong 8 giờ chia thành 3 buổi trong 3 tuần liên tiếp Nội dung chương trình gồm kiến thức về trầm cảm, rối loạn hành vi, lo âu và sử dụng chất Chương trình đã được giảng dạy bởi 2 chuyên gia về SKTT Swagata Bapat chứng minh tính hiệu quả của chương trình ằng cách

so sánh khả năng nhận diện rối loạn tâm thần của 40 người tham gia trước và sau

Trang 23

khi thực nghiệm Sự thay đổi về khả năng nhận diện tăng từ 72.5% lên 92.5% với kiểm định t theo cặp với giá trị t(39) = 6.26; p < 0.01 Tuy nhiên, nghiên cứu này không có nhóm đối chứng và số lượng mẫu tương đối ít [123; tr 475 - 479]

Đến năm 2013, Hart thực hiện nghiên cứu tác động của chương trình „Mental health First Aid‟ đến hiểu biết về SKTT của 988 HS Chương trình được xây dựng gồm 3 bộ bài giảng cung cấp kiến thức cơ ản về SKTT Với 3 buổi tập huấn, HS được đánh giá trước, sau và sau 3 tháng thực nghiệm Sau khi thực hiện, tác giả đã

ch ra mức độ thay đổi trong kiến thức về SKTT như khả năng nhận diện, sự tự tin khi truyền đạt các kiến thức cho bạn bè, niềm tin vào nguyên nhân và xu hướng tìm kiếm thông tin trợ giúp cho bản thân và người khác [74] Tiếp đó, năm 2014, Yael Perry nghiên cứu hiệu quả tác động của chương trình “HeadStrong - phổ cập kiến thức SKTT dựa vào trường học” cho 380 HS lớp 10 “HeadStrong” gồm một cuốn sách nhỏ, các bản trình chiếu và các phụ lục khác nhau Các hoạt động trong lớp được thực hiện trong khoảng 5 - 8 tuần, tổng cộng khoảng 10 giờ học GV sẽ tham gia tập huấn và triển khai tổ chức lại cho HS Người tham gia được đánh giá trước, sau can thiệp và theo dõi 6 tháng Nghiên cứu này đã chứng minh được sự thay đổi trong khả năng nhận diện rối loạn tâm thần, niềm tin vào yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây rối loạn tâm thần của HS sau khi tham gia lớp học Kết quả được duy trì sau thời gian 6 tháng [126; tr 1143 - 1151]

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Marie Sutton tại Ailen vào năm

2016 Tác giả đã đánh giá tác động của chương trình “can thiệp thông tin về rối

loạn tâm thần dành cho chuyên gia tiếp xúc với trẻ” 1032 chuyên gia được lựa

chọn tham gia nhóm thực nghiệm, nghiên cứu này không có nhóm đối chứng Nội dung chương trình gồm phần trình chiếu các bài giảng về dấu hiệu nhận biết, nguyên nhân, cách hỗ trợ cho trẻ em có nguy cơ ị rối loạn tâm thần và bộ câu hỏi đánh giá Can thiệp được thực hiện bởi bác s tâm thần với 82 lần trong hơn 3 năm Hiệu quả tác động của chương trình được đánh giá dựa trên sự thay đổi của người tham gia trước và sau thực nghiệm Sau 3 năm, khả năng nhận diện về SKTT của

1032 chuyên gia đã tăng lên Nghiên cứu này cũng ch ra tác động của chương trình

có liên quan đến các biến giới tính, độ tuổi trong khả năng nhận diện rối loạn tâm thần Trong đó, phụ nữ có xu hướng gọi tên chính xác hơn so với nam giới Có thể

Trang 24

nói, chương trình của Marie Sutton khá công phu khi thực hiện trên số lượng mẫu lớn trong khoảng thời gian tương đối dài Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là không có nhóm chứng và khó để có thể kiểm soát hết các yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của chương trình [93; tr 1 - 6]

Mặt khác, nghiên cứu tổng hợp của tác giả Ingunn Skre cho thấy, tác động của chương trình giáo dục SKTT đến kiến thức về SKTT của các nhóm khách thể là khác nhau Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố văn hóa, ối cảnh, giới tính, độ tuổi người tham gia, mức độ giáo dục… Ingunn Skre đã ch ra rằng nữ giới thuộc mọi lứa tuổi thường tốt hơn nam trong việc xác định trầm cảm [65] Các chương trình ở các nước như Mỹ, Úc, Thụy S tác động đến khả năng nhận diện rối loạn tâm thần của mẫu nghiên cứu cao hơn so với các nước như Pakistan, Ấn Độ Cụ thể là Lau er và các đồng nghiệp nhận thấy rằng 40% mẫu Thụy Sỹ trong độ tuổi 16 - 76 xác định trầm cảm và 75 xác định được tâm thần phân liệt Mức cao nhất về khả năng nhận diện trầm cảm (81 ) được báo cáo ở các cư dân nông thôn Queensland, Australia bởi Bartlett và các đồng nghiệp [65] Ngược lại, Suhail cho thấy ch có 20% số người Pakistan có thể xác định trầm cảm, và thậm chí ít hơn 5% có thể xác định được bệnh tâm thần Ngoài ra, trong nghiên cứu tác động của chương trình

“sức khỏe tâm thần cho mọi người” dành cho HS lứa tuổi 13 – 15, Ingunn Skre ch

ra sự tác động của chương trình lên khả năng nhận diện rối các rối loạn tâm thần là khác nhau Mức độ nhận diện trường hợp trầm cảm, rối loạn ăn uống và tâm thần phân liệt cao hơn rối loạn lo âu trong khi lo âu là rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở tuổi thanh thiếu niên Chương trình này cũng đã tác động làm thay đổi quan điểm về

sự tự trợ giúp hay tăng kiến thức về khả năng tìm kiếm thông tin cho các vấn đề SKTT Nghiên cứu cũng ch ra giới tính có tác động đáng kể đến khả năng nhận diện và kiến thức về SKTT [65]

Tại Châu Á, nhiều nghiên cứu tác động của chương trình nâng cao hiểu biết

về SKTT được thực hiện, điển hình là tại các nước Nhật Bản, Hong Kong, Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ… Đầu tiên là nghiên cứu của Rahman tại Pakistan năm

1998 Có thể nói đây là một trong những nghiên cứu được thực hiện khá sớm so với các quốc gia Châu Á khác và so với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tại đất nước này Chương trình gồm những nội dung giáo dục cơ ản về trầm cảm, loạn thần, rối

Trang 25

loạn nghiện chất, chậm phát triển tâm thần thông qua bài giảng trên lớp và các poster 100 HS tham gia được chia thành nhóm thực nghiệm và nhóm chứng Hiểu biết về SKTT của HS được đánh giá ằng câu hỏi trắc nghiệm Tác động của chương trình được thể hiện thông qua ĐTB bài trắc nghiệm kiến thức về SKTT Qua đó, nghiên cứu này chứng minh được chương trình đã tác động làm tăng kiến thức về SKTT cho HS nhóm thực nghiệm [110; tr 1022 - 1025]

Năm 2017, tác giả Choi Yun Jung đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT cho 63 phụ nữ di dân đã kết hôn tại Hàn Quốc Người tham gia được chia thành nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Sách hướng dẫn thực hiện chương trình gồm tám phần: (1) Căng thẳng; (2) Quản lý căng thẳng; (3) Thỏa mãn mối quan hệ với chồng; (4) Các mối quan hệ vui vẻ với trẻ em; (5) Các mối quan hệ hài hòa với gia đình; (6) Hiểu biết về SKTT; (7) Quản lý SKTT; (8) Sử dụng các dịch vụ chăm sóc SKTT Sách được dịch thành 8 ngôn ngữ khác nhau gồm tiếng Hàn, Anh, Trung, Nhật, Nga, Mông Cổ, Thái Lan và Việt Nam Chương trình được thực hiện trong thời gian 8 tuần, mỗi tuần tương ứng với 1 nội dung Người tham gia được đánh giá trước và sau can thiệp bằng bảng hỏi hiểu biết về SKTT Nghiên cứu này không mô tả ai là người thực hiện, triển khai chương trình Kết quả cho thấy, sau khi tham gia, điểm trung bình kiến thức về SKTT của nữ giới ở nhóm thử nghiệm tăng từ 2,65 (± 0,22) lên 2,78 (± 0,24), trong khi điểm của nữ ở nhóm đối chứng giảm xuống Nghiên cứu cũng ch ra tác động của chương trình đến phụ nữ ở mỗi quốc gia là khác nhau và hiệu quả của sự tác động còn phụ thuộc vào độ tuổi cũng như số năm kết hôn Có thể nói, nghiên cứu này được thực hiện công phu, chi tiết khi xây dựng chương trình với 8 loại ngôn ngữ khác nhau [127]

Bên cạnh những chương trình được triển khai trực tiếp, nhiều nghiên cứu tác động được tiến hành thông qua mạng Internet cũng đem lại những hiệu quả nhất định Cụ thể là nghiên cứu của Daniel cùng cộng sự đánh giá “tác động của chương trình can thiệp nâng cao hiểu biết về trầm cảm thông qua thẻ điện tử y tế” năm

2009 645 người tham gia được chia thành 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng Mỗi người nhóm thực nghiệm được phát một thẻ y tế điện tử (e – card), liên kết với website có đầy đủ thông tin và phương pháp hỗ trợ cho người trầm cảm Sau can thiệp, khả năng nhận diện trầm cảm; kiến thức về quá trình tìm kiếm trợ giúp; các

Trang 26

triệu chứng trầm cảm, niềm tin vào sự trợ giúp tăng lên (z = 2.4; p = 0.02) Người tham gia có ý định tìm kiếm sự giúp đỡ trầm cảm cao hơn từ nguồn trợ giúp chính thức (t = 5.8; p < 0.001) và có xu hướng đánh giá trị liệu tâm lý cá nhân là hữu ích

so với các phương pháp trị liệu khác (z = 2.0; p = 0.047) Như vậy, chương trình của Daniel đã chứng minh được hiệu quả tác động [55; tr 533 - 542]

Cũng sử dụng Internet, chương trình tác động nâng cao kiến thức về SKTT thông qua tr chơi điện tử (Ching Ching Story) của Tim được thực hiện tại Hong Kong năm 2013 73 nghiên cứu sinh tham gia tr chơi liên quan đến kiến thức về SKTT qua Internet trong 10 ngày Kết quả được so sánh với 137 người nhóm chứng Trước thực nghiệm, hơn 50 người trả lời chính xác các câu hỏi về SKTT

và trung bình là 21/31 câu Sau can thiệp, số câu trả lời chính xác tăng lên (26/31)

Có sự khác biệt ý ngh a về mặt giới tính trong nghiên cứu này Nam giới có xu hướng trả lời chính xác, tốc độ thời gian cũng nhanh hơn nữ Tuy chưa mô tả cụ thể song nghiên cứu của Tim là một hướng mới trong bối cảnh xã hội hiện nay [114]

Tóm lại, nhiều nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục SKTT được thực hiện ở khắp nơi trên thế giới Những nghiên cứu này đã ch ra chương trình giáo dục SKTT có thể làm tăng kiến thức như khả năng nhận diện rối loạn tâm thần, kiến thức về yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây rối loạn tâm thần Bên cạnh

đó, các nghiên cứu cũng cho thấy tác động của chương trình phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, văn hóa, trình độ giáo dục của người tham gia

1.1.2 Nghiên cứu tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến thái độ đối với người bệnh tâm thần

Định kiến hay kỳ thị là một cấu trúc phức tạp Nó bao gồm các mặt nhận thức, tình cảm và hành vi của một người đối với cá nhân, xã hội Phần nhận thức liên quan đến kiến thức và niềm tin rập khuôn, l nh vực cảm xúc đề cập đến các ảnh hưởng tiêu cực như ác cảm, bối rối, xấu hổ, sợ hãi và khía cạnh hành vi đề cập đến việc tránh né, cô lập, phân biệt đối xử với đối tượng thành kiến Nhiều nghiên cứu cho thấy, sự kỳ thị là trở ngại chính để cung cấp, hỗ trợ chăm sóc về SKTT [111; tr 23] Rusch và đồng nghiệp [111; tr 24] đã gợi ý rằng cả sự kỳ thị và sợ hãi về sự kỳ thị là những rào cản đối với việc sử dụng các dịch vụ y tế Bên cạnh đó, các nghiên cứu đã ch ra thái độ kỳ thị đối với người bệnh tâm thần khá phổ biến trong xã hội,

Trang 27

nó tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới Người bệnh tâm thần bị xem là nguy hiểm, không thể dự đoán được vì thế luôn tồn tại khoảng cách xã hội với họ [111]

Từ lý thuyết và thực trạng về thái độ kỳ thị đối với người bệnh tâm thần, Corrad và các đồng nghiệp [53; tr 18] đề xuất ba cấp độ cho các chương trình thay đổi kỳ thị: các chương trình công cộng, các chương trình hướng vào các nhóm cụ thể và các chương trình cá nhân để ứng phó với sự kỳ thị và tự kỳ thị Từ đó nhiều chương trình giáo dục nhằm xóa bỏ kỳ thị được xây dựng và những nghiên cứu về tác động của các chương trình giáo dục SKTT ra đời

Năm 1990, Battaglia nghiên cứu tác động của chương trình giáo dục SKTT đến thái độ đối với người bệnh tâm thần trên 1380 HS ở Mỹ Hiệu quả tác động được đánh giá ằng sự thay đổi trong thái độ kỳ thị của HS nhóm thực nghiệm giữa trước và sau khi tham gia, giữa HS nhóm chứng với nhóm thực nghiệm Trong nghiên cứu này, ác s tâm thần là người trực tiếp trao đổi, trò chuyện với HS về trầm cảm, tự tử, sử dụng chất gây nghiện Với hình thức này, tác giả đã ch ra tác động của chương trình đến thái độ của HS Đó là sau thực nghiệm, HS cởi mở hơn khi chia sẻ về các vấn đề SKTT, thái độ kỳ thị giảm so với HS nhóm chứng [50]

Đến năm 2004, Watson nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình giáo dục SKTT đến thái độ đối với người bệnh tâm thần trên 23 GV; 1566 HS lớp 6, 7, 8 của

16 Bang Sau khi thực nghiệm, tác giả ch ra rằng, tác động của chương trình đến thái độ của HS ở mỗi bang và từng khối lớp là khác nhau [127; 563 - 572]

Ngoài các nghiên cứu kể trên, tại Mỹ tác giả Naylor cũng đánh giá tác động của chương trình giảm kỳ thị cho HS (2009) Trong nghiên cứu này, 2 trường học công lập được lựa chọn tham gia nhóm chính và nhóm thực nghiệm Nội dung gồm

6 bài giảng về các vấn đề SKTT phổ biến ở thanh thiếu niên: stress, trầm cảm, tự tử, rối loạn ăn uống, bạo lực và khuyết tật trí tuệ Tuy nhiên, tác động của chương trình này ngược lại so với mục tiêu đặt ra Sau thực nghiệm, thái độ của HS đối với người

có rối loạn tâm thần tăng theo thời gian so với nhóm đối chứng Nghiên cứu này ch

ra rằng cách thiết kế, lựa chọn nội có ảnh hưởng đến hiệu quả tác động [99; tr 365 - 370] Chính vì điều này mà một số nghiên cứu khác đã sử dụng kết hợp nhiều hình thức khác nhau nhằm tác động đồng bộ đến kiến thức, cảm xúc và hành vi của HS đối với người bệnh tâm thần Cụ thể là chương trình của Pinfold tại Anh cho 472

Trang 28

HS THCS Nội dung gồm các ài giảng về một số rối loạn tâm thần, cách duy trì trạng thái tinh thần khỏe mạnh và hạn chế việc gán nhãn đối với người mắc bệnh tâm thần Bài giảng được thực hiện trong 3 buổi do chuyên viên chăm sóc người bệnh tâm thần, chuyên gia SKTT và một người đã trải nghiệm rối loạn tâm thần chia sẻ với HS Kết quả cho thấy có sự thay đổi rõ rệt về thái độ đối với người ệnh Việc cho HS tiếp xúc, trao đổi với người trải nghiệm rối loạn tâm thần được xem là cách hiệu quả để thay đổi thái độ kỳ thị [103] Cũng theo xu hướng kết hợp đa dạng các hình thức, tác giả Essler đã đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT thực hiện trên 104 HS lớp 10 Chương trình được thực hiện dưới hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, thi đố, diễn kịch, tr chơi Tuy nhiên, chương trình lại tác động theo hướng ngược lại khi thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử với người bệnh tâm thần của HS lại gia tăng [63; tr 243 - 259] Tại nước Đức, Conrad cùng cộng sự đã đánh giá tác động của “tuần dự án” đến định kiến và khoảng cách xã hội với người bệnh tâm thần HS lớp 9, 10 sẽ trao đổi, trò chuyện với các thanh niên trải nghiệm trầm cảm, tâm thần phân liệt về các nội dung như biểu hiện cụ thể của bệnh, sự kỳ thị và những vấn đề xoay quanh cuộc sống của họ Kết quả tác động của chương trình là sau khi tham gia “tuần dự án”, HS cởi mở hơn trong việc chia sẻ các vấn đề SKTT với GV Khoảng cách xã hội, thái độ với người bệnh tâm thần giảm nhưng không duy trì kết quả sau 3 tháng [53; tr 314 - 328]

Tại Hong Kong, năm 2001, Chan cùng Petrus đã triển khai chương trình can thiệp trên 117 trung học phổ thông, 102 HS tham gia nhóm chứng Chương trình được diễn ra với nhiều hình thức như giảng dạy kiến thức 10 lần/10 tuần; ngày vì SKTT; hội thảo và triển lãm, HS tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân ở bệnh viện tâm thần Chương trình đã có những tác động đáng kể đến thái độ của HS nhóm thực nghiệm, cụ thể là khi được tiếp xúc với bệnh nhân, thái độ kỳ thị giảm, lòng nhân từ

và hướng đến người bệnh tăng lên, kết quả không đổi sau 7 tháng [53; tr 215 - 224] Năm 2009, Chan tiếp tục thực hiện chương trình khác tại Hong Kong với mục tiêu giảm định kiến đối với bệnh tâm thần phân liệt 255 HS trung học phổ thông được chia thành 3 nhóm thực nghiệm Cùng một nội dung nhưng 3 nhóm sẽ được tác động bằng 3 cách thức khác nhau: ch có bài giảng; ài giảng rồi đến video minh họa; video rồi đến ài giảng HS được kiểm tra ằng trắc nghiệm về thái độ định

Trang 29

kiến, khoảng cách xã hội Sau thực nghiệm, ch có sự thay đổi đối với nhóm được tập huấn ằng ài giảng rồi đến video minh họa Kết quả được duy trì trong 1 tháng Như vậy, cách tổ chức tập huấn đã đem lại kết quả khác nhau trên từng nhóm khách thể Nghiên cứu này giúp chúng ta xem x t sự ảnh hưởng của phương pháp tập huấn đến hiệu quả chương trình tác động [109; tr 627 - 636]

Cũng theo hướng này, Pattrick Corigan nghiên cứu tác động của các chương trình giáo dục SKTT đến sự kỳ thị bệnh tâm thần đã ch ra có 3 cách có thể giảm kỳ thị: phản kháng, giáo dục và tiếp xúc Trong đó, giáo dục cung cấp thông tin để công chúng có thể đưa ra quyết định sáng suốt hơn về bệnh tâm thần Cách tiếp cận

để thay đổi sự kỳ thị này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất Kết quả thể hiện những người có hiểu biết tốt hơn về bệnh tâm thần sẽ ít có khả năng tán thành sự kỳ thị và phân biệt đối xử [106; tr 614] Do đó, việc cung cấp chiến lược thông tin về bệnh tâm thần dường như làm giảm định kiến tiêu cực Bên cạnh đó, nghiên cứu của Keane đã ch ra rằng việc tham gia vào các chương trình giáo dục SKTT đã giúp cải thiện thái độ của chính những người mắc rối loạn tâm thần [78; tr 171 - 177] Các chương trình giáo dục có hiệu quả đối với nhiều đối tượng tham gia, bao gồm sinh viên đại học, sinh viên tốt nghiệp, thanh thiếu niên, cư dân cộng đồng và người mắc bệnh tâm thần

Một nghiên cứu khác của Goro Taraka về đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT tại Nhật Bản cho thấy nghiên cứu tác động là chiến lược hữu ích để giảm kỳ thị đối với bệnh tâm thần Ngoài ra, nó còn có tác dụng để xây dựng

kế hoạch nhằm hướng tới sự tác động mang tính cộng đồng Nghiên cứu này cũng

ch ra tác động của chương trình giáo dục SKTT đến thái độ của HS, sinh viên tại Nhật Bản, tuy sự kỳ thị có xu hướng giảm song khi so sánh với các chương trình khác thì tác giả cho rằng, hiệu quả tác động của chương trình không như mong đợi [71; tr 595] Cũng theo hướng này, nghiên cứu của Salerno ch ra chương trình giáo dục SKTT trong trường học ch hiệu quả lâu dài khi có thời gian theo dõi Theo dõi sau can thiệp là sự tác động mang tính lâu dài nhằm duy trì thái độ tích cực với bệnh tâm thần Hơn nữa, nghiên cứu này còn kiểm chứng rằng liệu chương trình giáo dục SKTT có tác động tiêu cực đến HS, đặc biệt là các em nhỏ hay không? Kết quả sau cùng cho thấy, hầu hết các chương trình can thiệp tác động tích cực đến HS [117]

Trang 30

Ngoài ra, nghiên cứu tác động của một số chương trình giáo dục SKTT cũng được thử nghiệm trực tuyến qua mạng internet Điển hình là nghiên cứu của Bond tại Úc hay của tác giả Agar Almeida tại Bồ Đào Nha Trong những nghiên cứu này, khách thể sẽ tham gia các lớp học trực tuyến và trả lời các câu hỏi liên quan đến định kiến, thái độ đối với bệnh tâm thần (Almeida, 2016) Tuy nhiên, chương trình

ch tác động làm tăng kiến thức chứ chưa thể tác động làm giảm sự kỳ thị [42]

Nghiên cứu tổng hợp và so sánh về tác động chương trình giáo dục SKTT tại các nước phát triển và đang phát triển, tác giả Ganesen cho rằng các chương trình tổng quát về rối loạn tâm thần có tác động bền vững và có thể thực hiện rộng rãi cho mọi đối tượng trong cộng đồng nhằm xóa bỏ kỳ thị Bên cạnh hình thức tác động thông qua đào tạo thì việc sử dụng các hội thảo giáo dục ngắn gọn với HS, sinh viên cũng được chứng minh là hiệu quả để thay đổi thái độ [68; tr 23 - 28]

Như vậy, có nhiều nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục đến thái độ kỳ thị đối Phần lớn những nghiên cứu này cho thấy chương trình giáo dục

có thể hướng người tham gia đến thái độ tích cực đối với bệnh tâm thần

1.1.3 Nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần đến hành vi tìm kiếm trợ giúp

Tìm kiếm trợ giúp được xem là ước quan trọng trong việc cải thiện SKTT

và tiếp cận một nguồn chăm sóc phù hợp Nó biểu hiện ở khả năng nhận thức về vấn đề, sự sẵn sàng để nói rõ vấn đề và nhu cầu giúp đỡ, cũng như chọn một nguồn trợ giúp (Rickwood) [107; tr 23] Nói cách khác, nó được hiểu là quá trình tìm kiếm

sự trợ giúp từ các chuyên gia hợp pháp và được công nhận vai trò chuyên nghiệp trong việc cung cấp tư vấn, hỗ trợ và/hoặc điều trị có liên quan (Rickwood, Thomas, 2012) [107; tr 23] Định ngh a này đã nói lên tầm quan trọng của hành vi tìm kiếm trợ giúp trong việc điều trị và giảm nh bệnh tật Do đó, trước khi nghiên cứu về tác động của chương trình giáo dục, nhiều nghiên cứu về hành vi tìm kiếm trợ giúp ra đời Những nghiên cứu này cho thấy có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm trợ giúp, trong đó, mức độ nghiêm trọng và loại rối loạn tâm thần ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Nghiên cứu của Mackenzie, Reynold, Cairney và Sareen (2012) báo cáo rằng các cá nhân chủ yếu tìm kiếm sự giúp đỡ cho loạn thần và trầm cảm cao hơn Lứa tuổi cũng có mối quan hệ với hành vi tìm kiếm T lệ người

Trang 31

trưởng thành, đặc biệt là trung niên tìm kiếm trợ giúp hơn các nhóm còn lại, đặc biệt là với rối loạn hoảng sợ (45.3%) Tỷ lệ tìm kiếm trợ giúp cho rối loạn ám ảnh

sợ đặc hiệu là thấp nhất (7,8 ) Liên quan đến giới tính, phụ nữ thường tìm kiếm sự giúp đỡ cho chứng rối loạn lo âu, t lệ tìm kiếm trợ giúp của nữ cao hơn so với nam giới (nghiên cứu của Mackenzie, 2012) Mặt khác, trong một nghiên cứu tại Mỹ, 44.8 người được chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần không tìm kiếm sự trợ giúp,

57 người mắc rối loạn tâm thần nh có nhu cầu tìm giúp đỡ ở mức độ thấp [101; tr 18] Song song với những khảo sát này thì nhiều nghiên cứu tác động của chương trình giáo dục SKTT đến hành vi tìm kiếm trợ giúp được tiến hành Cụ thể là nghiên cứu của Ingunn Skre về tác động của chương trình can thiệp trường học đến hành vi tìm kiếm trợ giúp của thanh thiếu niên Nghiên cứu được thực hiện trên 1070 HS 14 tuổi của 3 trường học ở Na Uy Chương trình ao gồm các chủ đề như cô đơn, hạnh phúc, SKTT, rối loạn tâm thần và bộ video hướng dẫn với phương pháp mở để GV

có thể tự lựa chọn cách tổ chức Trước khi tham gia, HS thường tìm kiếm sự giúp

đỡ cho các vấn đề về SKTT từ gia đình và internet cao hơn so với lực lượng chăm sóc sức khỏe an đầu (y tá trường học, nhà tâm lý trường học, dịch vụ tư vấn cộng đồng, ác s gia đình), đặc biệt rất ít HS lựa chọn tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp ( ác s tâm thần, nhà tâm lý lâm sàng) Sau khi tham gia, t lệ này đã thay đổi, HS lựa chọn trợ giúp chuyên nghiệp nhiều hơn Nghiên cứu cũng ch ra ảnh hưởng giới tính trong hiệu quả tác động của chương trình, cụ thể là nữ có xu hướng tìm kiếm trợ giúp nhiều hơn so với nam [65]

Một nghiên cứu khác của Hansson đánh giá tác động của chương trình

“chống kỳ thị quốc gia” đến thái độ và hành vi tìm kiếm trợ giúp của người dân Thụy Điển từ 2009 đến 2014 Sau 5 năm thực hiện, chương trình đã tạo ra những thay đổi tích cực trong thái độ và hành vi tìm kiếm trợ giúp của 25% dân số Thụy Điển Tuy nhiên, chương trình tác động đến nhóm người có trình độ học vấn cao và người trẻ tuổi hơn các nhóm c n lại [73; tr 71 - 79] Tương tự, tác giả Yasutaka Ojio nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình giáo dục SKTT dành cho HS THCS tại Nhật Bản Sau khi thực nghiệm, tác giả ch ra sự tác động của chương trình, cụ thể là kiến thức và niềm tin vào hành vi trợ giúp chuyên nghiệp tăng lên Tác giả

Trang 32

cũng so sánh mức độ ảnh hưởng của chương trình giáo dục SKTT được thực hiện bởi GV sẽ có lợi thế hơn so với các lực lượng ên ngoài trường học [125]

Cũng trong chương trình “Mental Health First Aid” của Hart (2013), bên cạnh những tác động về khả năng nhận diện thì chương trình c n tác động tạo ra những thay đổi tích cực về hành vi tìm kiếm trợ giúp Cụ thể là sau khi tham gia,

HS nhóm thực nghiệm đã lựa chọn trợ giúp chuyên nghiệp nhiều hơn Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giới tính trong hiệu quả tác động, mức độ thay đổi ở nữ giới cao hơn trong hành vi tìm kiếm [74]

Theo hướng này, Yael Perry nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình giáo dục đến hiểu biết về SKTT của vị thành niên Chương trình tác động gồm 4 chủ đề 1) Bản thân và các mối quan hệ; 2) Kỹ năng và hiệu suất vận động; 3) Sức khỏe cá nhân và cộng đồng và 4) Hoạt động thể chất suốt đời, được tiến hành trong thời gian

1 ngày Chương trình được thực hiện bởi GV đã tham gia lớp tập huấn sử dụng Tuy nhiên, chương trình tác động đến hành vi tìm kiếm trợ giúp là không đáng kể Nguyên nhân được giải thích là do thời gian HS tham gia không đầy đủ và quá ngắn, hơn nữa kết quả tác động về mặt kiến thức bị suy giảm qua thời gian Vì vậy, Yael đề xuất cần có sự tác động lâu dài, bền vững để thay đổi kiến thức và tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp ở HS [126; tr 1143]

Với mục đích cải thiện hành vi tìm kiếm trợ giúp, Gaiha đã triển khai và nghiên cứu tác động của chương trình “nâng cao hiểu biết về SKTT” cho 521 người

từ 15 đến 60 tuổi tại Ấn Độ Kết quả cho thấy, sau khi tham gia, các nhóm khách thể đã thay đổi nhu cầu và mở rộng phạm vi tìm kiếm trợ giúp, thay vì ch tìm đến gia đình, đền thờ… người dân đã xuất hiện nhu cầu được hỗ trợ chuyên nghiệp [120] Mặt khác, tại Ấn Độ nghiên cứu tổng hợp của Santosh Loganathan cho rằng, tác động của các chương trình giáo dục SKTT đến các nhóm khách thể là khác nhau nên cần có sự phân khúc (Santosh Loganathan, 2014) Các nhóm khách thể được đề xuất gồm nhóm chuyên gia, nhóm người chăm sóc, sinh viên y khoa và thầy lang Nghiên cứu này gợi ý rằng, Ấn Độ là quốc gia có nhiều tôn giáo, văn hóa khác nhau

và có sự phân hóa giữa nông thôn - thành thị nên cần có chiến lược tác động phù hợp Hơn nữa để tác động hiệu quả thì bên cạnh các chương trình giáo dục cần cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKTT cho cộng đồng [120; tr 159 - 170]

Trang 33

Năm 2016, Ahmad Qureshi nghiên cứu tác động của chương trình can thiệp dựa vào trường học đến hiểu iết về SKTT của GV Chương trình diễn ra với 3 ngày tập huấn, GV được đánh giá trước, sau và sau 3 tháng thực nghiệm Kết quả cho thấy có sự thay đổi đáng kể trong kiến thức và hành vi tìm kiếm trợ giúp ở GV Nghiên cứu này không ch ra hiệu quả tác động của chương trình liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học [41]

Một hướng nghiên cứu khác là đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT thông qua các tr chơi điện tử Theo hướng này, năm 2019, Anouk Tuijnman

đã xây dựng và đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp trường học thông qua

tr chơi (Moving Stories) Moving Stories là chương trình học dựa trên tr chơi, bao gồm ba phần: (1) một bài học giới thiệu; (2) tr chơi video 3D và (3) một phiên liên lạc với người trải nghiệm rối loạn trầm cảm Tác động của chương trình được đánh giá trên các mặt nhận biết dấu hiệu, tìm kiếm trợ giúp và kỹ năng sơ cứu Tuy nhiên, chương trình chưa thể tác động đến hành vi tìm kiếm trợ giúp của HS [45]

Trên đây là một số nghiên cứu cụ thể mà chúng tôi lựa chọn để tổng quan về tác động của các chương trình giáo dục SKTT đến thái độ kỳ thị Bên cạnh những nghiên cứu cụ thể này thì những nghiên cứu tổng hợp cho thấy, chương trình giáo dục SKTT đã mang lại kết quả tích cực cho HS về thái độ đối với bệnh nhân tâm thần (Mellor, 2014) [94] HS cởi mở hơn, sử dụng những từ ngữ tích cực thay vì sử dụng từ ngữ tiêu cực khi nói về bệnh tâm thần Tuy nhiên, sự tác động của các chương trình là khác nhau trong điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục nên thật khó để đưa ra nhận định chung Nghiên cứu này cũng ch ra hiệu quả của sự tác động phụ thuộc vào cách thiết kế và phân phối chương trình Tuy nhiên, trong 16 nghiên cứu được phân tích thì có hai chương trình tác động theo chiều hướng ngược lại, điểm số về sự kỳ thị tăng lên sau thực nghiệm Mặt khác, các công cụ đánh giá không tương đồng nên khó để so sánh mức độ tác động của mỗi chương trình Hơn nữa tác giả Catriona Mellor cũng ch ra cần có sự theo dõi về mặt hành vi sau nghiên cứu để kiểm chứng về thái độ kỳ thị và điều quan trọng nhất là khảo sát nhu cầu của khách thể trước khi thực hiện chương trình tác động [95]

Tóm lại, nghiên cứu tác động của các chương trình giáo dục SKTT đến hiểu biết về SKTT được triển khai tại các nước phát triển từ những năm 1990 và phát

Trang 34

triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ 21 Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này mới ch được thực hiện ở các nước đang phát triển trong thời gian gần đây Mặc dù vẫn còn một số hạn chế trong thiết kế và triển khai song không thể phủ nhận hiệu quả mà các chương trình mang lại Mỗi chương trình được triển khai trong điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục… khác nhau nên khó để so sánh hiệu quả tác động giữa chúng song có thể thấy điểm chung của các chương trình như sau:

Về mục đích: các nghiên cứu đều hướng đến mục tiêu đánh giá hiệu quả tác

động của chương trình giáo dục SKTT trên ba mặt kiến thức, thái độ kỳ thị và hành

vi tìm kiếm trợ giúp

Về phương pháp: các nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của chương trình

thông qua hiểu biết về SKTT của người tham gia giữa trước, sau can thiệp và sau thời gian theo dõi Công cụ được sử dụng chủ yếu là bảng hỏi hiểu biết về SKTT được xây dựng dựa trên các thành phần của khái niệm hiểu biết về SKTT Cách thực hiện là sử dụng bài giảng, slide với các nội dung về rối loạn tâm thần phổ biến (chương trình của Wyn cùng cộng sự năm 2000), (Pinfold, 2003), (Watson, 2004), (HeadStrong của Yael Pery) Một số chương trình kết hợp thêm các hoạt động như triển lãm, trao đổi trực tiếp với người đã từng trải nghiệm bệnh (Essler, 2006), thực hiện tuần dự án cho HS (Conrad, 2009), hội thảo (Chan, 2001) Đa số triển khai trực tiếp, một số chương trình được tập huấn, đào tạo thông qua mạng Internet như: nghiên cứu của tác giả Daniel Costin (Úc, 2009); chương trình của Tim ở Hong Kong hay nghiên cứu của Kathy Bond tại Úc, năm 2015

Người thực hiện: để đánh giá tác động của chương trình giáo dục SKTT,

người triển khai thực hiện chương trình có vai trò quan trọng Trong các nghiên cứu

đã được triển khai, người tập huấn chủ yếu là chuyên gia trong l nh vực SKTT gồm

ác s tâm thần, nhà tâm lý lâm sàng như nghiên cứu của Marie Sutton (2016), Tolulope (2014), Naylor (Mỹ, 2009), Battaglia (1990) Một số nghiên cứu cho HS trao đổi trực tiếp với người trải nghiệm bệnh tật (nghiên cứu của tác giả Conrad, 2009; Pinfold, 2003) Ngoài ra, các chương trình áp dụng trong trường học được thực hiện theo cách: các chuyên gia tập huấn cho GV, GV dạy lại cho HS trong 5, 6 tiết hoặc 10 tuần Theo cách này có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả như Watson (2004) thực hiện tại Mỹ; chương trình của Skre triển khai tại Na Uy (2013),

Trang 35

chương trình “HeadStrong” được thực hiện bởi Yael Perry tại Úc (2014) hay nghiên cứu của Alan Mcluckie 2014 và Yasutaka Ojio (Nhật Bản, 2015)

Về kết quả: hầu hết chương trình giáo dục SKTT đã tác động làm thay đổi

kiến thức, thái độ và hành vi tìm kiếm trợ giúp của người tham gia Tuy nhiên, một

số chương trình tác động theo hướng ngược lại, cụ thể là sau can thiệp, thái độ kỳ thị có xu hướng tăng như nghiên cứu của Toro Taraka, Agar Almeida

1.2 Nghiên cứu về vai trò của giáo viên trong việc nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần học sinh

1.2.1 Nghiên cứu hiểu biết về sức khỏe tâm thần của giáo viên

Bên cạnh gia đình, GV có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, hỗ trợ học

tập và phát triển của HS Các nghiên cứu trên thế giới ch ra rằng, GV cần phải tham gia và hành động để hỗ trợ các vấn đề về SKTT cho HS như nghiên cứu của Woods năm 2014, Kutcher 2015 hay nghiên cứu của Parikh 2016 Tuy nhiên, nghiên cứu liên quan đến hiểu biết về SKTT của GV cho thấy, GV thiếu kiến thức

và kỹ năng để có thể làm tốt vai trò này [66; tr 56] Điển hình là nghiên cứu của Andrews năm 2014 trên 75 GV THCS khu vực phía Tây nam Canada, kết quả thể hiện 100% GV quan tâm đến vấn đề SKTT HS song ch có 36% GV cho rằng họ đủ

tự tin để giải quyết các vấn đề này [66; tr 56 - 70] Tương tự với nghiên cứu của tác giả Herman trên 292 GV tại Mỹ năm 2011, ngoài tìm hiểu về khả năng nhận diện, niềm tin vào nguyên nhân, hình thức điều trị theo bảng hỏi của Jorm, nghiên cứu này còn khảo sát nhu cầu của GV đối với việc nâng cao hiểu biết về SKTT Kết quả thể hiện 75 GV đã làm việc hoặc giới thiệu các vấn đề về SKTT với HS trong 1 năm qua Tuy nhiên, nghiên cứu đã ch ra GV thiếu kinh nghiệm, kiến thức về SKTT như khả năng nhận diện các rối loạn tâm thần thấp (1/3), nguyên nhân rối loạn tâm thần được GV xác định do căng thẳng trong các mối quan hệ và bản thân

HS không thể vượt qua Trong nghiên cứu này, GV thể hiện nhu cầu cần được đào tạo để hỗ trợ SKTT cho trẻ em

Mặt khác, nghiên cứu của Gurka thực hiện phỏng vấn 260 GV Thổ Nh Kỳ

về niềm tin đối với bệnh tâm thần 40% GV thể hiện thái độ tiêu cực đối với bệnh tâm thần, xem người bệnh là nguy hiểm và mong muốn có khoảng cách với người bệnh Có sự khác biệt đáng kể về niềm tin giữa các nhóm khách thể khác nhau GV

Trang 36

nữ có thái độ tích cực hơn so với nam giới và không thay đổi theo tuổi tác [71; tr 1146] Hay khảo sát của Tolulope Bella về kiến thức và thái độ đối với người rối loạn tâm thần của 103 GV tiểu học Nigeria 70 GV trả lời chính xác 5 trong số 19 rối loạn tâm thần 4 GV đã tự giải quyết, quản lý vấn đề SKTT liên quan đến HS 52.4 GV nhận định động kinh là vấn đề SKTT, 51.5 GV cho rằng SKTT ở trẻ

em là rất hiếm 64 GV đánh giá trẻ em ồn chồn và làm phiền lớp học là những người ngoài hành tinh 23,3 GV công nhận các vấn đề SKTT trong trường học ị

từ chối, không được quan tâm Về thái độ kỳ thị, 70 người tham gia thể hiện thái

độ tích cực nếu HS có vấn đề về SKTT Tuy nhiên, những GV c n lại cho rằng trẻ

em có vấn đề về SKTT thường ạo lực và một đứa trẻ ị động kinh không nên chơi với người khác vì chúng có thể ị lây nhiễm qua nước ọt [116] Trong khi đó, nghiên cứu của Nimesh Parikh trên 527 GV trung học tại Ấn Độ thể hiện kết quả hoàn toàn ngược lại Nghiên cứu này sử dụng bảng hỏi tự đánh giá với 25 mục kiểm tra kiến thức và 10 mục khảo sát thái độ đối với người bệnh tâm thần ĐTB kiến thức về SKTT của GV còn hạn chế, cụ thể là 76% GV trả lời dưới 7/25 câu; 63.6% người có thái độ tiêu cực cao Phụ nữ có kiến thức tương đối cao so với nam giới về các triệu chứng và quản lý ệnh tâm thần Không có sự khác iệt về giới tính trong thái độ đối với ệnh tâm thần [102; tr 56 - 62] Nghiên cứu này cho thấy, thái độ kỳ thị của GV đối với người bệnh tâm thần còn cao, biểu hiện như GV xem người bệnh

là nguy hiểm, có hành vi kỳ quặc và bệnh tâm thần là gánh nặng xã hội (89%)

Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu nhằm khảo sát mức độ hiểu biết

về SKTT của người dân nói chung, GV nói riêng Tuy nhiên, trong các dự án, luận văn hay đề tài nghiên cứu các cấp cũng tìm hiểu nhận thức của GV về một số rối loạn tâm thần cụ thể như nhận thức về hội chứng tự kỷ, trầm cảm, tăng động giảm chú ý Các nghiên cứu này có thể chia thành hai hướng, một là nghiên cứu nhận thức của GV về các rối loạn chuyên biệt; hai là nghiên cứu liên quan đến nhận thức

Trang 37

xác định là do khiếm khuyết bẩm sinh, di truyền và căng thẳng trong học tập Về cách hỗ trợ, 90% GV cho rằng nên tập huấn cho phụ huynh, trên 70 đánh giá cao phương pháp dạy kỹ năng cho trẻ và giáo dục đặc biệt, can thiệp hành vi Mức độ nhận thức của GV khác nhau theo kinh nghiệm và khối lớp mà GV phụ trách [22]

Năm 2012, tác giả Trần Văn Hô nghiên cứu “Nhận thức của GV về rối loạn hành vi ở HS tiểu học tại một số trường trên địa bàn huyện Từ Liêm – Thành phố

Hà Nội” 138 GV tham gia khảo sát nhận biết được một số dấu hiệu của rối loạn hành vi Tuy nhiên, phần lớn GV xác định nguyên nhân từ chính bản thân HS, do

HS không nghe lời và GV cho rằng rối loạn hành vi là biểu hiện của tính cách chứ

đó không phải là một rối loạn tâm thần [22]

Hướng thứ hai là những nghiên cứu liên quan đến nhận thức về SKTT của

GV Điển hình là nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Ly (2015) “Nhận thức của GV tiểu học về SKTT HS” trong khuôn khổ luận văn thạc s chuyên ngành Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên của Trường Đại học Giáo dục Nghiên cứu được tiến hành trên 235 GV tiểu học ở Hà Nội Công cụ khảo sát chính là ảng hỏi tự xây dựng dựa trên ý tưởng thang đo “hiểu biết về SKTT” của Jorm Trong đó, các trường hợp về rối loạn tâm thần phổ biến ở lứa tuổi HS tiểu học được xây dựng để

GV nhận diện, gọi tên, xác định nguyên nhân của từng rối loạn, qua đó xác định thái độ cũng như hành vi ứng xử của GV với từng trường hợp Kết quả về khả năng nhận diện: đa số GV đều nhận ra trẻ có vấn đề về cảm xúc - hành vi nhưng t lệ GV gọi tên chính xác các rối loạn được mô tả tương đối thấp: không ai gọi tên chính xác rối loạn dạng cơ thể và rối loạn lo âu chia ly, 8 xác định đúng tăng động giảm chú

ý, 12% với tự kỷ, 2 GV xác định đúng trầm cảm và stress sau sang chấn Những nguyên nhân được lựa chọn nhiều nhất là: trẻ từng có chấn thương tâm lý trong cuộc sống; trẻ có vấn đề về hành vi cảm xúc; trẻ thiếu các kỹ năng xã hội; trẻ có vấn

đề về nhận thức hoặc trí tuệ 10% GV lựa chọn nguyên nhân rối loạn tâm thần xuất phát từ yếu tố tâm linh và do bản thân trẻ Cách can thiệp được GV lựa chọn là tư vấn gia đình và trường học Có sự khác biệt giữa độ tuổi, số năm kinh nghiệm, khu vực sống và làm việc, trình độ bằng cấp của GV, khối lớp chủ nhiệm trong việc lựa chọn nguyên nhân và cách can thiệp, trong đó khu vực sống ảnh hưởng nhiều nhất đến hiểu biết về SKTT [22]

Trang 38

Tóm lại các nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã ch ra còn nhiều hạn chế trong hiểu biết về SKTT của GV Chính vì thế nhiều chương trình tập huấn, hội thảo được tổ chức, nghiên cứu nhằm nâng cao hiểu biết về SKTT cho GV, qua đó hướng đến việc cải thiện các vấn đề về SKTT cho HS

1.2.2 Vai trò của giáo viên trong việc triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần trong trường học

Ngoài cha m , GV là những người tiếp xúc hàng ngày với trẻ em Do đó, GV

có thể có những tác động lớn nhất đến HS của họ Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng, mức độ hỗ trợ của GV liên quan đến động cơ học tập, đạt mục tiêu học tập, giảm mức độ căng thẳng tâm lý và liên quan đến hành vi xã hội của HS (nghiên cứu của Atkins, 2002; Lynn, 2003) [48] Mặt khác, tác dụng hỗ trợ của GV như sự ấm

áp, quan tâm, tôn trọng HS thậm chí c n tác động lớn hơn môi trường gia đình ất lợi (Bowen, 1998) GV không ch sớm nhận dạng nhu cầu của HS mà còn phát hiện, phòng ngừa và hỗ trợ tốt nhất cho các vấn đề về SKTT thông qua quản lý hành vi lớp học Hơn ai hết, GV đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao SKTT tích cực cho HS song GV lại thiếu kiến thức, kỹ năng trong các vấn đề này Cụ thể là trong nghiên cứu của Reinke, ch có 4% GV rất đồng ý rằng họ có kiến thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng nhu cầu của HS về SKTT Bên cạnh đó, nghiên cứu về vai trò của

GV trong việc triển khai chương trình giáo dục SKTT cho HS của tác giả Yasutaka Ojio cho thấy, GV có ưu điểm hơn chuyên gia SKTT ên ngoài trường học Sự tác động này mang tính lâu dài và hiệu quả hơn trong việc thay đổi hiểu biết về SKTT cho HS [125; tr 1572]

Mặt khác, các nghiên cứu và thực hành tâm lý học đường cho thấy, sự thay đổi quan trọng trong hướng ph ng ngừa và chăm sóc SKTT trong trường học thay

vì ch tập trung điều trị (Hue ner, 2009) [85] Vì vậy, nhiều nghiên cứu đào tạo, tập huấn về SKTT được triển khai và chứng minh là hiệu quả trong việc tăng kiến thức;

kỹ năng cho GV Đặc biệt hơn, khi GV trở thành người trực tiếp triển khai chương trình giáo dục SKTT, hiểu biết về SKTT của GV được duy trì và quá trình hỗ trợ hiệu quả hơn (nghiên cứu của Kutcher, 2015; Wei, 2016) [84] Theo hướng này, có thể kể đến nhiều nghiên cứu về chương trình giáo dục SKTT được thực hiện bởi GV như sau:

Trang 39

Năm 2004, Watson cùng cộng sự đã xây dựng và triển khai chương trình nhằm tác động đồng bộ đến kiến thức, thái độ và hành vi tìm kiếm trợ giúp đối với rối loạn tâm thần cho 23 GV; 1566 HS lớp 6, 7, 8 của 16 Bang tại Mỹ Chương trình ao gồm nhiều nguồn học liệu khác nhau như 5 ài giảng để GV áp dụng trong lớp học; các trường hợp thực tế đã trải nghiệm rối loạn tâm thần; video; sách hướng dẫn phương pháp tương tác, công cụ và một số nguồn tài liệu cập nhật trên mạng Internet Chuyên gia trong l nh vực SKTT sẽ tập huấn cho GV, sau đó GV sẽ tổ chức dạy cho HS trong 5 tiết học Nghiên cứu này đánh giá hiểu biết về SKTT của

GV, HS trước và sau can thiệp Nhóm tác giả cũng đã đạt được mục tiêu chương trình khi GV, HS đều có sự thay đổi rõ rệt trong kiến thức, thái độ và niềm tin vào các hình thức trợ giúp chuyên nghiệp sau khi tham gia [128]

Năm 2015, Yasutaka Ojio đã triển khai chương trình nâng cao hiểu iết về SKTT trên 118 HS lớp 9 tại Nhật Bản Nội dung chương trình là ài giảng về các rối loạn tâm thần và cách trợ giúp thích hợp Chương trình được giảng dạy ởi GV trong 2 tiết học, mỗi tiết 50 phút Các tác động của chương trình được đánh giá trước, ngay sau và sau 3 tháng Kiến thức về SKTT và hành vi tìm kiếm trợ giúp của HS cải thiện ngay sau khi tập huấn (p < 0,001) và duy trì 3 sau tháng Như vậy, nghiên cứu này đã tạo được hiệu ứng khi chính GV có thể tác động để nâng cao kiến thức về SKTT cho HS [125; tr 572 - 579]

Tương tự là nghiên cứu của Ingunn Skre, 1070 HS từ 12 đến 17 tuổi đã tham gia chương trình phổ cập kiến thức về SKTT trong thời gian 3 ngày HS được chia thành 3 nhóm, 1 nhóm thực nghiệm, 1 nhóm đối chứng không có bất kỳ tác động nào, 1 nhóm đối chứng được gợi ý để đọc các tài liệu liên quan Nội dung chương trình được thiết kế thành các bài giảng do chuyên gia trong l nh vực SKTT tập huấn cho GV, GV tổ chức tập huấn lại cho HS nhóm thực nghiệm Kết quả được đánh giá trước, sau và sau 2 tháng can thiệp Sau tập huấn, kiến thức về SKTT của HS nhóm thực nghiệm cao hơn 2 nhóm c n lại Nghiên cứu không đề cập đến kết quả sau 2 tháng can thiệp Có thể nói, đây là nghiên cứu duy nhất sử dụng 2 nhóm chứng với

2 hình thức khác nhau Điều này chứng minh rằng để thay đổi hiểu biết về SKTT cho HS thì GV đóng vai tr quan trọng [65]

Trang 40

Một chương trình khác được triển khai tại Canada bởi Kutcher và cộng sự cũng chứng minh hiệu quả thông qua vai trò của GV Chương trình có tên gọi “The Guide” do Kutcher iên soạn The Guide là sổ tay hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục SKTT dựa vào trường học, chủ yếu cho HS lớp 9,10 nhưng cũng có thể sử dụng cho HS lớp 8, 11, 12 Nội dung gồm 4 phần: (1) mở đầu; (2) cập nhật kiến thức GV; (3) đánh giá HS; (4) các module So với các chương trình khác, chương trình The Guide được biên soạn khá hệ thống, chi tiết từng hoạt động, hướng dẫn cách thực hiện và cách đánh giá trước, sau khi học Ngoài ra chương trình còn kèm theo video; slide; tài liệu phát tay cho HS và cả những nguồn học liệu khác, đường link ch dẫn để người đọc có thể tìm kiếm tài liệu về SKTT Trong chương trình này, GV được tập huấn 2 hoặc 3 ngày bởi chuyên gia về SKTT, sau đó

GV sẽ tổ chức dạy cho HS 6 module/6 tuần Mỗi module diễn ra trong 60 phút Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả tác động của chương trình giáo dục SKTT trong trường học trên 226 HS Trong đó, 114 HS được chọn để kiểm tra về kiến thức và

112 HS được đánh giá về mặt thái độ giữa trước, ngay sau và sau 2 tháng thực nghiệm Sau chương trình, kiến thức về SKTT của HS tăng lên (p <0.001; d = 1.11), thái độ kỳ thị giảm (p <0.001; d = 0.66) và kết quả được duy trì sau 2 tháng (p < 0.001; d = 0.91); (p < 0.001; d = 0.52) Nghiên cứu này của Kutcher chứng minh rằng chương trình The Guide hoàn toàn có thể áp dụng trong điều kiện lớp học thông thường, có thể tổ chức trực tiếp hay gián tiếp thông qua Internet Để kiểm chứng tính hiệu quả của chương trình giáo dục SKTT dựa vào trường học trong các điều kiện khác nhau, The Guide tiếp tục được triển khai tại các nước trên thế giới như Malawi, Mỹ, Tazania, Pháp [86; tr 580 -586]

Tại Malawi, chương trình The Guide được thực hiện trên 218 nhà giáo dục trong 35 trường học và câu lạc ộ ngoại khóa thanh niên (2015) Kết quả thực nghiệm tại Malawi cho thấy, kiến thức về SKTT của GV, HS tăng lên rõ rệt, thái độ

kỳ thị giảm và được duy trì sau 3 tháng Nghiên cứu này đã chứng minh được tính hiệu quả tại đất nước được xem là có thu nhập thấp nhất thế giới và có nền giáo dục lạc hậu [81; tr 1 - 10]

Ngoài Canada, Malawi, chương trình The Guide cũng đã được thực hiện tại Tanzania năm 2016 Trên cơ sở thích nghi phiên ản từ Canada, nghiên cứu này

Ngày đăng: 03/07/2021, 06:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo Trung ƣơng (2006), Một số v n iện của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác khoa giáo: Ch s c sức khỏe nhân dân; dân số - gia đình và trẻ em; thể dục thể thao, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số v n iện của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác khoa giáo: Ch s c sức khỏe nhân dân; dân số - gia đình và trẻ em; thể dục thể thao
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ƣơng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Y tế (2010), “Đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng Methadone tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh”, Bộ Y tế, xuất bản online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả của chương trình thí điểm điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng Methadone tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
4. Nguyễn Thái Quỳnh Chi, Trương Quang Tiến (2016), Năng lực sức khỏe tâm thần về rối loạn lo âu của sinh viên y tế công cộng ở Hà Nội , Tạp chí Y tế công cộng, 3.2016, Số 41, 42 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y tế công cộng
Tác giả: Nguyễn Thái Quỳnh Chi, Trương Quang Tiến
Năm: 2016
5. Nguyễn Đức Chính (2017), Phát triển chương trình giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chương trình giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2017
6. Trần Văn Công, Ngô Xuân Điệp (2017), “Hiệu quả của chương trình can thiệp trẻ tự kỷ dựa trên sự kết hợp giữa gia đình và cơ sở can thiệp”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Số 17, 6.2017, 48 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của chương trình can thiệp trẻ tự kỷ dựa trên sự kết hợp giữa gia đình và cơ sở can thiệp”, "Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Công, Ngô Xuân Điệp
Năm: 2017
7. Đào Văn Dũng (chủ biên) (2012), Chi phí y tế và đ i nghèo ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi phí y tế và đ i nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Dũng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2012
8. Vũ Dũng (2004), “Thái độ và hành vi của người dân đối với môi trường”, Tạp chí Tâm lý học, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ và hành vi của người dân đối với môi trường”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Năm: 2004
9. Bùi Thị Thanh Diệu, Đặng Hoàng Minh (2018), “Nhận thức về sức khỏe tâm thần của giáo viên các trường THCS Đà Nẵng”, Kỷ yếu Hội thảo Tâm lý học đường lần thứ 6, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thị Thanh Diệu, Đặng Hoàng Minh (2018), “Nhận thức về sức khỏe tâm thần của giáo viên các trường THCS Đà Nẵng”, "Kỷ yếu Hội thảo Tâm lý học đường lần thứ 6
Tác giả: Bùi Thị Thanh Diệu, Đặng Hoàng Minh
Năm: 2018
10. Trương Thị Thuỳ Dung (2013), “Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khoẻ cho bà m có con bị sốt tại khoa hô hấp bệnh viện nhi Thanh Hoá”, Y học hành phố Hồ Chí Minh, tập 17, phụ bản số 4, 53 – 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Thị Thuỳ Dung (2013), “Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khoẻ cho bà m có con bị sốt tại khoa hô hấp bệnh viện nhi Thanh Hoá”, "Y học hành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Thị Thuỳ Dung
Năm: 2013
11. Đại Từ điển Tiếng Việt (2011), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 12. Feldman Robert (2003), Những điều trọng yếu trong tâm lý học, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều trọng yếu trong tâm lý học
Tác giả: Đại Từ điển Tiếng Việt (2011), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 12. Feldman Robert
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 12. Feldman Robert (2003)
Năm: 2003
13. Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên) (2008), Giáo trình Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
14. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (2008), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2008
15. Vũ Thị Huê (2012), “Đánh giá hiệu quả chương trình nâng cao chất lượng đào tạo phòng, chống HIV/AIDS tại trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng”, Tạp chí Y – Dư c học quân sự, số 2 – 2012, 27- 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả chương trình nâng cao chất lượng đào tạo phòng, chống HIV/AIDS tại trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng”, "Tạp chí Y – Dư c học quân sự
Tác giả: Vũ Thị Huê
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Thanh Hương (2014), Giáo trình Công tác xã hội trong ch sóc sức khỏe tâm thần, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội trong ch sóc sức khỏe tâm thần
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2014
18. Kaplan, Sadock (2009), T ư t Tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ư t Tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên
Tác giả: Kaplan, Sadock
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2009
19. Đinh Quốc Khánh, Trần Hữu Bình (2011), “Kiến thức – thái độ - thực hành của người chăm sóc chính ệnh nhân tâm thần phân liệt tại nhà ở huyện Bình Xương – V nh Phúc”, Tạp chí Y tế công cộng, số 2. 2011, 11 – 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức – thái độ - thực hành của người chăm sóc chính ệnh nhân tâm thần phân liệt tại nhà ở huyện Bình Xương – V nh Phúc”, "Tạp chí Y tế công cộng
Tác giả: Đinh Quốc Khánh, Trần Hữu Bình
Năm: 2011
20. Phạm Vũ Khánh, Hoàng Thị Hoa Lý (2013), “Thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại tuyến xã ở t nh Hải Dương”, Tạp chí Y học thực hành, Số 4/2013, 14 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại tuyến xã ở t nh Hải Dương”, "Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Phạm Vũ Khánh, Hoàng Thị Hoa Lý
Năm: 2013
21. Nguyễn Trung Kiên (2016), “Thực trạng năng lực sức khỏe của một số nhóm dân cư tại Chí Linh, Hải Dương và Hà Nội Việt Nam”, Tạp chí Y tế công cộng, 3.2016, Số 40, 39 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng năng lực sức khỏe của một số nhóm dân cư tại Chí Linh, Hải Dương và Hà Nội Việt Nam”, "Tạp chí Y tế công cộng
Tác giả: Nguyễn Trung Kiên
Năm: 2016
22. Trần Ngọc Ly (2015), “Nhận thức của giáo viên tiểu học về sức khỏe tâm thần học sinh”, Luận v n Thạc sĩ T học, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của giáo viên tiểu học về sức khỏe tâm thần học sinh”, "Luận v n Thạc sĩ T học
Tác giả: Trần Ngọc Ly
Năm: 2015
23. Đặng Hoàng Minh (2016), “Tác động của chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần Nối kết đến việc cải thiện các chức năng xã hội ở học sinh tiểu học”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 32, Số 1 (2016) 10-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần Nối kết đến việc cải thiện các chức năng xã hội ở học sinh tiểu học”, "Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Đặng Hoàng Minh
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w